1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề án môn Lý thuyết tài chính tiền tệ

41 382 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 434 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ, lãi suất đã đượcrất nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và được nhiều quốc gia sử dụng như mộtcông cụ hữu hiệu để điều ti

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của khu vực và thế giới, Việt Nam đã và đang từng bước

đi lên và đạt được những thành tựu nhất định, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế Trong

sự phát triển đó có sự đóng góp không nhỏ của ngân hàng nhà nước (NHNN) trongviệc định hướng nền kinh tế, điều tiết các mối quan hệ trong nền kinh tế và chống lạmphát Một trong những công cụ được NHNN sử dụng nhiều nhất để thực hiện chứcnăng của mình chính là lãi suất

Với tư cách là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ, lãi suất đã đượcrất nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và được nhiều quốc gia sử dụng như mộtcông cụ hữu hiệu để điều tiết nền kinh tế, đặc biệt trong cơ chế thị trường Hơn nữa, lãisuất còn được coi là một biến vô cùng nhạy cảm đối với đời sống kinh tế Lãi suất trựctiếp tác động đến lợi ích của các chủ thể kinh tế và đến lợi nhuận của ngân hàng.Chính vì vậy mà biến số lãi suất là một trong những biến số kinh tế được theo dõi vôcùng chặt chẽ

Đối với Việt Nam và tất các các quốc gia trên thế giới, lãi suất luôn là mộttrong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý kinh tế cũng như tầng lớp dân

cư Có rất nhiều các công trình nghiên cứu cũng các cuộc tranh luận không có hồi kết

về lãi suất Diễn biến lãi suất thì được đưa tin hàng ngày trên các phương tiện truyềnthông Lãi suất thực sự là một vấn đề nóng bỏng của thị trường

Với mong muốn được tìm hiểu về lãi suất và xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn cùngvới tính thời sự của vấn đề này, em đã lựa chọn đề tài “Các vấn đề cơ bản về lãi suất

và thực trạng lãi suất trong các ngân hàng thương mại (NHTM) hiện nay” làm đề tàinghiên cứu trong đề án môn học lý thuyết tài chính tiền tệ

Bố cục của đề án bao gồm hai phần:

Chương I: Một số vấn đề cơ bản về lãi suất

Chương II: Thực trạng lãi suất trong các NHTM Việt Nam thời gian qua

Trang 2

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

LSCB Lãi suất cơ bản

LSCV Lãi suất cho vay

LSHĐ Lãi suất huy động

LSTG Lãi suất tiền gửi

LSCK Lãi suất chiết khấu

LSTCK Lãi suất tái chiết khấu

Trang 3

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT 5

1 Khái niệm 5

2 Phân loại 5

2.1 Theo loại hình tín dụng 5

2.2 Theo tính linh hoạt của lãi suất 7

2.3 Theo loại tiền cho vay 7

2.4 Theo nguồn tín dụng 7

2.5 Theo cách đo lường lãi suất 8

3 Vai trò 9

3.1 Lãi suất là công cụ thu hút các khoản tiết kiệm 9

3.2 Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô 9

-3.3 Lãi suất là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả và cũng là thước đo phản ánh hiệu quả sử dụng vốn 10

3.4 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khỏe của nền kinh tế 10

-3.5 Lãi suất là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu của hính sách tiền tệ quốc gia 11

-3.6 Lãi suất còn là công cụ để kềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sách tiền tệ của NHNN 11

3.7 Lãi suất là căn cứ để lựa chọn nguồn tài trợ hoặc lĩnh vực đầu tư 11

4 Một số phân biệt về lãi suất 11

4.1 Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa 11

4.2 Lãi suất và tỷ suất lợi tức 12

5 Cấu trúc kỳ hạn và cấu trúc rủi ro của lãi suất 13

5.1 Cấu trúc rủi ro của lãi suất: 13

5.2 Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất: 13

6 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất 14

6.1 Mức cung cầu quỹ cho vay 14

6.2 Lạm phát kỳ vọng 14

6.3 Thâm hụt ngân sách nhà nước 15

6.4 Kỳ hạn tín dụng và mức độ rủi ro 15

6.5 Tâm lý công chúng, biến động về xã hội 16

6.6 Các chính sách và sự can thiệp của nhà nước 16

6.7 Tỷ suất lợi nhuận bình quân 17

6.8 Thị trường tài chính quốc tế 17

-Chương 2: THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 18

Trang 4

1 Các chính sách điều hành lãi suất của NHNN 18

1.1 Giai đoạn trước tháng 6/1992 18

1.2 Giai đoạn 6/1992 đến năm 1995 18

1.3 Giai đoạn từ 1996 đến 7/2000 19

1.4 Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002 20

1.5 Giai đoạn từ tháng 6/2002 đến 4/2008 21

1.6 Giai đoạn từ tháng 5/2008 đến 2/2010 22

2.7 Giai đoạn từ 26/2/2010 đến nay 23

2 Thực trạng lãi suất tại các NHTM trong những năm gần đây 24

2.1 Biến động lãi suất năm 2008 24

2.2 Biến động lãi suất năm 2009 27

2.3 Biến động lãi suất năm 2010 28

2.4 Biến động lãi suất nửa đầu năm 2011 31

3 Các giải pháp điều hành lãi suất ở Việt Nam 36

-3.1 Tạo điều kiện và cơ sở cho việc thực hiện chính sách và cơ chế điều hành lãi suất 36

3.2 Thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ mô 36

3.3 Điều hành lãi suất thỏa thuận phù hợp với cơ chế thị trường 38

KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

-Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT

1 Khái niệm

Trang 5

Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp, có liên quan chặt chẽ đến các phạmtrù kinh tế khác, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng vốn - người vay vốn vớichủ thể sở hữu vốn - người cho vay theo nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn và có kèm theo

lãi ở thị trường vốn ở một thời điểm nhất định Như vậy có thể hiểu lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng trả cho người sở hữu Lãi suất còn được hiểu là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức đạt được trong kỳ

và số vốn cho vay đầu kỳ.

Lãi suất = (lợi tức / số vốn gốc)* 100%

Đối với người cho vay lợi tức được hiểu là khoản chênh lệch giữa số vốn thuđược với số vốn cho vay thoát ra ban đầu Còn đối với người đi vay thì lợi tức lại đượchiểu khoản tiền ngoài phần vốn mà người đi vay phải trả cho người cho vay về việcđược sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định

Lãi suất được sinh ra là bởi lẽ người đi vay đã sử dụng vốn đó để phục vụ cácnhu cầu sinh lợi của mình (trong hoạt động sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng) trongkhi người cho vay đã hi sinh quyền đó Mà tiền lại có giá trị theo thời gian Với cùngmột lượng, đồng tiền hôm nay có giá trị lớn hơn đồng tiền nhận được ngày mai nếutính đến giá trị thời gian của tiền tệ Khi người cho vay hy sinh quyền sử dụng tiền tệhôm nay của mình nghĩa là anh ta hy vọng sẽ nhận được lượng tiền tệ lớn hơn vàongày mai Và phần chênh lệch giữa số vốn cho vay ban đầu với số tiền người cho vaynhận được ít nhất phải bù đắp được giá trị thời gian của tiền Nếu không người cho vay

sẽ không bao giờ chuyển nhượng vốn của mình

2 Phân loại

2.1 Theo loại hình tín dụng

Lãi suất tiền gửi ngân hàng (LSTG): là loại lãi suất áp dụng cho các khoản tiền

gửi của các tổ chức hoặc cá nhân tại ngân hàng Lãi suất này cao hay thấp phụ thuộcchủ yếu vào mục đích gửi tiền của khách hàng là để giao dịch, chi trả hay để kiếm lãi

Tiền gửi tại ngân hàng được chia ra làm hai loại là tiền gửi giao dịch và tiền gửiphi giao dịch (bao gồm tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và tiềngửi tiết kiệm của dân cư)

Tiền gửi giao dịch là những khoản tiền mà các tổ chức hoặc cá nhân gửi vàongân hàng để nhờ ngân hàng giữ và thanh toán hộ Trong phạm vi cho phép, các nhucầu chi trả của các tổ chức và cá nhân đều được thực hiện thông qua ngân hàng Do cóthể được rút ra bất cứ lúc nào nên nhìn chung lãi suất của loại tiền này rất thấp Tuy

Trang 6

nhiên, mở tài khoản tiền gửi giao dịch sẽ giúp khách hàng thuận tiện hơn trong thanhtoán không dùng tiền mặt và được hưởng những dịch vụ khác của ngân hàng với mứcphí thấp.

Khác với tiền gửi giao dịch, tiền gửi phi giao dịch là khoản tiền được kháchhàng gửi vào ngân hàng với mục đích chủ yếu là để kiếm lãi Hình thức áp dụng loạitiền gửi này rất đa dạng: không kỳ hạn, kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần, 3 tuần, 1 tháng, 2 tháng,

3 tháng…Thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao Tuy không thuận tiện cho thanh toánnhư tiền gửi thanh toán nhưng khoản tiền gửi này được hưởng lãi suất cao hơn

Lãi suất cho vay (LSCV) ngắn, trung và dài hạn là lãi suất áp dụng cho các

khách hàng vay tiền của các NHTM dưới các hình thức khác nhau Về nguyên tắc,khoản vay có thời hạn càng dài, mức độ rủi ro càng cao thì lãi suất càng cao và ngượclại, và mức lãi suất tiền vay bình quân phải cao hơn mức LSTG bình quân

Phân loại lãi suất thành LSTG và LSCV giúp các ngân hàng có thể quyết địnhnên ấn định mức lãi suất huy động (LSHĐ) vốn và LSCV là bao nhiêu để từ đó có thểhuy động được nguồn vốn dồi dào đồng thời có thể sử dụng nguồn vốn vay của mìnhcho hiệu quả nhất, hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời giúp người gửitiền có thể lựa chọn cho mình ngân hàng gửi tiền có lãi suất cao nhất; giúp người vaytiền lựa chọn được ngân hàng để xin vay với lãi suất thấp nhất

Lãi suất chiết khấu (LSCK) là lãi suất mà NHTM áp dụng khi khách hàng thực

hiện các giao dịch chiết khấu giấy tờ có giá, thương phiếu chưa đến hạn thanh toán vàthỏa mãn các điều kiện theo quy định LSCK được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnhgiá của giấy tờ có giá, được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng

Lãi suất tái chiết khấu (LSTCK) là lãi suất mà NHNN áp dụng khi cho các

NHTM vay dưới các hình thức như tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá chưađến hạn thanh toán hoặc áp dụng khi NHNN mua mới (chiết khấu lần một) đối vớinhững giấy tờ có giá của các NHTM Cần phải hiểu chữ “tái” ở đây là nhằm chỉ quan

hệ chiết khấu giữa NHTW và NHTM chứ không đồng nghĩa với “chiết khấu lại” Lãisuất tái chiết khấu được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá giấy tờ có giá đượcchiết khấu/tái chiết khấu

Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất mà các NHTM áp dụng khi cho nhau vay

trên thị trường liên ngân hàng Lãi suất này do NHTW điều hành và ấn định

Trang 7

Lãi suất cơ bản (LSCB) là lãi suất do NHNN quy định và được các NHTM sử

dụng để làm cơ sở ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình Tính chất "cơ bản" củaLSCB được thể hiện ở các điểm sau đây:

- LSCB do NHNN xác định và công bố, thể hiện ý chí của chủ thể quản lý, chứkhông tự hình thành trên thị trường tiền tệ như các loại lãi suất khác

- Có tính bắt buộc đối các loại hình tổ chức tín dụng (TCTD), bất kể có đượcxác định một cách hợp lý hay không

- Tác động một cách trực diện đến các lãi suất trên thị trường, do đó được sửdụng như một công cụ quan trọng để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia

2.2 Theo tính linh hoạt của lãi suất:

Lãi suất cố định là lãi suất không thay đổi, được cố định trong suốt thời hạn vay

do có sự can thiệp của Nhà nước Chẳng hạn khi vay 20 triệu với kỳ hạn là 2 năm vớilãi suất 20%/năm thì trong suốt kỳ hạn 2 năm này lãi suất luôn ở mức 20%/năm cho dùlãi suất thị trường thay đổi lên cao hay xuống thấp

Lãi suất thả nổi là lãi suất luôn thay đổi, lên xuống phụ thuộc vào cung cầu của

thị trường mà không hề có sự can thiệp nào của Nhà nước

Lãi suất linh hoạt là lãi suất được điều chỉnh lên xuống dựa trên quy luật cung

cầu của thị trường, tuy nhiên trong sự thay đổi này có sự điều chỉnh của Nhà nước Lãisuất này vừa thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc quản lý thị trường đồng thời vẫntôn trọng tính khách quan của thị trường

2.3 Theo loại tiền cho vay:

Lãi suất ngoại tệ là lãi suất được áp dụng cho đồng tiền của nước ngoài Ví dụ

tại Việt Nam, lãi suất được tính trên cơ sở USD là lãi suất ngoại tệ

Lãi suất nội tệ là lãi suất được áp dụng cho đồng tiền của quốc gia đó Ví dụ tại

Việt Nam, lãi suất được tính trên cơ sở VND là lãi suất nội tệ

2.4 Theo nguồn tín dụng:

Lãi suất trong nước là lãi suất áp dụng cho các khoản tín dụng trong nước Lãi suất quốc tế là lãi suất áp dụng cho các khoản tín dụng ngoài phạm vi quốc

gia

2.5 Theo cách đo lường lãi suất

Lãi suất đơn là lãi suất được áp dụng cho những khoản vay đơn, đó là tỷ lệ giữa

số lãi phải trả vào cuối kỳ cho vay trên tổng số vốn cho vay ở một thời kỳ nhất định

Trang 8

Lãi suất đơn chỉ được tính trên số vốn gốc ban đầu và thường là lãi suất danhnghĩa và được ghi trên hợp đồng tín dụng.

Đo lường: i =

Vo n

Vo Vn

.

LT= Vn – V0 = Vo * i (theo tháng) * n

Vn = Vo * ( 1 + i*n)

V0: số vốn gốc ; n: số kỳ cho vay (tính theo tháng/năm)

Vn : số tiền thu về cuối kỳ cho vay; LT: lợi tức trong suốt thời gian vay

Ứng dụng: lãi suất đơn áp dụng cho những món vay thương mại có thời gianngắn hơn một năm hay thời hạn cho vay trùng khít với chu kỳ tính lãi

VD: Bà A có khoản tiền nhàn rỗi trong 1 năm là 100 triệu đồng, cuối kỳ thuđược số tiền là 110 triệu đồng  i = ( 110 – 100) / 100*1 = 10% / năm

Lãi suất kép là lãi suất được áp dụng cho những khoản vay nhiều kỳ, được xác

định trên cơ sở tổng lợi tức đạt được trong suốt thời gian vay trên số vốn gốc trong đótiền lãi của ký thứ nhất được gộp với gốc để tính lãi cho kỳ sau Như vậy lãi suất kép

có tính đến giá trị đầu tư lại của lợi tức thu được trong thời hạn sử dụng tiền vay

Đo lường: i =

n

i)n 1 1

Lãi suất hoàn vốn là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thanh toán nhận

được trong tương lai từ một khoản tín dụng với giá trị hôm nay của khoản tín dụng đó

VD: Một trái phiếu có mệnh giá là 1 triệu với lãi suất = 10%/năm, thời hạn củatrái phiếu là 1 năm, giá trị nhận được trong tương lai của trái phiếu là 1,1 triệu Người

ta nói rằng giá trị hôm nay của khoản tiền 1,1 triệu sẽ nhận được sau 1 năm là 1 triệuthì lãi suất hoàn vốn = 10%

Lãi suất này áp dụng trong trường hợp tính các khoản vay trả lãi đều hàng nămhoặc trái phiếu Coupon

FP i

FP i

FP

) 1 (

) 1 ( ) 1 (  1   2    + i n

FV

) 1 ( 

PV : giá trị hiện tại của trái phiếu

Trang 9

FP: thu nhập đều hàng năm

i: lãi suất

n: thời gian cho vay

3 Vai trò

3.1 Lãi suất là công cụ thu hút các khoản tiết kiệm

Nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith trong tác phẩm “Của cải của các dân tộc”

cho rằng: “ Tiết kiệm là nguyên nhân trực tiếp gia tăng vốn Lao động tạo ra sản phẩm để tích luỹ cho quá trình tăng tiết kiệm Nhưng dù có tạo ra bao nhiêu chăng nữa, nhưng không có tiết kiệm thì vốn không bao giờ tăng lên.”

Tiết kiệm, hiểu theo nghĩa phổ thông, là hành vi giảm thiểu các lãng phí còntrong kinh tế học, tiết kiệm được hiểu là phần thu nhập có thể sử dụng của các chủ thểkinh tế không được chi vào tiêu dùng trong hiện tại Khoa học kinh tế giả định rằngcon người có hành vi tối đa hóa lợi ích Vì thế, khoản thu nhập không được tiêu dùng

sẽ được đem đi đầu tư để sinh lời

Với việc tạo thêm thu nhập cho người tiết kiệm, lãi suất trở thành một nhân tố

cơ bản để điều tiết tiêu dùng và tiết kiệm Khi lãi suất cao sẽ khuyến khích mọi người

hy sinh tiêu dùng trong hiện tại, tiết kiệm khoản thu nhập đó với kỳ vọng có đượckhoản tiêu dùng cao hơn trong tương lai và ngược lại

Trong nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển, các khoản tiết kiệm đượcthu hút một cách triệt để qua cả kênh tài chính trực tiếp lẫn kênh tài chính gián tiếp đểtạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu vay vốn của nền kinh tế

3.2 Lãi suất là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô

Trên tầm vĩ mô, lãi suất là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô rất có hiệu quả củachính phủ thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định,làm ảnh hướng đến nền kinh tế của một quốc gia

Khi lãi suất thấp sẽ khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, làm tăng tổng cầu, và do

đó sẽ làm giá cả tăng và tăng sản lượng tiêu thụ -> doanh nghiệp cần nhiều công nhânhơn cho việc sản xuất -> thấp nghiệp giảm Lãi suất thấp còn làm cho đồng nội tệ có

xu hướng giảm giá so với đồng ngoại tệ Và ngược lại, khi lãi suất cao -> làm hạn chếđầu tư và tiêu dùng -> tổng cầu giảm -> sản lượng và giá cả đều giảm đồng thời thấtnghiệp tăng lên, đồng nội tệ có xu hướng tăng giá so với ngoại tệ

Như vậy bằng cách giảm lãi suất, NHNN có thể tạo điều kiện cho các hoạt độngkinh tế phát triển Tương tự, NHNN sẽ tăng lãi suất.khi muốn thực hiện chính sáchthắt chặt tiền tệ, giảm bớt lượng tiền cung ứng trên thị trường

Trang 10

Có thể thấy rõ rằng, lãi suất có ảnh hưởng rất lớn đến các biến số kinh tế vĩ mô.

Do đó, lãi suất được Chính phủ các nước sử dụng làm một công cụ hiệu quả để điềutiết nền kinh tế quốc gia

3.3 Lãi suất là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả

và cũng là thước đo phản ánh hiệu quả sử dụng vốn

Lãi suất có tác dụng trong việc huy động, phân bổ vốn Đối với những dự án cómức độ rủi ro như nhau thì nhà đầu tư sẽ lựa chọn dự án mang lại lãi suất cao hơn.Như vậy bằng cách đưa ra các mức lãi suất khác nhau có thể tạo được sự phân bổ cácluồng vốn theo mục đích mong muốn

Vì trong quan hệ vay vốn, người đi vay phải hoàn trả không chỉ gốc mà cả lãicho người cho vay, do đó buộc họ phải tìm cách để sử dụng vốn có hiệu quả nhất, tạođược thu nhập không chỉ đủ để bù đắp chi phí mà còn có được lợi nhuận giữ lại

Đối với người cho vay, lãi suất nói lên khả năng sinh lời của vốn mà họ đã bỏ

ra đầu tư Do đó, khi người cho vay cho vay được với mức lãi suất cao thì chứng tỏhiệu quả sử dụng vốn của người đi vay là tốt

3.4 Lãi suất là công cụ đo lường tình trạng sức khỏe của nền kinh tế

Người ta nhận thấy rằng lãi suất trong nền kinh tế đang trong giai đoạn pháttriển thường có xu hướng tăng do cung cầu quỹ cho vay tăng lên, trong đó tốc độ tăngcủa cung quỹ cho vay thường nhỏ hơn tốc độ tăng của cầu quỹ cho vay Ngược lại, lãisuất trong giai đoạn suy thoái kinh tế thì có xu hướng giảm xuống Các xu hướng biếnđộng này của lãi suất được phản ánh đầy đủ trên đường cong lãi suất, vì vậy khi nhìnvào đường cong lãi suất chúng ta có thể thấy được xu thế biến động lãi suất và từ đóthấy được tình trạng sức khỏe của nền kinh tế

Là biến số thường xuyên biến động trong nền kinh tế nên thông qua sự biếnđộng của lãi suất người ta có thể dự báo được các yếu tố khác của nền kinh tế như tính

sinh lời của các cơ hội đầu tư, mức lạm phát dự tính, mức thiếu hụt ngân sách…cũngnhư dự báo được tình hình kinh tế trong tương lai Các dự báo này sẽ là cơ sở quantrọng để các chủ thể kinh tế đưa ra các quyết định đầu tư, tiêu dùng hay các quyết địnhkinh doanh phù hợp

3.5 Lãi suất là đòn bẩy, kích thích sự tăng trưởng kinh tế, góp phần thực hiện mục tiêu của hính sách tiền tệ quốc gia

Khi mức LSCV của các ngân hàng thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân sẽ cótác dụng thúc đẩy kích thích các doanh nghiệp tăng nhu cầu đầu tư, mở rộng sản xuất,

Trang 11

đổi mới thiết bị, trang bị công nghệ sản xuất hiện đại bằng nguồn vốn vay ngân hàng.Hiệu quả cuối cùng sẽ tạo ra một nguồn vốn lớn cho xã hội và làm cho tổng thu nhậpquốc dân tăng lên

3.6 Lãi suất còn là công cụ để kềm chế lạm phát rất hữu hiệu thông qua chính sách tiền tệ của NHNN

Trong trường hợp nền kinh tế có lạm phát, NHNN sẽ sử dụng chính sách thắtchặt tiền tệ NHNN sẽ tăng lãi suất để thu hút tiền nhàn rỗi trong lưu thông về, nhằmmục đích điều hòa lượng tiền trong lưu thông, cân đối với khối lượng hàng hóa

3.7 Lãi suất là căn cứ để lựa chọn nguồn tài trợ hoặc lĩnh vực đầu tư

Đối với nhà đầu tư, để có thể thu được mức lợi nhuận cao nhất, khi lựa chọnnguồn tài trợ, họ thường lựa chọn những nguồn tài trợ có mức lãi suất thấp, còn khilựa chọn lĩnh vực đầu tư họ lại lựa chọn những lĩnh vực đầu tư mang lại lãi suất cao -lãi suất này phải lớn hơn hoặc cùng lắm phải bằng lãi suất tín dụng của các NHTM

4 Một số phân biệt về lãi suất

4.1 Lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa

Lãi suất thực (ir) là lãi suất được điều chỉnh theo những thay đổi về lạm pháthay nói cách khác là lãi suất đã trừ đi tỷ lệ lạm phát ir thường được so sánh với các tàisản hiện vật như vàng, hàng hóa…

Lãi suất danh nghĩa (in) là lãi suất được tính theo giá trị danh nghĩa của tiền vào

thời điểm xem xét hay nói cách khác là loại lãi suất chưa tính đến những ảnh hưởngcủa lạm phát in được niêm yết, công bố, công khai trên các văn bản, giấy tờ, hợp đồng

ir luôn nhỏ hơn in bởi vì những khoản thu nhập bằng tiền hay thu nhập danhnghĩa, trên thực tế, thường không phản ánh đúng giá trị thực của chính những khoảnthu nhập đó Tỷ lệ lạm phát (ii) hay tỷ lệ trượt giá của đồng tiền trong một thời giannhất định luôn làm cho giá trị thực nhỏ hơn giá trị danh nghĩa

Thông thường, trong điều kiện ii nhỏ hơn 10% thì mối quan hệ giữa ir và in được

biểu hiện thông qua công thức: i r = i n - i i

Còn trong trường hợp ii lớn hơn 10% thì mối quan hệ này được biểu hiện thông

qua công thức i r = (i n - i i )/(i i + 1)

Từ 2 công thức này có thể thấy: ii càng cao thì ir càng thấp, thậm chí có thể âm.Việc phân biệt 2 loại lãi suất này giúp khách hàng có thể thấy được số tiền thực

tế thu về được thông qua so sánh ir và in Nếu ir dương sẽ khuyến khích huy động vốn

Trang 12

của các NHTM ir là một căn cứ để khách hàng đưa các quyết định đầu tư Do vậy cácNHTM luôn có động thái tích cực điều chỉnh lãi suất theo quy định của NHNN mộtcách kịp thời trước những biến động của thị trường gây ảnh hưởng bất lợi cho nguồnvốn của NHTM.

Có thể thấy lạm phát là một yếu tố luôn ảnh hưởng đến cơ chế điều hành lãisuất Do đây là yếu tố tác động khách quan nên các NHTM cần phải có nhưng điềuchỉnh linh hoạt trong từng thời kỳ dưới sự quản lý của NHNN Không nên chậm phảnứng với những biến động, nếu lạm phát tăng nhanh, in tăng chưa đảm bảo ir dương sẽdẫn đến việc người dân rút tiền để đầu tư sang lĩnh vực khác

4.2 Lãi suất và tỷ suất lợi tức

Lãi suất là tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn cho vay trong khi đó,

tỷ suất lợi tức là tỷ lệ phần trăm giữa thu nhập mà người đầu tư nhận được so với giá

trị của khoản vốn đầu tư ban đầu

Lãi suất = (lợi tức / vốn gốc)* 100%

Tỷ suất lợi tức = ( thu nhập / vốn gốc)* 100%

Ví dụ: ông A một trái phiếu có mệnh giá là 1.000.000 VND, lãi suất là10%/năm

- TH 1: trái phiếu được giữ đến ngày đáo hạn, ông A sẽ nhận được khoản tiềnbao gồm mệnh giá của trái phiếu và tiền lãi bằng 10% mệnh giá của trái phiếu, khi đó

Tỷ suất lợi tức =1.0001..000000.000x10%x1x 100% = 10% bằng đúng lãi suất của trái phiếu

- TH 2 : sau 1 năm, ông A bán trái phiếu trên thị trường và thu được 1.200.000

-> Tỷ suất lợi tức = 1.000.000x10%x11.000(1..200000.000 1.000.000) x 100% =30%

-> Tỷ suất lợi tức lớn hơn so với lãi suất của trái phiếu

- TH 3: sau 1 năm, ông A bán trái phiếu chỉ thu được 800.000, khi đó

Tỷ suất lợi tức =

000 000 1

) 000 000 1 000 800 ( 1

% 10 000 000

x 100% = -10%-> Tỷ suất lợi tức âm, điều này có nghĩa là ông A chẳng những không kiếmđược thêm tiền mà còn bị thua lỗ

Như vậy có thể thấy rằng, lãi suất và tỷ suất lợi tức không nhất thiết phải bằngnhau và tỷ suất lợi tức có thể âm

Trang 13

Tỷ suất lợi tức phản ánh cho người sở hữu chứng khoán biết rằng họ đang có lãihay bị thua lỗ khi lưu giữ chứng khoán trong khi lãi suất không phản ánh được đầy đủđiều này.

Hiện nay hầu hết các NHTM và các TCTD khi thực hiện cho các doanh nghiệphay cá nhân vay vốn ngoài lãi vay ra họ còn được nhận khoản phí Phí bao gồm: phílập hồ sơ, phí thẩm định khả năng tài chính của người đi vay, phí thẩm định tài sản thếchấp, phí bảo quản tài sản Vì vậy trên thực tế, tỷ suất lợi tức luôn lớn hơn lãi suất

5 Cấu trúc kỳ hạn và cấu trúc rủi ro của lãi suất

5.1 Cấu trúc rủi ro của lãi suất:

Cấu trúc rủi ro của lãi suất giải thích nguyên nhân khác biệt về lãi suất giữa cáccông cụ nợ cùng kỳ hạn Theo lý thuyết này thì lãi suất được coi là phần bù rủi ro, mức

độ rủi ro của công cụ nợ càng lớn thì lãi suất càng cao và ngược lại

5.2 Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất:

Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất giải thích nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữacác công cụ nợ có cùng đặc tính rủi ro, tính lòng và thuế thu nhập nhưng có kỳ hạnthanh toán khác nhau Cấu trúc kỳ hạn của lãi suất được giải thích bằng 3 lý thuyết là

lý thuyết dự đoán về cấu trúc thời hạn, lú thuyết về phân loại thị trường và lý thuyết vềtiền thưởng rủi ro

Để mô tả cấu trúc kỳ hạn của lãi suất cho một loại công cụ nợ riêng biệt người

ta sử dụng đường lãi suất hoàn vốn Tùy thuộc vào mức độ tương quan giữa các mứclãi suất mà đường lãi suất hoàn vốn này có thể dốc lên, dốc xuống hoặc nằm ngang

Từ kết quả phân tích mang tính quy luật và những bằng chứng thực nghiệm có

thể nhận thấy rõ ràng rằng món vay có thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao bởi lẽ

thời hạn cho vay dài thì khả năng khoản vay đó gặp rủi ro sẽ càng tăng lên Do vậy màphần bù rủi ro sẽ làm cho lãi suất tăng lên

Trong một vài trường hợp đặc biệt như nhà nước mong muốn khuyến khích đầu

tư dài hạn vào một lĩnh vực ưu tiên nào đó thì lãi suất áp dụng khi đầu tư vốn vào lĩnhvực đó (đặc biệt là vốn NHNN) sẽ được ưu tiên hơn, thậm chí được quy định thấp hơn

cả LSCV ngắn hạn trong cùng thời kỳ

6 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất

Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất luôn biến động và phụ thuộc vào rất nhiềucác nhân tố kinh tế vĩ mô cũng như nhiều nhân tố khác Trong đó, những nhân tố cơbản và quan trọng nhất là:

Trang 14

6.1 Mức cung cầu quỹ cho vay

Lãi suất là giá cả của cho vay do đó bất kỳ sự thay đổi nào của cung và cầuhoặc của cả cung và cầu quỹ cho vay không cùng một tỷ lệ đều dẫn tới sự thay đổimức lãi suất trên thị trường

Cầu quỹ cho vay là nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh hoặc tiêu

dùng của các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, được hình thành từ nhu cầu vay củacác doanh nghiệp và hộ gia đình, nhu cầu vay vốn của khu vực chính phủ và nhu cầuvay vốn của chủ thể nước ngoài Cầu quỹ cho vay biến động ngược chiểu với lãi suấttrong điều kiện các yếu tố ngoại sinh như lạm phát dự tính, khả năng sinh lợi dự tínhcủa các cơ hội đầu tư không đổi Cầu quỹ cho vay tăng thì lãi suất giảm và ngược lạicầu quỹ cho vay giảm thì lãi suất tăng Như vậy đường cầu biểu diễn mối quan hệ giữalãi suất và cầu quỹ cho vay là đường dốc xuống

Cung quỹ cho vay là khối lượng vốn dùng để cho vay kiếm lời của các chủ thể,

được tạo ra bởi các nguồn như: tiền gửi tiết kiệm của hôi gia đình, nguồn vốn nhàn rồitạm thời của các doanh nghiệp, các khoản thu nhập chưa dùng đến của ngân sách nhànước, nguồn vốn của các chủ thể nước ngoài Cung quỹ cho vay phản ứng đồng biếnvới sự thay đổi của lãi suất trong điều kiện các yếu tố ngoại sinh không thay đổi Khicung quỹ cho vay tăng thì lãi suất tăng và khi cung quỹ cho vay giảm thì lãi suất giảm

Mức độ biến động của lãi suất ít nhiều phụ thuộc vào quyết định của chính phủ

và NHNN, điều này cho thấy chúng ta có thể tác động vào cung cầu trên thị trườngvốn để thay đổi lãi suất trong nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu chiến lược trongtừng thời kỳ

6.2 Lạm phát kỳ vọng

Khi mức lạm phát được dự đoán là sẽ tăng lên trong một thời kỳ nào đó thì lãisuất cũng sẽ có xu hướng tăng lên Điều này có thể được giải thích theo 2 cách tiếp cậnnhư sau Thứ nhất, xuất phát từ mối quan hệ giữa ir và in cho thấy, để duy trì ir khôngđổi, ii tăng đòi hỏi in cũng phải tăng lên tương ứng (ir = in - ii)

Thứ hai, khi lạm phát được dự tính là tăng lên thì lợi tức dự tính của nhữngkhoản tiền gửi ngân hàng sẽ giảm xuống, khi đó người dân sẽ dùng phần tiết kiệm củamình cho việc dự trữ hàng hóa hoặc những tài sản phi tài chính khác như vàng, ngoại

tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài…mà không sử dụng số tiền đó cho việc gửivào ngân hàng Điều này làm giảm cung quỹ cho vay và gây áp lực tăng lãi suất

6.3 Thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN)

Thâm hụt ngân sách trung ương và địa phương trực tiếp làm cầu của quỹ chovay tăng và làm tăng lãi suất; tác động đến tâm lý công chúng về gia tăng mức lạm

Trang 15

phát, dẫn tới việc găm tiền lại để mua tài sản khác làm cung quỹ cho vay bị giảm và dovậy gây áp lực tăng lãi suất Khi thâm hụt ngân sách, Chính phủ sẽ phải phát hành cáccông cụ để vay nợ trong nước và nước ngoài để bù đắp cho các khoản thâm hụt này

- Nếu chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành tiền sẽ gây ralạm phát và do đó làm tăng lãi suất tăng

- Nếu chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu thìkhi đó giá trái phiếu giảm => NHTM và các cá nhân sẽ dùng nhiều tiền hơn cho việcmua trái phiếu Điều này làm cho lượng tiền dùng để mua trái phiếu tăng và làm lượngtiền dùng để cho vay trong dân chúng bị thu hẹp, đo đó làm lãi suất tăng

Phương trình thâm hụt ngân sách nhà nước hàng năm của chính phủ:

DEP = (Cg + Ig) + i – r – OIL

Trong đó DEP: thâm hụt NSNN

Cg + Ig: chi thường xuyên của chính phủ

i: quỹ dự trừ đầu tư

r: mức lãi suất

OIL vay trả nợ trước

Trường hợp thặng dư ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất giảm do sự vận động ngượclại của trường hợp thâm hụt ngân sách Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay khó xảy ratrường hợp này khi mà thâm hụt ngân sách ở nước ta vẫn đang có xu hướng tăng cao

6.4 Kỳ hạn tín dụng và mức độ rủi ro

Khoản tín dụng có thời hạn càng dài và mức độ rủi ro càng cao thì lãi suất càngcao và ngược lại Điều này được giải thích là do khi vay dài hạn thì sẽ tạo nhiều thuậnlợi hơn tuy nhiên rủi ro gặp phải sẽ nhiều hơn do đó lãi suất sẽ phải cao hơn để bù đắpđược phần rủi ro đó Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt, khi mà nhà nướcmong muốn khuyến khích đầu tư dài hạn vào một lĩnh vực ưu tiên nào đó thì lãi suất

áp dụng đối với vốn đầu tư vào lĩnh vực đó, đặc biệt là bằng vốn NSNN, thậm chí cònđược quy định hấp dẫn hơn LSCV ngắn hạn trong cùng thời kỳ

Nhưng thực tế không phải lúc nào điều này cũng đúng Ví dụ:

Trần lãi suất huy động vốn bằng VND tại Vietinbank

Kỳ hạn Trần lãi suất tối đa (%/năm)

Trang 16

là do lạm phát hiện nay tại Việt Nam chỉ ở mức một con số (6,2 %) tuy nhiên do tâm

lý người dân lo ngại lạm phát nên vẫn chỉ gửi các kỳ hạn ngắn tại các ngân hàng, bởivậy các ngân hàng vẫn phải thực hiện nhiều biện pháp khác nhau để cạnh tranh giữkhách hàng và thu hút khách hàng, đây cũng là nhân tố đẩy lãi suất ngắn hạn lên cao

6.5 Tâm lý công chúng, biến động về xã hội

Sự thay đổi của lãi suất còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như tâm lý côngchúng và những biến động về xã hội Khi công chúng có sự hoang mang, dao động vàthiếu tin tưởng vào đồng tiền hoặc có tin đồn thất thiệt thì họ sẽ rút tiền về tiêu dùnghoặc đầu tư bằng phương thức khác, điều này làm cho cung tiền tệ giảm và làm tănglãi suất Ngược lại, khi tâm lý công chúng ổn định, họ có niềm tin vào đồng nội tệ thì

sẽ gửi tiết kiệm nhiều làm cho cung tiền tệ tăng và làm cho lãi suất giảm

Tình hình kinh tế, chính trị cũng như những biến động tài chính quốc tế như cáccuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trên thế giới…cũng ít nhiều ảnh hưởng đến sự thayđổi của lãi suất của các nước khác

6.6 Các chính sách và sự can thiệp của nhà nước

Các chính sách của nhà nước bao gồm

- Chính sách về thuế: thuế đánh vào hoạt động của ngân hàng tăng lên, ngânhàng sẽ chuyển gánh nặng đó lên người đi vay làm LSCV tăng

- Chính sách tiền tệ: tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng tăng làm nguồncung tín dụng của ngân hàng giảm, kết quả là làm lãi suất tăng

- Chính sách tỷ giá: tỷ giá tăng làm cung nội tệ tăng làm lãi suất tăng

Khi đồng nội tệ yếu, thì tâm lý phổ biến là coi ngoại tệ mạnh như một trongnhững loại tài sản tiết kiệm an toàn Khi hiện xảy ra tượng đô la hoá, người dân ồ ạtchuyển sang tiết kiệm bằng USD, làm như vậy sẽ hưởng lợi kép gồm TSTG và sự lêngiá của đồng USD Sự chuyển dịch này tạo ra sự khan hiếm nội tệ ở các NHTM vàbuộc các NHTM này phải tăng LSTG đồng nội tệ để huy động cho vay nền kinh tế

Trang 17

6.7 Tỷ suất lợi nhuận bình quân:

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ lệ bằng nhau của những khoản vốn bằng nhau

đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau

Muốn các nhà đầu tư đầu tư vốn của mình vào dự án thì tỷ suất lợi nhuận bìnhquân của các dự án đó phải cao hơn lãi suất các khoản vay tài trợ dự án Có như vậycác nhà đầu tư mới có được lợi nhuận từ các dự án đầu tư và muốn tiếp tục mở rộngđầu tư

Khi tỷ suất lợi nhuận bình quân tăng thì hoạt động đầu tư ít rủi ro, lợi nhuận caohơn, do đó nhu cầu về tín dụng cũng tăng theo Như vậy khi tỷ suất lợi nhuận bìnhquân tăng thì lãi suất tăng

6.8 Thị trường tài chính quốc tế

Ở thị trường tài chính quốc tế hình thành lãi suất quốc tế

- Nếu lãi suất quốc tế cao hơn lãi suất trong nước thì dòng vốn di chuyển từtrong nước ra nước ngoài tăng làm cung tiền tệ trong nước giảm => lãi suất tăng

- Nếu lãi suất quốc tế thấp hơn lãi suất trong nước thì dòng vốn di chuyển từnước ngoài vào trong nước tăng làm cung tiền tệ trong nước tăng => lãi suất giảm

Chương 2: THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TRONG CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

1 Các chính sách điều hành lãi suất của NHNN

1.1 Giai đoạn trước tháng 6/1992: Cơ chế lãi suất thực âm

Trước năm 1988 là thời kỳ thực thi chế độ quản lý nền kinh tế theo cơ chế kếhoạch hóa tập trung kéo dài với đặc trưng cơ bản là áp dụng chính sách lãi suất baocấp nặng nề, lãi suất được xây dựng thoát ly với lãi suất của nền kinh tế thế giới Theonghị định 165/HĐBT ngày 23/9/1982 của hội đồng bộ trưởng, LSCV thời kỳ này được

Trang 18

ấn định mức cụ thể Với cơ chế này, NHNN đã can thiệp ở mức độ cao và trực tiếp vàolãi suất thông qua việc ấn định các mức LSTG và LSCV Cơ chế lãi suất âm và mangnặng tính chất bao cấp được duy trì Thời kỳ này, người gửi tiền tại ngân hàng khôngnhững có lãi mà giá trị đồng tiền vốn của họ còn không dược đảm bảo Mức lạm pháttrên thị trường năm 1986 là 774% trong khi đó lãi suất chỉ có 12%.

Đặc điểm của lãi suất giai đoạn này là:

- LSCV đối với doanh nghiệp nhà nước < LSCV đối với doanh nghiệp ngoàiquốc doanh;

- Lãi suất danh nghĩa < tỷ lệ lạm phát;

- LSCV ngắn hạn > LSCV dài hạn;

- LSTG tiết kiệm > LSTG của các tổ chức kinh tế

Tình trạng can thiệp này của chính phủ đã làm cho lãi suất không thực hiệnđược chức năng vốn có của nó Do lãi suất thực của tiền gửi trong thời gian này là số

âm nên không có tác dụng kích thích nhu cầu gửi tiền của công chúng vào ngân hàng

để thực hiện việc tập trung vốn cho đầu tư phát triển, gây áp lực đối với giá cả hànghóa và làm cho lạm phát ngày càng tăng lên Cơ chế này đã dẫn đến tình trạng “lãi giả

và lỗ thật” và làm cho các ngân hàng không thể bảo toàn vốn của mình

Từ năm 1988 trở đi nền kinh tế bắt đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường pháttriển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Ở giai đoạn này

lãi suất ấn định của NHNN được xác định theo nguyên tắc xác định “Bảo toàn được vốn và có lãi, được áp dụng ở các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế.”

1.2 Giai đoạn 6/1992 đến năm 1995: chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ

chế lãi suất thực dương

Bước sang năm 1992, lạm phát đã được đẩy lùi và luôn ở mức thấp đã tạo điềukiện để Việt Nam chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chế lãi suất thực dương vàthực hiện xoá bỏ về cơ bản sự chênh lệch LSCV giữa các thành phần kinh tế Thựchiện cơ chế này, một mặt giúp LSTG cao hơn lạm phát để người dân gửi tiền vừa cólãi thực, vừa bảo toàn được giá trị của tiền gửi hơn nữa lại có cả lãi; mặt khác giúpLSCV cao hơn LSTG, đảm bảo cho ngân hàng cũng bù đắp được chi phí và thực hiệnkinh doanh có lãi Đặc trưng của thời kỳ này là NHNN điều hành cơ chế lãi suất theokhung lãi suất thay vì ấn định lãi suất cụ thể, quy định rõ sàn LSTG và trần LSCV đốivới nền kinh tế Các NHTM, các TCTD căn cứ khung lãi suất của NHNN để đưa racác lãi suất thích hợp cho mình Bên cạnh việc xác định mức LSTG và LSCV cụ thể,NHNN còn cho phép NHTM được thoả thuận lãi suất với khách hàng (trong trường

Trang 19

hợp huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu - LSHĐ có thể cao hơn lãi suất tiết kiệmcùng kỳ hạn 0,2%/tháng và cho vay cao hơn mức trần 2,1%/ tháng).

Lãi suất thời kỳ này đã bắt đầu được sử dụng như một công cụ của chính sáchtiền tệ cùng với lãi suất tái cấp vốn được hình thành vào năm 1991 khi Pháp lệnh ngânhàng có hiệu lực Lãi suất tái cấp vốn được tính bằng % so với LSCV của các TCTD

Chính sách lãi suất thực dương đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trongquá trình chuyển hoạt động của ngân hàng sang cơ chế thị trường, giúp đảm bảo lợiích cho cả người gửi tiền, người cho vay lẫn ngân hàng Chính sách này đã góp phầnkhông nhỏ trong việc thu hút vốn, tăng vốn tín dụng cho đầu tư và giảm lạm phát Hơnnữa, những thay đổi của chính sách lãi suất đã cho phép các TCTD chủ động hơn, tựquyết định mức lãi cụ thể của đơn vị mình Đây là bước chuyển biến quan trọng đểtiến tới quá trình tự do hoá lãi suất, hạn chế đến mức thấp nhất sự can thiệp trực tiếpcủa NHNN vào hoạt động của NHTM

1.3 Giai đoạn từ 1996 đến 7/2000: NHNN tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp

vốn và có những đổi mới căn bản về điều hành lãi suất

Vào đầu năm 1996, khi lạm phát đã dần ổn định, NHNN chính thức bỏ mức sànlãi suất, chỉ qui định các mức lãi suất “trần” theo thời hạn cho vay và khống chế chênhlệch giữa LSCV và LSHĐ vốn bình quân là 0,35%/tháng - bao gồm cả chi phí, thuế vàlợi nhuận (theo quyết định 381/QĐ-NH1 ngày 28/12/1995) nhằm mục đích khắc phụctình trạng hầu hết các NHTM đều có mức lợi nhuận cao trong khi các doanh nghiệp lạigặp khó khăn về tài chính Đến cuối tháng 01/1998, NHNN xoá bỏ qui định chênh lệchlãi suất, chỉ còn qui định trần LSCV Đặc biệt trong năm các năm 1998 và 1999, cùngvới nới lỏng sự kiểm soát lãi suất, NHNN liên tục điều chỉnh trần LSCV theo hướnggiảm cơ cấu trần và mức khống chế Theo quyết định số 39/1998/QĐ-NHNN1, 4 trầnlãi suất đã được giảm xuống còn 3 trần và khoảng cách giữa các trần cũng không còn

xa nhau như trước (khoảng 0,25%/tháng)

Để phù hợp với chỉ số lạm phát, quan hệ cung - cầu vốn trên thị trường và thựchiện giải pháp kích cầu về đầu tư của Chính phủ, mức lãi suất tái cấp vốn cũng đượcđiều chỉnh giảm xuống, từ 1,1% năm 1997 xuống 0,7%/tháng từ 1999

Tháng 11/1999 NHNN bổ sung thêm công cụ điều hành lãi suất bằng cách đưavào sử dụng nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá cho các NHTM,LSTCK được qui định ở mức thấp hơn 0,05%/tháng so lãi suất tái cấp vốn

Tháng 7/2000, NHNN đưa vào sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, lãi suất thịtrường mở được hình thành qua các phiên giao dịch

Trang 20

Việc điều chỉnh chính sách lãi suất như trên nhằm tiến tới việc duy trì một trầnLSCV, tạo điều kiện để áp dụng mức LSCB và từng bước tự do hoá lãi suất, thúc đẩyđầu tư và tiêu dùng Cơ chế lãi suất này cũng góp phần duy trì sự tăng trưởng kinh tế,kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của VND trong sự tương quan của các đồng tiềntrong khu vực do có khủng hoảng tiền tệ năm 1997-1998 ở các nước Đông Nam Á

Tuy nhiên ảnh hưởng của lãi suất đối với tổng cầu của nền kinh tế Việt Nam làrất hạn chế do việc giảm phát trong thời gian từ 1996 xuất phát từ sự suy giảm các yếu

tố sản xuất liên quan đến tổng cung nhiều hơn tổng cầu Hơn nữa, sự điều chỉnh lãisuất thường là chậm so với thị trường, nên mất đi lợi thế bất ngờ Thêm vào đó, việc

sử dụng các công cụ gián tiếp khác chưa thực sự có hiệu quả; việc điều hành trần lãisuất vẫn là một biện pháp can thiệp hành chính của Nhà nước do vậy làm hạn chế tínhchủ động, linh hoạt trong kinh doanh của các TCTD, hạn chế việc hình thành và pháttriển của các công cụ tài chính, có nguy cơ làm suy yếu năng lực tài chính của TCTD

1.4 Giai đoạn từ tháng 8/2000 đến tháng 5/2002: sử dụng LSCB cùng với

LSTCK, lãi suất tái cấp vốn trong điều hành chính sách tiền tệ

Cơ chế điều hành lãi suất theo LSCB kèm biên độ được thực hiện theo quyếtđịnh số 241/2000/QĐ – NHNN ban hành ngày 2/8/2000 về việc thay đổi cơ chế điềuhành LSCV của TCTD Với quyết định này, một cơ chế lãi suất mới được đưa ra.Theo đó, hàng tháng NHNN sẽ công bố LSCB căn cứ vào mức LSCV thương mại tốtnhất của một nhóm các TCTD chiếm phần lớn thị phần tín dụng TCTD sẽ ấn định

LSCV nội tệ của mình trên cơ sở LSCB do NHNN công bố theo nguyên tắc “LSCV  LSCB + biên độ” trong đó biên độ sẽ được thống đốc NHNN quy định trong từng thời

kỳ Tháng đầu tiên, NHNN công bố mức LSCB là 0,75%/tháng và biên độ là + 0,3%/tháng đối với vốn ngắn hạn và + 0,5%/tháng đối với vốn trung, dài hạn Biên độ nàyđược duy trì đến hết tháng 5/2002

Đối với LSCV bằng ngoại tệ, vào tháng 11/2001, trần LSCV ngoại tệ được xóa

bỏ Như vậy, về cơ bản các NHTM, các TCTD được ấn định LSCV trên cơ sở lãi suấtthị trường quốc tế và cung cầu vốn trong nước của từng loại ngoại tệ Cơ chế lãi suấtnày cho thấy NHNN Việt Nam đã quyết tâm đổi mới chính sách lãi suất theo hướng tự

do hóa và từng bước gắn lãi suất trong nước vào thị trường khu vực và thế giới

Cơ chế giới hạn biên độ lãi suất so với LSCB này về bản chất không khác gì sovới trần lãi suất áp dụng trước đây Tuy nhiên, trên thực tế mức trần (LSCB + biên độ)được định ở mức cao hơn trần lãi suất theo cơ chế cũ rất nhiều

Trước thời điểm áp dụng LSCB, LSCV bình quân của bốn NHTM quốc doanh

đã kịch trần (0,85%/tháng) Trong năm 1999, các NHTM không theo kịp 5 đợt hạ trần

Ngày đăng: 05/04/2016, 16:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Web http://smartfinance.vn 15. Web http://dantri.com.vn/ Link
17. Web http://diendan.laisuat.vn 18. Web http://www.laisuat.vn/ Link
1. Giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ - Đại học kinh tế quốc dân, chủ biên PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài, NXB Đại học kinh tế quốc dân 2009 Khác
2. Giáo trình Lý thuyết tiền tệ - Học viện ngân hàng, chủ biên TS. Tô Kim Ngọc, NXB thống kê 2005 Khác
3. Giáo trình Quản trị NHTM – Đại học kinh tế quốc dân, chủ biên PGS.TS Phan Thị Thu Hà, NXB Giao thông vận tải 2009 Khác
5. Thông tư 07/2010/TT-NHNN quy định về cho vay bằng đồng Việt Nam theo lãi suất thỏa thuận của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Khác
6. Thông tư 12/2010/TT-NHNN hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận Khác
7. Thông tư 02/2011/TT-NHNN quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đồng Việt Nam Khác
8. Thông tư 04/2011/TT-NHNN quy định áp dụng lãi suất trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn tại tổ chức tín dụng Khác
9. Thông tư 09/2011/TT-NHNN về quy định mức lãi suất huy động vốn tối đa bằng đô la Mỹ của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Khác
10. Công điện khẩn số 02/CĐ-NHNN ngày 26/02/2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về điều hành lãi suất huy động vốn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w