Tất cả các nghiên cứu văn chương cho rằng đọc là hoạt động đầu tiêncủa tiếp nhận văn chương... Đối tượng nghiên cứu Chúng tôi tập trung nghiên cứu: Phương pháp dạy
Trang 11 MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Vấn đề giảng dạy ngữ văn có một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhàtrường THPT Bởi văn học là tri thức của đời sống Tiếp nhận vốn tri thức vănhọc là tiếp nhận vốn tri thức có khả năng đem lại cho con người vốn hiểu biếtsâu rộng trong cuộc sống Từ xưa tới nay môn ngữ văn luôn được coi là đặcthù với nhiều chức năng: Vừa rèn luyện ngôn ngữ vừa rèn luyện tư duy hìnhtượng cũng như khả năng sáng tạo của học sinh Hơn thế nữa, văn chương cókhả năng giáo dục nhân cách và đạo đức của con người, giúp con người tìmlại được chính mình
Tuy nhiên, vấn đề dạy và học Ngữ Văn trong trường THPT hiện nay vẫnchưa đáp ứng được nhu cầu trên Có lẽ nguyên nhân lớn nhất là do một bộphận không nhỏ học sinh chưa thực sự hứng thú với môn Văn, chưa tìm đượclợi ích trong việc học Văn
Nhận thức được vấn đề trên ta có cái nhìn toàn diện về xác định vai tròcủa bộ môn Ngữ Văn với thực tế đời sống Khi nhắc tới học văn là ta nhắc tới
“Học văn là học cách làm người” Quan niệm đó quá bao quát chưa đủ sức
thuyết phục học sinh hướng vào bộ môn này Văn chương trong nhà trườngquá xa rời đời sống thực tiễn, nặng kiến thức giáo điều Chính điều này dẫntới một cách học ăn sâu vào tiềm thức của học sinh là cách học đối phó, vănchương tầm chương chích cú, thiếu kiến thức thực tế
Đặc biệt, đối với những văn bản văn chương thuộc thể loại trữ tình, họcsinh thường có quan niệm là chúng quá lãng mạn, bay bổng, xa rời với hiệnthực cuộc sống và cho rằng đó chỉ là những ảm nhận của giới văn nghệ sỹnên tiếp nhận văn bản trữ tình theo hướng “Học cho xong”
Trước thực trạng trên chúng tôi lựa chọn đề tài: “Phương pháp Hiểu văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu trong nhà trường THPT gắn liền
Trang 2Đọc-với đời sống thực tiễn”, Đọc-với mong muốn đi tiếp con đường mà các nhà giáo
dục quan tâm trong trong việc chiếm lĩnh tác phẩm nghệ thuật Nghiên cứunày chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới dạy học, với hi vọngtác phẩm văn học có ý nghĩa thiết thực với học sinh trong trường THPT
2 Lịch sử vấn đề
Bàn về vấn đề phương pháp dạy học và dạy học văn có từ rất sớm, xuấtphát đầu tiên ở các nước phương tây Xuất hiện với một số cuốn sách như:
“Phương pháp luận dạy học văn” của IA Rez: Trình bày phương pháp học
một cách rất cụ thể Nhấn mạnh vai trò đọc sáng tạo Coi đó là phương phápđặc thù nhằm phát triển năng lực cảm thụ văn học của học sinh Cảm thụ vănhọc trên phương diện nghệ thuật thông qua Đọc- Hiểu
“Phương pháp dạy học văn ở trường THPT” của V.A Nhicônxki (Ngọc
Toàn và Bùi Lê dịch) có vị trí và vai trò chủ đạo của người học trong nhàtrường và hoạt động đọc diễn cảm trong quá trình tiếp nhận
Ở Việt Nam những năm 80, những cuốn sách bàn về đọc văn và học văn
như: “Cảm thụ văn học giảng dạy văn học”, GS Phan Trọng Luận: Tầm
quan trọng của việc đọc, đọc từng câu, từng chữ không thể nhảy cóc Đọckhông chỉ dừng lại ở việc quan sát bề mặt câu chữ mà phải thấy được bề sâu
tầng ý nghĩa mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm; “Văn học và nhân cách”,
GS Nguyễn Thanh Hùng, Nxb Văn Học (1994) cũng nhấn mạnh đế sự pháttriển của quá trình đọc được hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và giới thiệunghệ thuật
Ngoài ra còn có nhiều bài báo, chuyên đề, chuyên luận như: Báo văn
nghệ (14/02/1988) “Môn văn thực trạng và giải pháp”, GS Trần Đình Sử: Đề
cập tới một trong ba mục tiêu của việc dạy văn, rèn khả năng Đọc- Hiểu, bámsát tác phẩm không suy đoán tùy tiện
Trang 3Trong bài biết “Dạy đọc hiểu là nền tảng văn hóa cho người đọc” tác
giả chỉ ra việc đọc hiểu sẽ giúp hình thành và củng cố, phát triển năng lực,nắm vững và sử dụng Tiếng Việt một cách thành thạo Từ bình diện văn hóaấy, bài viết xác định: Đọc là một hoạt động văn hóa có ý nghĩa cơ bản cho sựphát triển cho nhân cách
Chuyên đề “Đọc và tiếp nhận văn chương” tác giả khẳng định: Tiếp
nhận tác phẩm văn học là một quá trình vì nó chỉ diễn ra một hoạt động duy
nhất là hoạt động đọc văn GS Phan Trọng Luận trong chuyên đề “ Cảm thụ văn học, giảng dạy văn học” đã phân tích tầm quan trọng của hoạt động đọc.
Đọc từ chữ đầu đến chữ cuối, đọc để tri giác bằng mắt, tai tất cả hình ảnh, chitiết, từ ngữ Qua quá trình đọc là quá trình thâm nhập từng bước vào nội dung
ý nghĩa tác phẩm
Tất cả các nghiên cứu văn chương cho rằng đọc là hoạt động đầu tiêncủa tiếp nhận văn chương Các nhà nghiên cứu đã đã nhấn mạnh vai trò củaĐọc- Hiểu và giảng dạy văn bản trữ tình trong nhà trường THPT Dựa vào
nghiên cứu trên trong khóa luận này chúng tôi tiến hành tổ chức: Đọc- hiểu văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) trong nhà trường THPT gắn liền với đời sống thực tiễn.
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:
Xác lập các hoạt động các dạy bước văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu)
theo hướng Đọc- Hiểu
Làm rõ các vấn đề xung quanh dạy văn gắn với đời sống thực tiễn Khóaluận sẽ đi nghiên cứu đặc điểm của thể loại trữ tình góp phần xây dựng quytrình dạy văn gắn liền với đời sống
Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học thể loại trữ tình ở trườngTHPT theo hướng dạy văn là dạy học sinh biết cách làm người - con người
Trang 4không chỉ có tri thức mà còn có khả năng thích ứng cao, biết giao tiếp ứng xửtrong đời sống
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận thực hiện những nhiệm vụ sau:
Tìm hiểu cơ sở của dạy văn gắn với đời sống và quy trình dạy học Hiểu văn bản trữ tình ở trường THPT gắn với đời sống thực tiễn
Đọc-Vận dụng những hiểu biết trên để Đọc - Hiểu văn bản “Vội vàng” của
Xuân Diệu (SGK Ngữ Văn 11 tập 2 N Nxb GD) trong trường THPT gắn liềnvới đời sống thực tiễn
5 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu:
Phương pháp dạy học ngữ văn
Lý thuyết Đọc- Hiểu, Đọc- Hiểu tác phẩm gắn liền với đời sống thực tiễn
Vận dụng và hướng dẫn học sinh biết cách đọc hiểu văn bản “Vội vàng”
của Xuân Diệu (SGK Ngữ văn lớp 11 tập 2 Nxb GD) trong trường THPT gắnliền với đời sống thực tiễn
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi các đặc trưng chung của thể loại trữtình mà cụ thể là các đặc trưng của thơ trữ tình Đặc biệt, đi sâu vào hoạt độnghướng đọc - hiểu văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) trong trường THPT gắnliền với đời sống thực tiễn Do năng lực có hạn, chúng tôi chỉ tập trung ngiêncứu thực nghiệm ở một văn bản, nếu có cơ hội chúng tôi sẽ mở rộng phạm vinghiên cứu ở những đề tài sau
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp lí thuyết: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp
so sánh đối chiếu
Trang 5Phương pháp thực nghiệm: Vận dụng lí thuyết Đọc - Hiểu vào thiết kế
bài giảng văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu (SGK Ngữ văn lớp 11 tập 1 N
Nxb GD) trong trường THPT gắn liền với đời sống thực tiễn
8 Dự kiến đóng góp
Định hướng việc day học văn bản trữ tình trong nhà trường THPT gắnliền với đời sống thực tiễn
Chúng tôi muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạyhọc Đồng thời, bản thân có dịp nâng cao kiến thức, trau dồi kinh nghiệmphục vụ sự nghiệp trong tương lai
Bên cạnh đó, khóa luận góp phần hình thành và phát triển khả năng tìmtòi và nghiên cứu khoa học của người viết
9 Bố cục khóa luận
Khóa luận gồm 4 phần:
Trang 6NỘI DUNG Chương 1 MỘT VÀI VẤN ĐỀ VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ VĂN
1.1 Cơ sở lí luận
Trong thời đại cơ sở thông tin bùng nổ như hiện nay, con người có rấtnhiều cách để tiếp nhận một tác phẩm văn học Trong đó Đọc- Hiểu là mộtđặc trưng giúp bạn chiếm lĩnh một tác phẩm văn học Bởi văn chương là nghệthuật ngôn từ Vì vậy để tiếp nhận một tác phẩm văn học thì không có cáchnào khác là Đọc- Hiểu
Đọc (SGK Ngữ văn nâng cao lớp 10) là “hoạt động nắm bắt ý ngĩa
trong các kí hiệu của văn bản, khác với nghe là hoạt động nắm bắt ý nghĩa từ tín hiệu âm thanh” Đó là hoạt động lấy văn bản viết, in, khắc làm đối tượng
khác với việc đọc của người thoát nạn mù chữ là biết đọc chữ Đọc ở đây đòihỏi hiểu sâu nội dung từ ngữ, tình cảm, cái đẹp của văn bản và có thể sử dụngvăn bản đó vào đời sống cá nhân và xã hội
Hiểu là nắm được thông tin và ý nghĩa của văn bản, giải thích, biểu đạtđược cái hay và ý tưởng của văn bản Hiểu là ngộ ra, nhận ra những chân lí đờisống, những triết lí nhân sinh được viết và gửi gắm trong văn bản Đồng thờicũng có thể là sự bổ sung, tiếp thêm cho văn bản những ý nghĩa, giá trị mới.Đọc hiểu là một thuật ngữ có hai phạm trù khác nhau là “đọc” và “hiểu”nhưng lại có quan hệ mật thiết, gắn bó, liên kết với nhau trong quá trình lĩnhhội tiếp nhận VBTP văn học Nói cách khác, đọc là để hiểu để làm giàu vốn trithức, vốn sống, vốn văn hóa, hoàn thiện tâm lí và nhân cách sống cho bản thânngày càng tốt hơn Đọc để hiểu về các kĩ năng, phương pháp làm việc khoa họcsáng tạo, đạt hiệu quả công việc của mình
Trang 7Theo GS TS Nguyễn Thanh Hùng thì “Đọc- Hiểu là đọc cái chủ quan
của người viết bằng cách đồng hoá tâm hồn, tình cảm, suy nghĩ của mình vào trang sách Đọc- Hiểu không chỉ là tái tạo âm thanh, từ và chữ viết mà còn là quá trình nhuần thấm tín hiệu nghệ thuật chưa mã hoá đồng thời với việc huy động vốn sống, kinh nghiêm các nhân người đọc để lựa chọn giá trị tư tưởng thẩm mĩ và ý nghĩa vốn có của văn chương Đọc- Hiểu là đón đầu những gì đang đọc qua từng từ, từng câu, từng đoạn rồi quay về với những gì đã đọc
để kiểm chứng và đi tìm sự hợp sức của tác giả để tác phẩm được tái tạo trong tính cụ thể và giàu tưởng tượng” {5, tr.5}.
Như vậy Nguyễn Thanh Hùng khẳng định Đọc- Hiểu không những lànhững hình thức tiếp nhận nội dung, vẻ đẹp thẩm mĩ của văn bản mà đó cònlà hoạt động tâm sinh lí, có tính trực giác và khái quát Nó hàm chứa trong đókinh nghiệm cá nhân của bạn đọc Đây là mối quan hệ giữa chủ thể sáng tácvà chủ thể tiếp nhận, tạo ra quá trình giao tiếp ngầm giữa nhà văn và bạn đọc.Người đọc chính là người đồng sáng tạo trong văn chương
Còn theo GS Nguyễn Thái Hoà: Đọc- Hiểu là một phương pháp “Nói
một cách khái quát dù đơn giản hay phức tạp đều là hành vi ngôn ngữ, sử dụng linh hoạt một thủ pháp, thao tác bằng cơ quan thị giác và thính giác để tiếp nhận phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản”
GS đã chỉ ra Đọc- Hiểu là một hành vi ngôn ngữ GS coi đó là một thao tácdùng các cơ thị giác và thính giác Người đọc đi tìm hiểu nội dung và nghệthuật của văn bản, không chỉ vậy Đọc- Hiểu còn là quá trình ghi nhớ nội dungthông tin và cấu trúc văn bản
Sách giáo viên Ngữ Văn 6 đây là cuốn sách đầu tiên khái niệm về Đọc
-Hiểu được xác lập Về phương pháp Đọc- -Hiểu “Cách làm chủ yếu vẫn là
bằng hình thức nêu câu hỏi hướng dẫn nhưng nhấn mạnh phương châm đề cao công việc hoạt động của học sinh, nhằm tìm hiểu văn bản theo ba hướng
Trang 8sau: Đọc- Hiểu; suy nghĩ - vận dụng; liên tưởng- tích luỹ các phương pháp dạy học hiện đại”.
Từ những ý kiến và những hiểu biết trên, chúg tôi đi đến xác lập kháiniệm về phương pháp Đọc- Hiểu trên tinh thần tham khảo và học hỏi:
Theo nghĩa rộng, Đọc- Hiểu là thuật ngữ chỉ chung cho phương thức vàmục đích của việc lĩnh hội tri thức và nắm bắt thông tin Đó là hoạt động nhậnthức nói chung thông qua con đường giải mã văn bản ngôn từ
Theo nghĩa hẹp, Đọc- Hiểu là hoạt động thưởng thức nghệ thuật ngôn từ,hưởng thụ thẩm mỹ của con người Nó bao gồm nhiều hành động thể chất vàthao tác tư duy (tưởng tượng, liên tưởng, phán đoán ) để đi đến đích là cảmhiểu và thể nghiệm được nội dung, ý nghĩa của văn bản
Như vậy, Đọc- Hiểu không đơn giản là một kỹ năng như nhiều người đãquan niệm mà nó chính là một con đường nhằm thu nhận kiến thức
Mô hình chung cho hoạt động đọc văn: Biết - nhớ - hiểu - vận dụng; từnhững năng lực có thể rút ra trong quá trình Đọc- Hiểu văn bản văn học: nănglực cảm nhận, lí giải, tưởng thức, ghi nhớ; chúng ta có thể bước đầu xác địnhnhững thao tác chính sử dụng trong phương pháp Đọc- Hiểu gồm các bước:
Bước 1: Cần tạo tâm thế tiếp nhận văn bản văn học cho học sinh tức thu
hút sự chú ý của học sinh vào bài học bằng nhiều cách: giới thiệu vào bài hay,ấn tượng, tổ chức một cuộc thi nhỏ, ứng dụng các phương tiện kĩ thuật gâyhứng thú cho học sinh
Bước 2: Tri giác ngôn ngữ nghệ thuật hay chính là giúp học sinh đọc
hiểu khái quát văn bản
Đọc hiểu khái quát văn bản bao gồm đọc văn bản, tìm hiểu xuất xứ, thểloại, bố cục văn bản, tìm hiểu chú thích
Lưu ý: khi đọc văn bản cần đọc rõ ràng mạch lạc, đúng chính tả, thông
hiểu ý nghĩa văn bản Đối với văn bản có dung lượng không lớn như: văn bản
Trang 9thơ có thể yêu cầu học sinh đọc thuộc Với văn bản tự sự cần nhớ các sự kiệnchi tiết trong truyện và nhớ các xung đột mâu thuẫn, hành động trong kịch.Điều này sẽ giúp học sinh chủ động hơn trong việc khám phá chi tiết văn bảnvăn học.
Bước 3: Tái hiện hình tượng văn học.
Để tái hiện hình tượng văn bản văn học thì học sinh cần đọc kĩ văn bảnvăn học tức đọc nhiều lần để có khả năng ghi nhớ kết cấu văn bản, các chi tiếtbiến cố cơ bản Có thể tái hiện hình tượng văn học bằng nhiều cách như: sơđồ hóa những diễn biến trong truyện, mối quan hệ của nhân vật; tổ chức chohọc sinh thực hiện các bào tập tái hiện, kết nối các sự việc cho đúng nội dungvăn bản muốn truyền tải (có thể trực quan hóa bằng tranh, ảnh, hình tượngphù hợp với từng văn bản kiểu loại văn bản)
Bước 4: Phân tích, cắt nghĩa, khái quát hóa ý nghĩa nghệ thuật bằng
phương pháp đàm thoại diễn giảng
Học sinh đọc kĩ văn bản, khảo sát tất cả các yếu tố tạo thành văn bản, lựachọn một số yếu tố được xem là cơ bản quan trọng có lượng tư tưởng chủ đềcao để khảo sát kĩ vì những yếu tố đó tập trung tài năng tư tưởng của tác giảvà làm nên chính giá trị của tác phẩm
Lưu ý: Cần giúp học sinh hiểu sâu văn bản, phát hiện ra kết cấu bên
trong của văn bản tức là cắt nghĩa lí giải được hình ảnh, chi tiết nghệ thuậtcủa văn bản văn học
Văn bản văn học thường đa nghĩa, cần giúp học sinh đọc hiểu để nắmđược ý nghĩa tư tưởng văn bản cung cấp kết hợp tư duy chủ quan của ngườiđọc Mỗi tác phẩm văn học là nơi gửi gắm tư tưởng tình cảm, quan niệm củangười nghệ sỹ qua hình tượng văn học nên sau khi phân tích cắt nghĩa nắmđược ý nghĩa văn bản cần khái quát hóa ý nghĩa nghệ thuật của văn bản tứcđồng nghĩa với việc đọc sáng tạo Người đọc phải biết liên tưởng, tưởng
Trang 10tượng lấp đầy khoảng trống do người nghệ sỹ tạo ra từ đó đồng cảm sẻ chiavới người nghệ sỹ
Biện pháp thực hiện: Xây dựng những tình huống có vấn đề hoặc chohọc sinh thảo luận nhóm
Bước 5: Tự bộc lộ nhận thức hay chính là bước đánh giá liên hệ thực tiễn.
Người đọc đưa ra ý kiến của mình đối với một văn bản có hai cấp độ:
Thứ nhất, đánh giá khách quan: đánh giá dựa trên những căn cứ qua nội
dung văn bản vừa phân tích để có nhận xét thỏa đáng
Thứ hai, bộc lộ thái độ của cá nhân mang màu sắc chủ quan thể hiện
quan điểm của người đọc: yêu, ghét, phản đối hay đồng tình
Biện pháp thực hiện: Giúp học sinh liên hệ thực tế: yêu cầu học sinhnhập vai để học sinh bộc lộ bản thân; yêu cầu học sinh viết bài luận đánh giátác phẩm hoặc viết bài thu hoạch cá nhân sau khi học xong
Trên đây là những bước cơ bản của việc Đọc- Hiểu một tác phẩm vănchương trong dạy học Xung quanh đó còn khá nhiều ý kiến khác nhau về vấnđề này Trong dạy học, nguời giáo viên hoàn toàn có thể vận dụng linh hoạtcác bước trên, kết hợp với những phương pháp của mình để giờ học đạt hiệuquả cao nhất
1.2 Cơ sở thực tiễn
Văn học luôn là người thư kí trung thành của thời đại, thời đại xã hội thếnào sẽ được thể hiện vào trong tác phẩm văn học như vậy Tác phẩm văn học
ra đời là để con người thỏa mãn nhu cầu tinh thần giàu có và cao đẹp vô hạncủa chính mình, vậy nên, văn chương không thể, nếu như không muốn nói làkhông được phép, ngoảnh mặt lại với con người và xã hội Vấn đề duy nhấtđặt ra là: cần phải đáp ứng nhu cầu của đời sống bằng chính đặc trưng của văn
chương Cần phải gắn văn chương với đới sống thực tiễn “Văn học là nghệ
thuật, là công cụ để hiểu biết, để khám phá, để sáng tạo thực tại xã hội”.
Trang 11Và trong giáo dục cũng vậy, tất cả các môn học trong nhà trường đềuphải gắn việc dạy và học với đời sống xã hội Thừa nhận ý nghĩa đào tạo tolớn của nguyên tắc dạy học văn gắn liền với đời sống là điều không phải bàncãi nhưng để thống nhất một cách hiểu thấu đáo về bản chất và đặc điểm mốiquan hệ giữa văn chương và đời sống thật không dễ dàng Đã biết sức mạnh
riêng của môn văn trước hết tồn tại “bản chất người” trong từng tác phẩm.
Văn chương là tập hợp hội tụ của con người với sự độc đáo và phong phú của
hình tượng nghệ thuật Nhờ qui luật tình cảm diễn ra trong khi đọc “con người được soi mình và nhận ra bản thân mình” (Socrates) Như vậy học
văn- đọc văn là phương tiện giao lưu xã hội để phát hiện và tự hoàn thiện bảnthân Sức mạnh riêng của môn văn được nhân lên gấp nhiều lần trong nhàtrường với tư cách là một môn học cơ bản Những tác phẩm được lựa chọn
trong chương trình có một giá trị tiêu biểu “quý hồ tinh bất quý hồ đa” Nội
dung đã được sàng lọc, xác định qua thời gian nên mang tính thời sự và có giátrị thực tiễn
Xã hội càng phát triển, đặc biệt trong thời đại hội nhập, nhu cầu vươn tớimột nền giáo dục chất lượng cao, đào tạo ra những người có khả năng thíchnghi với cuộc sống, giải quyết những vấn đề thiết thực của cuộc sống ngàycàng cấp thiết Đó là cái đích hướng tới của giáo dục, trong đó Ngữ văn làmột môn học giữ vai trò rất quan trọng
Từ trước tới nay, môn Ngữ Văn được coi là môn học đặc thù với rấtnhiều chức năng: vừa rèn luyện về ngôn ngữ, rèn luyện tư duy hình tượngcũng như khả năng sáng tạo của HS, vừa rèn luyện năng lực cảm thụ cái đẹpcủa văn chương lại vừa có nhiệm vụ giáo dục nhân cách, đạo đức Mục đíchcuối cùng của việc dạy văn trong nhà trường là đào tạo ra những con người cókhả năng tư duy độc lập, sáng tạo, có kĩ năng đọc, kĩ năng viết và kĩ năng nóiđáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống Tuy nhiên, do những nguyên
Trang 12nhân chủ quan và khách quan, việc dạy và học Ngữ văn trong nhà trường (cáccấp) hiện nay chưa đáp ứng được những yêu cầu trên
Theo điều tra của nhiều công trình nghiên cứu về việc dạy - học văn hiệnnay, kết quả học tập môn Ngữ Văn của HS rất đáng báo động Nhiều HS khôngbiết cách tự viết, không thích đọc và cũng không biết cách tiếp cận một văn bảnngoài nhà trường để có thể tự đọc - hiểu Thậm chí nhiều Học sinh, Sinh viên
ra trường không biết cách viết một lá đơn xin việc, không trình bày được ýtưởng trong công việc một cách mạch lạc… tức là đã thiếu đi những kĩ năngsống cơ bản lẽ ra phải được trang bị qua môn Ngữ Văn Vì vậy dạy học Ngữvăn trong nhà trường THPH gắn liền với đời sống thực tiễn là vấn đề cần thiết
1.3 Đọc hiểu văn bản trữ tình gắn liền với đời sống thực tiễn
Như đã trình bày ở lí do chọn đề tài: đối với những văn bản văn chươngthuộc thể loại trữ tình, học sinh thường có quan niệm là chúng quá lãng mạn,bay bổng, xa rời với hiện thực cuộc sống và cho rằng đó chỉ là những cảm
nhận của giới văn nghệ sỹ nên tiếp nhận văn bản trữ tình theo hướng “học
cho xong”.
Trong khi thực tế, những văn bản trữ tình lại mang những giá trị nhânsinh rất thiết thực mà học sinh chưa khám phá ra Người giáo viên với vai tròhướng dẫn tổ chức hoạt động học của học sinh chính là chiếc cầu nối giúp họcsinh nhận ra và tiếp thu những giá trị đó qua phương pháp Đọc- Hiểu văn bản.Nếu như trong những giờ dạy Đọc- Hiểu văn bản trữ tình, giáo viên có thểdẫn dắt học sinh tới những giá trị nhân sinh thực tiễn, học sinh có thể áp dụngvào trong đời sống của mình thì chắc chắn giờ văn sẽ thu hút được rất nhiều
sự chú ý của học sinh và không còn hiện tượng “học cho xong” những văn
bản trữ tình
Trang 13Mặc dù biết rằng, học văn là cần giúp các em giúp biết rung cảm với nhịpđập trái tim con người trước cuộc sống muôn màu, bồi đắp lòng tin yêu conngười và cuộc sống, biết căm ghét những gì hạ thấp nhân phẩm và ngăn cản sựphát triển toàn diện của con người Nhưng nếu không gắn liền với lợi ích thựctiễn đặc biệt trong môi trường xã hội công nghiệp hóa- hiện đại hóa hiện naythì việc dạy Đọc- Hiểu văn bản trữ tình trong nhà trường THPT vẫn sẽ trở nênnặng nề, giáo điều và không đạt được hiệu quả giáo dục mong muốn
Trong khuôn khổ của một khóa luận nghiệp tôt nghiệp và năng lựcnghiên cứu còn có hạn, chúng tôi chỉ đi tìm hiểu văn bản trữ tình (chương
trình Ngữ Văn lớp 11 tập 2 của NXBGD) “Vội Vàng” của nhà thơ Xuân Diệu với tên đề tài nghiên cứu: “Đọc- Hiểu” văn bản “Vội Vàng” trong trường THPT gắn liền với đời sống thực tiễn” Đề tài có mục đích giúp học sinh
thấy được quan niệm nhân sinh mới mẻ Đồng thời, với việc nghiên cứu nàychúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc đổi mới dạy học với hyvọng tác phẩm văn học sẽ gần gũi hơn với học sinh trong trường THPT
Trang 14Chương 2 ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN “VỘI VÀNG” (XUÂN DIỆU) TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT GẮN LIỀN VỚI ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN
2.1 Đặc điểm của văn bản trữ tình
2.1.1 Khái niệm văn bản trữ tình
Thể loại văn học là dạng thức của tác phẩm văn học được hình thành vàphát triển tương đối ổn định trong quá trình phát triển của lịch sử văn học thểhiện ở sự giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm, về các loại đặc điểm củahiện tượng đời sống và tính chất của mói quan hệ giữa nhà văn và các loạihiện tượng đời sống ấy
Mỗi thể loại văn học lại có những những đặc điểm riêng về nội dung vàhình thức nhằm đáp ứng và phản ánh phù hợp với hiện tượng đời sống, quanđiểm tư tưởng mà văn học muốn gửi gắm, phản ánh Chính vì thế, sự phânchia thể loại là một yêu cầu không thể thiếu Nhìn chung, đến nay còn rấtnhiều sự tranh luận xung quanh vấn đề phân chia thể loại nhưng với giới hạncủa đề tài về vấn đề dạy đọc hiểu văn theo đặc trưng thể loại gắn liền với đờisống thực tiễn nên bài viết này chỉ đi sâu vào thể loại trữ tình mà cụ thể là vănbản trữ tình
Về nội dung, có thể thấy những tác phẩm trữ tình thường đi sâu vàokhám phá thế giới nội tâm, cảm xúc bên trong - những cảm xúc rất đa dạng,
mơ hồ Đó có thể là niềm vui, nỗi buồn, sự chia li, hy vọng hay đau đớn Đặc biệt, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong những tác phẩm trữ tình thườngbộc lộ một cách trực tiếp, có thể thiên về tình cảm cá nhân, có khi suy tư vềnhân tình thế thái, về số phận con người, về thăng trầm xã hội, về cảm xúcthời đại v.v
Về hình thức, tác phẩm trữ tình thường có hình thức ngắn gọn mang tínhchất tâm tình, giàu nhạc điệu, ngôn ngữ mang tính cách điệu, hàm súc, tưtưởng được mã hóa vào những biểu tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa
Trang 15Tác phẩm trữ tình gồm cả tùy bút, thơ văn xuôi, ca trù, từ khúc nhưngtiêu biểu nhất là thơ trữ tình Đặc điểm cơ bản của tác phẩm trữ tình là sự thổlộ ý nghĩ, cảm xúc trước thế giới, trong đó tình cảm là mạch phát triển thenchốt của tác phẩm nên biểu hiện tập trung nhất của thể loại trữ tình là thơ trữtình Hiểu một cách đơn giản theo nghĩa hẹp thì Văn bản trữ tình là những vănbản thơ trữ tình có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách biểu hiện những ýnghĩ, cảm xúc, tâm trạng riêng của người nghệ sĩ trước cuộc sống.
2.1.2 Đặc trưng của văn bản trữ tình
2.1.2.1 Lấy việc bộc lộ nội tâm con người làm mục đích nội dung biểu đạt
Tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện tư tưởng tình cảm nhưng tác phẩmloại trữ tình lại thể hiện tình cảm theo cách riêng Ở tác phẩm tự sự, tác giảxây dựng bức tranh về đời sống trong đó các nhân vật thường có đường đi vàsố phận của chúng Bằng những đối thoại và độc thoại, tác giả kịch thể hiệntính cách và thể hiện hành động con người qua những mâu thuẫn xung đột Ởtác phẩm trữ tình: thế giới chủ quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ýnghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu:
“Hôm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ Buồn trông con nhện giăng tơ Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai Buồn trông chênh chếch sao mai Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ ….”
(Ca dao)
Ngoài cảm xúc và tâm trạng khắc khoải nhớ mong người đọc hoàn toànkhông biết gì về con người và nguyên nhân cụ thể dẫn đến những nỗi niềmđó Đặc biệt với những bài thơ trữ tình có khả năng đi sâu vào những ngõ
Trang 16ngách tâm hồn của con người để phản ánh thế giới nội tâm phức tạp và phongphú Những tình cảm ấy xuất phát từ những tình cảm có thật trong đời sống:có thể là nỗi buồn, niềm vui, sự hồi hộp, lo âu hay hy vọng… Càng dễ nhậnthấy rõ điều này hơn trong những bài thơ đương đại:
“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang
Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng Đây mùa thu tới! Mùa thu tới
Với áo mơ phai dệt lá vàng”
(Đây mùa thu tới - Xuân Diệu)
Với việc tạo nên những hình ảnh rất đặc trưng của mùa thu: rặng liễu, lávàng Xuân Diệu không chỉ vẽ lên một bức tranh thu rất truyền thống mà còngiúp người đọc thấy được cái tình thu cái nét buồn trong bức tranh thu, sự nhậnrõ bước đi của thời gian trong cảm nhận của mình: thu tới Đồng thời, nhữngcâu thơ thể hiện rất rõ cái mới nét riêng cuả Xuân Diệu khi viết về mùa thu Miêu tả cảnh thu tới nhưng rõ ràng cách tái hiện ngoại cảnh này là đểchủ thể trữ tình bộc lộ cảm xúc, suy tưởng của mình được dễ dàng, gợi cảm,dễ hiểu Như vậy có thể thấy từ những câu ca dao xưa cho tới những bài thơđương đại, dấu hiệu chung của tác phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp thếgiới chủ quan của con người: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ
Nói cách khác, biểu hiện trực tiếp những cảm xúc, suy tưởng của conngười là cách phản ánh thế giới của tác phẩm trữ tình
Trang 17thơ Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể
như nhân vật tự sự và kịch Cụ thể như trong bài thơ “Tống biệt hành” của
Thâm Tâm thì nhân vật trữ tình là người đưa tiễn:
“Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng Bóng chiều không thắm không vàng vọt Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.”
Trong một bài thơ thường có một nhân vật trữ tình nhưng những bài thơcó kết cấu đối đáp thường xuất hiện hai nhân vật trữ tình như hai nhân vật trữtình: người ở lại và người ra đi qua hai đại từ xưng hô: mình - ta trong bài
“Việt Bắc” của Tố Hữu
Cần phân biệt giữa chủ thể trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình Nhânvật trong thơ trữ tình là đối tượng để nhà thơ gửi gắm tình cảm là nguyênnhân trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả:
“Gió mưa là bệnh của trời Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.”
(Tương tư - Nguyễn Bính)
Nhân vật trữ tình là người con trai và đối tượng để tâm tình ở đây làngười con gái Mặc dù không đánh đồng chủ thể trữ tình là tác giả nhưngnhân vật trữ tình trong thơ thường là hiện thân của tác giả
Để thấy rõ hơn về đặc trưng này của văn bản trữ tình tình thì nhân vật trữtình cũng có những đặc điểm riêng
Thứ nhất, đó là nhân vật trữ tình là nhân vật mang nhiều cảm xúc và vàothời điểm xuất hiện trong tác phẩm luôn có nhu cầu tâm sự dãi bày Bài thơ
“Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, nhân vật trữ tình đã thể hiện rõ cảm
Trang 18xúc đau đớn khi quê hương bị giặc tàn phá xen lẫn với niềm tự hào về truyềnthống quê hương và khát vọng, lòng quyết tâm đánh giặc.
Thứ hai, nhân vật trữ tình thường bộc lộ cảm xúc trực tiếp xuất phát từhoàn cảnh cá nhân trong đời sống nhưng đồng thời hướng tới tính khái quát
đại chúng dành cho tâm trạng của nhiều người Như “Tương tư” của Nguyễn
Bính là cảm xúc, tâm trạng rất riêng của chàng trai nhưng cũng là cảm xúcchung của những người đang yêu đơn phương
Hay câu thơ của Chế Lan Viên “Hỡi sông Hồng, tiếng hát bốn nghìn
năm, Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?” đã phản ánh hào khí của nhân
dân ta trong những ngày kháng chiến chống Mỹ Như vậy, thơ trữ tình tuybiểu hiện thế giới nội tâm chủ quan, lại cũng có thể theo cách riêng của mìnhphản ánh thực tế khách quan của cuộc sống xã hội Đúng như V HuyGo
khẳng định “Cái tôi trữ tình trong thơ là cái ta của thời đại”.
Thứ ba, cảm xúc của nhân vật trữ tình ít nhiều gắn bó với cuộc đời tácgiả Có thể nói lên tâm trạng tác giả nhưng không có nghĩa đồng nghĩa với tácgiả bởi lẽ trong nhiều trường hợp tác giả đứng ở vị trí trung gian nói hộ tâmtrạng của người khác để tạo nên tâm trạng trữ tình nhập vai Cụ thể như trong
bài thơ “Nhớ rừng” của Thế Lữ: nhà thơ nói hộ tâm trạng của con hổ trong
vườn bách thú xót xa cho dĩ vãng quá khứ hoàng kim Chỉ có thể thấy văn bảnlà sản phẩm tinh thần của nhà thơ Dù loại nhân vật trữ tình nào thì phẩm chấtvà cá tính hà thơ cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong tác phẩm Nếu điều nhà thơviết ra không bắt nguồn từ phẩm chất tinh thần của mình, từ sự trải nghiệmcủa bản thân, từ lí tưởng thẩm mỹ của mình thì tác phẩm khó có sự hấp dẫnnghệ thuật và gây xúc động lòng người Ngược lại nếu bài thơ chỉ ghi lạinhững cảm xúc tủn mủn, những tâm trạng không bắt nguồn từ hiện thực xãhội và lịch sử khách quan thì chẳng có giá trị
Trang 192.1.2.3 Ngôn ngữ trữ tình
Là hình thức của tác phẩm văn học, lời thơ cũng như lời của tác phẩm tựsự và kịch đều mang tính hình tượng, gợi cảm, hàm súc Nhưng trong ngônngữ thơ, có những đặc điểm thể hiện theo cách riêng:
Thứ nhất, ngôn ngữ thơ bão hòa cảm xúc: Đặc trưng nổi bật của thơ trữ
tình là mọi từ mọi câu đều chứa đựng cảm xúc Ngôn ngữ thơ không bao giờlà ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự Lời thơ thường là lờiđánh giá trực tiếp thể hiện một quan hệ của chủ thể với cuộc đời:
“Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca ”
(Tố Hữu)
Tình cảm nồng nhiệt trong thơ được dồn chứa vào ngôn từ, đặc biệt lànhững nhãn tự - tiêu điểm để tư đó có thể nhìn thấu vào tâm hồn tác giả.Chính vì thế, sự lựa chọn từ ngữ, phương thứ tu từ trong thơ bao giờ cũngnhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phêphán của chủ thể trở nên nổi bật Đặc biệt, lời thơ trữ tình còn mang tính chất
“mê hoặc” Lời thơ thường phải khác thường để đưa ta vào những chân líthâm thúy của đời sống Đây là điểm khác biệt hẳn so với lời tự sự, kịch haylời đời thường
Thứ hai, ngôn ngữ thơ mang tính cách điệu: Ngôn ngữ thơ không sử
dụng cách diễn đạt giản dị, sáo mòn trong đời sống mà thường tìm đến cáchdiễn đạt mới, sáng tạo hoặc đem đến những ý nghĩa mới mẻ cho những cáitưởng như cố định sáo mòn Có thể coi đây là một yêu cầu lạ hóa trong thơ
Thứ ba, ngôn ngữ thơ cô đọng hàm súc: Do giới hạn khuôn khổ bài thơ
đòi hỏi nhà thơ khi sáng tạo phải dồn nén tư tưởng, cảm xúc vào trong ngôn
Trang 20từ Vì thế thơ thường tìm đến những biện pháp đối, điệp, so sánh, ẩn dụ, hoándụ, liên tưởng và sử dụng những biểu tượng giàu ý nghĩa:
“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một người chín nhớ mười mong một người”
(Tương tư - Nguyễn Bính)
Thứ tư, ngôn ngữ trữ tình rất giàu nhạc tính, giàu hình ảnh: Tác phẩm trữ
tình phản ánh cuộc sống qua những rung động của tình cảm Như nhịp đậpcủa trái tim khi xúc động, ngôn ngữ thơ có nhịp điệu riêng của nó Thế giớinội tâm của nhà thơ không chỉ biểu hiện bằng ý nghĩa của từ ngữ - mà bằngcả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy Có thể coi tính nhạc điệu là một nét đặctrưng của tác phẩm trữ tình Nhạc tính của ngôn ngữ trữ tình được biểu hiệnqua rất nhiều khía cạnh như thanh điệu, sự gieo vần, cách ngắt nhịp, sự trùngđiệp, sự đăng đối hài hòa
Thanh điệu là sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ Trầm bổng là sự thay đổinhững âm thanh cao thấp khác nhau giữa thanh bằng và thanh trắc tạo ranhững điều mà chữ nghĩa không thể nói hết:
“Tôi lại về quê mẹ tôi xưa Một buổi trưa nắng dài bãi cát Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát”
(Mẹ Tơm - Tố Hữu)
Một trong những cái đẹp trầm bổng của âm thanh là cách ngắt nhịp:
“Người ra đi / đầu / không ngoảnh lại Sau lưng / thềm nắng / lá rơi đầy”
(Tống biệt hành - Thâm Tâm)
Trang 21Cách ngắt nhịp 3/1/3 - 2/2/3 góp phần thể hiện ý chí quyết tâm của người
ra đi và tình cảm lưu luyến bịn rịn khi rời xa Hà Nội
Góp phần tạo nên nhạc tính cho ngôn ngữ thơ là cách gieo vần Vần cótác dụng dính nối các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống nhất có
âm hưởng riêng Xét vị trí vần có vần chân (tức vần ở cuối dòng thơ) và vầnlưng (tức vần ở giữ dòng thơ):
“Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan Đường bạch dương sương trắng nắng tràn Anh đi nghe tiếng người xưa vọng
Một giọng thơ ngâm một giọng đàn”
( Em ơi Ba Lan - Tố Hữu)
Cách gieo vần “an” ở cuối mỗi câu thơ tạo ra âm điệu mở, các câu thơnhư quấn quýt vào với nhau tạo ra sự ngân nga, liên kết giữa các câu thơ Sự trùng điệp của ngôn ngữ thơ thể hiện ở sự dùng vần, điệp từ điệp ngữtạo ra sự thú vị băt tai khi nghe thơ như đang nghe một bản nhạc:
“Nước non nặng một lời thế Nước đi đi mãi không về cùng non Nhớ lời nguyện ước thề non Nước đi chưa lại, non còn đứng không …”
(Thề non nước - Tản Đà)
Việc điệp lại điệp từ “non - nước” đã tạo một ấn tượng vấn vương không
dứt Có thể nói nhạc điệu trong tác phẩm trữ tình là một đặc điểm của ngôn
ngữ thơ
Cuối cùng, ngôn ngữ trữ tình mang đậm dấu ấn riêng của tác giả: Từ tínhcá thể của tình cảm trong thơ đã chi phối tới cách lựa chọn ngôn từ và để lạidấu ấn riêng của từng người nghệ sỹ trong tác phẩm Nếu ngôn ngữ trong thơHồ Xuân Hương cá tính, gai góc, sắc sảo thì ngôn ngữ thơ của Bà Huyện
Trang 22Thanh Quan lại trang trọng, cổ kính, thanh lịch Nếu ngôn ngữ trong thơNguyễn Bính mộc mạc chân quê, dễ hiểu thì ngôn ngữ trong thơ Chế LanViên lại triết lí, sâu sa khó hiểu… Do đặc điểm rất riêng của ngôn ngữ trữ tìnhmà cụ thể là ngôn ngữ thơ nên khi khám phá một văn bản thơ cần đi từ lớpngữ nghĩa, lớp hình ảnh âm thanh, nhịp điệu đến việc tìm hiểu nghĩa bóng, tưtưởng, ý đồ nghệ thuật của tác phẩm.
2.2 Đọc hiểu văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) trong trường THPT
2.2.1 Đọc tiếp cận văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu)
Xuân Diệu (1916- 1985) tên thật là Ngô Xuân Diệu Ông được biết đếnvới tư cách là một nhà thơ, một nhà văn, một nhà phê bình văn học và nhàdịch thuật Trước cách mạng tháng tám, Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhấttronng các nhà thơ mới” Bởi ông đã đem đến cho thơ ca đương thời một sứcsống mới, một nguồn cảm xúc mới thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng
những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo Bài thơ “vội vàng” là một trong
những bài thơ tiêu biểu cho sự bùng nổ mãnh liệt của cái tôi trong thơ mới nóichung và thơ Xuân Diệu nói riêng
Trước khi đọc và tìm hiểu văn bản cần biết hoàn cảnh ra đời của văn bản
trữ tình “Vội vàng” của Xuân Diệu là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất
của Xuân Diệu sáng tác vào trước cách mạng tháng tám Bài thơ được in
trong tập “Thơ thơ” xuất bản năm 1938
2.2.2 Tái hiện hình tượng nhân vật trữ tình
Do văn bản trữ tình được tổ chức đặc biệt, ngôn ngữ giàu nhạc điệu vàhình ảnh nên đọc văn bản là một bước quan trọng để gợi lên hình ảnh, nhịpđiệu âm hưởng của tác phẩm Đồng thời khơi gợi những ấn tượng đầu tiêntrong tâm trí người đọc Đặc biệt đối với văn bản thơ, đọc văn bản không chỉcó nhiệm vụ tượng thanh các con chữ mà còn là tượng hình bên trong “Nội
Trang 23quan” của người đọc thế giới hình tượng và chủ thể trữ tình bộc bạch, thổ lộ,giãi bày trong tác phẩm
Văn bản “Vội Vàng” của Xuân Diệu là một văn bản trữ tình mà trong đó
nhân vật trữ tình bộc lộ mãnh liệt cái “tôi” khát khao giao cảm với đời vớithiên nhiên cuộc sống Chính vì thé cần có giọng đọc phù hợp với từng đoạnbộc lộ theo đúng diễn biến tâm trạng của chủ thể trữ tình Từ đó nổi bật lênchủ dề chính của văn bản
Với bố cục 4 phần:
13 câu thơ đầu: cần đọc với giọng thiết tha, say đắm thể hiện khát vọng
mãnh liệt và tâm trạng hân hoan reo vui của nhân vật trữ tình khi phát hiện ra
vẻ đẹp của thiên đường trên mặt đất
16 câu thơ tiếp theo: Đọc với giọng băn khoăn, hờn giận, tiếc nuối thể
hiện sự lập luận của nhân vật trữ tình trước sự hữu hạn của đời người và sự
vô hạn của thiên nhiên trời đất của những quy luật bất biến
9 câu thơ còn lại cần đọc với giọng cuồng nhiệt, hối hả thể hiện sự ham
sống, sống một cách vội vàng của nhân vật trữ tình
2.2.3 Phân tích, cắt nghĩa văn bản “vội vàng”
Đối với một văn bản trữ tình, có rất nhiều cách phân tích, cắt nghĩa vănbản Có thể phân tích, cắt nghĩa theo khổ, theo kết cấu, theo hình tượng Với
văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu cần phân tích, cắt nghĩa văn bản theo
từng đoạn Tuy nhiên, dù thực hiện bước này theo cách nào cũng cần bám sátvào từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, những dấu hiệu nghệ thuật của bài thơ để đisâu vào phân tích và chiếm lĩnh văn bản
Đoạn 1 (gồm 4 câu thơ đầu): Ước muốn khát khao mãnh liệt của thi sỹtrước thiên nhiên
Bài thơ mở đầu bằng thể thơ ngũ ngôn ngắn rất phù hợp bộc lộ sự dồnnén trong cảm xúc Kết hợp với từ ngữ mang tính mệnh lệnh “muốn”, sử dụng
Trang 24biện pháp điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc câu để khẳng định một ước muốntáo bạo “tắt nắng - buộc gió” Qua đó cho thấy khát vọng muốn ngự trị thiênnhiên, đoạt quyền vũ trụ để giữ hương sắc giữ cái đẹp cho cuộc đời.
Đoạn 2 (gồm 9 câu thơ tiếp theo): Sự cảm nhận của thi sỹ về thiênđường trên mặt đất
Thể thơ năm chữ được chuyển sang thơ tám chữ tạo cảm giác sự lan trảicủa cảm xúc Điệp khúc “này đây… của” cùng phép liệt kê theo chiều tăngtiến, nhịp thơ gấp gáp, khẩn trương thể hiện sự phong phú bất tận của thiên
nhiên Ngôn ngữ giàu tính tạo hình “Tuần tháng mật… xanh rì cành tơ phơ
phất…” gieo ấn tượng sâu về sức sống nội sinh của vạn vật của ong bướm cỏ
hoa đang bước vào thời kì sung mãn nhất, căng tràn nhất Hình ảnh “Tháng
giêng ngon như một cặp môi gần” là sự so sánh độc đáo mới lạ Tác giả đã
vật chất hóa khái niệm thời gian bằng “Cặp môi gần” tạo sự chuyển đổi cảm giác cho người đọc bằng tính từ “ngon-gần” Đây là một chi tiết gợi hình gợi
cảm khiến cho người đọc cảm nhận được hương thơm, sự ngọt ngào say đắmcủa mùa xuân của tháng giêng Phải chăng đó cũng chính là tiếng reo vui củathi sỹ trước cảnh vật mùa xuân tràn trề sức sống trước thiên đường mặt đấtđang rạo rực tình xuân Có thể nói đây là một câu thơ hay nhất, mới nhất, táobạo nhất của Xuân Diệu trước cách mạng tháng Tám Qua đó, đoạn thơ thểhiện tình yêu cuộc sống thiết tha, mãnh liệt với một tâm hồn tràn trề nhựasống của nhà thơ
Đoạn 3 (gồm 16 câu thơ tiếp theo): thể hiện sự băn khoăn về sự ngắnngủi của kiếp người trước quy luật của tạo hóa
Thi sĩ dường như đang hân hoan vui mừng tận hưởng vẻ đẹp của thiên
nhiên vạn vật thì “Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa” Dấu chấm
xuât hiện như một sáng tạo nghệ thuật bất ngờ thể hiện niềm vui và dự báo
Trang 25điều sắp xảy ra Tiếp theo đó là hàng loạt những lí luận của trái tim, trái tim tựđặt điều kiện, giả thiết rồi tự kết luận:
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất”
Lập luận để rồi lo lắng băn khoăn trước quy luật của tạo hóa qua hàngloạt các hình ảnh đối lập:
Lòng tôi rộng >< lượng trời cứ hẹp Xuân vẫn tuần hoàn >< tuổi trẻ chẳng hai làn thắm lại Còn trời đất >< chẳng còn tôi mãi
Sự hữu hạn của đời người đang đối kháng với cái vô hạn của thiên nhiêntrời đất Lập luận nhưng chính là đang tranh luận để khẳng định cái tôi cáilòng ham sống của mình Giọng thơ trở nên buồn giận thấm vào cảnh vật,không gian, thiên nhiên Hình ảnh nhân hóa kết hợp với câu hỏi tu từ thể hiện
sự tàn phai, ly biệt “mùi tháng năm… sông núi than thầm cơn gió xinh thì
thầm ” Tất cả đang “Phải chăng hờn ? Phải chăng sợ ?”.
Bằng cảm quan của một tâm hồn thiết tha rạo rực với cuộc sống với đời,tất cả những khái niệm trừ tượng đều được thi sỹ chuyển đổi từ xúc giác thànhthị giác, vị giác, thính giác Thời gian trôi đi, tuổi trẻ cũng trôi đi, đó là quyluật của vạn vật Chính vì thế không chỉ tâm trạng tác giả buồn nuối tiếc bănkhoăn mà vạn vật cũng nhuốm màu li biệt
Đoạn 4 (gồm 9 câu thơ còn lại): Lời giục giã và tình yêu cuộc sống vộivàng của nhà thơ
Đại từ “Ta” được sử dụng một cách đầy tự tin với khát khao “muốn”.
Đi kèm với một loạt các dộng từ mạnh “Ôm - riết - say- thâu- đã dầy - no
nê-cắn” là một loạt các hình ảnh đầy sức sống “sự sống bắt đầu mơn mởn- mây
Trang 26đưa và gió lượn - cánh bướm với tình yêu - cái hôn- ánh sáng- thanh xuân hồng” Mức độ của sự ham muốn tăng tiến dần mà đỉnh điểm:
sắc-“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”
Nhịp thơ nhanh đến cuồng nhiệt, đan xen những câu thơ ngắn dài thểhiện khát vọng sống hăm hở sôi trào, cảm xúc táo bạo mà vẫn tinh khiết.Có thể nói đoạn thơ thể hiện trái tim sôi nổi, rạo rực đến độ vội vàng gấpgáp của nhà thơ để tận hưởng vẻ đẹp của cuộc sống, tình yêu
2.2.4 Đánh giá cảm xúc nhân vật trữ tình
Bài thơ là một thi phẩm mang đậm dấu ấn tâm hồn Xuân Diệu với nhữnghình ảnh mới lạ, độc đáo; nhịp thơ, giọng thơ thay đổi với nhiều cung bậcnhưng tất cả đều thể hiện cảm xúc chân thật của nhà thơ
Với 38 câu thơ được chia thành bốn đoạn, mỗi đoạn bộc lộ một tâmtrạng cảm xúc của thi sĩ từ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết đến tâm rạngbuồn băn khoăn khi nhận ra sự giới hạn của đời người đến tình yêu cuộc sống
vội vàng của nhà thơ thì “Vội vàng” có thể xem là một “tuyên ngôn” về cuộc
sống của Xuân Diệu
2.3 Đọc hiểu văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) gắn liền với đời sống thực tiễn
2.3.1 Thực trạng tiếp nhận văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) trong nhà trường THPT
Việc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông trong đócó đổi mới phương pháp dạy học văn theo tinh thần khoa học hiện đại đã vàđang diễn ra sôi động và thu được nhiều kết quả đáng mừng Việc chúng tôichọn đề tài này xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đã được quyđịnh tại Luật giáo dục của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 14
tháng 6 năm 2005 ở Khoản 2 Điều 5: “Phương pháp giáo dục phải phát huy
Trang 27tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”.
Đặc điểm cấu trúc chương trình THPT hiện nay quan tâm đến việc dạytác phẩm văn học theo loại thể Nhiều văn bản mới như văn bản Nhật dụngđược đưa vào trong chương trình Vì vậy, nghiên cứu cảm thụ không chỉ đóngkhung một cách phiến diện vào vấn đề hứng thú mà cần chú ý nhiều hơn giátrị thực tiễn (gắn liền với tâm lí, sinh lí, xã hội, mĩ học ) Không thể dạy văntheo cách tĩnh và thiếu mối liên hệ biện chứng giữa văn học và cuộc sống.Khuynh hướng khoa học ngày nay yêu cầu một cách nghiêm ngặt về khảonghiệm thực tiễn
Trong chương trình Ngữ văn ở trường THPT hiện nay, số lượng tácphẩm trữ tình chiếm một số lượng khá lớn Tâm lí phổ biến của đời sống vănhọc trong nhà trường là tiếp nhận một cách khá máy móc khi học các tácphẩm trữ tình Bởi những đặc trưng rất riêng của văn bản trữ tình so với cácloại văn bản khác, đòi hỏi học sinh phải có năng lực cảm thụ văn chương mớicó thể phân tích cắt nghĩa, bình giá những chi tiết, hình ảnh trong văn bản.Trong khi trên thực tế, học sinh không có hứng thú với những bài thơ trungđại bởi chúng khó hiểu, công thức, cũng không có hứng thú với thơ hiện đạibởi cho rằng đó là những văn bản xa rời thực tế và không phù hợp với tâm líđương thời
Giáo viên với tư cách là người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động học củahọc sinh nhằm giúp học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức Trong quá trìnhdạy, đôi lúc còn gặp phải lúng túng khi truyền tải những kiến thức, cảm xúcthẩm mỹ mà văn bản trữ tình đem lại Nguyên nhân một phần do giáo viênchưa gắn thực tiễn với bài dạy khiến học sinh cảm thấy khó hiểu và không cóhứng thú tiếp nhận Tạo ra một khoảng trống không có sự liên hệ giữa họcsinh và văn bản, dẫn đến thực trạng “học cho xong” Mặc dù trên thực tế, dù
Trang 28văn bản trữ tình có được viết ở thời đại nào cũng tái hiện lại một đời sống mộthiện thực nào đó Cho nên sẽ thật thiếu xót nếu dạy Đọc- Hiểu văn bản trữtình mà không gắn liền với thực tiễn
Văn bản “Vội vàng” của Xuân Diệu là một văn bản trữ tình trong
chương trình SGK Ngữ Văn THPT lớp 11 Đây là một thi phẩm nổi tiếngnhững năm đầu thế kỉ XX, là một trong những “đứa con tinh thần” thể hiệnrõ nhất hồn thơ Xuân Diệu và là một tác phẩm luôn sống trong lòng nhữngngười yêu thơ Trong chương trình Ngữ Văn THPT học sinh được tiếp nhận
văn bản “Vội vàng” - một văn bản trữ tình của một tác gia nổi tiếng đã được
nhà phê bình văn học Hoài Thanh đánh giá: “nhà thơ mới nhất trong các nhà
thơ mới” Học sinh có thể thấy văn bản này hay, thấy thích đôi ba câu thơ lạ
nhưng chưa thật sự nhận ra giá trị thực tiễn, quan niệm nhân sinh sâu sắc mới
mẻ chứa đựng trong đó - điều đã làm nên sức sống trường tồn của văn bảnnày trong gần thế kỉ qua Nhìn nhận thực trạng này và với mục đích nâng caochất lượng dạy học văn nói chung, dạy văn hướng tới việ dạy chữ và dạy làm
“người”, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Đọc- Hiểu văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) trong trường THPT gắn liền với đời sống thực tiễn”.
2.3.2 Định hướng dạy văn bản “Vội vàng” (Xuân Diệu) trong chương trình THPT gắn với đời sống thực tiễn
2.3.2.1 Khát vọng mãnh liệt, táo bạo trước thiên nhiên, cuộc sống.
Từ nghìn năm trước, trong dòng thơ ca trung đại không thiếu gì nhữngvần thơ tràn đầy sức sống trước mùa xuân, cuộc sống Nhưng tất cả đều bịchi phối bởi tính phi ngã - một đặc điểm của văn chương trung đại Tức cái tôitrữ tình thường được ẩn náu sau những hình ảnh ước lệ tượng trưng, lấy thiênnhiên làm chuẩn mực của cái đẹp Trong khi đó, kế thừa truyền thống thơ canhưng Phong trào thơ mới giai đoạn 1932 - 1945 như một làn gió mới thổivào thi đàn Việt Nam, đem đến một bộ mặt mới cho nền văn học nước nhà
Trang 29Nổi bật với những tên tuổi như Thế Lữ, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế LanViên mà tiêu biểu và được đánh giá là“ Nhà thơ mới nhất trong những nhàthơ mới” là Xuân Diệu Mới bởi cách cảm nhận thiên nhiên đầy mới lạ, mớibởi những lấy tuổi trẻ - tình yêu của con người làm thước đo cái đẹp và mới
bởi những ham muốn táo bạo, mãnh liệt chưa từng có Trong cuốn “Thi Nhân
Việt Nam”, nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã nhận xét “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” Không phải ngẫu nhiên trong khi mỗi hồn thơ chỉ
được nói đến bằng một tính từ thì nhà phê bình lại dành đến ba tính từ để
nhận xét cái riêng cảu Xuân Diệu: một hồn thơ “tha thiết, băn khoăn, rạo
rực” Vì sao lại có sự ưu ái đến thế? Đó có lẽ bởi chữ “mới”- một đặc điểm
đã được thể hiện rất rõ trong các sáng tác của ông mà tiêu biểu là baì thơ “Vội
Vàng” được rút từ tập “Thơ thơ” xuất bản năm 1938.
Mở đầu tập thơ là một lời nhận xét rất tinh tế của nhà thơ Thế Lữ “Xuân
Diệu là một người của đời một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng nhân gian ” Ngay từ khi bước vào làng thơ,
dường như Xuân Diệu đã tự chọn cho mình một lẽ sống: Sống để yêu và tônthờ tình yêu! Phụng sự bằng trái tim nống cháy, bằng cuộc sống say mê vàbàng việc hăm hở làm thơ tình có lẽ chính vì thế mà hơn hai mươi năm giã
từ nhưng quan niệm sống “vội vàng” của Xuân Diệu vẫn cháy âm ỉ trong lòng
người đọc:
“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”
Trang 30Sống là hưởng thụ hết mình là sự khát khao mãnh liệt, giao cảm với đờivới đất trời nên những câu thơ của hồn thơ Xuân Diệu cũng tràn đầy khátvọng mãnh liệt táo bạo khiến chính người đọc mỗi lần chạm tới nhu muốn
hòa cùng những khát vọng tưởng như ảo mà lại hóa ra thực ấy: “muốn tắt
nắng - buộc gió” Không như những thi sĩ xưa, thiên đường là chốn bồng lai
tiên cảnh, nơi có mây gió trăng hoa, với Xuân Diệu: cuộc sống trần gian mớilà nơi thực sự hạnh phúc, căng tràn sức sống nhất, nơi đáng cảm nhận đáng đểhưởng thụ để khát khao nhất Đây thật sự là một quan niêm rất thực tế xuấtphát từ một con người một hồn thơ một thi sĩ luôn ham sống đến mãnh liệt Mở đầu bài thơ bằng những câu thơ ngũ ngôn rất phù hợp cho sự dồn
nén cảm xúc với điệp từ “tôi muốn” Thi sĩ “muốn” tắt nắng để nắng đừng phai, muốn “buộc gió” để mùi hương đừng lan tỏa đi mất Chính khát vọng
tưởng như ngông cuồng ấy đã thu hút sự chú ý của người đọc Đồng thời,những câu thơ cũng tạo ra cảm giác lo âu rằng cái đẹp sẽ giảm hương sắc đi,màu nắng sẽ bớt rực rỡ đi nếu cứ lan tỏa và làn hương kia sẽ bớt nồng nàn nếugió cứ bay Nhưng mong muốn càng trở nên tha thiết hơn khi chữ “đừng”được sử dụng tới hai lần Tưởng rằng đó là những ước mơ, khát vọng phi hiệnthực không bao giờ thực hiện được nhưng với thi sĩ đó là một ước muốn vàmục đích rất thực không hề viển vông Bởi nó xuất phát từ tâm lí: sợ thời giantrôi, muốn nắm giữu niềm vui, muốn mãi mãi tận hưởng hương sắc của đời
Ai cũng biết thời gian trôi đi sẽ không trở lại nhưng có mấy ai có được tâmhồn tha thiết và suy nghĩ như Xuân Diệu.Và nếu như ai cũng có ước muốn ấythì cuộc sống sẽ đẹp biết chừng nào khi trên trần thế sẽ chỉ có những conngười biết cống hiến hết mình nhưng cũng biết tận hưởng cái đẹp hết mìnhnhư hồn thơ Xuân diệu Có thể coi đây là một quan niệm sống rất thực tiễn vàđầy giá trị nhân văn Sợ nên mới muốn, muốn níu muốn giữ muốn cho tất cả
những gì đẹp nhất sẽ tồn tại, sẽ ở lại với đời “Tôi muốn” là một sự khẳng
Trang 31định sự ham muốn trực tiếp của một cái tôi muốn cướp đoạt quyền năng củatạo hóa Từng chữ một của bốn câu thơ đều nói lên lòng ham sống đến vôbiên, tột cùng đến trở nên cuồng si, tham lam muốn giữ lại cho mình cho đời
vẻ đẹp sự sống trong tạo vật
Sự kết hợp uyển chuyển giữa nghệ thuật và cái rạo rực băn khoăn thathiết của một hồn thơ yêu đời ham sống thích hưởng thụ tuyệt đối của XuânDiệu đã khiến những câu thơ đầu của bài thơ có sức cuốn người đọc vào cáiham muốn khôn cùng ấy của nhà thơ Nó lôi trái tim người nghe vào một sựtin cao độ cùng cung bậc cảm xúc với chính hồn thơ của thi sĩ
2.3.2.2.Khẳng định giá trị của cái tôi cá nhân trước vẻ đẹp cuộc sống thực tại đầy quyến rũ, tinh khôi
Nếu như khổ thơ đầu là sự dồn nén cảm xúc vào những câu thơ năm chữthì khổ sau lại được viết bằng những câu thơ tám chữ như một sự dàn trải cảmxúc Ẩn sau những phi lí của ước muốn là sự đáng yêu của một tâm hồn hamsống và yêu cuộc sống Với ông, sống là một hạnh phúc lớn lao kì diệu, sốnglà để tận hưởng và tận hiến:
“Sống toàn tâm, toàn trí sống toàn hồn Sống toàn thân và thức nhọn giác quan”
(Thanh Niên)
Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặtđất, một bữa tiệc lớn của trần gian Nhà thơ đã cảm nhận bằng cả sự tinh vicủa một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giớiđầy xuân tình Cái thiên đường hương sắc đó hiện ra trong “vội vàng” vừanhư một mảnh vườn tình ái, vạn vật đương lúc nên hương vừa như một mâmtiệc với thực đơn đầy quyến rũ lại vừa như một người tình đầy khêu gợi
Trang 32Có ai đó đã nói rằng Xuân Diệu đắm say với tình yêu và hăng hái vớimùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầytrong tim mây trời thanh sắc:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si”
Đó là niềm vui sướng của một trái tim thi sĩ trẻ lần đầu phát hiện ra mộtthiên đường trên mặt đất Nếu trong thơ xưa, các thi sĩ chỉ dùng thính giác, thịgiác hoặc xúc giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới thì các thi sĩ thơ mới lạihuy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhận vẻ đẹp và sựquyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc sang xuân Trong
đoạn thơ, điệp ngữ “Này đây” được sử dụng năm lần kết hợp với lối liệt kê
khiến nhịp thơ trở nên dồn dập như một sự chỉ trỏ ngơ ngác, ngạc nhiên, lạlẫm như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi chìm ngập đắm say trướctrùng trùng điệp điệp: ong bướm, tuần tháng mật, ngọt ngào nào là “hoa của
đồng nội xanh rì, nào là “lá của cành tơ phơ phất”, là “yến anh” là “khúc
tình si” Tất cả thể hiện qua từ sở hữu “của” Một bức tranh xuân tuyệt diệu
trải ra trước mắt người đọc Những câu thơ gợi hình dung về một con ngườiđang mê man, đắm đuối, cuống quýt trước mùa xuân đang căng trải ra cuộcđời Đó không chỉ là một bức tranh thiên nhiên, một thiên đường trên mặt đấtđầy xuân sắc, xuân tình mà đó còn là cách tác giả nói đến cái mê đắm về một
mùa xuân của tuổi trẻ, của tình yêu Khúc nhạc của tình yêu và hơn thế “của
tình si” gợi lên sự mê đắm Điệp từ “Này đây”: đi cạnh từ “của” không tách
rời nhau thể hiện cảm xúc trước thiên nhiên luôn có sự kết đôi, mọi vật quấnquýt lấy nhau là của nhau không thể tách rời Tất cả đều mang vẻ đẹp của sự
trẻ trung và sức sống “Hoa” nở trên nền xanh rì của đồng nội bao la, “lá” của
Trang 33cành tơ đầy sức trẻ và nhựa sống Cảm giác non tơ mơn mởn ấy được tôn lên
trên sự hiệp vàn “tơ phơ phất” ở sau Hình ảnh cuộc sống như một vườn địa
đàng đầy quyến rũ tinh khôi trong vẻ đẹp của trần thế Cái giá trị nhân vănchính là ở đó
Có thể thấy, tất cả các giác quan của nhà thơ như rung lên, căng ra đểđón nhận tất cả, cảm nhận tất cả Sức sống đang căng tràn, phơi bày, thiênnhiên hữu tình thật xinh đẹp đáng yêu như sự gợi mở hấp dẫn đến lạ kì, sự
mời mọc của thiên nhiên cũng là những “món ăn” có sẵn Những vẻ đẹp
được liệt kê với những tính từ đậm nhạt khác nhau thể hiện tài năng sử dụngtừ ngữ của xuân Diệu Cảnh vật trong thơ ông đã trở nên trào sắc màu cuộntrào sức sống Sự vật bình thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻrất kiêu rất hãnh diện, được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của lòng yêu cuộcsống từ hồn thơ Xuân Diệu đã trở nên lung linh, đẹp đẽ là biểu tượng của mùaxuân với tuổi trẻ giữa cuộc đời Nếu không phải là một hồn thơ khát khaogiao cảm với cuộc sống mãnh liệt, không phải là một sự khẳng định cái tôi cánhân đến táo bạo:
“Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”
Nhà thơ đã nhận ra vẻ đẹp thực tại đầy sức quyến rũ tinh khôi của trầngian Với chúng ta, tất thảy xung quanh thật bình thường, giản dị Với XuânDiệu cuộc sống vô cùng xuân sắc, đáng yêu và luôn sống với tinh thần yêuđời, ham sống đến mức mãnh liệt, táo bạo Thi nhân nhìn nhận cuộc sống,thiên nhiên bằng đôi mắt xanh non, với trái tim cháy bỏng với tình yêu thiếttha rạo rực thì sẽ chẳng bao giờ còn khổ đau, dù trong hoàn cảnh nào cũng sẽcó thể chuyển hóa được bởi trong đó đã chứa đựng một phần cái hồn của sựsống tinh khôi Tất cả là do nơi cảm nhận, quan điểm sống và cách nghĩ củamỗi người Đó cũng chính là một quan niệm nhân sinh rất thực tế toát lên từ