1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SKKN một số biện pháp giúp học sinh tiểu học học tốt từ vựng tiếng anh

24 717 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 6,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh, tôi luôn mong muốn học sinh của mình có thể hiểu bài một cách nhanh nhất, chủ động nhất, đặc biệt các em có thể vận dụng những kiến thức đã học vào gia

Trang 1

vì thế giờ học ngoại ngữ phải là giờ học đưa học sinh vào hoạt động giao tiếp thực, tức là học sinh được giao tiếp một cách có ấn tượng Là giáo viên dạy bộ môn Tiếng Anh, tôi luôn mong muốn học sinh của mình có thể hiểu bài một cách nhanh nhất, chủ động nhất, đặc biệt các em có thể vận dụng những kiến thức đã học vào giao tiếp thực tế Muốn vậy, chúng ta cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho mỗi tiết lên lớp học sinh đều hứng thú học tập, tích cực rèn luyện và nhớ được bài ngay tại lớp Chúng ta đều biết, bất cứ một thứ tiếng nào trên thế giới, muốn giao tiếp được với nó đòi hỏi chúng ta phải có một vốn

từ, bởi vì từ vựng là một thành phần không thể thiếu được trong ngôn ngữ Trong tiếng Anh chúng ta không thể rèn luyện và phát triển 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh mà không dựa vào nền tảng của từ vựng

Thật vậy, nếu không có số vốn từ cần thiết, các em sẽ không thể phát triển tốt các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho dù các em có nắm vững các mẫu câu và các kiến thức ngữ pháp Và chính vì không có vốn từ nên khi các em thực hành nói thì các em thực hiện chưa tốt, nói còn ngập ngừng không trôi chảy, không tự

Trang 2

tin tức là khi gặp phải các tình huống giao tiếp cụ thể thì không nói được hoặc khả năng bật rất chậm dù đó là câu đơn giản mà các em đã học Do vậy, giúp học sinh nắm vững các từ đã học để vận dụng vào việc rèn luyện các kỹ năng là

việc làm rất quan trọng khiến tôi trăn trở và quyết định thực hiện đề tài: “Một số phương pháp giúp học sinh Tiểu học học tốt từ vựng Tiếng Anh”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Trong việc dạy tiếng Anh, giúp học sinh học từ, nhớ từ là một hoạt động dạy không thể thiếu trong một tiết học nào Việc học từ và nhớ từ không chỉ đơn thuần là giúp học sinh nhớ nghĩa của từ mà còn là việc giúp các em nghe từ, phát âm từ một cách chính xác và áp dụng từ trong giao tiếp bằng tiếng Anh Vì vậy, việc tìm ra những cách thức giúp các em học từ và nhớ từ lâu là nhiệm vụ của mỗi giáo viên với mục đích giúp học sinh hiểu từ, sử dụng được từ vào trong câu theo từng ngữ cảnh và nhớ được từ lâu

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Khách thể: Giúp học sinh nhớ từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học

- Đối tượng: Biện pháp giúp học sinh nhớ từ vựng môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận và cơ sở thực tiễn

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế và đối thoại cùng học sinh

- Phương pháp nghiên cứu qua sách hướng dẫn, tài liệu tham khảo

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Dự giờ các bạn đồng nghiệp trong tổ bộ môn để học hỏi kinh nghiệm

1.5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

a Tìm hiểu thực trạng việc dạy tiếng Anh trước khi vận dụng đề tài

b Công tác chuẩn bị trước khi dạy từ

c Thủ thuật vận dụng các trò chơi vào tiết học

d Thủ thuật giúp học sinh học từ và ôn từ khi ở nhà

e Các bước cơ bản dạy từ vựng

Trang 3

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận

Như chúng ta đã biết, trước đây theo phương pháp dạy học cũ, thầy giáo đóng vai trò trung tâm là người truyền đạt kiến thức còn học sinh là đối tượng tiếp nhận kiến thức và ghi chép từ, mẫu câu một cách thụ động rồi sau đó về nhà học thuộc lòng sẽ không tạo khả năng tư duy sáng tạo phong phú của các con Phương pháp này ít mang lại hiệu quả giáo dục, nó không phù hợp với tình hình phát triển của nước ta hiện nay Bây giờ việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, yêu cầu học sinh phải biết tự giác, chủ động sáng tạo, chiếm lĩnh làm chủ kiến thức Thực hiện được yêu cầu này, giáo viên phải là người có vai trò hướng dẫn, điều khiển, tổ chức các hoạt động cho học sinh Do vậy việc tìm tòi và vận dụng các phương pháp mới luôn luôn đòi hỏi mỗi giáo viên phải có

Hơn thế nữa, ngoại ngữ là một môn học đòi hỏi học sinh phải có tính chăm chỉ, học thường xuyên ở mọi lúc, mọi nơi thì mới phát triển được vốn từ vựng Có vốn từ vựng khá thì học sinh mới vận dụng được các kiến thức của mình vào các bài học Bên cạnh đó, việc phỏng đoán nội dung chính trong một tiết học cũng không thể thiếu được Trước đây, theo phương pháp cũ giáo viên thường đề cập ngay vào bài mới, không kích thích được khả năng tư duy của học sinh nên các em thường rất thụ động, do đó hiệu quả của các giờ học không cao Đứng trước yêu cầu về việc đổi mới phương pháp dạy học, làm thế nào để nâng cao chất lượng giờ dạy? Vận dụng được những phương pháp nào để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh? Đó luôn là nỗi lo âu, trăn trở, những suy nghĩ của đội ngũ giáo viên – những người sẵn sàng hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giáo dục

Chính vì vậy, mỗi giáo viên chúng ta phải không ngừng tìm tòi, sáng tạo, học hỏi đồng nghiệp để tìm ra phương pháp dạy học tối ưu nhất, phù hợp với từng đối tượng học sinh

2 Cơ sở thực tiễn

a Thuận lợi

* Học sinh và giáo viên

- Đa số các em học sinh trong lớp đều yêu thích học Tiếng Anh và chuẩn bị tốt sách vở, đồ dùng học tập

Trang 4

- Giáo viên được học tập, trao đổi kinh nghiệm từ đồng nghiệp qua các buổi hội giảng, trao đổi kinh nghiệm, chuyên đề Và công nghệ thông tin cũng giúp giáo viên có được nhiều nguồn tư liệu giảng dạy.

* Nhà trường

Được sự quan tâm của Sở GD&ĐT cũng như Ban giám hiệu nhà trường các phòng học tiếng Anh giờ đây đã được trang bị tương đối đầy đủ các máy móc, trang thiết bị cần thiết phục vụ cho việc dạy và học cả bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết của thầy và trò

b Khó khăn

* Hạn chế về thời gian và các hình thức trò chơi.

Học sinh ở bậc Tiểu học còn nhỏ nên tốc độ viết của các con còn chậm Đây là một lý do chủ yếu dẫn đến việc hạn chế thời gian tổ chức các trò chơi Bên cạnh đó các hình thức trò chơi vẫn chưa được tổ chức phong phú Đặc biệt

là học sinh Tiểu học rất thích học tiếng Anh có lồng ghép các trò chơi Điều này

là rất tốt vì phần nào giáo viên đã làm được việc: Học mà chơi, chơi mà học.

* Động cơ và ý thức học tập chưa cao.

- Đa số các em chưa có phương pháp học từ vựng hiệu quả Về phía phụ huynh cũng rất khó khăn trong việc kiểm tra hoặc hướng dẫn các em tự học ở nhà bởi đây là môn ngoại ngữ không phải phụ huynh nào cũng biết và môn Tiếng Anh ở bậc Tiểu học vẫn là môn học tự chọn nên một số phụ huynh và học sinh chưa ý thức được tầm quan trọng của môn học này

- Một số học sinh ít có thời gian học bài ở nhà vì ngoài giờ học các em còn phải giúp cha mẹ làm việc nhà, đồng áng…Các em ít có điều kiện để giao tiếp bằng Tiếng Anh và các em cũng ngại giao tiếp, trao đổi với nhau bằng Tiếng Anh ngoài giờ học Một số khác là đối tượng học sinh khá, giỏi các em ngại giao tiếp không phải vì khả năng tiếp thu chậm mà các em bị hạn chế về mặt tâm lí, ngại thực hành trước đám đông

- Một số các học sinh trong lớp có hoàn cảnh khó khăn, nên các em ít có sách tham khảo để nâng cao vốn từ ngoài những từ vựng mà sách giáo khoa cung cấp Thêm vào đó các em rất ít chú trọng vào việc học và lười học bài là từ vựng tiếng Anh

Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy vốn từ vựng của các em còn rất ít Việc học và ghi nhớ từ của các em gặp nhiều khó khăn Kết quả khảo sát đầu năm việc học từ vựng của các em tại lớp 4B và 5A như sau:

Trang 5

Lớp 4B:

Số HS Nhớ từ vựng và áp

dụng từ vào thực hành tốt

* Nguyên nhân chủ quan:

- Do các em không chú ý khi giáo viên cho luyện đọc từ mới hay luyện đọc âm khó

- Do đang quen với việc giao tiếp bằng tiếng Việt nên khi chuyển sang nói bằng tiếng Anh các em thường bị mắc lỗi

- Do cách phát âm của tiếng Anh khác tiếng Việt

- Do điều kiện kinh tế gia đình mà một số em có cơ thể chậm phát triển nên trí tuệ cũng chậm theo dẫn tới việc nắm kiến thức nói chung và phân môn tiếng Anh nói riêng còn kém hơn so với các bạn Các em khó tiếp thu kiến thức mới, dễ quên kiến thức cũ

- Một số gia đình còn chưa quan tâm chuẩn bị đồ dùng, sách vở cho con

em mình nên một số em không có vở ghi bài hay sách học khi đến lớp

* Nguyên nhân khách quan

- Do học sinh thiếu tập trung, không chú ý lắng nghe giáo viên giảng bài hay hướng dẫn phát âm các từ khó

- Khả năng bao quát học sinh trong giờ học còn hạn chế nên giáo viên không đủ thời gian để chữa lỗi cho từng học sinh

- Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc rèn phát âm chuẩn cho học sinh Cá biệt còn có một số giáo viên còn phát âm chưa chuẩn

Chính vì vậy tôi đã tìm hiểu nguyên nhân và rút ra được bài học kinh nghiệm trong việc giúp học sinh nhớ từ vựng được lâu hơn, trong phạm vi đề tài này tôi xin trình bày những kinh nghiệm của bản thân khi dạy từ vựng tiếng Anh

Trang 6

cho học sinh Đề tài mang tên: “Một số phương pháp giúp học sinhTiểu học học tốt từ vựng tiếng Anh ”.

3 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề

a Công tác chuẩn bị khi thực hiện dạy từ vựng

Để việc dạy từ và giúp học sinh nhớ từ lâu, giáo viên phải chuẩn bị những việc sau đây:

- Lập kế hoạch dạy từ vựng sẽ được học hoặc ôn tập theo đặc trưng của từng tiết học

- Lựa chọn trò chơi và thủ thuật cho phù hợp theo từng nội dung bài học

- Chuẩn bị một số đồ dùng dạy học (bảng phụ dạy từ, bút lông, tranh, vật thật, thẻ bìa…)

- Chuẩn bị máy tính, đèn chiếu nếu tiết dạy có sự hỗ trợ của việc ứng dụng công nghệ thông tin

- Chuẩn bị, sắp xếp lớp học để tổ chức cho học sinh một số trò chơi có hiệu quả

b.Tiến trình thực hiện các biện pháp.

Biện pháp 1: Giáo viên lựa chọn từ vựng để dạy trong mỗi tiết học sao cho phù hợp với đối tượng học sinh.

Khi nói đến ngữ liệu mới là chủ yếu nói đến ngữ pháp và từ vựng, từ vựng và ngữ pháp luôn có mối quan hệ khăng khít với nhau, luôn được dạy phối hợp để làm rõ nghĩa của nhau Tuy nhiên dạy và giới thiệu từ vựng là vấn đề cụ thể Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện những từ mới, song không phải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy Để chọn từ cần dạy giáo viên cần xem xét những vấn đề :

- Từ chủ động (active vocabulary)

- Từ bị động (passive vocabulary)

Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau Từ chủ động có liên quan đến bốn kỹ năng (nghe, nói, đọc, viết) Đối với loại từ này giáo viên cần đầu tư thời gian để giới thiệu và hướng dẫn học sinh luyện tập nhiều hơn

Với từ bị động giáo viên chỉ cần dùng ở mức nhận biết, không cần đầu tư thời gian vào các hoạt động ứng dụng Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết định xem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động

- Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:

+ Form

Trang 7

+ Meaning.

+ Use

Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và định nghĩa như từ điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao tiếp, giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ mà còn biết cách phát

âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết nghĩa của từ

- Số lượng từ cần dạy trong bài tùy thuộc vào nội dung bài và trình độ của học sinh Không bao giờ dạy tất cả các từ mới vì sẽ không có đủ thời gian để thực hiện các hoạt động khác Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là

6 từ

- Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau:+ Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không?

+ Từ đó có khó so với trình độ của học sinh không?

- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của học sinh thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho học sinh hiểu nghĩa từ đó ngay

- Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khó lắm thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán

Ví dụ: Đối với học sinh lớp 3 khi học giới thiệu về các thành viên trong gia đình

“This is my father and that is my mother”

Thì bắt buộc giáo viên phải cung cấp cho các con hai đại từ chỉ định “This is…” và “that is…” có nghĩa tiếng Việt là “đây là…” và “kia là…” Nhưng khi học sinh đã biết cụm từ “Nice to meet you” Có nghĩa tiếng việt là “rất vui được gặp bạn” thì vế sau “Nice to meet you, too”, giáo viên không cần giải thích từ

“too” có nghĩa là cũng nữa mà chỉ cần yêu cầu học sinh đoán nghĩa của từ đó

Biện pháp 2: Giáo viên sử dụng linh hoạt các thủ thuật gợi mở để giới thiệu từ mới và ôn tập các từ đã học.

Có nhiều cách giúp học sinh nhớ từ lâu Tuy nhiên mỗi bài học có những đặc trưng riêng Tùy vào từng nội dung bài dạy mà giáo viên có thể lựa chọn cách thức cho phù hợp Giáo viên có thể thực hiện trong phần warm up, Free- Practice hoặc ngay sau khi dạy xong từ vựng

- Với trình độ là học sinh tiểu học nên việc nhận thức của các em còn rất hạn chế, các em lại rất hiếu động, có tính tò mò khám phá, thích chơi các trò

Trang 8

chơi vì vậy giáo viên nên thực hiện các trò chơi hợp lý tạo không khí lớp học vui

vẻ và sinh động giúp cho học sinh có một tâm lý thoải mái để nhớ từ trong bài

Có thể tổ chức thực hiện dưới các hình thức trò chơi tập thể, nhóm, cặp hoặc cá nhân Tuy nhiên, dù thực hiện dưới hình thức nào, giáo viên cũng cần tổ chức cho tất cả học sinh trong lớp theo dõi, nhận xét để các em cùng thực hiện

- Sau đây là một số thủ thuật mà tôi đúc kết trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu tài liệu nhằm giúp cho các em gia tăng vốn từ vựng tiếng Anh một cách tự nhiên

* Pair Race

Mục đích của trò chơi này giúp học sinh thể hiện sự năng động, sử dụng được trò chơi này các em vừa nhớ được từ vừa giúp các em phát âm từ đó một cách chính xác

- Tùy vào số lượng học sinh của lớp, giáo viên có thể xếp học sinh thành hai hàng

- Đặt một số phiếu giáo viên lên rãnh phấn trên bảng

- Giáo viên đọc to bất kỳ một từ nào trong phiếu

- Hai học sinh đứng đầu hai hàng chạy đua lên bảng chạm tay vào phiếu

Trang 9

- Viết một số lên bảng hoặc vào tờ giấy A4 với các chữ cái xếp không theo thứ tự.

- Yêu cầu học sinh sắp xếp lại các chữ cái để tạo thành từ có nghĩa

- Học sinh có thể thực hiện thi đua giữa các nhóm, cặp hoặc cá nhân

- Cho các em đọc lại các từ vừa sắp xếp

Ví dụ 1: Sắp xếp lại các chữ cái sau thành từ

- Chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ ngồi quay mặt với nhau

Trang 10

- Học sinh đầu tiên trong nhóm lặp lại câu của giáo viên.

- Học sinh thứ hai lặp lại câu của học sinh thứ nhất và thêm vào từ khác

- Học sinh thứ ba lặp lại câu của học sinh thứ nhất, thứ hai và thêm vào một từ mới tiếp theo, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi trở lại với học sinh thứ nhất trong nhóm

Ví dụ:

Giáo viên: In my house, there is my bed

Học sinh 1: In my house, there is my bed and a sofa

Học sinh 2: In my house, there is my bed, a sofa and a lamp

Học sịnh 3: In my house, there is my bed, a sofa, a lamp and a sink

Học sinh 4: In my house, there is my bed, a sofa, a lamp, a sink and a TV

Học sinh 5: In my house, there is my bed, a sofa, a lamp, a sink, a TV

and a telephone…

* What and Where

- Mục đích của trò chơi này giúp học sinh hớ nghĩa và cách đọc của từ Thủ thuật này được áp dụng cho tất cả các từ có trong bài, thường là những từ dài và khó đọc

- Viết một số từ lên bảng không theo một trật tự nào và khoanh tròn chúng lại

- Sau mỗi lần đọc giáo viên lại xóa đi một từ nhưng không xóa vòng tròn

- Cho học sinh lặp lại các từ kể cả từ bị xóa

- Khi xóa hết từ, giáo viên cho học sinh viết lại các từ vào đúng chỗ cũ

Ví dụ:

TeacherFarmer

Astronas

Trang 11

* Bingo

- Đây là trò chơi nhằm giúp học sinh thực hành, ôn từ thông qua việc kết

nối âm với cách với cách viết của từ

- Giáo viên yêu cầu lớp suy nghĩ 8 đến 10 từ theo một chủ điểm nào đó

mà giáo viên yêu cầu và viết chúng lên bảng

- Yêu cầu học sinh chọn 6 từ hoặc 9 từ bất kỳ và viết vào vở hoặc giấy

- Giáo viên đọc từ tùy ý trong các từ đã viết ở trên bảng

- Học sinh đánh dấu vào các từ đã chọn nếu nghe thấy giáo viên đọc

- Học sinh nào có 6 từ hoặc 9 từ được giáo viên đọc đầu tiên sẽ thắng trò

chơi và hô to “Bingo”

- Giáo viên hô to các câu mệnh lệnh

- Học sinh chỉ làm theo các câu mệnh lệnh của giáo viên nếu giáo viên

đọc câu mệnh lệnh bắt đầu bằng câu “Simon Says”.

- Giáo viên đọc câu mệnh lệnh,không có câu “Simon Says” học sinh

không được thực hiện theo mệnh lệnh đó Nếu học sinh nào thực hiện sẽ bị loại

ra khỏi cuộc chơi

- Trò chơi này được áp dụng cho cả lớp, không nên chia theo nhóm hoặc cặp

Ví dụ:

V

Trang 12

Nếu giáo viên nói: “Simon says: stand up!” học sinh sẽ đứng dậy.

Nếu giáo viên nói: “Stand up!” học sinh không được thực hiện mệnh lệnh

đó, nếu học sinh nào đứng dậy sẽ bị loại khỏi cuộc chơi

* Group the words

- Mục đích của trò chơi này giúp học sinh nhớ nghĩa của từ và hiểu được thuộc tính của từ

- Giáo viên viết một số từ lên bảng

- Học sinh làm việc theo nhóm để sắp xếp các từ theo từng chủ điểm mà giáo viên đã yêu cầu

- Trong khoảng thời gian nhất định, nhóm nào sắp xếp nhanh và đúng nhất sẽ được khuyến khích bằng điểm

Ví dụ 1: Sắp xếp các từ sau vào cột tương ứng.

yo-yo, ball, cake, kite, ice cream, rice, bread, jump rope

puzzl, robot, chicken, apple, doll , fish car, pizza

Ví dụ 2:

round flower catch square

jump short puddle cloud

rabit read little throw

CakeRice

………

RobotDoll

………

Ngày đăng: 05/04/2016, 19:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w