Đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế kỹ thuật của mô hình nuôi lươn (Monopterus albus) có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ” được thực hiện từ tháng 032015 đến tháng 072015. Đề tài đã khảo sát 60 hộ nuôi lươn thuộc quận Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ, huyện Thới Lai của Cần Thơ. Các thông tin thu thập gồm thông tin kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và thuận lợi, khó khăn của mô hình nuôi lươn. Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi lươn không bùn có ít năm kinh nghiệm hơn hộ nuôi lươn có bùn. Diện tích nuôi trung bình các hộ nuôi lươn có bùn là 162,4 ± 147,4 m2hộ cao hơn đáng kể (p < 0,05) so với hộ nuôi lươn không bùn là 67,6 ± 41,9 m2hộ. Cả hai mô hình nuôi lươn con giống chủ yếu có nguồn gốc là mua nên tỷ lệ hao hụt rất cao và thường xảy ra ở tháng nuôi đầu. Tỷ lệ sống của mô hình nuôi lươn có bùn là 59,3% thấp hơn so với mô hình nuôi lươn không bùn có tỷ lệ sống là 66,0%. Hệ số thức ăn của mô hình nuôi lươn không bùn là 4,7, trong khi đó ở mô hình nuôi lươn có bùn chỉ là 4,3. Bệnh thường gặp ở cả hai mô hình là bệnh xuất huyết đường ruột do chưa có các loại thuốc đặc trị dành riêng cho lươn. Thời gian nuôi của mô hình nuôi lươn không bùn là 5,8 ± 1,5 tháng ngắn hơn mô hình nuôi lươn có bùn 7,4 ± 1,0 tháng nên mô hình này có thể nuôi 02 vụnăm. Năng suất thu hoạch của mô hình nuôi lươn không bùn là 8,62 ± 5,48 kgm2 khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) với mô hình nuôi lươn có bùn là 8,66 ± 2,11 kgm2. Tổng chi phí của mô hình nuôi lươn có bùn là 914.684 ± 236.090 đồngm2vụ lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với mô hình nuôi lươn không bùn là 664.952 ± 367.713 đồngm2vụ. Lợi nhuận trung bình của hộ nuôi lươn có bùn là 134.023 ± 171.127 đồngm2vụ thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với hộ nuôi lươn không bùn là 411.995 ± 522.005 đồngm2vụ. Tỷ suất lợi nhuận thu được của hộ nuôi lươn không bùn là 0,67 ± 0,80 % cao hơn đáng kể (p < 0,05) so với tỷ suất lợi nhuận của mô hình có bùn là 0,17 ± 0,22 %. Các yếu tố như mật độ thả nuôi, lượng thức ăn và thời gian nuôi có ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch của mô hình nuôi lươn có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ - KỸ THUẬT
CỦA MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN (Monopterus albus)
CÓ BÙN VÀ MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ - KỸ THUẬT
CỦA MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN (Monopterus albus )
CÓ BÙN VÀ MÔ HÌNH NUÔI LƯƠN
KHÔNG BÙN Ở CẦN THƠ
Cán bộ hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS PHẠM THỊ MỸ XUÂN PHÙ THỊ QUỐC TRANG
MSSV: 1153040098
Lớp: ĐH NTTS 6
Cần Thơ, 2015
Trang 3XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Khóa luận: “So sánh hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi lươn (Monopterus
albus) có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ”
Sinh viên thực hiện: Phù Thị Quốc Trang (MSSV 1153040098)
Trang 5Quý Thầy, Cô Khoa Sinh học ứng dụng - Trường Đại học Tây Đô và các bạn trong lớp
đã góp ý, hỗ trợ nhiệt tình trong thời gian học tập và làm đề tài tại trường
Gia đình đã lo lắng và giúp đỡ trong suốt thời gian học tập
Chân thành cảm ơn!
Trang 6ii
TÓM TẮT
Đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi lươn (Monopterus albus)
có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ” được thực hiện từ tháng 03/2015 đến tháng 07/2015 Đề tài đã khảo sát 60 hộ nuôi lươn thuộc quận Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ, huyện Thới Lai của Cần Thơ Các thông tin thu thập gồm thông tin kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và thuận lợi, khó khăn của mô hình nuôi lươn Kết quả khảo sát cho thấy các hộ nuôi lươn không bùn có ít năm kinh nghiệm hơn hộ nuôi
hai mô hình nuôi lươn con giống chủ yếu có nguồn gốc là mua nên tỷ lệ hao hụt rất cao và thường xảy ra ở tháng nuôi đầu Tỷ lệ sống của mô hình nuôi lươn có bùn là 59,3% thấp hơn so với mô hình nuôi lươn không bùn có tỷ lệ sống là 66,0% Hệ số thức ăn của mô hình nuôi lươn không bùn là 4,7, trong khi đó ở mô hình nuôi lươn có bùn chỉ là 4,3 Bệnh thường gặp ở cả hai mô hình là bệnh xuất huyết đường ruột do chưa có các loại thuốc đặc trị dành riêng cho lươn Thời gian nuôi của mô hình nuôi lươn không bùn là 5,8 ± 1,5 tháng ngắn hơn mô hình nuôi lươn có bùn 7,4 ± 1,0 tháng nên mô hình này có thể nuôi 02 vụ/năm Năng suất thu hoạch của mô hình nuôi lươn
(p < 0,05) so với tỷ suất lợi nhuận của mô hình có bùn là 0,17 ± 0,22% Các yếu tố
như mật độ thả nuôi, lượng thức ăn và thời gian nuôi có ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch của mô hình nuôi lươn có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ
Từ khóa: Cần Thơ, lươn đồng, mô hình nuôi lươn, nuôi lươn có bùn, nuôi lươn không bùn
Trang 8iv
DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1 Địa điểm và số hộ phỏng vấn 13
Bảng 4.1 Tuổi của hộ nuôi lươn 16
Bảng 4.2 Mật độ và năng suất hộ nuôi lươn có trình độ chuyên môn khác nhau 18
Bảng 4.3 Kinh nghiệm của hộ nuôi lươn 18
Bảng 4.4 Tổng diện tích nuôi, diện tích bể nuôi lươn 20
Bảng 4.5 Mùa vụ thả lươn giống 22
Bảng 4.6 Nguồn gốc lươn giống 22
Bảng 4.7 Mật độ thả giống của các hộ nuôi lươn có bùn và không bùn 24
Bảng 4.8 Tỷ lệ phối trộn thức ăn 25
Bảng 4.9 Một số bệnh và thuốc - hóa chất dùng trong trị bệnh lươn 27
Bảng 4.10 Thời gian nuôi, tỷ lệ sống và năng suất thu hoạch 28
Bảng 4.11 Tỷ lệ các loại lươn thu hoạch 29
Bảng 4.12 Các khoản chi phí trong mô hình nuôi lươn 29
Bảng 4.13 Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn 32
Bản 4.14 Mối tương quan giữa thời gian nuôi với năng suất thu hoạch của mô hình nuôi lươn có bùn 37
Hình 4.15 Tương quan giữa thời gian nuôi với năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi lươn không bùn 37
Trang 9v
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1 Lươn đồng (Monopterus albus) 2
Hình 3.1 Bản đồ thành phố Cần Thơ 12
Hình 4.1 Cơ cấu nhóm tuổi của hộ nuôi lươn 17
Hình 4.2 Trình độ chuyên môn của chủ hộ nuôi lươn 17
Hình 4.3 Mối tương quan giữa kinh nghiệm và năng suất 19
Hình 4.4 Tổng diện tích nuôi lươn 20
Hình 4.5 Các chất được dùng để cải tạo bùn ở mô hình nuôi lươn có bùn 21
Hình 4.6 Kích cỡ lươn giống thả nuôi 23
Hình 4.7 Tương quan giữa mật độ thả nuôi với năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi lươn có bùn 34
Hình 4.8 Tương quan giữa mật độ thả nuôi với năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi lươn không bùn 35
Hình 4.9 Tương quan giữa lượng thức ăn với năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi lươn có bùn 36
Hình 4.10 Tương quan giữa lượng thức ăn với năng suất và lợi nhuận của mô hình nuôi lươn không bùn 36
Trang 11vii
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM TẮT ii
CAM KẾT KẾT QUẢ iii
DANH SÁCH BẢNG iv
DANH SÁCH HÌNH v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC vii
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Giới thiệu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 1
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
2.1 Đặc điểm sinh học của lươn đồng 2
2.1.1 Phân loại và hình thái lươn đồng 2
2.1.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sống 3
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 3
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh sản 4
2.2 Kỹ thuật nuôi lươn 5
2.2.1 Một số phương pháp nuôi 5
2.2.1.1 Nuôi lươn trong các bể xi măng 5
2.2.1.2 Nuôi lươn trong ao đất 5
2.2.1.3 Nuôi lươn trong hồ đất đắp có lót cao su 6
2.2.1.4 Nuôi lươn không có đất 6
2.2.2 Con giống và mật độ thả 6
2.2.3 Thức ăn và cách cho ăn 7
2.2.4 Chăm sóc và quản lý 7
Trang 12viii
2.2.5 Thu hoạch 7
2.3 Sơ lược một số bệnh thường gặp ở lươn đồng 7
2.3.1 Bệnh rận 7
2.3.2 Bệnh nấm thủy mi 7
2.3.3 Bệnh lở loét 8
2.3.4 Bệnh tuyến trùng 8
2.3.5 Bệnh đỉa cắn 8
2.4 Tình hình nuôi lươn đồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long 8
2.5 Giới thiệu tổng quan về Cần Thơ 9
2.5.1 Điều kiện tự nhiên 9
2.5.2 Tình hình nuôi lươn đồng ở Cần Thơ 11
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 12
3.2 Phương pháp nghiên cứu 12
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 12
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu 12
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 13
3.2.3.1 Số liệu thứ cấp 13
3.2.3.2 Số liệu sơ cấp 13
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu 13
3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu 15
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
4.1 Hiện trạng nuôi lươn ở Cần Thơ 16
4.2 Thông tin chung 16
4.2.1 Độ tuổi 16
4.2.2 Trình độ chuyên môn 17
4.2.3 Kinh nghiệm nuôi 18
4.3 Khía cạnh kỹ thuật nuôi của mô hình nuôi lươn 19
4.3.1 Tổng diện tích nuôi 19
Trang 13ix
4.3.2 Chuẩn bị và cải tạo bể nuôi 21
4.3.3 Mùa vụ 22
4.3.4 Nguồn giống, kích cỡ con giống và mật độ thả nuôi 22
4.3.5 Chăm sóc và quản lý 24
4.3.6 Phòng và trị bệnh 26
4.3.7 Thu hoạch 27
4.4 Khía cạnh kinh tế của mô hình nuôi lươn 29
4.4.1 Các khoản chi phí trong mô hình nuôi lươn 29
4.4.2 Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi lươn 32
4.5 Các yếu tố trong mô hình nuôi ảnh hưởng đến năng suất nuôi 33
4.5.1 Phương trình tuyến tính của mô hình nuôi lươn có bùn 33
4.5.2 Phương trình tuyến tính của mô hình nuôi lươn không bùn 34
4.5.3 Ảnh hưởng của mật độ lươn giống đến năng suất thu hoạch 34
4.5.4 Ảnh hưởng của lượng thức ăn sử dụng đến năng suất thu hoạch 36
4.5.5 Ảnh hưởng của thời gian nuôi đến năng suất thu hoạch 37
4.6 Thuận lợi và khó khăn 39
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề xuất 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC A A PHỤ LỤC B E
Trang 141
CHƯƠNG 1 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới thiệu
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSL) là đồng bằng châu thổ lớn, có điều kiện tự nhiên thích hợp cho nghề nuôi thủy sản phát triển với nhiều đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế cao như tôm sú, cá da trơn, tôm càng xanh và các loài thủy đặc sản Trong đó, lươn đồng là một loài thủy đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao, hàm lượng đạm trong thịt lươn chiếm 18,37% Lươn còn có tác dụng an thần và chữa bệnh khó ngủ Sản lượng lươn đồng chủ yếu được xuất khẩu sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản và một số nước Châu Âu với các mặt hàng phong phú như lươn tươi, lươn đông lạnh, lươn tẩm dầu hun khói (Nguyễn Lân Hùng, 2010)
Nhu cầu về lươn thương phẩm ngày càng tăng nên phong trào nuôi lươn phát triển rất mạnh ở nhiều tỉnh ĐBSCL Hình thức phổ biến là nuôi lươn truyền thống Tuy mô hình này mang lại hiệu quả kinh tế cho người nuôi nhưng cũng bộc lộ một số hạn chế
do lươn có đặc tính sống chui rút trong bùn nên rất khó theo dõi số lượng, tốc độ tăng trưởng, khả năng bắt mồi, tình hình dịch bệnh của lươn nuôi để xử lý kịp thời Mô hình nuôi lươn không bùn đang là một lựa chọn hiệu quả của người nuôi, mô hình này được cho là đã khắc phục được những hạn chế của mô hình nuôi lươn có bùn, cũng như khả năng thâm canh đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thị trường Vì vậy,
đề tài “So sánh hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi lươn (Monopterus
albus) có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ” được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là điều tra hiện trạng và đánh giá tiềm năng của mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ
1.3 Nội dung nghiên cứu
Khảo sát tình hình của nghề nuôi lươn ở Cần Thơ
Phân tích khía cạnh kinh tế - kỹ thuật của mô hình nuôi lươn có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ
So sánh hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của hai mô hình trên
Trang 152
CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm sinh học của lươn đồng
2.1.1 Phân loại và hình thái lươn đồng
Lươn đồng được phân loại như sau: (fishbase.org)
Loài: Monopterus albus (Zuiew, 1793)
Hình 2.1 Lươn đồng (Monopterus albus)
(Nguồn: https://thuysanco.wordpress.com) Lươn đồng có thân tròn dài, không có vẩy, cuốn đuôi dẹp bên và mỏng Đầu tròn tương đối lớn, mỗi bên có hai lỗ mũi nằm cách xa nhau Mắt rất bé, nằm ẩn dưới da ở một bên đầu, môi trên dày chồng lên một phần môi dưới Vây ngực và vây bụng thoái hóa hoàn toàn Vây lưng, vây hậu môn dạng nếp da mỏng liền với vây đuôi và tia vây không rõ ràng Màu sắc lươn thay đổi theo môi trường sống Tuy sống ở điều kiện môi trường khác nhau nhưng lươn có một số đặc điểm chung như sau: Cơ thể có màu xám
ở bên trên, mặt bụng có màu trắng hoặc nâu nhạt với những chấm nhỏ sậm màu ở bên hông và đôi khi có ở mặt bụng (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)
Trang 163
2.1.2 Đặc điểm phân bố và tập tính sống
Lươn đồng là loài phân bố rộng khắp thế giới, nhưng tập trung nhiều nhất ở vùng nhiệt đới Môi trường sống của lươn là các ao, hồ, kênh rạch, ruộng lúa nơi có nhiều mùn bã hữu cơ và sinh vật nhỏ làm thức ăn Vào mùa khô lươn có thể chui rúc vào trong đất
ẩm để sống (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)
Theo Lý Văn Khánh và ctv, (2008) lươn đồng là loài sống tự nhiên ở Đông và Nam Châu Á, sống chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt như trong ao, kênh rạch, các dòng song lớn, trong ruộng lúa hay đầm lầy, lươn cũng có thể sống ở trong các thủy vực hơi mặn, lợ
Lươn là loài sống chui rúc trong bùn đặc biệt trong lớp mùn bã hữu cơ có nhiều sinh vật đáy Có thể bắt gặp lươn chui rúc trong các đống cỏ, rơm rạ trong ruộng hoặc ao mươn Ngoài ra lươn còn có tập tính đào hang ven bờ ao, mương để trú ẩn và làm tổ
2.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng
Theo kết quả nghiên cứu của Lý Văn Khánh và ctv, (2008) lươn đồng là loài có ruột dày và ngắn hơn chiều dài thân, chỉ số giữa chiều dài ruột so với chiều dài tổng (RLG) trung bình là 0,65 Mặt khác, lươn có miệng rộng, độ mở của miệng rất to, răng sắt bén, dạ dày có hình dạng ống dài và vách dày nằm dọc theo chiều dài cơ thể Quan sát bên trong ống tiêu hóa của lươn cho thấy hầu hết thức ăn trong ống tiêu hóa là cá, cua, tép Kết hợp các đặc điểm bên ngoài, hình dạng ống tiêu hóa và thành phần thức ăn có trong ống tiêu hóa và chỉ số RLG chứng tỏ lươn là loài ăn động vật và có thể ăn những thức ăn có kích thước lớn
Theo Nguyễn Lân Hùng (2010), thức ăn chủ yếu của lươn là động vật Lươn có tập tính hoạt động vào ban đem Khi đêm xuống lươn đi kiếm ăn Nhưng việc đuổi bắt các loài động vật của lươn kém và mắt lươn không tinh Tuy nhiên, khứu giác lươn rất nhạy Vì vậy, lươn dễ phát hiện các nguồn thức ăn thuối rữa
Lươn có tập tính kiếm ăn về đêm, ban ngày ẩn nấp trong hang hoặc chỉ rình mồi ở của hang Còn nhỏ lươn ăn động vật phù du, khi trưởng thành thức ăn của lươn là động vật đáy như tôm, cá con, đặc biệt là thức ăn có mùi tanh Tuy nhiên, thức ăn của lươn có thể thay đổi và phụ thuộc theo giai đoạn phát triển cho cơ thể, thức ăn trong môi
Trang 174
trường sống Khi kích cỡ không đồng đều và khi thiếu thức ăn chúng ăn cả đồng loại
có kích thước nhỏ hơn (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)
2.1.4 Đặc điểm sinh trưởng
Theo Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2004) lươn đồng sống trong môi trường nước ngọt, đất ẩm ướt, đầm lầy, kênh rạch và lươn đồng có thể sống ở độ sâu 3m Tốc
độ sinh trưởng của lươn tương đối chậm và phụ thuộc vào nhiều yếu tố Môi trường tự nhiên và điều kiện sống đầy đủ thức ăn, lươn không phải trải qua thời gian trú đông thì lớn nhanh hơn Lươn con ở năm thứ nhất lớn nhanh về chiều dài, đến năm thứ ba chủ yếu tăng về khối lượng
Sau một năm tuổi khối lượng trung bình của lươn là 100 150 g/con và có thể đạt được đến 200 - 300 g/con (Dương Nhựt Long, 2003)
mặn 6‰ (Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến, 2000)
2.1.5 Đặc điểm sinh sản
Theo trích dẫn của Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2004) lươn là loài có sự chuyển đổi giới tính Ở kích cỡ dưới 25 cm hoàn toàn là lươn cái, từ 25 54 cm có cả con đực và con cái, khi lươn đạt kích cỡ 54 cm trở lên thì hoàn toàn là con đực Lươn
là loài không có sự sai khác về hình thái bên ngoài giữa con đực và con cái
Theo Ngô Trọng Lư và Lê Đăng Khuyến (2000), lươn tròn 1 tuổi thân dài 20cm sẽ bắt đầu thành thục sinh dục Từ lúc bào thai cho đến khi thành thục lần thứ nhất là lươn cái Sau khi lươn cái đẻ trứng noãn sào teo lại, tinh sào phát triển và thành lươn đực
Theo Lý Văn Khánh và ctv (2008), khi tiến hành giải phẫu để thu tuyến sinh dục và cắt
mô để xác định giới tính của lươn cho thấy hầu hết các tháng đều xuất hiện cả ba nhóm giới tính cái, lưỡng tính, đực Lươn cái không xuất hiện trong mẫu thu ở các tháng 10, 12, 6 Lươn đực không xuất hiện ở tháng 3, đặc biệt là tháng 11 không thể quan sát được tuyến sinh dục của lươn Trong các tháng có đủ 3 nhóm lươn thì lươn lưỡng tính chiếm tỷ lệ cao hơn 2 nhóm còn lại Hệ số thành thục của lươn đồng cao nhất (9,12%) tập trung ở nhóm có chiều dài từ 30 - 40cm và thấp nhất ở nhóm lươn có chiều dài từ 40 - 50 cm
Lươn cái có hệ số thành thục cao tập trung ở tháng 3 - 5, cao nhất là ở tháng 5 Lươn cái có chiều dài nhỏ hơn 30cm có hệ số thành thục cao nhất Ở lươn đực hệ số thành
Trang 185
thục cao ở các tháng 7, 9, 12, 1 Theo chiều dài cơ thể thì lươn đực có hệ số thành thục cao nhất tập trung ở nhóm lươn có chiều dài 30 - 50 cm (Phan Thị Thanh Vân, 2009)
Ở ĐBSCL lươn đồng có 2 mùa sinh sản là tháng 5 - 6 và tháng 8 - 9 Lươn thường đẻ
hao hết noãn hoàng, thức ăn ở giai đoạn này của lươn là giun ít tơ, bọ gậy (Dương Nhựt Long, 2003)
Theo Lý Văn Khánh và ctv (2008), sức sinh sản của lươn đồng phụ thuộc vào hệ số
thành thục, lươn có hệ số thành thục càng cao thì sức sinh sản càng lớn Sức sinh sản tuyệt đối của lươn đồng biến động từ 143 - 6.813 trứng/lươn cái Sức sinh sản tương đối của lươn đồng là từ 4.828 - 65.771 trứng/kg lươn cái Đường kính trứng lươn tăng theo giai đoạn thành thục của buồng trứng Đường kính trứng lươn từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 2 tăng lên hơn 3 lần từ 0,07 mm đến 0,25 mm Ở giai đoạn 4 - 5 đường kính trứng tăng từ 0,38 lên 2,01 mm Như vậy, khi tuyến sinh dục chín muồi trứng đạt kích
cở lớn nhất và chất dinh dưỡng tập trung đầy đủ trong trứng
2.2 Kỹ thuật nuôi lươn
2.2.1.1 Nuôi lươn trong các bể xi măng
Có thể tận dụng bể chứa nước, chuồng heo sau khi đã sửa chữa lại để nuôi lươn Nếu xây bể nuôi mới thì nên xây nửa nổi, nửa chìm với chiều cao khoảng 1m và diện tích
chăm sóc hơn Mức nước bể nuôi dao động từ 0,4 - 0,5m
Sau khi đã sửa chữa bể nuôi xong nên tiến hành đổ một lớp bùn non dưới đáy bể khoảng 30cm (tốt nhất bùn đất thịt pha sét) Trên mặt nước có thể thả lục bình hoặc bèo tai tượng chiếm khoảng 1/2 diện tích Bể nuôi lươn nên bố trí ống thoát nước để thay nước dễ dàng (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)
2.2.1.2 Nuôi lươn trong ao đất
Các ao đất nhỏ có thể được dùng để nuôi lươn Nhưng cần chú ý các vấn đề sau: Cần phải vét hết lớp bùn đáy tới lớp đất dẻo Dùng cát đổ xuống đáy ao một lớp 5 - 10 cm Tốt nhất trộn vôi với cát rồi láng xuống đáy để sau này lươn không đào sâu được Có
Trang 196
khắp đáy ao và đầm nén cho cứng Bờ ao cũng phải lấp hết hang hốc và đầm cho cứng
Đổ một lớp bùn cao khoảng 20 - 30 cm, tốt nhất nên sử dụng bùn mới hoặc sử dụng lại bùn đáy mới vét lên đã được phơi khô
Cần phải đắp một gò đất chiếm khoảng 1/4 - 1/5 diện tích ở giữa ao để hạn chế lươn đào hang xung quanh bờ Nếu ao dài và nhỏ nên đắp gò đất ở một phía bờ mương hoặc giữa mương cao hơn mực nước 5 - 10 cm nhưng phải thấp hơn bờ ao 50 - 60 cm Trên mặt gò đất có thể trồng cỏ hoặc các loại môn nước (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)
2.2.1.3 Nuôi lươn trong hồ đất đắp có lót cao su
Chọn nơi đất cứng để đào hồ nuôi lươn Thông thường nên đào sâu khoảng 0,3 - 0,5m, lấy đất này đắp lên thành bờ Đáy và bờ phải được đầm nén cho kỹ Diện tích đào tùy
lót toàn bộ đáy và thành hồ Sau khi lót cao su xong, đổ một lớp bùn 20 - 25cm và đắp một gò đất ở giữa hồ hoặc một phía của hồ Sau khi hoàn tất việc lót cao su, đắp gò đất
và tạo một lớp bùn đáy thì cấp nước vào có mực nước trung bình 10 - 15 cm (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)
2.2.1.4 Nuôi lươn không có đất
Theo Nguyễn Lân Hùng (2010), đây là hình thức nuôi lươn thương phẩm có thể thả nuôi ở mật độ rất dày Bể nuôi có thể được xây mới theo công thức rộng (1,2 - 2 m), dài (2 - 5 m ), cao (1 - 1,2 m) Sử dụng từ vài chục đến vài trăm đoạn ni lông buộc thành từng bó trên cây đòn, dung làm chổ dựa cho lươn Chiều cao mực nước trong bể
từ 30 - 40 cm Tùy mức độ ô nhiễm mà thay nước hằng ngày hay 3 - 4 ngày mới thay 1 lần Sử dụng nguồn nước sạch, không sử dụng nước máy hay nước giếng quá sâu Tốt nhất là sử dụng nước ao, hồ, kênh, rạch nơi lươn thường sống
2.2.2 Con giống và mật độ thả
Theo Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm (2004) có hai nguồn lươn giống là nhân tạo
và tự nhiên Nguồn lươn giống nhân tạo vẫn chưa cung cấp đủ cho người nuôi, nên nguồn giống tự nhiên vẫn là chính Khi mua lươn giống nên tránh chọn lươn không biết rõ thời gian thu gom, phương pháp khai thác vì nếu thời gian thu gom dài, lươn bị xây sát sẽ làm tỷ lệ hao hụt tăng cao Chọn lươn khỏe mạnh kích cỡ đồng đều dao
Trước khi thả cần kiểm tra kỹ tránh thả lươn bị bệnh vào bể sẽ lây lan mầm bệnh Tiến hành tẩy trùng con giống trước khi thả, sử dụng dung dịch muối ăn 3 - 4 % tắm cho lươn trong 5 phút hay sử dụng thuốc tím 0,5% để tắm cho lươn (Nguyễn Lân Hùng, 2010)
Trang 207
2.2.3 Thức ăn và cách cho ăn
Theo Dương Nhựt Long (2003) có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau để nuôi
lươn Tuy nhiên, thức ăn có nguồn gốc là động vật như tép, ốc, cá, xác động vật chết
sẽ giúp lươn tăng trưởng nhanh hơn Ngoài ra, còn có thể sử dụng thức ăn tự phối chế
để nuôi lươn với hổn hợp gồm 64% cám nhuyễn, 35% bột cá lạt, 1% khoáng và bột gòn sẽ được trộn đều và sử dụng máy ép đùn để tạo viên
Khẩu phần ăn cho lươn là 5 - 8% khối lượng thân Thời gian cho ăn lúc 16 - 17 giờ Cho lươn ăn bằng sàn và đặt cố định, theo dõi sàn ăn thường xuyên để điều chỉnh
lượng thức ăn kịp thời (Nguyễn Văn Kiểm và Bùi Minh Tâm, 2004)
2.2.4 Chăm sóc và quản lý
Trong quá trình nuôi cần giữ vệ sinh khu vực nuôi, quản lý tốt nguồn nước Tiến hành thay nước từ 3 - 5 ngày/lần Tránh vôi, xà phòng chảy vào nơi nuôi lươn Bảo vệ tránh địch hại như mèo, chuột tấn công (Nguyễn Lân Hùng, 2010)
Định kỳ 2 ngày/lần trộn thêm Vitamin C và men tiêu hóa vào thức ăn với liều lượng bằng 1% lượng thức ăn để tăng sức đề kháng và phòng bệnh cho lươn (Nguyễn Văn Triều, 2012)
Rận ký sinh bám trên da hút máu đồng thời phá hủy da, làm viêm loét tạo điều kiện
cho các sinh vật khác tấn công
Kiểm tra lươn giống trước khi thả nuôi, nếu phát hiện có rận tiến hành dùng thuốc tím
2.3.2 Bệnh nấm thủy mi
Do nấm mốc ký sinh trên thân hay trứng lươn gây ra.Trên thân lươn sẽ xuất hiện sợi hình bông bám vào lươn để hút dinh dưỡng
Trước khi nuôi dùng vôi để sát trùng bể với liều lượng 100 150g vôi hòa tan trong
lượng 3 - 5% với thời gian từ 3 - 5 phút trước khi thả Nếu thấy bệnh xuất hiện có thể
Trang 21Tiến hành sát trùng bể nuôi bằng vôi và Chlorine trước khi nuôi Vào những thời điểm hay mắc bệnh từ tháng 5 9 cần phun thuốc Streptomycin trong toàn bể với liều lượng
2.3.4 Bệnh tuyến trùng
Do ký sinh trùng đường ruột gây nên, chúng bám vào niêm mạc phá hoại mô, hình thành bào nang gây viêm ruột sưng đỏ Nếu bệnh nặng, hậu môn lươn bị sưng đỏ Thức ăn trước khi cho lươn ăn cần phải được rửa sạch, nấu chín nguồn lây lan Định
kỳ 3-5 ngày/lần, trộn men tiêu hóa vào thức ăn cho lươn ăn với liều lượng 5-10 g/kg thức ăn Dùng các sản phẩm thuốc thủy sản diệt nội ký sinh trùng của để trộn vào thức
ăn cho lươn ăn với liều lượng và cách cho ăn như hướng dẫn trên bao bì (Nguyễn Văn Triều, 2012)
2.3.5 Bệnh đỉa cắn
Theo Nguyễn Lân Hùng (2010), đỉa là loài động vật ký sỉnh rất nguy hiểm Chúng hút máu của ký chủ Đỉa thường bám giác vào đầu lươn và hút máu gây hoảng loạn và mất máu Để phòng chống đỉa nên dung vôi sống để vệ sinh khu nuôi
2.4 Tình hình nuôi lươn đồng ở Đồng bằng sông Cửu Long
Trong những năm qua, nghề nuôi lươn đồng ở An Giang chủ yếu được nuôi trong bể lót bạt, tập trung ở các huyện: Thoại Sơn, Châu Thành, Tân Châu, Châu Phú sản lượng nuôi lươn năm 2011 là 478 tấn; năm 2012 là 1.031 tấn; năm 2013 là 1.470 tấn Tuy nhiên, thời gian gần đây đã thử nghiệm thành công mô hình nuôi Lươn đồng với mật
được các yếu tố về môi trường nước, ít tốn kém diện tích rất phù hợp với mọi người nuôi tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi gia đình Tuy nhiên khó khăn hiện nay do nguồn lươn giống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, tỷ lệ hao hụt cao Trong khi đó nguồn giống từ sinh sản nhân tạo lại ít, chi phí cao, đây là một thách thức cho ngành, cũng như các Viện, Trường để tạo ra nguồn giống chất lượng cao với giá thành hợp lý phục vụ cho người nuôi trong thời gian tới (Sở Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn
An Giang, 2013)
Trang 229
Trước 2012, các mô hình nuôi lươn đồng đã được hình thành ở các huyện Tam Bình, Bình Minh, Bình Tân, Mang Thít và rãi rác ở các huyện khác ở Vĩnh Long Tuy nhiên, các hộ nuôi lươn trước đây đã ngưng sản xuất do không có giống đảm bảo số và chất lượng Điển hình như ở huyện Bình Tân chỉ còn khoảng 45 hộ nuôi chiếm 30% so trước đó, các hộ nuôi đều có qui mô nhỏ, hộ gia đình Với thực trạng trên, để đáp ứng cho nhu cầu phát triển nuôi đối tượng này chi cục thủy sản Vĩnh Long thực hiện dự án
“Chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm lươn đồng bằng phương
pháp sinh sản bán nhân tạo giai đoạn 2011-2013”
Từ kết quả của đầu năm 2012, sau khi xác lập quy trình sản xuất giống lươn đồng bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo, chi cục thủy sản đã chuyển giao kỹ thuật và nhân rộng mô hình sản xuất giống lươn đồng bằng phương pháp sinh sản bán nhân tạo cho
04 hộ nông dân ở huyện Tam Bình - tỉnh Vĩnh Long với tổng diện tích bể nuôi lót bạt
năm 2012 là 32.822 con giống cỡ 3 - 5 g/con, đạt 212% so với chỉ tiêu Đến năm 2013, với kinh nghiệm đã có, kết quả chuyển giao cho dân được nâng lên rõ rệt từ 02 mô hình tiếp theo đã thu được 36.979 con lươn giống với kích cỡ 3 - 5 g/con, đạt 264% chỉ tiêu kế hoạch
Đối với mô hình nuôi thương phẩm, hiệu quả sản xuất đã được nâng lên từ việc sử dụng con giống được sinh sản bán nhân tạo Cụ thể với 24 mô hình nuôi lươn được dự
án hỗ trợ đầu tư nuôi thương phẩm, con giống được cung cấp từ nguồn giống sinh sản bán nhân tạo, sau 9 tháng nuôi, kết quả đạt tỉ lệ sống trung bình (70,7%) cao hơn mô hình sử dụng giống tự nhiên không rõ nguồn gốc (30 - 40%), kích cỡ lươn khi thu hoạch đồng đều, sản lượng từ 270 - 336 kg/mô hình với năng suất đạt từ 6.5 - 8.4
(Phạm Thị Thu Hồng, 2014)
2.5 Giới thiệu tổng quan về Cần Thơ
2.5.1 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Cần Thơ nằm giữa đồng bằng sông Cửu Long dọc bờ Tây sông Hậu, trên trục giao thông thủy - bộ quan trọng nối Cần Thơ với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và các vùng của cả nước
Phía bắc giáp tỉnh An Giang; phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Vĩnh Long; phía tây giáp tỉnh Kiên Giang; phía nam giáp tỉnh Hậu Giang
Hiện nay thành phố Cần Thơ gồm 9 đơn vị hành chính là 5 quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Thốt Nốt và 4 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai; có 67 đơn vị hành chính phường, xã, thị trấn: 30 phường, 33 xã và 4 thị trấn
Trang 2310
Đặc điểm địa hình
Địa hình thành phố Cần Thơ tương đối bằng phẳng và cao dần từ Bắc xuống Nam Vùng phía Bắc là vùng trũng nên thường bị ngập úng vào mùa mưa lũ tháng 9 hàng năm
Địa mạo, địa hình, địa chất của thành phố bao gồm 3 dạng địa mạo: đê tự nhiên ven sông Hậu, đồng lũ nửa mở và đồng bằng châu thổ Cao trình phổ biến từ + 0,8 - 1,0 m, thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam Địa bàn được hình thành chủ yếu từ quá trình bồi lắng trầm tích biển và phù sa của sông Cửu Long
Khí hậu
Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng
12 tới tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28 °C, số giờ nắng trung bình
cả năm khoảng 2.249 giờ, lượng mưa trung bình năm đạt 1.600 mm Độ ẩm trung bình năm dao động từ 82 - 87%
Vùng khí hậu của Thành phố Cần Thơ có các đặc điểm sau: nền nhiệt dồi dào, biên độ nhiệt ngày - đêm nhỏ; các chỉ tiêu khí hậu (ánh sáng, lượng mưa, gió, bốc hơi, ẩm độ không khí ) phân hóa thành hai mùa tương phản mùa mưa và mùa khô
Tài nguyên đất, tài nguyên nước
Đất ở Cần Thơ, có hai nhóm đất chính là nhóm đất phù sa(chiếm 84% diện tích tự nhiên) và nhóm đất phèn (chiếm 16% diện tích tự nhiên) Cần Thơ nằm ở khu vực bồi
tụ phù sa nhiều năm của sông Mê Kông Nơi đây có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt
Sông Cần Thơ có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn, vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông Bên cạnh đó, Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch nhỏ dày đặc, cho nước ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thuỷ lợi và cải tạo đất
Tài nguyên thủy sinh vật của thành phố tương đối đa dạng, phong phú bao gồm các loài sinh vật, thực vật đặc trưng cho vùng phù sa ngọt; động vật trên cạn và thủy sinh vật
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của thành phố bao gồm: đất sét làm gạch ngói với trữ lượng 16,8 triệu m3, đất sét dẻo, cát xây dựng với trữ lượng 70 triệu m3, than bùn với trữ lượng 30.000 - 150.000 tấn
Trang 2411
2.5.2 Tình hình nuôi lươn đồng ở Cần Thơ
Phong trào nuôi lươn đã và đang phát triển mạnh ở nhiều nơi trên địa bàn thành phố Cần Thơ như Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ, Thốt Nốt với đa dạng các hình thức nuôi nhưng phổ biến nhất vẫn là kiểu nuôi truyền thống trong bùn đất
Hiện nay, ở xã Thạnh Phú - huyện Cờ Đỏ nhiều hộ nuôi lươn đã mạnh dạn áp dụng mô hình mới nuôi lươn không bùn trong bể lót bạt, kết quả đem lại khá khả quan Ông Nguyễn Hồng Dũng, ngụ ấp Phước Lộc là hộ nuôi điển hình thành công với mô hình này Sau nhiều năm gắn bó với nghề, ông không ngừng mở rộng thêm bể nuôi lươn,
chăm sóc, lươn đạt trọng lượng từ 180 - 200 g/con, thu hoạch khoảng 200 kg lươn thịt, bán với giá bình quân 125.000 đồng/kg Ước tính, nếu trừ đi các khoản chi phí về con giống, thức ăn, dụng cụ làm bể bạt, công chăm sóc ông thu gần 12 triệu đồng (La Ngọc Thạch, 2014)
Xã Vĩnh Trinh là địa phương phát triển mạnh mô hình nuôi lươn trong bồn nylon, toàn
xã có 187 hộ chăn nuôi với 658 bồn, diện tích hơn 26,3 ha Tập trung nhiều nhất ở ấp
các thương lái, với giá giống là 320.000 đồng/kg, sau 6 tháng nuôi sau khi trừ các khoản chi phí khoảng 41.900.000 đồng, thu được lợi nhuận 9.850.000 đồng/bồn (Trần Thành Tỏ, 2014)
Trang 2512
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2015 đến tháng 7/2015
Địa điểm nghiên cứu: quận Thốt Nốt, huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ, huyện Thới
Lai của Cần Thơ Địa bàn nghiên cứu được thể hiện ở hình 3.1
Hình 3.1 Bản đồ thành phố Cần Thơ
(Nguồn: cantho.gov.vn)
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Phiếu phỏng vấn các hộ nuôi lươn theo mô hình có bùn và không bùn ở Cần Thơ được
soạn sẵn trình bày ở phụ lục A
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Mô hình nuôi lươn theo hình thức có bùn ở Cần Thơ
Mô hình nuôi lươn theo hình thức không bùn ở Cần Thơ
Trang 2613
3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu
3.2.3.1 Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp như diện tích nuôi, sản lượng, hiệu quả kinh tế của mô hình, thuận lợi
và khó khăn của mô hình nuôi lươn có bùn và mô hình nuôi lươn không bùn ở Cần Thơ được thu thập từ báo cáo hàng năm của Chi cục Thủy sản Thành phố Cần Thơ
Nội dung của phiếu phỏng vấn gồm các thông tin sau:
Thông tin chung: Tên, tuổi, địa chỉ, trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm, nguồn tiếp
cận thông tin phục vụ NTTS, số lao động trong gia đình
Thông tin kỹ thuật: Thông tin công trình nuôi, thông tin con giống, xử lý và cải tạo
bể, thức ăn, chăm sóc và quản lý nước, phòng trị bệnh, thu hoạch
Thông tin kinh tế: Tổng chi phí, tổng doanh thu, hoạch toán kinh tế
3.2.4 Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích thông tin chung
Độ tuổi
Trình độ chuyên môn
Kinh nghiệm nuôi
Phân tích số liệu kỹ thuật
Trang 2714
Phòng và trị bệnh
Thu hoạch
Phân tích số liệu kinh tế: Theo Lê Xuân Sinh (2010) khái niệm và phương pháp tính
toán các chỉ tiêu kinh tế được thực hiện như sau:
Chi phí sản xuất của nông hộ:
Tổng chi phí (TC) là toàn bộ tiêu hao về vật chất và lao động cho sản xuất mà đơn vị thực tế chi ra để sản xuất ra một khối lượng sản phẩm nào đó trong một kỳ kinh doanh nhất định Tổng chi phí được viết ở dạng công thức tổng quát:
Trong đó:
Tổng chi phí được chia làm hai phần riêng biệt theo loại hình chi phí: chi phí cố định
và chi phí biến đổi
Tổng thu nhập của nông hộ:
Tổng thu nhập (TR) là tổng của tất cả các khoản thu được thông qua các hoạt động sản xuất kinh doanh, thường được tính theo năm, vụ hoặc quý Tổng thu nhập (TR) được tính như sau:
Trang 2815
Lợi nhuận của nông hộ:
Lợi nhuận (PR) là sự khác biệt giữa thu nhập và chi phí của doanh nghiệp Lợi nhuận (PR) được tính bằng:
PR = TR - TC (3.4)
Tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận = (TR - TC)/TC (3.5)
Tỷ lệ số hộ nuôi lỗ:
Tỷ lệ số hộ nuôi lỗ = số hộ lỗ/ tổng số hộ nuôi (theo số hộ khảo sát)x100 (3.6)
Tỷ lệ số hộ nuôi lời:
Tỷ lệ số hộ nuôi lời = số hộ lời/ tổng số hộ nuôi (theo số hộ khảo sát)x100 (3.7)
Phân tích hồi quy tương quan đa biến
Việc khảo sát mối tương quan giữa các yếu tố tác động đến năng suất thu hoạch được thực hiện theo phương trình sau:
Y = A + B1xX1 + B2xX2 + … + BnxXn + E (3.8)
Trong đó:
Y: Năng suất thu hoạch lươn thương phẩm
Thuận lợi và khó khăn
Trang 2916
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Hiện trạng nuôi lươn ở Cần Thơ
Tính đến tháng 10 năm 2013, trên địa bàn 02 quận Thốt Nốt, huyện Cờ Đỏ có khoảng
289 hộ nuôi lươn với khoảng 839 bể nuôi Trong đó, Thốt Nốt có 46 hộ với 91 bể nuôi, Vĩnh Thạnh có 243 hộ với 748 bể nuôi Vụ nuôi năm 2014 có thời gian thả giống
từ tháng 7 đến tháng 10 với nguồn giống thu gom tự nhiên các tỉnh Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp và từ Campuchia Toàn Cần Thơ có 800 hộ nuôi lươn với khoảng
860 bể nuôi Tập trung ở Cờ Đỏ 21 bể nuôi, ở Vĩnh Thạnh và Thốt Nốt có 839 bể nuôi (Chi cục thủy sản thành phố Cần Thơ, 2014)
Trong vụ nuôi 2014 gặp khá nhiều khó khăn vì thiếu nguồn giống, chủ yếu là thu gom
từ tự nhiên, làm giá con giống tăng cao từ 50.000 - 70.000 đ/kg, tỷ lệ sống thấp hơn 50% do khi thả nuôi từ 3,5 - 4 tháng thì xuất hiện bệnh xuất huyết khó điều trị được, nên phải bán sớm Sản lượng thu hoạch năm 2014 là 258 tấn, giá bán lươn thương phẩm loại 1 và loại 2 từ 125 đến 145 ngàn đồng/kg Trong đó, ở huyện Cờ Đỏ có 12
hộ nuôi lươn theo tiêu chuẩn VietGAP đạt sản lượng 5.955kg được siêu thị Metro Cash & Carry Việt Nam ký hợp đồng bao tiêu Vụ nuôi mới năm 2015 được thả giống
từ tháng 5 đến tháng 8 là dứt điểm (Chi cục thủy sản thành phố Cần Thơ, 2015)
4.2 Thông tin chung
4.2.1 Độ tuổi
Độ tuổi của người nuôi cũng phản ánh được kinh nghiệm thực tế trong quá trình sản xuất Do đó việc tìm hiểu tuổi tác của người trực tiếp nuôi lươn là một vấn đề cần thiết Kết quả khảo sát tuổi trung bình của các hộ nuôi lươn được thể hiện ở Bảng 4.1
Bảng 4.1 Tuổi của hộ nuôi lươn
Ghi chú: Tất cả các số liệu được trình bày dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn (ngoại trừ dao động)
Giá trị trong cùng một dòng khác chữ cái thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) và ngược lại (p > 0,05)
Bảng 4.1 cho thấy, độ tuổi trung bình của các hộ nuôi lươn có bùn là 47 ± 10,5 tuổi
lớn hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với hộ nuôi lươn không bùn là 41 ± 10,1
tuổi Khoảng dao động của mô hình nuôi lươn có bùn là 31 - 68 tuổi, mô hình nuôi lươn không bùn là 27 - 60 tuổi Điều này cho thấy điểm giống nhau ở cả hai mô hình
Trang 3017
là các hộ bắt đầu nuôi lươn khá sớm và nghỉ nuôi muộn do đòi hỏi lao động của hai
mô hình nuôi lươn tương đối nhẹ nhàng
Kết quả khảo sát tuổi của các hộ nuôi lươn được thể hiện ở Hình 4.1
Hình 4.1 Cơ cấu nhóm tuổi của hộ nuôi lươn
Hình 4.1 cho thấy tuổi của các hộ nuôi lươn ở Cần Thơ từ 30 - 40 chiếm tỷ lệ cao nhất, mô hình có bùn là 36,7% và mô hình không bùn là 33,3% Mô hình nuôi lươn không bùn không có hộ nuôi nào trên 60 tuổi, trong khi đó ở mô hình có bùn nhóm tuổi này chiếm 13,3% Nhóm dưới 30 tuổi ở mô hình nuôi lươn có bùn không có hộ nuôi nào, mô hình nuôi lươn không bùn thì có 16,7% Đối với mô hình nuôi lươn không bùn có thể tiến hành nuôi với quy mô nhỏ lẻ, không phải đầu tư chi phí mua bùn nên giảm được chi phí ban đầu Vì vậy, những hộ nuôi ít tuổi và ít vốn đầu tư có thể tiến hành nuôi mô hình này
4.2.2 Trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn của mô hình nuôi lươn được thể hiện ở Hình 4.2
Hình 4.2 Trình độ chuyên môn của hộ nuôi lươn
Hình 4.2 cho thấy các hộ nuôi lươn có trình độ chuyên môn không cao chủ yếu là học hỏi từ những hộ nuôi khác (NDK), trong đó mô hình nuôi lươn có bùn chiếm 46,7% và
mô hình nuôi lươn không bùn chiếm 40,0%
Trang 3118
Mô hình nuôi lươn không bùn có 60,0% hộ nuôi có trình độ chuyên môn là tập huấn (TH) chiếm tỷ lệ cao nhất và không có hộ nuôi nào có trình độ chuyên môn là kinh nghiệm (KN) Mô hình nuôi lươn có bùn có 23,3% hộ nuôi có kinh nghiệm và 30,0%
hộ nuôi được tập huấn chuyên môn Như vậy, ở mô hình nuôi lươn không bùn có trình
độ chuyên môn cao hơn so với mô hình nuôi lươn có bùn
Bảng 4.2 Mật độ và năng suất hộ nuôi lươn có trình độ chuyên môn khác nhau
Trình độ chuyên môn
Kết quả khảo sát Kết quả nghiên cứu của
Dương Hoàng Khang
Bảng 4.2 cho thấy các hộ nuôi lươn có bùn bằng kinh nghiệm cho năng suất trung bình
cho thấy các hộ nuôi lươn bằng kinh nghiệm và được tham gia tập huấn có năng suất trung bình cao hơn các hộ nuôi lươn từ quan sát nông dân khác
Như vậy, trình độ chuyên môn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất của lươn nuôi Người nuôi có trình độ chuyên môn càng cao và có nhiều kinh nghiệm sẽ nuôi đạt năng suất cao hơn
4.2.3 Kinh nghiệm nuôi
Kinh nghiệm được tích lũy qua từng vụ nuôi, với những người nuôi có kinh nghiệm nhiều năm sẽ nắm rõ được đối tượng nuôi, các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến đối tượng nuôi và dự đoán trước những vấn đề có thể xảy ra trong vụ nuôi Kinh nghiệm của hộ nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ được thể hiện ở Bảng 4.3
Bảng 4.3 Kinh nghiệm của hộ nuôi lươn
Ghi chú: Tất cả các số liệu được trình bày dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn (ngoại trừ dao động)
Giá trị trong cùng một dòng khác chữ cái thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) và ngược lại (p > 0,05)
Bảng 4.3 cho thấy số năm kinh nghiệm của hộ nuôi lươn có bùn là 6,70 ± 4,20 năm
cao hơn có ý nghĩa (p < 0,05) so với hộ nuôi lươn không bùn là 3,90 ± 0,90 năm Kinh
Trang 32Hình 4.3 Mối tương quan giữa kinh nghiệm và năng suất
Hình 4.3 cho thấy năng suất thu hoạch của các hộ nuôi lươn tăng theo số năm kinh nghiệm Ở mô hình nuôi lươn có bùn các hộ nuôi có kinh nghiệm từ 5 - 10 năm đạt
Mô hình nuôi lươn không bùn cũng có sự thay đổi về năng suất thu hoạch giữa các nhóm kinh nghiệm nuôi, hộ nuôi có kinh nghiệm nuôi từ 3 - 4 năm có năng suất cao
Nguyên nhân là do số hộ này chưa có nhiều kinh nghiệm nuôi nên trong quá trình nuôi khi xảy ra sự cố thì không thể xử lý kịp thời gây tổn thất, cũng như việc quản lý chăm sóc và chế độ cho ăn không được điều chỉnh phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của lươn nuôi nên năng suất thu được thấp hơn những hộ có nhiều kinh nghiệm
4.3 Khía cạnh kỹ thuật nuôi của mô hình nuôi lươn
4.3.1 Tổng diện tích nuôi
Tổng diện tích nuôi lươn của hai mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn ở Cần Thơ được khảo sát có diện tích nuôi tùy thuộc vào nguồn vốn và diện tích đất của người nuôi nên diện tích nuôi trung bình không lớn Tổng diện tích nuôi và diện tích bể nuôi của mô hình nuôi lươn có bùn và không bùn được thể hiện ở Bảng 4.4
Trang 33Ghi chú: Tất cả các số liệu được trình bày dạng số trung bình ± độ lệch chuẩn (ngoại trừ dao động)
Giá trị trong cùng một dòng khác chữ cái thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)
Giá trị trong cùng một dòng cùng chữ cái thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Bảng 4.4 cho thấy tổng diện tích nuôi của mô hình nuôi lươn có bùn là 162,4 ± 147,4
nuôi lâu năm và được đầu tư lớn mở rộng quy mô sản xuất nên có diện tích nuôi trung bình cao hơn
Diện tích bể nuôi được xây dựng cho một mô hình nuôi thủy sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đối tượng thủy sản được lựa chọn nuôi, diện tích đất của nông hộ, nguồn vốn đầu tư, kinh nghiệm nuôi Theo kết quả khảo sát cho thấy diện tích bể nuôi của mô
Diện tích bể nuôi nhỏ nhất của mô hình nuôi lươn có bùn lớn gấp 4 lần mô hình nuôi lươn không bùn Diện tích bể nuôi nhỏ giúp cho người nuôi lươn không bùn dễ chăm sóc, quản lý môi trường nuôi và dịch bệnh
Tổng diện tích nuôi của mô hình nuôi lươn được thể hiện ở Hình 4.4
Hình 4.4 Tổng diện tích nuôi lươn