1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thời gian tự sự trong tiểu thuyết giã biệt bóng tối của tạ duy anh

66 528 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 491,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại: giải ­ khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và sự bất ổn của trật tự đời

Trang 2

Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thời gian tự sự trong tiểu thuyết 

Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của 

các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, của các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Lí luận văn học, Khoa Ngữ văn. Tôi xin gửi tới các thầy, cô lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết luận trong khóa luận là trung thực. Khóa luận này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Nếu những lời cam đoan trên là sai,  tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày   tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Lưu Thị Thanh Huế

Trang 6

1. Lí do chọn đề tài:

1.1.  Văn  học,  hiểu  theo  ý  nghĩa  rộng  nhất  của  từ  này,  là  tấm  gương 

phản ánh, tái tạo đời sống. Nó có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với đời sống, là nơi in dấu cuộc sống con người trong quá trình vận động, biến thiên lịch sử. Bởi vậy, khi hiện thực cuộc sống thay đổi tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi của văn học

Sau Tổng khởi nghĩa Mùa xuân năm 1975, nước ta đã bước sang một trang sử mới, một kỉ nguyên mới. Đổi mới trở thành nhu cầu bức thiết trên mọi lĩnh vực trong đó có văn học nghệ thuật. Hiện thực đất nước tác động, những luồng văn học nước ngoài ảnh hưởng và ngay bản thân nhà văn cũng nhận thấy “không thể viết như cũ được nữa”. Thị hiếu của độc giả cũng thay đổi. Họ hào hứng với những cách viết, lối viết mới. Tất cả những yếu tố đó đã thôi thúc các nhà văn đổi mới tư tưởng, đổi mới cách viết của mình. Đội ngũ sáng  tác,  tác  phẩm  văn  học  không  ngừng  tăng  lên  cả  về  số  lượng  và  chất lượng. Các nhà văn đã mang đến sự mới mẻ, phong phú đa dạng về nội dung phản ánh, hình thức thể hiện, thể loại

1.2. Đối với một nền văn học hiện đại, tiểu thuyết được coi là “cỗ máy 

cái”, là thể loại “cái”, nơi biểu hiện tập trung nhất trình độ tư duy văn học, nơi kết tinh quan trong nhất thành tựu của một thời đại văn học

Ở nước ta, tiểu thuyết sau 1975 không phải “đoạn tuyệt” hẳn với truyền thống  mà  nó  vẫn  kế  thừa,  có  điều  ý  thức  “làm  mới,  làm  giàu,  làm  khác” truyền thống đã  trở thành nhu cầu mạnh mẽ của hầu hết người viết. Người cầm bút phải đối diện với một đòi hỏi nghiệt ngã: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải áng tạo ra một hình thức riêng. Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật 

vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” (Alain Robbe Grillet).

Trang 7

Tiểu  thuyết  Việt  Nam  đặc  biệt  nở  rộ  từ  sau  1986­  cao  trào  của  công cuộc đổi mới mà nói như cách cảm nhận của Nguyễn Huy Thiệp thì thời bây giờ là “thời của tiểu thuyết”. Sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết Việt Nam 

đã  chứng  minh  được  sức  sống  mãnh  liệt  của  thể  loại.  “Số  phận  của  tiểu thuyết” không còn là điều phải lo ngại. Tiểu thuyết đã trở thành nhân vật quan trọng bậc nhất trên sân khấu văn học Việt Nam hiện đại

Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại: giải ­ khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và sự bất ổn của trật tự đời sống; sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái huyền bí siêu nhiên với đời thường; những kiểu cấu trúc mới: Mảnh vỡ tự sự, liên văn bản, gián cách; không gian, thời gian huyền ảo, mơ hồ về biên độ,

Theo nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến, một trong hai đặc điểm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học là coi trọng cách kể phi tuyến tính hơn là cách kể tuyến tính. Với cách kể phi tuyến tính, buộc nhà văn phải có cách xử 

lí  thời  gian  tinh  vi  hơn,  thời  gian  được  mở  rộng  biên  độ,  có  xáo  trộn,  cách quãng, nhảy cóc, thế giới trong tác phẩm bị “đứt gãy” cả về không gian và thời gian

Các yếu tố của hậu hiện đại đã được các nhà tiểu thuyết đương đại Việt Nam tiếp nhận và sáng tạo. Các yếu tố này trên thực tế đã góp phần vào việc 

đổi mới lối viết, nhất là việc tổ chức thời gian tự sự. Bởi vấn đề thời gian tính 

và nghệ thuật tự sự là những vấn đề cốt lõi của tiểu thuyết. Nhà cấu trúc chủ nghĩa Pháp Gérard Genette cho rằng: “Tiểu thuyết đặc biệt có khả năng nhấn mạnh  quá  trình  thời  gian  hơn  bất  kì  thể  loại  nào  khác”.  Và  khi  đi  tìm  định nghĩa cho khái niệm tự sự thì cách hiểu đơn giản nhất đó là: nghệ thuật xếp đặt các chuỗi tình tiết hay nghệ thuật trình bày các sự biến trong mối liên hệ với thời gian. Tiếp cận tiểu thuyết từ góc độ thời gian tự sự là một lối đi mới giúp chúng ta đào sâu tác phẩm từ nhiều khía cạnh

Trang 8

2.1. Tình hình nghiên cứu chung về Tạ Duy Anh

Tạ Duy Anh sáng tác ở khá nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn  Thời gian gần đây, nhà văn tập trung ngòi bút vào thể loại tiểu thuyết. Ông  liên  tiếp  đưa  tới  cho  bạn  đọc  những  tiểu  thuyết  mới  mẻ  về  hình  thức. Sáng  tác  của  ông  thời  gian  gần  đây  đã  trở  thành  đối  tượng  nghiên  cứu  của nhiều công trình khoa học, có thể kể đến Nguyễn Thị Mai Loan (2004) với 

Nông  thôn  trong  sáng  tác  của  Tạ  Duy  Anh,  Nguyễn  Thị  Ninh  với  Thế  giới  nghệ thuật Tạ Duy Anh, Cảm thức về cái phi lí trong sáng tác của Tạ Duy  Anh của Cao Tố Nga. ; Nguyễn Thị Hồng Giang (2005) Tạ Duy Anh và việc  làm  mới  nghệ  thuật  tiểu  thuyết,  luận  văn  Thạc  sĩ  Ngữ  văn,  ĐHSP,  Hà  Nội; 

Cao Tố Nga (2006), Cảm thức về cái phi lý trong sang tác của Tạ Duy Anh,  luận văn Thạc sĩ, ĐHSP, Hà Nội; Vũ Lê Lan Hương (2006), Thế giới nhân 

vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, ĐHSP, Hà Nội; Võ Thị 

Thanh Hà (2006), Nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, Đại học  Vinh, Nghệ An; Nguyễn Thị Kim Lan (2006), Nghệ thuật kết cấu trong một 

Trang 9

của tác giả Tạ Duy Anh”

Với bài “Vài suy nghĩ về sự đổi mới của tiểu thuyết nhân đọc Giã biệt 

bóng tối của Tạ Duy Anh”, Hữu Đạt nhận định: “Đọc Giã biệt bóng tối của Tạ 

Trang 10

Duy Anh ta thấy ông quả là đã gắng công tìm tòi, có thể nói là đến mức hì hục nhằm cố gắng thay đổi bộ mặt cấu trúc của tiểu thuyết truyền thống” và kết quả  của  sự  cố  gắng  đó  phần  nào  đã  góp  công  vào  sự  “Trở  mình”  của  tiểu thuyết Việt Nam đương đại.

Chúng tôi hi vọng qua việc tìm hiểu đề này sẽ học tập và tích lũy được những kinh nghiệm quý báu trong công việc nghiên cứu khoa học, giúp cho 

sự vững vàng trong nghề nghiệp của bản thân người viết sau này

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Tìm hiểu những vấn đề khái quát về thời gian tự sự

Tìm hiểu thời gian tự sự trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tối .

Trang 11

5. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này người viết khóa luận đã sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên cứu sau:

sự

7. Bố cục khóa luận

Khóa luận bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và tài liệu tham khảo. Riêng phần nội dung được trình bầy trong hai chương:

Chương 1:  Khái quát về thời gian tự sự.

Chương 2:  Trình tự kể trong Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh.

Chương 3:  Tốc độ ­ nhịp điệu và tần suất kể trong Giã biệt bóng tối 

của Tạ Duy Anh

Trang 12

Theo các nhà nghiên cứu, ở Phương Tây, ngay từ thời Hi Lạp cổ đại đã tồn  tại  hai  khuynh  hướng  tư  tưởng  về  sự  vận  động  của  thế  giới  nhìn  từ phương diện thời gian: “Tất cả đổi thay” của Héraclite và “Tất cả bất biến” của  Parménide.  Theo  Héraclite,  đặc  tính  của  cuộc  sống  là  sự  lưu  chuyển không  ngừng:  “Người  ta  không  bao  giờ  tắm  hai  lần  trên  một  dòng  sông”. Điều đó nằm trong định luật chung của vũ trụ gọi là “logos”, bao trùm và tác động lên trên tất cả mọi hiện tượng của thế giới. Mọi thứ luôn luôn biến đổi, cái này đưa tới cái kia, vừa đối lập, mâu thuẫn với nhau lại vừa nảy sinh ra nhau giống như: sáng/tối, ngày /đêm. Parménide thì lại quan niệm ngược lại, ông cho rằng sự có mặt là vĩnh viễn, những đổi thay chỉ là ở vẻ bên ngoài. Cũng trong chiều hướng này, Platon chủ trương bên cạnh thế giới hiện tượng đổi thay còn có thế giới của Tư Tưởng, của Linh Hồn, một thế giới vĩnh cửu vượt  khỏi  thời  gian,  không  chịu  sự  khống  chế  của  quy  luật  thời  gian.  Thời gian trở thành “Hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu bất động”. Aristote lại quan niệm thời gian cũng như sự chuyển động mang tính chất vĩnh cửu, vô thủy vô chung. “Thời gian là thước đo của sự chuyển động giữa trước và sau, thời gian liên tục bởi vì thuộc vào sự liên tục”. Chỉ có thời gian hiện tại mới là thời gian thực sự. Theo trường phái Khắc Kỷ (stoiciens), thời gian không có thực  chất,  nhân  “Mọi  sự  vật  hiện  hữu  và  chuyển  động  chính  ở  trong  thời 

Trang 13

vũ trụ chính là Thiên Nhiên, là Tạo Hóa. Bởi vậy mà các nhà hiền triết của trường phái Khắc Kỷ tuân theo thời gian, chấp nhận thời gian, sống phù hợp với thời gian để hòa đồng với tạo hóa

là thời gian và thời gian chính là con người”

Thời gian là một nhân tố rất quan trọng trong nghệ thuật tự sự. Ở một 

số nước phương Đông, trong đó có Việt Nam, giới lí luận đồng thời quan tâm tới cả hai yếu tố: không gian và thời gian. Nhưng ở phương Tây, họ quan tâm đặc  biệt  tới  trục  thời  gian  hơn  là  không  gian.  Nhà  tự  sự  học  người  Pháp Gérard Genette quan niệm: “Tôi có thể kể một câu chuyện mà không cần nói chính xác địa điểm nó xảy ra, hoặc nó xa cách bao năm so với địa điểm phát ngôn của  tôi, nhưng dường như tôi không thể nào loại bỏ việc xác định thời gian trong tương quan với hành động kể chuyện của mình, bởi lẽ tôi cứ nhất thiết phải kể lại câu chuyện trong một thì nhất định về hiện tại, quá khứ hoặc tương lai” [8,tr.85]

Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhất là sau 1986 với sự đổi mới kĩ thuật viết,  với  những  cách  tân  táo  bạo  trong  nghệ  thuật  tự  sự  đã  phá  vỡ  (nhưng không  cắt  lìa)  cấu  trúc  thời  gian  truyền  thống,  góp  phần  tạo  nên  những  sắc thái độc đáo của thời gian trong tiểu thuyết đương đại

1.1.2. Các loại thời gian trong tự sự

Tự sự học coi một câu chuyện được kể lại như là việc đã xảy ra.Từ đó 

Trang 14

hiện  khi  kể  lại.  Mối  liên  hệ  ấy  được  tìm  thấy  trong  các  cặp  phạm  trù:  Câu chuyện và truyện kể, thời gian câu chuyện được kể và thời gian truyện kể.

Theo  E.  Benveniste,  thời  gian  của  truyện  bao  gồm  “thời  gian  của  cái được kể ­ thời gian quy chiếu ­ và thời gian kể, thực hiện hành động kể truyện 

­ thời gian phát ngôn” [15, tr.109]

Chiristan  Metz  lại  viết:  “Truyện  là  một  chuỗi  thời  gian  hai  lần  thời gian  có thời gian của cái được kể và thời gian của truyện (thời gian của cái được biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt)  một trong những chức năng của truyện là đổ khuôn (monayer) thành một thời gian trong một thời gian khác (Dẫn theo G. Genette – Figures ­ tập III, tr.77)” [15,tr.109]

Thời gian được coi như một nhân tố cấu trúc nghệ thuật của truyện. G. Genette  đã  phân  chia  thành  ba  loại:  thời  gian  của  chuyện,  thời  gian  của chuyện và thời gian phát ngôn (kể truyện)

Về thời gian của chuyện, nó được coi như là “sự diễn tiến của các sự kiện trong tính kế tiếp hay đồng thời, nghiêm ngặt như là chúng đã được hoàn thành, xét về mặt chiếu vật, là trật tự niên biểu của các sự kiện hình thành nên truyện” [12,tr.18]. Thời gian của câu chuyện không phải lúc nào cũng trùng với thời gian của truyện kể

Thời  gian của truyện tức là thời gian của sự kiện, của nhân vật đã được sắp xếp lại, phân bố lại theo chủ quan của người kể. Thời gian của truyện thể hiện tài năng của người viết trong việc xử lí thời gian, thể hiện khả năng nhìn nhận và phản ánh cuộc đời của họ. Thời gian của truyện có khi trùng với thời gian của câu chuyện, có khi không. Đó là khi trật tự thời gian trong truyện bị xáo trộn, không theo trật tự thời gian niên biểu của các sự kiện, nhân vật, sự việc xảy ra sau đưa lên trước, sự việc xảy ra ở quá khứ lại đưa về sau, quá khứ, hiện tại, tương lai không theo trình tự tuyến tính

Trang 15

Giữa thời gian của chuyện và thời gian của truyện có một độ chênh lớn. Đồng thời lại có một độ chênh khác giữa thời gian của truyện và thời gian kể (thời gian phát ngôn) nhưng độ chênh này thường rất ít, khó nhận thấy. Nó chỉ lộ ra ở một vài tác phẩm tiêu biểu. Trong phần lớn các truyện (bao gồm cả  tiểu thuyết) thì thời gian của truyện và thời gian kể (thời gian phát ngôn) xoắn kép  với  nhau,  không  thể  bóc  tách  ra  được.  Vì  thế  mà  người  ta  thường  gộp chung thời gian tự sự và thời gian phát ngôn vào thời gian của truyện. Những đổi mới trong việc xử lí thời gian của truyện có khả năng lớn trong việc hiện đại hóa các sự kiện. Thời gian thực sự có tính nghệ thuật là thời gian tự sự và thời gian phát ngôn

Trang 16

Dưới quan niệm tự sự học, G. Genette đã đưa ra định nghĩa về thời gian như sau: “thời gian nghệ thuật là một chuỗi thời gian kép, có thời gian của cái được kể lại và thời gian của truyện, tức là thời gian của cái được biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt”. Không phải thời gian nào xuất hiện trong truyện cũng là thời gian nghệ thuật. Đi vào khám phá thời gian nghệ thuật của một tác phẩm tức là đi vào tìm hiểu cả thời gian được trần thuật và thời gian trần 

thuật (thời gian tự sự) và Tự sự học quan tâm chủ yếu đến thời gian tự sự­ 

nghệ thuật xử lí thời gian của nhà văn

Thời  gian  tự  sự  (narrative  time),  còn  được  gọi  là  “thời  gian  giả” (pseudo­ temporal) theo cách nói của G. Genette, để phân biệt với thời gian của bản thân câu chuyện hoặc sự kiện được trần thuật chính là thời gian của truyện kể. Đó là “thời gian của trật tự các sự kiện đã được phân bố lại trong truyện do sắp xếp chủ quan của người kể chuyện” [12,tr.33]. Thời gian tự sự không tuân theo quy luật của thời gian vật lí thông thường mà đã được tái tạo lại bởi chủ quan của người kể chuyện. Người kể chuyện bao giờ cũng sử dụng thời gian như một phương tiện đặc thù làm bối cảnh để kể chuyện, thoát ra ngoài thời gian quy ước. Trình tự trần thuật sẽ bị đảo lộn bằng cách thuật lại những  việc  đã  qua  hay  chưa  đến.  Các  thủ  pháp  rút  gọn,  tỉnh  lược,  kéo  dài, ngừng nghỉ, lặp lại  cũng thường được người kể chuyện sử dụng để tổ chức thời gian của trật tự các sự kiện sao cho đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất

Giữa thời gian tự sự và thời gian của bản thân câu chuyện có mối quan 

hệ với nhau. Nói cách khác đó là mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Mối quan hệ này được tác giả Trần Đình Sử xem xét qua 

ba tương quan, cụ thể là:

Trang 17

1.  Tương  quan  điểm  mở  đầu  ­  kết  thúc  của  thời  gian  trần  thuật  (thời gian tự sự, thời gian của truyện) với điểm mở đầu ­ kết thúc của thời gian sự kiện (thời gian được trần thuật, thời gian của cái được kể). Điểm mở đầu­ kết thúc của hai loại thời gian này có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau. 

2. Tương quan sự kiện trong thời gian trần thuật. Các sự kiện trong thời gian trần thuật có thể được thuật lại không giống nhau. Có khi sự kiện được 

kể liên tục, theo trình tự của sự kiện đời sống, có khi lại được kể không theo trình tự trước sau. Các sự kiện có thể gối đầu nhau. Có những sự kiện bị tỉnh lược hay kéo dài. Tất cả sẽ tạo nên độ chênh giữa hai loại thời gian này

3. Tương quan thời gian trần thuật và thời gian nhân vật. Thời gian trần thuật (thời gian tự sự) còn được xem xét trong quá trình tự ý thức hay hồi ức của nhân vật. Kí ức của nhân vật được sử dụng như một phương tiện để thuật lại những sự kiện đã thuộc về “hoài niệm”, về quá khứ

Sự khác nhau giữa thời gian của cái được biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt được G. Genette cụ thể hóa ở các cấp độ khác nhau của thời gian tự sự

1.2. Các cấp độ của thời gian tự sự

“Thời gian thật sự có tính nghệ thuật, đó là thời gian của hành động kể chuyện  và  thời  gian  của  văn  bản”  [8,tr.88]  hay  đó  chính  là  thời  gian  tự  sự. Tiếp  cận,  khám  phá  thời  gian  tự  sự  của  một  tác  phẩm  cần  phải  có  một  mô hình, một phác đồ chỉ dẫn. Nhà tự sự học người Pháp G. Genette đã đề xuất lí thuyết  thời  gian  tự  sự.Thời  gian  tự  sự  ­  hay  còn  được  gọi  là  thời  gian  giả, được xây dựng trên mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Theo G. Genette có ba cấp độ làm nên mối quan hệ đó, đó là: trình 

tự kể chuyện, tốc độ ­ nhịp điệu kể, tần suất kể chuyện

1.2.1. Trình tự kể chuyện

Trình  tự  kể  (order),  theo  G.  Genette  là  nghiên  cứu  mối  quan  hệ  giữa trình tự thời gian tiếp nối các sự kiện trong câu chuyện với trình tự thời gian 

Trang 18

giả được sắp xếp trong trần thuật. Nghĩa là trình tự kể chuyện xác định mối quan  hệ  tiếp  nối  của  các  sự  kiện  trong  câu  chuyện  với  cái  cách  mà  chúng được sắp xếp trong truyện (sự sắp xếp thời gian giả). Trong tự sự cổ trung đại, thường thì trình tự thời gian tiếp nối các sự kiện và trình tự thời gian giả được sắp  xếp  trong  trần  thuật  là  thống  nhất,  trùng  khít  với  nhau;  trần  thuật  trong văn bản theo thời gian hình tuyến, việc xảy ra trước kể trước, việc xảy ra sau 

kể sau, không có sự sai trật tự niên biểu. Nhưng về sau, trình tự biên niên của các sự kiện trong câu chuyện thường bị xáo tung. Trình tự của cái được kể được ngắt ra bằng một số cách khác nhau

Thời sai (anachrony) là thuật ngữ mà G. Genette sử dụng để chỉ ra tất cả những kiểu lệch pha, các độ chênh giữa trình tự thời gian của chuyện và thời gian của truyện. Đảo thuật và dự thuật là hai biểu hiện cơ bản của thời sai

Đảo  thuật  (analepse)  là  “thuật  lại  những  sự  việc  đã  qua”  [20,tr.496], 

nghĩa là kể lại các sự kiện đã diễn ra trước hiện thời “bây giờ” của câu chuyện đang được kể

G.  Genette  chia  đảo  thuật  ra  thành  các  loại:  đảo  thuật  bên  ngoài,  đảo thuật bên trong và đảo thuật hỗn hợp

­  Đảo  thuật  bên  ngoài  (external  analepse)  là  ngoái  về  phía  sau,  trước điểm  bắt  đầu  của  truyện  và  cũng  kết  thúc  trước  đó.  Đảo  thuật  bên  ngoài không can thiệp vào khung thời gian của câu chuyện

­  Đảo  thuật  bên  trong  (internal  analepse)  là  “kể  lại  những  sự  việc  có giao thoa về thời gian ở đầu  sự việc đang trần thuật” [20,tr.496]. Đảo thuật bên trong có phạm vi nằm trong khung thời gian của câu chuyện. G. Genette 

đã phân biệt hai loại đảo thuật bên trong thường gặp là: đảo thuật bổ sung và đảo thuật tuần hoàn

+  Đảo  thuật  bổ  sung  (completing  analepse)  hay  còn  gọi  là  “quay 

ngược”  (return)  bao  gồm  những  đoạn  hồi  tưởng  lấp  đầy  một  khoảng  trống trước đó trong truyện kể, những khoảng trống này có thể là những tỉnh lược 

Trang 19

ra  sau.  Cũng  giống  như  đảo  thuật,  dự  thuật  cũng  bao  gồm:  Dự  thuật  bên ngoài, dự thuật bên trong và dự thuật hỗn hợp

­ Dự thuật bên ngoài vươn ra ngoài giới hạn phạm vi của câu chuyện, gắn  với  những  tình  tiết  xẩy  ra  sau  điểm  kết  thúc  của  câu  chuyện  và  cũng không can thiệp vào khung thời gian của câu chuyện

Trang 20

Dự  thuật  trong  văn  học,  nhất  là  văn  học  cổ  điểm  hay  xuất  hiện  dưới hình thức “điềm báo”hoặc “Báo mộng”

Dù là đảo thuật hay dự thuật cũng đều có hai loại: Đồng sự và dị sự. Loại trước là kể lại hoặc kể trước những sự việc liên đới. Loại sau thì ngược lại, tức là kể lại hoặc kể trước những sự việc không liên đới

Thời  sai  còn  bao  gồm  tầm  thời  sai  và  phạm  vi.  “Thời  điểm  của  cốt truyện  mà  ở  đó  truyện  kể  được  ngắt  ra  để  kể  chuyện,  G.Genette  gọi  là  tầm thời sai là khoảng cách thời gian từ chuyện đến truyện kể. Nó cũng có thể bao phủ nên khoảng thời gian cốt truyệt dài hay ngắn hơn, Genette gọi là biên độ (amplytude) của nó” [15,tr.116]

1.2.2. Tốc độ ­ nhịp điệu kể

Tốc độ kể chuyện là yếu tố thứ hai của thời gian tự sự. Nó liên quan chặt chẽ, chi phối, làm thành nhịp điệu kể

Tốc  độ  kể  chỉ  ra  mối  liên  hệ  giữa  thời  gian  có  thể  thay  đổi  của  các phần  của  câu  chuyện  với  độ  dài  của  văn  bản  mà  trong  đó  các  phần  truyện được kể lại

Trang 21

mỉ  người  và  cảnh.  Lại  có  những  chỗ  không  gia  giảm  gì  cả,  thời  gian  câu chuyện và thời gian trần thuật là bằng nhau, chẳng hạn như những đoạn thuật lại đối thoại giữa các nhân vật với nhau

 Ông phân biệt bốn vận động tự sự cơ bản, đó là: lược thuật, tỉnh lược, ngừng nghỉ, hoạt cảnh

­ Lược thuật là thuật lại trong một vài đoạn hay một vài trang sự tồn tại của những quãng thời gian tương đối dài mà không có những chi tiết của hành động hoặc lời nói. Nói cách khác, lược thuật nghĩa là trần thuật rất khái quát

­ Tỉnh lược là kể rất ít hay không kể một vài phần của câu chuyện

­  Ngừng  nghỉ  là  những  đoạn  miêu  tả  dài  của  người  kể  mà  trong  đó không có hành động nào xảy ra. Chức năng quan trọng của ngừng nghỉ là tạo đường viền không khí cho truyện hoặc tạo phông nền cho các hoạt cảnh

­ Hoạt cảnh là những giai đoạn sinh động của hành động, xảy ra đồng thời với những thời khắc sôi nổi nhất của câu chuyện. Trong tiểu thuyết, hoạt cảnh chủ yếu là đối thoại, nó chiếm tỉ lệ tương đối lớn so với các vận động tự 

sự khác. Sử dụng các hoạt cảnh sẽ đưa câu chuyện tiến gần tới đời thường, với những gì rất chân thật “đang diễn tiến” trong cuộc sống

Từ sự khảo sát những chỗ nhanh hay chậm, hoặc không nhanh không chậm cho thấy rõ nhịp điệu tự sự trong văn bản

1.2.3. Tần suất kể

Tần suất kể chuyện là một bình diện của mối quan hệ giữa thời gian câu chuyện  và  thời  gian  truyện  kể.  Tần  suất  (frequency),  theo  G.Genette  là 

Trang 22

Tần suất kể chuyện có ba loại:

­ Tự sự đơn nhất (rescit singulier) là “sự việc xảy ra một hay bao nhiêu lần thì trần thuật lại bấy nhiêu lần” [20,tr.497]. Gọi là trần thuật đơn nhất là vì lời kể và sự kiện được kể là tương đương với nhau. Trong tự sự đơn nhất lại 

có hai dạng:

+ Kể lại một lần điều xảy ra một lần. Dạng này thường thấy trong các diễn ngôn hội thoại, trong truyện ngắn

+ Kể lại n lần điều xảy ra n lần [15,tr.117]

Hai dạng này thoáng nhìn thì có vẻ giống nhau. Bởi ở dạng sau khi ta thay  n = 1 thì  không khác gì dạng trước. Song, điều lí thú ở đây là ở chỗ “sự việc có thể giống nhau nhưng mỗi lần kể là mỗi lần khác”. 

­ Tự sự trùng lặp (rescit répétitif) là “sự việc chỉ xảy ra một lần, nhưng được  trần  thuật  rất  nhiều  lần”  [20,tr.497].  Đây  là  sự  trùng  lặp  trong  lời  kể, thường xuất hiện ở những lời nói của các nhân vật có trạng thái không bình thường. Theo Genette thì kiểu trần thuật này dường như chỉ có trong giả định. 

Nó  nhấn  mạnh  vào  một  sự  ám  ảnh  nào  đó,  hoặc  thể  hiện  một  thái  độ,  một hành vi vô lí

­ Tự sự mang tính tổng hợp (récit itératif) là “trần thuật một lần sự việc xảy ra rất nhiều lần” [20,tr.497]. Loại tự sự này có thể được xem xét bởi các yếu tố: khoảng thời gian mà sự kiện xuất hiện, nhịp độ lặp lại của sự kiện và quãng thời gian được mở rộng ra bởi sự thuật lại sự kiện

Trang 23

Tần  suất  chính  là  “cách  tính  thời  gian  kể  theo  tần  số  xuất  hiện  trong mối tương quan giữa lời kể và cốt truyện” [15tr.140].

Tần suất kể truyện chính là một phương diện cơ bản của thời gian tự 

sự, tuy nhiên nó ít được các nhà lí luận phê bình chú ý tới

Ba cấp độ kể trên là những phương diện cơ bản nhất và cũng gần như hoàn thiện nhất về thời gian tự sự. Khảo sát thời gian trong một tác phẩm tự 

sự dựa trên lí thuyết thời gian tự sự mà G.Genette đã đề xuất sẽ giúp ta nắm bắt được những chuyển vận phức hợp, bóc tách được các lớp thời gian, luận giải  được  quan  niệm  thời  gian,  phương  cách  tự  sự,  tư  tưởng   của  tác  giả. Genette đã có công lớn trong việc lập ra “công thức” thời gian tự sự để khám phá tác phẩm. 

Trang 24

Các  giả  thiết  được  đưa  ra  xung quanh những cái chết kì lạ.(b)Những cái chết có phần do bàn tay của ma quỷ(c)

Quá  khứ  hạnh  phúc  và  hiện  tại lang  thang  của  thằng  bé  với những cãm bẫy chờ đón.(d)

­ Thằng bé nhớ lại trước khi đến ngôi miếu hoang, bị rơi vào đám đắt  gái  cho  người  nước  ngoài, làm  bưng  bê  ở  một  quán  bia. Sau đó bị đuổi và gặp ả cave tốt bụng.(e)

­  Cái  chết  bí  ẩn  của  cô  giáo 

Trang 25

­ Thằng Thượng (thằng bé lang thang  nhận  được  một  điều ước).(h)

Sự  ứng  nghiệm  của  lời  nguyền với những chái chết.(i)

­  Cách  làm  giàu  của  nhân  vật xưng tớ.(k)

­ ả cave nhờ tìm thằng bé ả gặp trên vỉa hè.(l)

­  Làng  Thổ  ô  nổi  tiếng  nhờ những cái chết.(m)

Trang 26

Sự  tự  sụp  đổ  của  ngôi  miếu hoang(s)

Như vậy, từ bảng thống kê trên, ta có thể nhận thấy Giã biệt bóng tối 

được kết hợp bởi 18 mảnh ghép ứng với 18 bloc truyện gắn với năm mạch truyện lớn: cuộc đời lang thang, phiêu bạt của thằng bé mồ côi tên Thượng, những kẻ xấu số, câu chuyện làng Thổ Ô xoay quanh những cái chết, chuyện 

về gã đào mỏ tên Bính, cuối cùng là mạch truyện về ả cave. Mỗi câu chuyện gắn với một dòng thời gian khác nhau và cùng vận động

Trong Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh vừa kể chuyện theo trật tự niên 

biểu, vừa phi tuyến tính hóa trình tự kể, có sự đan xen của dự thuật, đảo thuật, thời gian được đồng hiện ở các không gian khác nhau

2.1.1. Trình tự kể biên niên

Trình tự kể biên niên không xuất hiện trong toàn bộ các mạch truyện  

mà chúng xuất hiện ở một số mạch truyện nhất định: cuộc đời lang bạt của thằng bé mồ côi tên Thượng, những cái chết kì lạ ở làng Thổ Ô và câu chuyện 

về gã đào mỏ tên Bính

      Mạch truyện về tuổi thơ lang bạt của thằng bé Thượng gồm ba bloc (d), (e), (h) và được kể theo trật tự biên niên. Truyện bắt đầu bằng sự kiện năm nó mười hai tuổi tới bị dọa biết mất khỏi thành phố. Trong thời gian này các biến 

cố liên tiếp xảy ra. Sinh ra trong sự nguyền rủa của dân làng bởi không biết cha mình là ai, lại sớm mồ côi mẹ, Thượng theo bà ngoại tha phương cầu thực. Để 

Trang 27

tồn  tại  “Bà  đã  làm  trăm  thứ  nghề  trong  đó  chủ    yếu  là  nghề  quét  thóc  vãi” [1,tr.111] và “lạy giời” hóa ra đó lại là nghề bà có thể mang lại cho Thượng cuộc sống đủ đầy thậm chí là sung túc nữa. Thời gian cứ thế trôi đi cho tới năm nó mười hai tuổi. Ngày bà trút hơi thở cuối cùng cũng là ngày nó “trở thành đứa trẻ vô gia cư” [1,tr.111]. Đầu tiên nó theo những đứa trẻ đánh giày lang thang, len lỏi khắp các ngõ ngách quán xá để kiếm sống. Nghiệp đánh giày sẽ theo thằng bé đến hết đời nếu không xảy ra cuộc gặp gỡ định mệnh giữa nó và bà lớn. Trước lời dọa nạt độc địa của người đàn bà nham hiểm, Thượng ngoan ngoãn làm theo vì sợ nhiều hơn vì thích. Hàng ngày nó đưa các lá thư tới những địa chỉ khác nhau. Số tiền kiếm được nhiều lên và thằng 

bé bắt đầu mơ về tương lai với kế hoạch lớn: “Tôi dự định sẽ dùng số tiền ấy tìm về quê mà có người hứa sẽ mách cho tôi”. Thế nhưng giấc mơ chưa kịp thành hiện thực thì Thượng phát hiện ra nó “Tiếp tay cho tội phạm. Mà là tội phạm  buôn  bán  vận  chuyển  hêrôin”.  Thằng  bé  bị  mất  toàn  bộ  tiền  công  và đuổi  biến  mất  khỏi  thành  phố.  Thoát  khỏi  chùm  buôn  ma  túy,  ngay  lập  tức Thượng rơi vào tay “đám dắt gái cho người nước ngoài” [1,tr.118]. Tại đây nó chứng kiến hành động hết sức kì quặc của ông Tây đồng tính và hơn thế, nó phải chịu đựng sự sỉ vả tục tĩu của mụ chủ nhà chứa. “Qua một gã đàn ông làm  nghề  bảo  kê  kiêm  cò  mồi”  [1,tr.121],  nó  tìm  được  công  việc  bưng  bê trong một quán bia. Một lần, bưng khay bia khệ nệ trên tay, Thượng đã gây ra tai họa khi làm “Cả khay bia lộn nhào xuống đất còn tôi thì chúi vào một bà quyền quí ăn mặc rất cầu kì” “chiếc váy màu trắng của bà in cả mười đầu ngón  tay  tôi,  đúng  ở  cái  chỗ  rất  bất  tiện  cho  những  người  muốn  chia  sẻ” [1,tr.124]. Buổi tối hôm đó thằng bé được thông báo ngày mai không phải đi làm. Bước ra khỏi quán bia nó không biết làm gì hơn ngoài việc mua một ổ bánh mì  rồi lại hòa vào dòng người tấp nập. Vừa quyết định ngủ lại trên vỉa 

hè, nó lại bị một ả gái làm tiền xua đuổi “Biến đi mày ? Phải để cho tao tí đất 

Trang 28

làm ăn chứ mày ?”. Mất khách nhưng chị ta không hề tức giận mà còn tỏ ra thương xót Thượng: “Đã có tiền ăn sáng chưa. Giữ cho cẩn thận, trộm cắp, cướp  giật  nhiều  như  rươi  ấy   khốn  khổ  thân  mày”  [1,tr.131].  Tỉnh  dậy  sau một đêm mộng mị, từ góc phố bên kia đường nó nhận ra người phụ nữ đêm qua quay lại tìm nó “Chị có vẻ rất hốt hoảng lia mắt ra bốn phía xung quanh” [1,tr.132]. Nhưng vào giây phút quyết định ấy nó lại đổi ý. Đứng chết lặng nhìn  người  đàn  bà  tìm  mình  gặp  tai  họa,  Thượng  tràn  ngập  lòng  ân  hận. Không  lâu  sau  đó,  nó  bị  giam  trong  ngôi  nhà  kín  cổng  cao  tường.  Ở  đây, Thượng  bị  dùng  làm  trò  tiêu  khiển  cho  các  công  tử  chán  đời.  Chúng  dùng thuốc gây nghiện ma quái và sự sợ hãi của thằng bé để tạo ra những cơn khoái chá. “Thế là những con dao chĩa cả về phía tôi rồi cắt vào không khí những đường sáng trắng phụ họa với động tác múa may đó những tiếng hú hét man 

rợ  được  cất  lên  [1,tr.156].  Hoảng  sợ  và  tuyệt  vọng  nhưng  khi  nghĩ  tới  bà ngoại, Thượng lại có đủ can đảm để tìm cách tự giải thoát cho mình. Vào đêm trời nổi cơn giông bão, “Trong khi các gã con trai đang mải mê ăn uống thì tôi lao vụt ra ngoài, dùng toàn thân đùn những viên gạch long chân ra, rồi chui sang phía bên kia bức tường”. Cuộc tẩu thoát đưa Thượng thoát khỏi ngôi nhà 

ma quái

Qua mạch truyện về thằng bé mồ côi tên Thượng, Tạ Duy Anh đã bao quát  xã hội đương đại đầy rẫy cạm bẫy thông qua số phận của một đứa trẻ mồ côi. Nhà văn tái hiện những mảng tối, những góc khuất của cuộc đời. Đầu tiên 

là chùm buôn ma túy núp dưới bóng bà lớn sang trọng, quyền uy lợi dụng trẻ 

em làm điều phi pháp. Mụ Tú bà “dắt gái cho người nước ngoài biến trẻ em thành nô lệ tình dục kiếm những đồng tiền nhơ bẩn. Lão chủ quán bia nanh nọc với triết lý sống hèn hạ không còn nhân tính. Bà lớn giàu sang ngồi cạnh các ông lớn giàu sang khoác lên mình nhung lụa cao sang song bản chất là những kẻ tham lam, đốn mạt. Đỉnh điểm là những cậu ấm “không còn gì để 

Trang 29

kẻ ấy sống một đời đã chết. Dường như trong mọi ngõ ngách của hiện thực ta không tìm thấy “tình người”.  Xã  hội dung chứa trong nó sự độc ác, tàn nhẫn 

và hèn hạ. Thế giới con người “thật”­ “giả”; “giả”­ “thật” lẫn lộn khó phân biệt  nổi.  Đạo  đức  không  tồn  tại  ở  giới  trí  thức­  thượng  lưu  mà  nó  ẩn  chứa trong một ả cave có mang “cuộc đời rách nát” bị đọa đày dưới đáy xã hội

Không phải ngẫu nhiên chúng tôi khẳng định mạch truyện được kể theo trật tự biên niên mà chúng tôi dựa vào các dấu hiệu cụ thể trong tác phẩm

Chúng tôi nhận thấy dòng thời gian biên niên được tính bằng thời gian 

sự kiện: “Thế là  tôi sợ hãi bỏ đi ngay sau lời đe dọa chọc mù mắt của gã đàn ông” [1,tr.118], “  trước khi được bưng bê tôi phải trải qua một lớp đào tạo nghề” [1.tr.121]. “ Phải khi bị ai đó đá vào chân  tôi mới biết đêm qua mình ngủ trên vỉa hè [133], “Tỉnh dậy tôi thấy mình nằm trong căn phòng lúc trước” [1,tr.157].  Dòng  thời  gian  niên  biểu  còn  được  tính  bằng  thời  điểm  của  một ngày: buổi sáng, buổi tối, khuya khoắt. “Buổi sáng tôi đến trường­ lang thang tới đâu bà tôi cũng tìm cách cho tôi học dự tính ở trường sở tại” [1,tr.110]. 

“Buổi tối  tôi rúc vào nách bà và thiếp đi trong những câu chuyện cổ tích luôn luôn dang dở” [1,tr.111]. Cũng có khi, thời gian được tính theo mùa: “Ngay 

cả khi chưa đến mùa gặt bà cũng không rời chiếc chổi” [1,tr.110]. Mặt khác, trật tự thời gian tuyến tính còn được biểu hiện ở hệ thống từ chỉ thứ tự: Đầu  tiên, hôm ấy, lần ấy, lần này, trước khi. 

  Ở  mạch  truyện  những  kẻ  xấu  số,  bloc  (i),  “Sự  ứng  nghiệm  của  lời nguyền với những cái chết” giữ vị trí trung tâm và được kể theo trật tự tuyến tính. Thời gian câu chuyện kéo dài hai tháng, bắt đầu từ “Buổi sáng ấy, khi dân làng Thổ Ô thức dậy thì nó đã ngủ qua một đêm trong ngôi miếu thành hoàng” [1,tr.163] đến “Lão già ngửa cổ cười sằng sặc” “Để xem” [1,tr.213]

Trang 30

Sau một đêm mộng mị trong ngôi miếu thành hoàng, Thượng không hề biết rằng nó đã được lão già truyền cho một sức mạnh khủng khiếp vào những lời  nguyền  của  nó.  Việc  đầu  tiên  nó  làm  là  vào  làng  tìm  một  công  việc  để kiếm  sống.  Mới  đầu  nó  đẩy  xe  bò  và  trông  những  thùng  phân  bắc  cho  lão Tung ngoài chợ. Một hôm, vì gian lận bị khách hàng phát hiện, trên đường về lão chửi bới thằng bé một cách thậm tệ và trừ nửa tiền công của nó. Thượng lặng lẽ chịu đựng nhưng đến khi “bị lão Tung hất phân vào người thì nó thầm rủa “lão là đồ độc ác” [1,tr.167]. “Hôm sau nó vào làng chờ có người mướn thì  thấy  người  ta  mua  hương  khói  đi  viếng  đám  ma”  [1,tr.167].    Chưa  biết chuyện gì xảy ra thì Thượng bị gã “San chó” say rượu dọa nạt rồi lôi về nhà hắn.Với bản tính du côn cùng cơn ma men hừng hực, San chó lôi thằng bé ra làm trò tiêu khiển. “Nó đấy. Tôi bắt được nó đem về làm con chó cho mình sai bảo đấy. Đúng rồi,  cún, mày sủa đi cho bà lớn nghe nào. Ngoan nào. Rồi thì đâu có đó, thịt chó có lá mơ,cầy tơ có rượu lậu. Mình bảo nó ăn cứt nó cũng  phải  ăn.  Nào,  êu,  êu ”.  Trong  cơn  ấm  ức  cực  độ,  Thượng  thầm  nghĩ 

“Đồ  khốn  nạn”.  “Một  lúc  sau,  San  chết  trên  bụng  vợ.  Sau  cái  chết  của  lão Tung  và  thằng  San  độ  nửa  tháng,  một  hôm  vào  lúc  chập  tối,  lão  Thìn­  phụ trách an ninh làng tìm đến và yêu cầu nó phải dọn đi ngay trong đêm: “mấy hôm tới bọn ta có cuộc mật phục những kẻ hút trích ma túy,cháu tạm lánh đi chỗ khác một thời gian nhé” [1,tr.174]. Lang thang suốt đêm chờ trời sáng, nó bất ngờ phát hiện ông phụ trách an ninh làng tốt bụng tối qua đã đuổi nó đi để biến ngôi miếu hoang trở thành nơi hành lạc. “Ngồi thờ ra trong khi bụng sôi òng ọc, nó rủa thầm “Đồ khốn nạn, lừa cả trẻ em”. Đúng lúc ấy ông Thìn ngã sấp mặt, chết phòi óc. Trong làng thằng Thượng thường tránh mụ Hường béo. Theo lời kể lại, mụ Hường từng làm nghề  trộm vặt và vào tù ra tội. Một lần vào làng lượm ve chai, nó bị mụ nhục mạ, chửi bới một cách thậm tệ. Giữa dòng nước mắt uất hận đến nghẹn ngào “Trong ý nghĩ của nó bật lên một câu nguyền rủa sao kẻ độc ác ấy không chết đi cho người khác nhờ” [1,tr.186]. 

Trang 31

“Có lần lão còn bảo lão “chơi” mẹ nó từ khi nó chưa đẻ” [1,tr.188]. “Sau mấy lần chạm mặt nhau gần đây trong thâm tâm nó mong cho lão Phụng chết tan thây” [1,tr.188]. Kết quả là lão Phụng chết không toàn thây dưới giếng, người nát như băm. Số tiền Thượng dành dụm được ngày một nhiều. Ngày ngày, sau khi nhập thêm những đồng tiền kiếm được, nó lại moi cả gói tiền lên, giở ra đếm. Những việc làm tưởng chừng rất bí mật của nó bị lọt vào mắt lão “Định mắm” trong một lần lão ra ngôi miếu hoang lấy trộm phiến đá xanh.  Ngay lập tức trong đầu lão xuất hiện ý nghĩ : “  trở về tao sẽ cho đặt ngay một bộ sập chân quỳ mà tao thèm lắm những không có tiền [1,tr.192]. Mất tiền, thằng Thượng khóc cạn nước mắt, có lẽ nó chỉ còn thiếu tuôn máu ra từ hốc mắt nữa 

mà thôi” [1,tr.193]. “Và nó gào lên nguyền rủa kẻ độc ác nào đó hãy chết lìa 

cổ ra khỏi đầu để hắn không kịp dặn lại vợ con bất cứ điều gì” [1,tr.193, 194]. Trong  giấc  mơ  kì  lạ  giống  hệt  giấc  mơ  đêm  đều  tiên  nó  ngủ  lại  ngôi  miếu   hoang, Thượng bàng hoàng phát hiện ra mình là nguyên nhân những cái chết. Không thể tin những lời nói của kẻ vô hình không hề tồn tại, nó quyết định thử  khả  năng  của  lão  quỷ  qua  cô  giáo  với  niềm  tin  “Bà  ngoại  tôi  bảo  rằng những  người  tốt  đều  được  thần  linh  phù  hộ,che  chở,  ngay  cả  quỷ  sứ  cũng không làm gì được”. “Tôi nhắm mắt lại ­ hãy làm cho cô giáo ngã vật xuống đất trước mặt tôi xem” [1,tr.202]. 

Nếu như ở phần một, Tạ Duy Anh tái hiện lại xã hội với không gian rộng ­ không gian đường phố thì trong phần hai này, không gian xã  hội thu hẹp  lại  tại  làng  Thổ  Ô.  Bẩy  cái  chết  trong  làng  liên  tiếp  xảy  ra  theo  trật  tự tuyến tính, trước­ sau. Lần lượt bẩy nạn nhân không thể tránh khỏi sức mạnh của lời nguyền rủa. Sự dồn dập, liên tiếp của tang ma tạo nên không khí bức 

Trang 32

nhận  biết  qua  những  từ  ngữ  chỉ  trình  tự  trước  sau:  Thời  gian  đầu,  độ  nửa tháng sau, đúng lúc ấy, một hôm, mãi hôm sau, sáng hôm sau, buổi trưa, hôm sau. Thời  gian  không cụ thể, chính xác, nó là những điểm nhấn tô đậm thời  gian xảy ra những án mạng.

Phần ba của tiểu thuyết gồm chín bloc xoay quanh hai mạch truyện kể 

về  gã đào mỏ tên Bính và cuộc đời ả cave. Trong đó mạch truyện kể về gã đào mỏ tên Bính được kể theo trật tự biên niên

Bính là dân chính cư của làng Thổ Ô. Học xong phổ thông, anh theo chúng bạn ra thành phố làm thuê. “ Nhờ cái mã đẹp trai, lại ăn mặc tươm tất”, Bính lọt vào mắt xanh của một bà góa lắm tiền. Sau độ nửa năm làm ăn với 

bà, anh ta kiếm được một khoản tiền kha khá. không dừng lại tại đó, Bính âm mưu hốt một mẻ thật đẫy rồi lặn tăm. Sự việc bại lộ, anh ta ra khỏi nhà bà chủ trong nỗi nhục nhã bẽ bàng. Tại nhà trọ, Bính gặp rắc rối với ả cave trọ ở tầng 

ba. Sau khi ả gái làm tiền bị đưa tới trại phục hồi nhân phẩm, Bính về quê mang theo lời hứa sẽ tìm thằng bé lang thang cho ả. Về làng Thổ Ô anh thuê thằng bé mồ côi tên Thượng làm giúp việc và bắt đầu kế hoạch xây nhà

Như vậy, trên những nét lớn về mạch truyện, biến cố trong tiểu thuyết 

Giã  biệt  bóng  tối  của  Tạ  Duy  Anh  được  kể  theo  trật  tự  tuyến  tính.  Nó  góp 

phần tái hiện lại bức tranh cuộc sống đương đại đang trôi chảy với nhiều góc khuất, mảng tối đằng sau mảng sáng. Nếu chỉ dừng lại ở đó thì tiểu thuyết Tạ Duy Anh không khác gì những bản tin, tin vắn thời sự mà ta có thể dễ dàng tìm thấy hàng ngày trên các phương tiện truyền thông. Sức dung chứa của thể loại tiểu thuyết lớn  hơn thế bởi “nó đặt ra những vấn đề thiết  cốt của nhân sinh, nhân quần, nó tái hiện đời sống con người và cuộc sống” [1,tr.28], nó tác động sâu xa tới tâm tư, tình cảm của bạn đọc, “Tiểu thuyết chính là cuộc đời ở tầng sâu nhất  của nó” [1,tr.28]. Bởi vậy giá trị của nó không chỉ là ở việc tái hiện những chuỗi sự kiện của đời sống tự nhiên mà nó khám phá, soi chiếu  

Trang 33

2.1.2. Phi tuyến tính hóa trình tự kể

Tính hư cấu là một đặc trưng của truyện, bởi vậy ta khó có thể có sự trùng khít giữa thời gian câu chuyện và thời gian truyện kể. Trên những nét 

lớn ở cấp độ mạch truyện, ta nhận thấy các mạch truyện của Giã biệt bóng tối 

có sự đồng nhất. Nghĩa là chúng được kể theo trật tự biên niên. Tuy nhiên ở nhiều bloc trong mỗi phần độ chênh giữa ba lớp thời gian được đẩy tới một mức độ nhất định nhờ sự tham gia của các đảo thuật, dự thuật. Điều đó làm đảo lộn trật tự tuyến tính ở một số đoạn. Thủ pháp này thể hiện dụng ý nghệ thuật nhất định của nhà văn

Khảo sát tiểu thuyết Giã biệt Bóng tối của Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận 

thấy sự xuất hiện của nhiều đảo thuật, ít dự thuật. Đảo thuật bên ngoài và đảo thuật  bên  trong  xuất  hiện  khá  nhiều  trong  khi  đó  dự  thuật  bên  ngoài  và  dự thuật bên trong xuất hiện ít hơn. 

Ở mạch truyện kể lại cuộc sống lang bạt của nhân vật Thượng, trong đó Bloc (b) – “Dư  luận làng Thổ Ô” nổi bật với các đảo thuật bên ngoài. 

Nạn nhân xấu số đầu tiên của làng là lão Tung. Lão là một cựu lính của Nhà nước bảo hộ. Đời lính của mình, lão cũng đã từng giết người những “Là giết  hai  tên  Quan  ba  chỉ  huy  khi  hắn  định  bờm  xơm  với  vợ  lão”  [1,tr.104].   Với phong cách lính tẩy, lão thường cho cả làng những phen hú vía rồi sau đó 

là trận cười vỡ bụng. “ ấy là khi giữa ban ngày, ban mặt lão cởi truồng tròe lên ngon cây ổi, nằm tu rượu như tu nước lã, toàn thân đỏ như con lợn bôi tiết” [1,tr.104]. Nạn nhân tiếp theo là “San chó” ­ một kẻ lười chảy thây, sống bằng nghề ăn cắp vặt. “Gặp cơn túng quẫn gã còn đem cô vợ phốp pháp ra 

Ngày đăng: 05/04/2016, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tạ  Duy  Anh  (2009),  Giã  biệt  bóng  tối  ­  Tác  phẩm  và  bình  phẩm,  Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giã  biệt  bóng  tối  ­  Tác  phẩm  và  bình  phẩm
Tác giả: Tạ  Duy  Anh 
Nhà XB: Nxb. Hội nhà văn
Năm: 2009
2. Tạ  Duy  Anh,  “Tạ  Duy  Anh  giữa  lằn  ranh  thiện  ác”,  Tuổi  trẻ  online  19.9.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạ  Duy  Anh  giữa  lằn  ranh  thiện  ác"”
3. Tạ Duy Anh,“Tôi sẵn sàng trả giá cho sự mạo hiểm”,http:// www.vnexpress.net/vanhoa/guongmatnghesi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi sẵn sàng trả giá cho sự mạo hiểm
Tác giả: Tạ Duy Anh
4. Nguyễn Thị Vân Anh (2011), “Diễn biến thời gian tự sự trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn biến thời gian tự sự trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Anh 
Năm: 2011
5. Lại Nguyên Ân (2004),  150 thuật ngữ văn học, Nxb. Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân 
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia
Năm: 2004
6. M. Bakhtin (1993),  Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, ( Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch), Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin, Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1993
7. Nguyễn Thị Bình, (1996), “Những đổi mới cuả văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975”, Luận án PTS khoa Ngữ văn trường Đại  học Sư  phạm Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới cuả văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Luận án PTS khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1996
8. Đặng Anh Đào (2001), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, Nxb. Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc Gia
Năm: 2001
9. Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng (2010), Thi pháp học ở Việt Nam, Nxb. Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Tùng
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
10.   Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà, (2007), Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Giang, Vũ Lê Lan Hương, Võ Thị Thanh Hà
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2007
11.  Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2009
12.  Lê Thị Tuyết Hạnh (2003), Thời gian tự sự như một yếu tố cấu trúc văn bản tự sự (Qua các truyện ngắn giai đoạn 1975 ­ 1995), Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian tự sự như một yếu tố cấu trúc văn bản tự sự (Qua các truyện ngắn giai đoạn 1975 ­ 1995)
Tác giả: Lê Thị Tuyết Hạnh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
13.  Phùng Hữu Hải (2003), “Thời gian tự sự trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian tự sự trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du
Tác giả: Phùng Hữu Hải
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Khoa học Ngữ văn
Năm: 2003
14.  Đào Duy Hiệp (2008), Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại
Tác giả: Đào Duy Hiệp
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2008
15.  Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2000
16.  Nguyễn Thị Hoàn (2010), Thời gian tự sự trong tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời” của Dương Hướng, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian tự sự trong tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời” của Dương Hướng
Tác giả: Nguyễn Thị Hoàn
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
17.  Nguyễn Thị Hiền (2010), “Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Giã bệt bóng tối của Tạ Duy Anh”, Khóa luận Khoa học Ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Giã bệt bóng tối của Tạ Duy Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Nhà XB: Khóa luận Khoa học Ngữ văn
Năm: 2010
18.  Nguyễn Thị Mai Loan, (2005), Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn trường Đại  học sư  phạm Hà Nội, Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Loan
Nhà XB: Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2005
19.  Đ. X. Li­kha­chốp (1989), “ Thời gian nghệ thuật của tác phẩm văn học” ( La Khắc Hòa dịch), Tạp chí văn học, (3), tr.60­65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời gian nghệ thuật của tác phẩm văn học
Tác giả: Đ. X. Likha­chốp
Nhà XB: Tạp chí văn học
Năm: 1989
20.   Phương  Lựu  (2001),  Lí  luận  phê  bình  văn  học  phương  Tây  thế  kỉ  XX,  Nxb. Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phê bình văn học phương Tây thế kỉ XX
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2001

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh thánh thiện của ả cave  qua  lời  kể  của  gã  Bính  trong  tâm trí Thượng.(q) - thời gian tự sự trong tiểu thuyết giã biệt bóng tối của tạ duy anh
nh ảnh thánh thiện của ả cave  qua  lời  kể  của  gã  Bính  trong  tâm trí Thượng.(q) (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w