1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật

20 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 165 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

07 2 Tìm hiểu thực tiễn của việc luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, 2.1 Đánh giá nội dung luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật trong 2.2 Thực trạng những khó khăn của học si

Trang 1

Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật

MỤC LỤC

I Các biện pháp thực hiện luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài

1 Thế nào là đoạn văn, bài văn miêu tả con vật? 07

2 Tìm hiểu thực tiễn của việc luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn,

2.1 Đánh giá nội dung luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật trong

2.2 Thực trạng những khó khăn của học sinh lớp 4 trường Tiểu học tôi

3 Các bước thực hiện luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn

Bước 1 Giúp HS hiểu cơ sở viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật hay 12

Bước 2 Xây dựng hệ thống bài tập luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài

Trang 2

I Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc áp dụng đề tài 20

DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

I – LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận:

Thế kỉ XXI là thế kỉ của tri thức và khoa học Hiện nay, trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã và đang phát triển với một tốc độ nhảy vọt

Cuộc cách mạng ấy tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

trong đó có giáo dục

Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã khẳng định: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo cùng với phát triển khoa học và Công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Chính vì vậy mà phải “đổi mới giáo dục phổ thông” và đặc biệt là bậc Tiểu học - Đây là bậc học hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện của một con người sau này, là bậc học đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và hệ thống giáo dục quốc dân

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đó là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Để thực hiện được mục tiêu trên thì chất lượng dạy học trong mỗi nhà trường Tiểu học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện bằng chất lượng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên-xã hội, Nghệ thuật, trong đó môn Tiếng Việt là một môn học đặc biệt gồm nhiều phân môn, ở mỗi phân môn cụ thể lại có nội dung, phương pháp, cách thức dạy học khác nhau nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau: Phân môn này chuẩn bị hỗ trợ cho phân môn kia và ngược lại để cùng nhằm đạt được mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học đó là:

“Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt: Nghe, nói, đọc, viết, để học tập và giao tiếp trong các môi trường họat động của lứa tuổi

Thông qua việc dạy và học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy hay cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,

giàu đẹp của Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”

Học tốt tiếng Việt sẽ giúp học sinh khám phá tìm hiểu về thế giới xung quanh một cách sâu sắc hơn, đặc biệt là phân môn Tập làm văn

Trang 4

Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn: Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác nhau Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình thành Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp Phân môn Tập làm văn dạy học sinh sử dụng được Tiếng Việt để giao tiếp, tư duy học tập

Nhiệm vụ cơ bản của dạy học Tập làm văn là giúp cho học sinh tạo ra được các ngôn bản nói và viết theo các phong cách khác nhau do chương trình quy định, nói cách khác, nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh Năng lực tạo lập ngôn bản được phân tích thành các kĩ năng bộ phận như: xác định mục đích nói, lập ý, triển khai ý thành lời dưới dạng nói, viết thành câu, đoạn, bài Nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn là cung cấp cho học sinh những kiến thức và hình thành, phát triển ở các em những kĩ năng này

Ở Tiểu học, phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn các kĩ năng nói theo các nghi thức lời nói, nói, viết các ngôn bản thông thường, viết một số văn bản nghệ thuật Ngoài các

kĩ năng chung để viết văn bản, mỗi loại văn bản cụ thể đòi hỏi cã những kĩ năng đặc thù Chẳng hạn: Để viết văn bản miêu tả cần có kĩ năng quan sát, kĩ năng diễn đạt một cách có hình ảnh… Và phân môn Tập làm văn cũng đồng thời góp phần rèn luyện tư duy và hình thành nhân cách cho học sinh Thể hiện rất rõ khi học văn miêu tả (từ một chú chim họa mi, chú gà trống, chị thỏ nâu… qua bài học đã tạo cho học sinh có sự hiểu biết, tình cảm yêu mến gắn bó con người với thiên nhiên và vạn vật xung quanh,

từ đây tâm hồn và nhân cách của các em được hình thành và phát triển)

2 Cơ sở thực tế :

Thực tế dạy học cho thấy: Dạy tập làm văn là việc rèn luyện cho học sinh khả năng tổ chức giao tiếp, tổ chức lời nói ngay từ khi học sinh bắt đầu đi học, đây là một việc làm tương đối khó khăn mà không phải giáo viên nào cũng thực hiện được Bởi lẽ khi xây dựng kế hoạch bài học phải đầu tư nhiều thời gian hơn so với các phân môn khác (yêu cầu cứ cao dần lên từ lớp 2 đến lớp 5) Ở các nhà trường Tiểu học, số giáo viên dạy một giờ Tập làm văn sinh động, hấp dẫn chưa có nhiều Hay khi thi giáo viên giỏi các cấp (trường, cụm, huyện, tỉnh…) nếu như giáo viên bắt thăm bài dạy thuộc phân môn Tập làm văn, thì hầu như tâm lí thiếu tự tin hơn các phân môn khác

Còn đối với việc học của học sinh, ngoài sách giáo khoa tiếng Việt và sách Tập làm văn (từ lớp 2 đến lớp 5) thì hiện nay, ngoài thị trường có rất nhiều loại sách tham khảo cho học sinh, giúp các em có cái nhìn đa dạng, phong phú hơn Song một số em còn lệ

Trang 5

thuộc nhiều vào sách tham khảo… có tư tưởng ngại học, ỷ lại nên cách cảm nhận, cách nghĩ của các em không phong phú mà thường đi theo lối mòn, khuôn mẫu, tẻ nhạt Xuất phát từ thực tế học sinh lớp Bốn, tuy các em đã được làm quen và thực hành các bài Tập làm văn từ lớp Hai và lớp Ba nhưng các em vẫn viết văn theo kiểu “từ ngữ khô cứng” nghèo hình ảnh hoặc câu văn chỉ dừng ở mức độ có đủ chủ ngữ vị ngữ (câu đơn bình thường) còn việc sử dụng các biện pháp tu từ để bài văn thêm sinh động, hấp dẫn thì rất hạn chế

Một bài văn hay, có giá trị không phải chỉ ở chỗ trình bày mạch lạc, dễ hiểu, mà cái quan trọng hơn, đó là sức truyền cảm và sự truyền cảm này có được là do tính chân thực, tính nhân bản cao hơn nữa là cái chất văn, hơi văn Để viết được một bài văn hay, học sinh cần phải rèn luyện sao cho có đựơc năng lực quan sát để nhận biết được cái đặc trưng của sự vật hiện tượng, năng lực cảm thụ, năng lực thu thập thông tin, năng lực tưởng tượng, liên tưởng, năng lực phân tích tổng hợp, năng lực lĩnh cảm và các khả năng biểu đạt, bố cục tạo lập phong cách… Song việc rèn luyện cho học sinh những năng lực nói trên không phải là dễ, còn gặp rất nhiều khó khăn, kết quả thu được còn nhiều hạn chế Đặc biệt là thể loại văn miêu tả - Kiểu bài tả con vật (Tập làm văn lớp 4)

Như vậy, viết đoạn văn, bài văn miêu tả là một trong những nội dung yêu cầu kiến thức – kỹ năng cơ bản ở Tiểu học Và thực tế hiện nay (với những nguyên nhân đã nêu trên), nhiều học sinh viết đoạn văn, bài văn miêu tả ( kiểu bài tả con vật) chưa hay, thậm chí chưa đạt yêu cầu Từ cơ sở lý luận và thực tế trên, để khắc phục những hạn chế trong việc dạy và học Tập làm văn trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu sáng kiến: “Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật”

II – MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1- Khảo sát tìm hiểu nội dung dạy viết đoạn văn, bài văn ở bậc Tiểu học - khối lớp 4

2 - Tìm hiểu thực trạng viết đoạn văn, bài văn của học sinh địa phương, chỉ ra nguyên nhân và đưa ra những biện pháp khắc phục

3 - Soạn các bài tập luyện cho học sinh viết đoạn văn, bài văn đúng yêu cầu và viết đoạn văn, bài văn hay Thể loại văn miêu tả, kiểu bài tả con vật (Tập làm văn lớp 4)

4 - Tổ chức cho học sinh thực nghiệm làm các bài tập ở trường tôi công tác III- ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1- Sách giáo khoa, sách giáo viên môn Tiếng Việt lớp Bốn bậc Tiểu học Trọng tâm là các bài luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả - Kiểu bài : Tả con vật

2- Thực trạng dạy và học, tình hình chất lượng đoạn văn, bài văn của học sinh địa phương (Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Nhật Tân - huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam)

Trang 6

IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1- Phương pháp khảo sát, quan sát :

Khảo sát (sách giáo khoa, sách giáo viên, vở bài tập, vở trắc nghiệm, sách bồi dưỡng, chuyên đề bồi dưỡng)- Tiếng Việt lớp 4; các bài làm của học sinh

2- Phương pháp phân tích :

Phân tích nội dung sách giáo khoa, những phần luyện viết đoạn văn, bài văn;

phân tích các đoạn văn, bài văn do học sinh viết

3 - Phương pháp tổng kết kinh nghiệm tổng hợp

Tổng hợp những yêu cầu, những kiến thức liên quan đến viết đoạn văn, bài văn

4- Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành cho học sinh lớp 4 thực nghiệm ở một số năm học để đánh giá xem hệ tác dụng của đề tài đối với kết quả viết đoạn văn, bài cho học sinh đến mức nào?

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

I - CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN LUYỆN CHO HỌC SINH LỚP 4 VIẾT ĐOẠN VĂN , BÀI VĂN “ MIÊU TẢ CON VẬT”

1 Thế nào là đoạn văn, bài văn miêu tả con vật ?

Đoạn văn, bài văn hay theo quan niệm của người viết là những đoạn văn, bài văn hay, đúng, phong phú về nội dung và có cách diễn đạt phù hợp, sinh động thể hiện được tình cảm của người viết Trong nội dung đề tài này tôi chỉ dừng lại ở phạm vi hướng dẫn học sinh viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật

* Khái niệm: Miêu tả con vật là một thể loại văn bản mà trong đó, người viết dùng ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lại hình ảnh con vật với những đặc điểm nổi bật cả về hình dáng bên ngoài lẫn những hoạt động và thói quen sinh hoạt nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung, tưởng tượng ra con vật ấy thông qua các giác quan của mình

Nếu như viết đoạn văn, bài văn tả con vật mà chínhh mình không trực tiếp quan sát con vật để có được cảm thụ thì nội dung bài viết không những sai mà còn khiến người đọc không xúc cảm Chính vì vậy mà mỗi câu, mỗi chữ trong tả con vật đều gửi gắm

tư tưởng “Tức cảnh sinh tình”, mượn cảnh mà ngụ tình Khi tả cảnh đều có cái tình trong đó

Để câu chữ chứa đựng tình cảm thì người viết phải quan sát kĩ con vật bằng

tình cảm, yêu quý thực sự như vậy mới nhận biết được đặc điểm của nó rồi dung lời lẽ sinh động để tả, sao cho có sự giao hoà tình cảm giữa người viết với con vật miêu tả như tâm tình giữa con người với con người

Trang 7

2 Tìm hiểu thực tiễn của việc luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn hay 2.1 Đánh giá nội dung luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật trong sách giáo khoa Tiếng Việt 4

a) Về nội dung bài tập: Nhìn chung các bài tập trong mỗi bài học của phân môn Tập làm văn là phù hợp, vừa sức đối với học sinh

Trước hết học sinh được trang bị những kiến thức về văn miêu tả Đó là một số hiểu biết ban đầu về đặc điểm chính của văn miêu tả Các kiến thức được cung cấp cho học sinh một cách có hệ thống và chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản Các kiến thức được xây dựng từ hệ thống câu hỏi bài tập học sinh thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh kiến thức và phát triển kĩ năng Sau đó các kiến thức sẽ được củng cố và vận dụng ngay vào các bài tập thực hành Có thể nói việc chương trình đưa kiến thức lí luận về văn miêu tả vào dạy cho học sinh là đúng đắn, cần thiết Bởi vì đây là chỗ dựa, là điểm tựa giúp học sinh làm đúng, làm tốt bài văn miêu tả

Sách Tiếng Việt 4 rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh trên cơ sở, quy trình sản sinh ngôn bản Mặt khác nó tập trung rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh tuỳ theo đối tượng miêu tả giúp học sinh chủ động, tự tin khi tạo lập bài văn miêu tả hoàn chỉnh tránh tình trạng viết văn sơ sài, viết theo cảm tính hoặc sao chép của người khác Tiếng Việt 4 tiến hành luyện tập các kĩ năng viết văn miêu tả thông qua hệ thống bài tập, các bài tập được sắp xếp từ dễ đến khó, từ thấp đến cao Cách giao nhiệm vụ rõ ràng:

Chẳng hạn : Bài “Luyện tập quan sát con vật”

Bài 1: Đọc bài văn “Đàn ngan mới nở” (Tô Hoài)

Bài 2: Để miêu tả đàn ngan, tác giả đã quan sát những bộ phận nào ? Ghi lại những điều (câu) miêu tả mà em cho là hay

Bài 3: Quan sát và miêu tả các đặc điểm ngoại hình của con mèo (hoặc con chó) của nhà em hoặc của nhà hàng xóm

Bài 4: Quan sát và miêu tả hoạt động thường xuyên của con mèo (hoặc con chó) nói trên

Như vậy, học sinh làm đúng hướng Bên cạnh đó, đề văn miêu tả trong SGK cũng rất phong phú, gắn bó với vốn sống, vốn hiểu biết của học sinh, gần gũi với các em Nhiều

đề bài còn mở ra cho học sinh những khả năng lựa chọn tuỳ theo ý thích của mỗi em giúp các em chủ động, sáng tạo, bộ lộ, thể hiện mình Sản phẩm mà các em tạo ra sẽ là những bài văn miêu tả chân thực, sinh động của chính các em Ngoài ra rất nhiều bài tập luyện từ và câu đã tạo cho học sinh ý thức sử dụng ngôn ngữ khi viết văn miêu tả

Ví dụ: Viết một đoạn văn ngắn tả con vật mà em yêu thích, trong đó có ít nhất một câu

có trạng ngữ chỉ phương tiện

Trang 8

b) Văn miêu tả được bố trí dạy theo nguyên tắc đồng tâm, mục đích giúp học sinh tạo lập những văn bản miêu tả hoàn chỉnh mang đậm dấu ấn cá nhân

Nội dung Tập làm văn trong sách giáo khoa lớp 4 đã kế thừa và mở rộng những nội dung, kĩ năng về quan sát, miêu tả, viết câu văn, đoạn văn ở lớp 2,3 tiến đến làm bài văn hoàn chỉnh theo một trình tự hợp lý, bố cục rõ ràng, diễn đạt trôi chảy, có hình ảnh

và sinh động, cảm xúc chân thực Đây cũng chính là những kiến thức, kĩ năng chuẩn bị cho học sinh lên bậc trung học cơ sở học tốt các kiểu bài trong thể loại văn miêu tả Tuy nhiên trong các bài học, kĩ năng lập dàn bài, viết đoạn văn đã được quan

tâm đúng mức song kĩ năng viết bài văn hoàn chỉnh và sửa lỗi thì lượng bài tập còn hạn chế (kể cả số tiết dành cho các dạng kĩ năng này cũng còn ít)

2.2 Thực trạng những khó khăn của học sinh lớp 4 trường Tiểu học tôi công tác khi làm văn miêu tả con vật:

a Ưu điểm:

Học sinh có sự quan sát tinh tế khi làm văn miêu tả

Ví dụ: Đây là một đoạn văn miêu tả chú gà trống:

“Chú gà mới đẹp làm sao! Chú kiêu hãnh khoác bộ áo sặc sỡ đủ màu như

một chàng hoàng tử Thân hình chú thon thon gần bằng chiếc ấm tích Trông chú thật khoẻ và rắn rỏi như một chàng hiệp sĩ Chiếc mào đỏ tươi rung rinh theo bước chân của chú Toàn thân chú phủ một lớp lông vũ óng mượt màu vàng xuộm Phía dưới cánh có lông màu lông đen Cái đuôi của chó cong vổng lên như chiếc cầu vồng Đôi chân khoẻ khoắn và thoắt cái đã thấy chú trên đỉnh đống rơm rướn dài cái cổ: Ò ó o o Lát sau đã thấy chú bên bụi chuối Chớp mắt chú đã bới được mấy con giun đất to như chiếc đũa Nhưng lạ chưa kìa, em không thấy chú ăn mà cứ kêu “tục tục!” Một lũ gà mái chạy xô đến À thì ra chú muốn mời mấy chị gà mái cùng ăn.”

Ưu điểm cần học tập: Chú gà được miêu tả là một chú gà trống đẹp Đẹp bởi vóc dáng, màu lông, đẹp bởi sự cường tráng, khoẻ mạnh Tất cả được hiện lên bởi những từ ngữ giàu hình ảnh màu sắc và âm thanh: “sặc sỡ”, “thon thon”, “rắn rỏi”, “đỏ tươi”, “óng mượt”, “vàng xuộm”, “xanh đen’, “cong vổng lên”, “khoẻ khoắn”, “rướn” Và cùng với các từ ngữ này là các biện pháp so sánh,

nhân hoá, cách dùng câu cảm làm câu chủ đề

Chú gà không những đẹp về hình dáng bên ngoài mà tính nết cũng thật đáng

yêu: Bới giun mời gà mái cùng ăn

Bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, lối diễn đạt tự nhiên, sinh động bạn đã lôi cuốn người đọc theo dõi bài viết một cách hào hứng chú gà trống hiện lên trước mắt chúng

ta như bằng xương bằng thịt và còn có cá tính thật đặc biệt

Trang 9

Chúng ta có thể tham khảo một mở bài tả chú gà trống:

“ Các bạn có biết không? Từ đầu năm học đến giờ, tôi chưa lần nào đi học muộn cả

Ấy là nhờ chiếc đồng hồ báo thức đặc biệt của tôi đấy Chiếc đồng hồ được mang tên

là “Chú Trống Choai đáng yêu”

Như vậy mở bài trên là kiểu mở bài gián tiếp, nó như những lời đố vui thơ ngây làm cho người đọc tò mò, hồi hộp và rồi lời giải đố cũng bát ngờ làm cho người đọc có cảm tình ngay khi mới đọc bài văn Thật là thú vị đáng được học tập

Hoặc một kết bài tả chú lợn: " Nuôi lợn tuy vất vả nhưng cả gia đình em ai

cũng ham, vì nó tăng thêm thu nhập cho gia đình Mỗi lần đi học về, cất xong cặp sách

là em ra thăm chú ngay Thấy em chú vẫy vẫy cái đuôi lũn cũn, khịt khịt cái mũi đến gần Cứ nghĩ đến việc phải bán chú đi, em lại thấy tội nghiệp cho chú Nhưng biết làm sao được."

Đây là phần kết bài viết theo lối mở rộng Qua cách viết ta thấy rất rõ tình cảm của người viết đối với chú lợn nhà mình và cho thấy cả lòng nhân hậu của người viết đối với loài vật nữa

Ngoài những ưu điểm về cách dùng từ, viết câu, diễn đạt, sắp xếp ý, các em học sinh khá giỏi thường viết chữ rất đẹp mà điểm cho thi học sinh giỏi, mỗi kì bao giờ cùng giành hai điểm cho chữ viết Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, các em cũng còn có một số nhược điểm (thường gặp ở học sinh trung bình yếu) đó là:

+ Lỗi về nghĩa:

"Con lợn nhà em bằng quả dưa hấu nặng bốn tạ."- Câu sai nghĩa

"Vì luôn yêu mến em, cún con rất gầy gò"- Câu không có sự tương hợp về

nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu

+ Lỗi về dấu câu:

Thiếu dấu chấm, dấu phẩy trong từng câu hoặc cả bài Hoặc sử dụng dấu câu sai Ví dụ: "Con chó rất ngoan Không cắn trộm ai bao giờ"

+ Lỗi câu, lặp từ:

Ví dụ: Cún con luôn thức đêm để trông nhà Em rất yêu quý Cún vì Cún luôn thức đêm trông nhà cho em

+ Lỗi về cấu tạo ngữ pháp:

- Câu không đủ thành phần: Những chú gà đáng yêu

- Câu thừa thành phần hoặc không phân định được thành phần

Ví dụ: Em thấy rất có ích nuôi con mèo này

Trang 10

Và còn một số lỗi nữa đó là: Viết sai lỗi chính tả dẫn đến sai nghĩa của từ, cách sắp xếp ý chưa có trật tự lô gích

b Nguyên nhân của thực trạng:

Qua tìm hiểu thực tế cho thấy : Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên đó là:

+ Do vốn từ của học sinh chưa phong phú, chưa hiểu rõ nghĩa của từ

+ Chưa nắm chắc cách làm của từng kiểu bài ở từng thể loại

+ Việc quan sát thực tế chưa đầy đủ, còn qua loa đại khái

+ Chưa có thói quen nháp bài (dàn ý chi tiết) trước khi luyện viết

+ Một số em do đọc, viết yếu dẫn đến tiếp thu bài chậm, làm văn nghèo hình ảnh, ngại học Thậm chí nói đến làm văn là sợ

+ Một nguyên nhân nữa là do sự kèm cặp học sinh yếu, trung bình của giáo viên chưa tích cực Chưa đầu tư tìm tòi xây dựng cho các em những bài tập phù hợp với trình độ khả năng của các em

3 Các bước giúp học sinh hiểu cơ sở của việc viết đoạn văn, bài văn hay

Bước 1: Giúp học sinh hiểu cơ sở của việc viết đoạn văn, bài văn hay

1.1.Khi tả con vật cần chú ý tới bốn yêu cầu sau :

1 Chọn vị trí quan sát

2 Quan sát phải nắm được đặc điểm riêng biệt của con vật

3 Phải viết ra hình dạng, màu sắc, động thái của con vật cụ thể

4 Câu chữ phải chứa đựng tình cảm chân thực; Dùng các biện pháp nghệ thuật để tả (So sánh, nhân hoá…)

1.2 Yêu cầu về đoạn văn, bài văn miêu tả con vật:

1 Đoạn văn hoàn chỉnh có đủ ba phần : mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn và gồm có::

- Đoạn văn tả hình dáng con vật

- Đoạn văn hoạt động và thói quen sinh hoạt của con vật

Hoặc các đoạn văn tổng hợp tả hình dáng con vật kết hợp tả hoạt động và thói quen sinh hoạt của con vật đoạn văn có thể được viết theo một trong ba hình thức sau:

- Đoạn văn diễn dịch

- Đoạn văn quy nạp

- Đoạn văn tổng hợp

2 Bài văn hoàn chỉnh có đủ ba phần: mở bài, thân bài, kết bài

* Mở bài : Giới thiệu con vật được tả : Gồm : Mở bài trực tiếp và mở bài gián tiếp

* Thân bài : Tái hiện, sao chụp con vật được miêu tả ở những góc nhìn nhất định

Ngày đăng: 05/04/2016, 19:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w