Trong những năm gần đây, yêu cầudạy học theo giao tiếp được đặt ra một cách nghiêm túc và được cụ thể hóa bằngviệc đổi mới mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học…Để
Trang 1I Đặt vấn đề
1 Lý do chọn đề tài
Dạy học Tiếng Việt theo một quan điểm giao tiếp là một xu hướng hiện đạitrong việc dạy tiếng mẹ đẻ mà nhiều nước đang phấn đấu thực hiện Có thể khẳngđịnh dạy học tiếng theo quan điểm giao tiếp là dạy học coi trọng rèn luyện các kỹnăng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội cho học sinh Trong những năm gần đây, yêu cầudạy học theo giao tiếp được đặt ra một cách nghiêm túc và được cụ thể hóa bằngviệc đổi mới mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học…Để đạtđược điều đó, viết đúng phong cách là một kỹ năng cần tập trung rèn luyện cho họcsinh phổ thông
Dạy học trong nhà trường phổ thông, môn Tiếng Việt được coi là bộ môncông cụ giao tiếp Dạy Tiếng Việt làm cho học sinh tiếp thu tốt Tiếng Việt với tưcách là công cụ tư duy, nhận thức và giao tiếp xã hội
Ở nhà trường THPT, dạy phong cách học nói chung, phong cách chức năngnói riêng là cung cấp cho học sinh những tri thức về phong cách học, đảm bảo chocác em có cơ sở lí thuyết cần thiết để rèn luyện kỹ năng lĩnh hội văn bản, kỹ năngsản sinh văn bản thích hợp với điều kiện giao tiếp Học sinh vận dụng những kiếnthức đã được học vào việc xây dựng văn bản của mình, tự sửa chữa những sai sót,
và hình thành năng lực nói, viết một cách có phong cách, có nghệ thuật Tuy nhiên,việc áp dụng đúng một phong cách chức năng của học sinh Phổ Thông Hà Trungcòn gặp không ít khó khăn Một phần do tài liệu dạy học còn thiên về lý thuyết nhưkhái niệm, đặc điểm diễn đạt từng phong cách chức năng; một phần do phần luyệntập chưa được chú trọng, rèn luyện cụ thể, thiết thực nên việc vận dụng từ phía học sinhcòn nhiều hạn chế Vì vậy, vấn đề chính là cần rèn luyện cho học sinh viết đúng phongcách nhiều hơn nữa mới giúp các em nói đúng và nói hay, viết hay được
Xuất phát từ thực trạng trên, Tôi chọn đề tài: “Rèn kỹ năng viết đúng phong cách chức năng Tiếng Việt cho học sinh THPT Hà Trung” Với đề tài này, Tôi
mạnh dạn đưa ra một số cách thức, hình thức tổ chức và xây dựng bài tập rèn kỹnăng viết đúng phong cách chức năng cho học sinh THPT Hà Trung
Trang 22 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết và khảo sát đánh giá thực trạng dạy học, xácđịnh năng lực sử dụng phong cách chức năng của học sinh từ đó đề xuất những biệnpháp hợp lý góp phần nâng cao chất lượng viết đúng phong cách cho học sinhTHPT Hà Trung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài sẽ đi vào nghiên cứu vấn đề xây dựng các bài tập phong cách ngônngữ theo những biện pháp cụ thể nhằm góp phẩn rèn kỹ năng viết đúng phong cáchchức năng Tiếng Việt cho học sinh THPT Hà Trung
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được dùng để hệ thống hóa các vấn đề lýluận, thực tiễn thu nhận được và rút ra những kết luận cần thiết cho việc đề xuấtbiện pháp, xây dựng các thiết kế thực nghiệm
- Phương pháp quan sát, điều tra: được sử dụng để thu thập thông tin về cácvấn đề trọng tâm của đề tài
- Phương pháp thống kê: để xử lý số liệu điều tra
Trang 3II Giải quyết vấn đề
1 Cơ sở lí luận
Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu nguyên tắc,quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữnhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng tình cảm nhất định trong những phong cáchchức năng ngôn ngữ nhất định Hay nói cách khác, đó là khoa học nghiên cứu vềcách sử dụng ngôn ngữ và bồi dưỡng cho người nói nhiều kỹ năng về việc thể hiệntình cảm và tư tưởng
Nhìn chung, mỗi văn bản phải có một phong cách nhất định Nghĩa là, khinói, viết phải lựa lời, tức là phải lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ sao cho phùhợp để vừa tạo được lời nói đúng ngữ pháp, đúng từ ngữ nhưng mặt khác phải đảmbảo sự phù hợp với người nghe, người đọc để việc giao tiếp đạt hiệu quả cao hơn.Việc lựa chọn ngôn ngữ lại chịu sự chi phối của các nhân tố ngoài ngôn ngữ đã quyđịnh cách lựa chọn ngôn ngữ trong văn bản, tạo thành sự khác nhau trong phongcách ngôn ngữ văn bản Sự khác nhau này thường thể hiện ra các mặt: Cách thức sửdụng ngữ âm, chữ viết, từ ngữ, các kiểu câu, các biện pháp tu từ và kết cấu văn bản
Phong cách học văn bản là một bộ môn trong ngành ngôn ngữ học nghiêncứu những nguyên tắc lựa chọn, sử dụng những phương tiện dồi dào của ngôn ngữđạt hiệu quả cao nhất trong mọi lĩnh vực của mọi hoạt động giao tiếp xã hội Đốitượng của phong cách học là các đơn vị ngôn ngữ - giao tiếp, từ từ cho đến văn bản.Văn bản là đơn vị giao tiếp lớn nhất của quá trình hoạt động lời nói, vừa là kết quả,vừa là công cụ được sử dụng trong quá trình hoạt động lời nói làm phương tiện hoạtđộng cơ bản để đạt mục đích dụng học nhất định thì văn bản được xây dựng theo
mô hình nhất định, có tính chất tối ưu trong một hoàn cảnh cụ thể Phong cách baogiờ cũng gắn với khái niệm văn bản Khi tạo lập văn bản, những tri thức về phongcách học có vai trò rất quan trọng Ngôn ngữ trong văn bản phải phù hợp với nộidung, đối tượng phản ánh thì hiệu quả giao tiếp sẽ cao Mỗi cá nhân khi nhận tinhay phát tin phải biết lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ như thế nào làhợp lí nhất Mỗi khi nói hay viết, ta cần đáp ứng được các câu hỏi: Nói viết thế nào?Nói, viết như thế là có ý gì? Cho nên phong cách học có mối quan hệ mật thiết với
Trang 4vấn đề trau dồi ngôn ngữ, vốn hiểu biết phong phú về từ ngữ, về cấu trúc ngữ pháp,
về biện pháp tu từ Trong việc xây dựng các lớp văn bản, sự lựa chọn và sử dụngcác phương tiện ngôn ngữ sẽ tạo ra những văn bản khác nhau thuộc những phongcách ngôn ngữ khác nhau
Từ những vấn đề về phân loại văn bản và phong cách học văn bản, ngườitiếp nhận và người tạo lập đều phải có tri thức về phong cách Đó là, một trongnhững yếu tố quan trọng trong việc nói, viết đúng phong cách chức năng TiếngViệt
Văn bản chương trình giáo dục cấp THPT đã trình bày mục tiêu cấp học theoluật giáo dục quy định: Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triểnnhững kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểubiết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng pháttriển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyênnghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Căn cứ vào mục tiêu chung được luật định “đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện”, mục tiêu cấp THPT được xây dựng, học sinh THPT phải đạtđược các mặt giáo dục: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; học vấn kiến thức phổ thông,hiểu biết kỹ thuật và hướng nghiệp; kỹ năng học tập và vận dụng kiến thức; thể chất
và xúc cảm thẩm mĩ Để đáp ứng yêu cầu trên, việc giáo dục học sinh cần phải đổimới cả về nội dung và phương pháp dạy học Môn Ngữ văn cũng đi vào quỹ đạo đổimới chung đó, cũng như các phân môn Văn học, Làm văn, Tiếng Việt đang dầnthực hiện những mục tiêu mà luật giáo dục đề ra
2 Thực trạng
Dạy học phần Tiếng Việt ở bậc THPT trên cơ sở đã có những kiến thức ởTHCS, nâng cao dần về hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nâng cao kỹ năng sửdụng Tiếng Việt khi nói, khi viết, và năng lực phân tích, lĩnh hội văn bản, sản sinhvăn bản Từ đó, bồi dưỡng tình cảm yêu quý Tiếng Việt, thái độ tôn trọng và ý thứcgiữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt
Vì vậy, bản thân tôi nhận thấy việc Rèn luyện kỹ năng nói hay viết đúngphong cách chức năng Tiếng Việt cho học sinh THPT Hà Trung là việc làm thiếtthực, chi phối cả quá trình dạy và học nên giáo viên cần lựa chọn nội dung dạy cũng
Trang 5như phương pháp giảng dạy sao cho mang lại hiệu quả giao tiếp tốt nhất đối với họcsinh Bản thân tôi đã thực hiện cuộc khảo sát để thấy được những điểm tích cực vàhạn chế, yếu kém đang tồn tại và tìm ra nguyên nhân của nó thông qua phiếu điềutra GV và HS, sử dụng nhiều câu hỏi, ứng với mỗi câu hỏi có nhiều câu trả lời vớicác mức độ khác nhau.
Thông qua khảo sát, phỏng vấn, điều tra và kết quả thu được từ khảo sát, bảnthân tôi rút ra những đặc điểm cơ bản về phía HS và GV như sau:
2.1 Về phía giáo viên
bản thân tôi nhận thấy tất cả các giáo viên trong tổ Ngữ văn trường THCS
và THPT Hà Trung đều nhìn thấy được sự phân bố của phân môn Tiếng Việt rất hàihòa về lý thuyết và thực hành, có đáp ứng nhu cầu mục tiêu rèn luyện giáo dục chohọc sinh phát triển toàn diện các kỹ năng cơ bản, ý thức được tầm quan trọng củaviệc rèn luyện kỹ năng viết đúng phong cách chức năng Tiếng Việt, có quan tâmđến tinh thần học tập của học sinh, đến phương pháp dạy học… song còn gặp một
số trở ngại, khó khăn không ít về chất lượng, hiệu quả mà mục tiêu giáo dục đề ratừng thời gian, năng lực học tập, tính thụ động của học sinh Với những khó khăn
đó, bản thân tôi có chú ý rèn luyện cho học sinh nhưng rèn luyện chưa sát với quytrình và nhận định về khả năng viết đúng phong cách văn bản của học sinh cũngchưa linh động trong khi thực tế, học sinh chưa chủ động về khả năng ứng dụng,thực hiện một văn bản
2.2 Về phía học sinh
Qua khảo sát thực tế, nhận thấy một số học sinh thích học phân môn TiếngViệt, có ý thức vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn đời sống, có nhu cầu họctập, rèn luyện cho bộ môn Ngữ văn, phân môn Tiếng Việt… Nhưng bên cạnh đó,vẫn còn một số các em học sinh thờ ơ với việc học môn Văn, rèn kỹ năng về TiếngViệt, thậm chí không quan tâm, tham gia học với thái độ mệt mỏi, bắt buộc, còn gặpkhó khăn trong việc phân định và tiếp cận phong cách ngôn ngữ…
Có thể lí giải những tồn tại trên bởi một số nguyên do: Một số học sinh ngạitiếp xúc với thực hành bài tập hay luyện tập thêm bài tập ở nhà, do phương phápdạy của giáo viên chưa thu hút, sinh đông, năng lực học tập của học sinh chưa đồng
Trang 6đều, chưa tích cực trong việc xây dựng bài, nhút nhát, thụ động, phụ thuộc vào sáchhọc tốt, vào bạn bè, giáo viên…
Qua thực tế trên ở đơn vị cơ sở, bản thân tôi nhận thấy việc Rèn luyện kỹ năng viết đúng phong cách chức năng cho học sinh THPT Hà Trung là hướng đi đúng, thực
sự đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông
SGK Mỗi đơn vị bài học phong cách ngôn ngữ đã đặt ra mục tiêu cần đạt rất cụ thể
về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh Khi dạy lý thuyết, GV cung cấp chohọc sinh những khái niệm, các phương tiện diễn đạt, đặc trưng của từng phong cáchchức năng ngôn ngữ Từ đó, giúp học sinh cảm thụ, nắm bắt các kiểu diễn đạt,hướng tới sự nhận diện, đánh giá nét đặc trưng của mỗi loại văn bản thuộc phongcách chức năng
Các bài dạy về phong cách ngôn ngữ thuộc loại bài hình thành kiến thức và
kỹ năng mới Các kiến thức này được hình thành thông qua sự phân tích các ngữliệu trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ Giáo viên thực hiện đúng quy trình hoạt độngtrong một bài Tiếng Việt
Ví dụ: Bài Phong cách ngôn ngữ chính luận (tiết 1), kết quả cần đạt được là
giúp cho học sinh hiểu được khái niệm ngôn ngữ chính luận, các loại văn bản chínhluận, các biểu hiện của phong cách ngôn ngữ chính luận GV kết hợp cách trình bàyvừa diễn giảng vừa đàm thoại và hướng dẫn HS:
- Tìm hiểu văn bản chính luận
Trang 7Thuật ngữ chính trị: nhân quyền, dân quyền, quyền sống, quyền sung sướng,quyền tự do…
Câu văn mạch lạc với những kết cấu cụm từ: trong những quyền ấy, suy rộng
ra… Câu chuyển ý mạnh mẽ, dứt khoát, có tính khẳng định: Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
- Nhận xét: Qua các văn bản tìm hiểu trên và các bài nghị luận trong trườnghọc, em hiểu thế nào về văn bản chính luận và văn bản nghị luận?
- HS trả lời: Nghị luận là các thao tác tư duy Thao tác nghị luận được sựdụng ở nhiều lĩnh vực như: khoa học, văn học, lịch sử, chính trị… Còn chính luận làmột phong cách ngôn ngữ độc lập dùng trong phạm vi trình bày quan điểm chính trịđối với một vấn đề chính trị, xã hội nào đó
Như vậy, việc rèn luyện cho HS viết đúng phong cách chức năng Tiếng Việt đượcthực hiện trong dạng lý thuyết từ việc phân tích ngữ liệu đến hình thành khái niệm
Để củng cố lý thuyết vừa học và hình thành cho học sinh kỹ năng cần có, saumỗi bài học đều có phần luyện tập Luyện tập thực hành để củng cố, mở rộng kiếnthức và kỹ năng, bài tập thường sử dụng những ngữ liệu khác, đa dạng hơn ngữ liệuban đầu, hoặc đặt ra những yêu cầu luyện tập phong phú hơn Một số bài tập có thểtiến hành ở nhà Giáo viên dựa vào hệ thống bài tập đó mà tổ chức cho học sinhluyện tập, giáo viên gợi ý, hướng dẫn cho học sinh thực hiện theo các yêu cầu trongbài tập
Ví dụ: “Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”, có bài tập như sau:
Đọc đoạn nhật ký dưới đây và trả lời câu hỏi
8-3-69
Đi thăm bệnh nhân về giữa đêm khuya Trở về phòng, nằm thao thức khôngngủ đươc Rừng khuya im lặng như tờ, không một tiếng chim kêu, không một tiếng
lá rụng hoặc một ngọn gió nào đó khẽ rung cành cây Nghĩ gì đấy Th ơi? Nghĩ gì
mà đôi mắt đăm đăm, nhìn qua bóng đêm Qua ánh trăng mờ Th thấy biết bao làviễn cảnh tươi đẹp, cả những cận cảnh êm đềm của những ngày sống giữa tìnhthương trên mảnh đất Đức Phổ này Rồi cảnh chia li, cảnh đau buồn cũng đếnnữa… Đáng trách quá Th ơi! Th Có nghe tiếng người thương binh khẽ rên và tiếngsúng vẫn nổ nơi xa Chiến trường vẫn đang mùa chiến thắng
Trang 8(Nhật kí Đặng Thùy Trâm, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2005)
a Những từ ngữ, kiểu câu, kiểu diễn đạt nào thể hiện cụ thể, tính cảm xúc,tính cá thể của phong cách ngôn ngữ sinh hoạt?
b Theo anh (chị) ghi nhật ký có lợi gì cho việc phát triển ngôn ngữ của mình?Bài tập này có thể tiến hành như sau:
- HS đọc lại đề một lần cho cả lớp nghe và nắm bắt nội dung
- Đề bài yêu cầu: Nhận diện đặc trưng của PCNN sinh hoạt có ở từ ngữ, kiểucâu, kiểu diễn đạt trong đoạn nhật ký
- GV gợi ý cho học sinh nhớ lại
- HS quan sát, nhận diện
- GV nhận xét, bổ sung
Như vậy, việc luyện tập, thực hành giúp học sinh cảm thụ, rèn luyện các kỹnăng, tiếp thu và sản sinh các kiểu diễn đạt; biết nhận diện, đánh giá được giá trịcũng như nét đặc trưng của mỗi loại văn bản thuộc phong cách chức năng
3.2 Rèn luyện phong cách viết đúng chức năng Tiếng Việt qua giờ dạy đọc - hiểu văn bản.
Rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đúng phong cách chức năng Tiếng Việtqua các giờ dạy Văn học là hưởng ứng theo tinh thần đổi mới của chương trìnhSGK hiện hành Cấu trúc chung của phần Tiếng Việt không căn cứ vào hệ thốngTiếng Việt mà chú ý đến tính tích hợp với các phần văn học và làm văn Các bàiTiếng Việt được xen kẽ với các bài văn học và làm văn vào những vị trí tạo nên sựtích hợp tốt nhất Phần lớn các bài phần Tiếng Việt đều dựa trên ngữ liệu các vănbản văn học hay đang học để tạo nên tác động hai mặt: văn bản văn học cung cấpngữ liệu cho phần Tiếng Việt và ngược lại phần Tiếng Việt đóng góp vào phần đọc
- hiểu văn bản văn học và viết văn cho học sinh Chẳng hạn như bài “Phong cách
ngôn ngữ báo chí” được bố trí khi phần văn học đang dạy một số tác giả như Nam
Cao, Vũ Trọng Phụng - vừa là tác giả văn học vừa là những nhà báo Sau bài
“Phong cách ngôn ngữ báo chí” còn có phần làm văn dạy các bài thuộc thể loại báo chí như: “Bản tin”, “Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn” Tương tự, bài “Phong cách
ngôn ngữ chính luận” cũng vậy Trước bài PCNNCL là bài “Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác” (Ph Ăng - Ghen) - một bài nghị luận chính trị vừa chặt chẽ, hùng
Trang 9hồn vừa giàu cảm xúc của Ăng - Ghen Hoặc bài “Về luân lý xã hội của nước ta”
(Phan Châu Trinh) cũng là một văn bản giúp học sinh hiểu được nghệ thuật viết vănchính luận, có ý niệm về phong cách chính luận của một tác giả cụ thể Và học sinh
sẽ còn tiếp xúc với Phong cách ngôn ngữ chính luận này ở “Tuyên ngôn độc lập”
của Hồ Chí Minh
Trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản, GV giúp HS nhận biết, phân tích các kiểuvăn bản HS dần dần xác định được thể loại, bố cục, nội dung, nghệ thuật của cácloại văn bản văn học nói chung
Ví dụ: Khi dạy Về luân lý xã hội ở nước ta (Trích bài diễn thuyết đạo đức và
luân lý Đông Tây) của Phan Châu Trinh, cần chú ý tích hợp với tri thức, kỹ năng vềTiếng Việt, Làm văn
- Kỹ năng về làm văn: Phân tích kết cấu bài thấy rõ luận điểm, luận cứ, cáchlập luận của bài diễn thuyết
- Kỹ năng về Tiếng Việt:
+ Nhận biết một phong cách chính luận độc đáo như lúc từ tốn, lúc mềmmỏng, lúc kiên quyết đanh thép; lúc mạnh mẽ, lúc nhẹ nhàng mà đầy sức thuyếtphục
+ Hệ thống lâp luận chặt chẽ, giọng văn hùng hồn, các chứng cứ luận điểmxác thực
+ Sử dụng các khái niệm: “luân lý xã hội”, “xã hội chủ nghĩa”, “công đức”,
“đoàn thể của quốc dân”
+ Sử dụng từ “thượng lưu”, “ngất ngưởng”, “lúc nhúc”
+ Sử dụng các cụm từ: “Tuyệt nhiên không ai biết đến”, “không biết gì là gì”…+ Sử dụng câu cám thán: “Dân khôn mà chi!”, “Thật cũng lạ thay”, “Ôi!” …Đặc điểm của văn phong diễn thuyết Phan Bội Châu: Lập luận sáng sủa,khúc chiết, tình cảm tràn đầy Thường được biểu hiện bằng những lời cảm thánthống thiết, lập trường đánh đổ chế độ quân chủ luôn được tuyên bố công khai, dứtkhoát, kế hoạch hành động được vạch ra rõ ràng, cụ thể
3.3 Rèn luyện kỹ năng viết đúng phong cách Tiếng Việt qua các hình thức khác
Trang 10Việc rèn kỹ năng viết đúng phong cách chức năng Tiếng Việt cho học sinhcần được rèn luyện lâu dài và có thể ở mọi hình thức trong quá trình học tập Ngoàicác giờ học phong cách ngôn ngữ, các giờ đọc - hiểu văn bản trên, bản thân nhậnthấy giáo viên có thể rèn luyện cho học sinh kỹ năng viết đúng ở giờ làm văn, trảbài viết, hoặc các giờ dạy phụ đạo, bồi dưỡng cho học sinh.
Chẳng hạn, như giờ dạy phân môn Làm văn, bài Luyện tập viết bản tin với
kết quả cần đạt là: Ôn tập, củng cố cách viết bản tin; viết được bản tin về những sựkiện xảy ra trong đời sống, giáo viên cho học sinh làm bài tại lớp hoặc hướng dẫncho học sinh về nhà rèn luyện
Bài tập: Viết bản tin phù hợp với mỗi tình huống dưới đây:
a Về trận bóng đá giao hữu giữa đội tuyển của lớp anh (chị) với lớp bạn
b Về những hoạt động chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam ở trường anh (chị)
c Về hoạt động quyên góp giúp đỡ đồng bào bị bão lụt của trường anh (chị).(SGK Ngữ văn 11, tập 1, tr 179)
Bài tập này cần tiến hành như sau:
- HS đọc bài tập
- GV hướng dẫn học sinh đọc bài tập
+ HS chọn một trong các tình huống đã cho
+ Thu thập và lựa chọn tư liệu (Thời gian, địa điểm diễn ra sự kiện; diễnbiến, nội dung sự kiện; kết quả của sự kiện) để viết bản tin
+ Đặt tên cho bản tin, viết phần mở đầu, phần triển khai của bản tin theohướng dẫn trong bài
- HS giải bài tập
- GV chốt lại đáp án cho bài tập
Như vậy, HS sẽ tái hiện lại kiến thức đã học về phong cách ngôn ngữ báo chí
từ khái niệm, các phương tiện diễn đạt đến đặc trưng của phong cách này mà vậndụng vào việc tạo bản tin trên
Với một giờ trả bài viết cũng vậy, giáo viên sữa chữa từ, câu, cách sắp xếpcác luận điểm, luận cứ, bố cục trình bày hay cách diễn đạt ý văn… cũng chính làrèn luyện cho HS kỹ năng viết đúng phong cách chức năng Tiếng Việt
Bên cạnh đó, bản thân tôi cũng nhận thấy việc rèn luyện kỹ năng viết đúngphong cách chức năng Tiếng Việt cho học sinh trong giờ dạy phụ đạo, bồi dưỡng,
Trang 11bởi GV tập trung rèn luyện cho HS bằng các bài tập ở bài tập Ngữ văn hoặc bổ sungthêm những bài tập ngoài SGK và sách bài tập, phong phú, đa dạng hơn nhằm nângcao khả năng viết đúng của HS lên từ kĩ năng thành kỹ xảo, chẳng hạn như:
Bài tập 1: Đọc hai văn bản sau và nhận xét đúng sai Chữa lại cho đúng
phong cách văn bản
a
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamĐộc lập - Tự do - Hạnh phúcBiên bản kiểm điểmKình gửi cô chủ nhiệm cùng ban giám hiệu nhà trường
Em tên Nguyễn Hoài An 11.3 nay em viết đơn này và vì lí do KD1 E hứa là
K vi fạm nứa em hứa sẽ lđ đầy đủ Mong cô chấp nhận
Em tên: Đoàn Văn Lành Kính gủi ban Giám hiệu Ntrương, em viết đơn này
vì không đi lao động, em hứa sẽ thực hiện lao động đầy đủ
Kí tên
Đoàn Văn LànhBài tập này tiến hành như sau:
từng phong cách học văn bản, còn vi phạm nhiều lỗi chính tả “KD1, fạm, ld,
Trang 12Ntrương…” Vì vậy, khi luyện tập cho HS về kỹ năng viết đúng phong cách, GV
cần lưu ý các lỗi sai mà bản thân HS thường mắc phải khi tạo lập văn bản, cụ thểnhư khi thể hiện bài tập trên bảng, hoặc lỗi sai từ các bài viết làm văn, hoặc các lỗisai từ những văn bản hành chính quen thuộc với các em như: đơn xin phép, bảnkiểm điểm…HS sẽ tiếp nhận và khắc phục lỗi sai một cách hiệu quả hơn
1 HS sửa lại và hoàn chỉnh bài tập
Bài tập 2: Có bạn viết đoạn văn trong bài kiểm tra Sinh học như dưới đây Theo
em, đoạn văn này viết có đúng phong cách không? Nếu sai, em sữa lại cho đúng
Ánh sáng cung cấp năng lượng cho cây xanh quang hợp Các quá trình sinhtrưởng khác của cây cũng cần những tia nắng ấm áp, trong lành như vậy Không cóánh sáng, cây làm sao sống nổi?
Bài tập này tiến hành như sau:
- HS đọc kỹ bài tập
- GV hướng dẫn HS phát hiện lỗi và sửa lại cho đúng
- HS thực hiện bài tập
- GV bổ sung:
Đoạn văn này mắc lỗi dung nhiều từ biểu cảm (ấm áp, trong lành), kiểu câu
có tính chất cảm thán, biểu lộ cảm xúc (không có ánh sáng, cây làm sao sống nổi)
1 HS sửa lại và hoàn chỉnh bài tập
Bài tập 3: Hãy phân tích so sánh hai đoạn văn dưới đây, rút ra điểm giống và
khác nhau về nội dung, ngôn ngữ, phong cách
a Thắng lợi của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là mộttrong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là một sự kiện có phần quantrọng quốc tế to lớn và có tính chất thời đại sâu sắc (Nghị quyết Đại hội Đảng lầnthứ IV)
b Năm tháng sẽ trôi qua những thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệpkháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như mộttrong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủnghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người đi vào lịch sử thế giới như một chiếncông vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tínhchất thời đại sâu sắc (Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV)