Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại: giải khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và sự bất ổn của trật tự đời
Trang 2Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Thời gian tự sự trong tiểu thuyết
Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh”, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của
các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, của các thầy cô giáo trong Tổ bộ môn Lí luận văn học, Khoa Ngữ văn. Tôi xin gửi tới các thầy, cô lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết luận trong khóa luận là trung thực. Khóa luận này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Nếu những lời cam đoan trên là sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Lưu Thị Thanh Huế
Trang 61. Lí do chọn đề tài:
1.1. Văn học, hiểu theo ý nghĩa rộng nhất của từ này, là tấm gương
phản ánh, tái tạo đời sống. Nó có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại với đời sống, là nơi in dấu cuộc sống con người trong quá trình vận động, biến thiên lịch sử. Bởi vậy, khi hiện thực cuộc sống thay đổi tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi của văn học
Sau Tổng khởi nghĩa Mùa xuân năm 1975, nước ta đã bước sang một trang sử mới, một kỉ nguyên mới. Đổi mới trở thành nhu cầu bức thiết trên mọi lĩnh vực trong đó có văn học nghệ thuật. Hiện thực đất nước tác động, những luồng văn học nước ngoài ảnh hưởng và ngay bản thân nhà văn cũng nhận thấy “không thể viết như cũ được nữa”. Thị hiếu của độc giả cũng thay đổi. Họ hào hứng với những cách viết, lối viết mới. Tất cả những yếu tố đó đã thôi thúc các nhà văn đổi mới tư tưởng, đổi mới cách viết của mình. Đội ngũ sáng tác, tác phẩm văn học không ngừng tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Các nhà văn đã mang đến sự mới mẻ, phong phú đa dạng về nội dung phản ánh, hình thức thể hiện, thể loại
1.2. Đối với một nền văn học hiện đại, tiểu thuyết được coi là “cỗ máy
cái”, là thể loại “cái”, nơi biểu hiện tập trung nhất trình độ tư duy văn học, nơi kết tinh quan trong nhất thành tựu của một thời đại văn học
Ở nước ta, tiểu thuyết sau 1975 không phải “đoạn tuyệt” hẳn với truyền thống mà nó vẫn kế thừa, có điều ý thức “làm mới, làm giàu, làm khác” truyền thống đã trở thành nhu cầu mạnh mẽ của hầu hết người viết. Người cầm bút phải đối diện với một đòi hỏi nghiệt ngã: “Mỗi nhà tiểu thuyết, mỗi cuốn tiểu thuyết phải áng tạo ra một hình thức riêng. Không tôn trọng những hình thức bất biến, mỗi cuốn sách mới cần xây dựng cho mình những quy luật
vận động đồng thời sản sinh ra sự diệt vong của chúng” (Alain Robbe Grillet).
Trang 7Tiểu thuyết Việt Nam đặc biệt nở rộ từ sau 1986 cao trào của công cuộc đổi mới mà nói như cách cảm nhận của Nguyễn Huy Thiệp thì thời bây giờ là “thời của tiểu thuyết”. Sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết Việt Nam
đã chứng minh được sức sống mãnh liệt của thể loại. “Số phận của tiểu thuyết” không còn là điều phải lo ngại. Tiểu thuyết đã trở thành nhân vật quan trọng bậc nhất trên sân khấu văn học Việt Nam hiện đại
Tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986 đã dung nạp vào bản thân nó những yếu tố của chủ nghĩa hậu hiện đại: giải khu biệt hóa và phi tâm hóa; tính chất hỗn loạn và sự bất ổn của trật tự đời sống; sự xáo trộn giữa hư và thực, giữa cái huyền bí siêu nhiên với đời thường; những kiểu cấu trúc mới: Mảnh vỡ tự sự, liên văn bản, gián cách; không gian, thời gian huyền ảo, mơ hồ về biên độ,
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến, một trong hai đặc điểm về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học là coi trọng cách kể phi tuyến tính hơn là cách kể tuyến tính. Với cách kể phi tuyến tính, buộc nhà văn phải có cách xử
lí thời gian tinh vi hơn, thời gian được mở rộng biên độ, có xáo trộn, cách quãng, nhảy cóc, thế giới trong tác phẩm bị “đứt gãy” cả về không gian và thời gian
Các yếu tố của hậu hiện đại đã được các nhà tiểu thuyết đương đại Việt Nam tiếp nhận và sáng tạo. Các yếu tố này trên thực tế đã góp phần vào việc
đổi mới lối viết, nhất là việc tổ chức thời gian tự sự. Bởi vấn đề thời gian tính
và nghệ thuật tự sự là những vấn đề cốt lõi của tiểu thuyết. Nhà cấu trúc chủ nghĩa Pháp Gérard Genette cho rằng: “Tiểu thuyết đặc biệt có khả năng nhấn mạnh quá trình thời gian hơn bất kì thể loại nào khác”. Và khi đi tìm định nghĩa cho khái niệm tự sự thì cách hiểu đơn giản nhất đó là: nghệ thuật xếp đặt các chuỗi tình tiết hay nghệ thuật trình bày các sự biến trong mối liên hệ với thời gian. Tiếp cận tiểu thuyết từ góc độ thời gian tự sự là một lối đi mới giúp chúng ta đào sâu tác phẩm từ nhiều khía cạnh
Trang 82.1. Tình hình nghiên cứu chung về Tạ Duy Anh
Tạ Duy Anh sáng tác ở khá nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn Thời gian gần đây, nhà văn tập trung ngòi bút vào thể loại tiểu thuyết. Ông liên tiếp đưa tới cho bạn đọc những tiểu thuyết mới mẻ về hình thức. Sáng tác của ông thời gian gần đây đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình khoa học, có thể kể đến Nguyễn Thị Mai Loan (2004) với
Nông thôn trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Ninh với Thế giới nghệ thuật Tạ Duy Anh, Cảm thức về cái phi lí trong sáng tác của Tạ Duy Anh của Cao Tố Nga. ; Nguyễn Thị Hồng Giang (2005) Tạ Duy Anh và việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết, luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, ĐHSP, Hà Nội;
Cao Tố Nga (2006), Cảm thức về cái phi lý trong sang tác của Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, ĐHSP, Hà Nội; Vũ Lê Lan Hương (2006), Thế giới nhân
vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, ĐHSP, Hà Nội; Võ Thị
Thanh Hà (2006), Nhân vật tiểu thuyết Tạ Duy Anh, luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh, Nghệ An; Nguyễn Thị Kim Lan (2006), Nghệ thuật kết cấu trong một
Trang 9của tác giả Tạ Duy Anh”
Với bài “Vài suy nghĩ về sự đổi mới của tiểu thuyết nhân đọc Giã biệt
bóng tối của Tạ Duy Anh”, Hữu Đạt nhận định: “Đọc Giã biệt bóng tối của Tạ
Trang 10Duy Anh ta thấy ông quả là đã gắng công tìm tòi, có thể nói là đến mức hì hục nhằm cố gắng thay đổi bộ mặt cấu trúc của tiểu thuyết truyền thống” và kết quả của sự cố gắng đó phần nào đã góp công vào sự “Trở mình” của tiểu thuyết Việt Nam đương đại.
Chúng tôi hi vọng qua việc tìm hiểu đề này sẽ học tập và tích lũy được những kinh nghiệm quý báu trong công việc nghiên cứu khoa học, giúp cho
sự vững vàng trong nghề nghiệp của bản thân người viết sau này
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những vấn đề khái quát về thời gian tự sự
Tìm hiểu thời gian tự sự trong tiểu thuyết Giã biệt bóng tối .
Trang 115. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này người viết khóa luận đã sử dụng chủ yếu những phương pháp nghiên cứu sau:
sự
7. Bố cục khóa luận
Khóa luận bao gồm phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và tài liệu tham khảo. Riêng phần nội dung được trình bầy trong hai chương:
Chương 1: Khái quát về thời gian tự sự.
Chương 2: Trình tự kể trong Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh.
Chương 3: Tốc độ nhịp điệu và tần suất kể trong Giã biệt bóng tối
của Tạ Duy Anh
Trang 12Theo các nhà nghiên cứu, ở Phương Tây, ngay từ thời Hi Lạp cổ đại đã tồn tại hai khuynh hướng tư tưởng về sự vận động của thế giới nhìn từ phương diện thời gian: “Tất cả đổi thay” của Héraclite và “Tất cả bất biến” của Parménide. Theo Héraclite, đặc tính của cuộc sống là sự lưu chuyển không ngừng: “Người ta không bao giờ tắm hai lần trên một dòng sông”. Điều đó nằm trong định luật chung của vũ trụ gọi là “logos”, bao trùm và tác động lên trên tất cả mọi hiện tượng của thế giới. Mọi thứ luôn luôn biến đổi, cái này đưa tới cái kia, vừa đối lập, mâu thuẫn với nhau lại vừa nảy sinh ra nhau giống như: sáng/tối, ngày /đêm. Parménide thì lại quan niệm ngược lại, ông cho rằng sự có mặt là vĩnh viễn, những đổi thay chỉ là ở vẻ bên ngoài. Cũng trong chiều hướng này, Platon chủ trương bên cạnh thế giới hiện tượng đổi thay còn có thế giới của Tư Tưởng, của Linh Hồn, một thế giới vĩnh cửu vượt khỏi thời gian, không chịu sự khống chế của quy luật thời gian. Thời gian trở thành “Hình ảnh chuyển động của sự vĩnh cửu bất động”. Aristote lại quan niệm thời gian cũng như sự chuyển động mang tính chất vĩnh cửu, vô thủy vô chung. “Thời gian là thước đo của sự chuyển động giữa trước và sau, thời gian liên tục bởi vì thuộc vào sự liên tục”. Chỉ có thời gian hiện tại mới là thời gian thực sự. Theo trường phái Khắc Kỷ (stoiciens), thời gian không có thực chất, nhân “Mọi sự vật hiện hữu và chuyển động chính ở trong thời
Trang 13vũ trụ chính là Thiên Nhiên, là Tạo Hóa. Bởi vậy mà các nhà hiền triết của trường phái Khắc Kỷ tuân theo thời gian, chấp nhận thời gian, sống phù hợp với thời gian để hòa đồng với tạo hóa
là thời gian và thời gian chính là con người”
Thời gian là một nhân tố rất quan trọng trong nghệ thuật tự sự. Ở một
số nước phương Đông, trong đó có Việt Nam, giới lí luận đồng thời quan tâm tới cả hai yếu tố: không gian và thời gian. Nhưng ở phương Tây, họ quan tâm đặc biệt tới trục thời gian hơn là không gian. Nhà tự sự học người Pháp Gérard Genette quan niệm: “Tôi có thể kể một câu chuyện mà không cần nói chính xác địa điểm nó xảy ra, hoặc nó xa cách bao năm so với địa điểm phát ngôn của tôi, nhưng dường như tôi không thể nào loại bỏ việc xác định thời gian trong tương quan với hành động kể chuyện của mình, bởi lẽ tôi cứ nhất thiết phải kể lại câu chuyện trong một thì nhất định về hiện tại, quá khứ hoặc tương lai” [8,tr.85]
Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 nhất là sau 1986 với sự đổi mới kĩ thuật viết, với những cách tân táo bạo trong nghệ thuật tự sự đã phá vỡ (nhưng không cắt lìa) cấu trúc thời gian truyền thống, góp phần tạo nên những sắc thái độc đáo của thời gian trong tiểu thuyết đương đại
1.1.2. Các loại thời gian trong tự sự
Tự sự học coi một câu chuyện được kể lại như là việc đã xảy ra.Từ đó
Trang 14hiện khi kể lại. Mối liên hệ ấy được tìm thấy trong các cặp phạm trù: Câu chuyện và truyện kể, thời gian câu chuyện được kể và thời gian truyện kể.
Theo E. Benveniste, thời gian của truyện bao gồm “thời gian của cái được kể thời gian quy chiếu và thời gian kể, thực hiện hành động kể truyện
thời gian phát ngôn” [15, tr.109]
Chiristan Metz lại viết: “Truyện là một chuỗi thời gian hai lần thời gian có thời gian của cái được kể và thời gian của truyện (thời gian của cái được biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt) một trong những chức năng của truyện là đổ khuôn (monayer) thành một thời gian trong một thời gian khác (Dẫn theo G. Genette – Figures tập III, tr.77)” [15,tr.109]
Thời gian được coi như một nhân tố cấu trúc nghệ thuật của truyện. G. Genette đã phân chia thành ba loại: thời gian của chuyện, thời gian của chuyện và thời gian phát ngôn (kể truyện)
Về thời gian của chuyện, nó được coi như là “sự diễn tiến của các sự kiện trong tính kế tiếp hay đồng thời, nghiêm ngặt như là chúng đã được hoàn thành, xét về mặt chiếu vật, là trật tự niên biểu của các sự kiện hình thành nên truyện” [12,tr.18]. Thời gian của câu chuyện không phải lúc nào cũng trùng với thời gian của truyện kể
Thời gian của truyện tức là thời gian của sự kiện, của nhân vật đã được sắp xếp lại, phân bố lại theo chủ quan của người kể. Thời gian của truyện thể hiện tài năng của người viết trong việc xử lí thời gian, thể hiện khả năng nhìn nhận và phản ánh cuộc đời của họ. Thời gian của truyện có khi trùng với thời gian của câu chuyện, có khi không. Đó là khi trật tự thời gian trong truyện bị xáo trộn, không theo trật tự thời gian niên biểu của các sự kiện, nhân vật, sự việc xảy ra sau đưa lên trước, sự việc xảy ra ở quá khứ lại đưa về sau, quá khứ, hiện tại, tương lai không theo trình tự tuyến tính
Trang 15Giữa thời gian của chuyện và thời gian của truyện có một độ chênh lớn. Đồng thời lại có một độ chênh khác giữa thời gian của truyện và thời gian kể (thời gian phát ngôn) nhưng độ chênh này thường rất ít, khó nhận thấy. Nó chỉ lộ ra ở một vài tác phẩm tiêu biểu. Trong phần lớn các truyện (bao gồm cả tiểu thuyết) thì thời gian của truyện và thời gian kể (thời gian phát ngôn) xoắn kép với nhau, không thể bóc tách ra được. Vì thế mà người ta thường gộp chung thời gian tự sự và thời gian phát ngôn vào thời gian của truyện. Những đổi mới trong việc xử lí thời gian của truyện có khả năng lớn trong việc hiện đại hóa các sự kiện. Thời gian thực sự có tính nghệ thuật là thời gian tự sự và thời gian phát ngôn
Trang 16Dưới quan niệm tự sự học, G. Genette đã đưa ra định nghĩa về thời gian như sau: “thời gian nghệ thuật là một chuỗi thời gian kép, có thời gian của cái được kể lại và thời gian của truyện, tức là thời gian của cái được biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt”. Không phải thời gian nào xuất hiện trong truyện cũng là thời gian nghệ thuật. Đi vào khám phá thời gian nghệ thuật của một tác phẩm tức là đi vào tìm hiểu cả thời gian được trần thuật và thời gian trần
thuật (thời gian tự sự) và Tự sự học quan tâm chủ yếu đến thời gian tự sự
nghệ thuật xử lí thời gian của nhà văn
Thời gian tự sự (narrative time), còn được gọi là “thời gian giả” (pseudo temporal) theo cách nói của G. Genette, để phân biệt với thời gian của bản thân câu chuyện hoặc sự kiện được trần thuật chính là thời gian của truyện kể. Đó là “thời gian của trật tự các sự kiện đã được phân bố lại trong truyện do sắp xếp chủ quan của người kể chuyện” [12,tr.33]. Thời gian tự sự không tuân theo quy luật của thời gian vật lí thông thường mà đã được tái tạo lại bởi chủ quan của người kể chuyện. Người kể chuyện bao giờ cũng sử dụng thời gian như một phương tiện đặc thù làm bối cảnh để kể chuyện, thoát ra ngoài thời gian quy ước. Trình tự trần thuật sẽ bị đảo lộn bằng cách thuật lại những việc đã qua hay chưa đến. Các thủ pháp rút gọn, tỉnh lược, kéo dài, ngừng nghỉ, lặp lại cũng thường được người kể chuyện sử dụng để tổ chức thời gian của trật tự các sự kiện sao cho đạt hiệu quả nghệ thuật cao nhất
Giữa thời gian tự sự và thời gian của bản thân câu chuyện có mối quan
hệ với nhau. Nói cách khác đó là mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Mối quan hệ này được tác giả Trần Đình Sử xem xét qua
ba tương quan, cụ thể là:
Trang 171. Tương quan điểm mở đầu kết thúc của thời gian trần thuật (thời gian tự sự, thời gian của truyện) với điểm mở đầu kết thúc của thời gian sự kiện (thời gian được trần thuật, thời gian của cái được kể). Điểm mở đầu kết thúc của hai loại thời gian này có thể trùng nhau hoặc không trùng nhau.
2. Tương quan sự kiện trong thời gian trần thuật. Các sự kiện trong thời gian trần thuật có thể được thuật lại không giống nhau. Có khi sự kiện được
kể liên tục, theo trình tự của sự kiện đời sống, có khi lại được kể không theo trình tự trước sau. Các sự kiện có thể gối đầu nhau. Có những sự kiện bị tỉnh lược hay kéo dài. Tất cả sẽ tạo nên độ chênh giữa hai loại thời gian này
3. Tương quan thời gian trần thuật và thời gian nhân vật. Thời gian trần thuật (thời gian tự sự) còn được xem xét trong quá trình tự ý thức hay hồi ức của nhân vật. Kí ức của nhân vật được sử dụng như một phương tiện để thuật lại những sự kiện đã thuộc về “hoài niệm”, về quá khứ
Sự khác nhau giữa thời gian của cái được biểu đạt và thời gian của cái biểu đạt được G. Genette cụ thể hóa ở các cấp độ khác nhau của thời gian tự sự
1.2. Các cấp độ của thời gian tự sự
“Thời gian thật sự có tính nghệ thuật, đó là thời gian của hành động kể chuyện và thời gian của văn bản” [8,tr.88] hay đó chính là thời gian tự sự. Tiếp cận, khám phá thời gian tự sự của một tác phẩm cần phải có một mô hình, một phác đồ chỉ dẫn. Nhà tự sự học người Pháp G. Genette đã đề xuất lí thuyết thời gian tự sự.Thời gian tự sự hay còn được gọi là thời gian giả, được xây dựng trên mối quan hệ giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Theo G. Genette có ba cấp độ làm nên mối quan hệ đó, đó là: trình
tự kể chuyện, tốc độ nhịp điệu kể, tần suất kể chuyện
1.2.1. Trình tự kể chuyện
Trình tự kể (order), theo G. Genette là nghiên cứu mối quan hệ giữa trình tự thời gian tiếp nối các sự kiện trong câu chuyện với trình tự thời gian
Trang 18giả được sắp xếp trong trần thuật. Nghĩa là trình tự kể chuyện xác định mối quan hệ tiếp nối của các sự kiện trong câu chuyện với cái cách mà chúng được sắp xếp trong truyện (sự sắp xếp thời gian giả). Trong tự sự cổ trung đại, thường thì trình tự thời gian tiếp nối các sự kiện và trình tự thời gian giả được sắp xếp trong trần thuật là thống nhất, trùng khít với nhau; trần thuật trong văn bản theo thời gian hình tuyến, việc xảy ra trước kể trước, việc xảy ra sau
kể sau, không có sự sai trật tự niên biểu. Nhưng về sau, trình tự biên niên của các sự kiện trong câu chuyện thường bị xáo tung. Trình tự của cái được kể được ngắt ra bằng một số cách khác nhau
Thời sai (anachrony) là thuật ngữ mà G. Genette sử dụng để chỉ ra tất cả những kiểu lệch pha, các độ chênh giữa trình tự thời gian của chuyện và thời gian của truyện. Đảo thuật và dự thuật là hai biểu hiện cơ bản của thời sai
Đảo thuật (analepse) là “thuật lại những sự việc đã qua” [20,tr.496],
nghĩa là kể lại các sự kiện đã diễn ra trước hiện thời “bây giờ” của câu chuyện đang được kể
G. Genette chia đảo thuật ra thành các loại: đảo thuật bên ngoài, đảo thuật bên trong và đảo thuật hỗn hợp
Đảo thuật bên ngoài (external analepse) là ngoái về phía sau, trước điểm bắt đầu của truyện và cũng kết thúc trước đó. Đảo thuật bên ngoài không can thiệp vào khung thời gian của câu chuyện
Đảo thuật bên trong (internal analepse) là “kể lại những sự việc có giao thoa về thời gian ở đầu sự việc đang trần thuật” [20,tr.496]. Đảo thuật bên trong có phạm vi nằm trong khung thời gian của câu chuyện. G. Genette
đã phân biệt hai loại đảo thuật bên trong thường gặp là: đảo thuật bổ sung và đảo thuật tuần hoàn
+ Đảo thuật bổ sung (completing analepse) hay còn gọi là “quay
ngược” (return) bao gồm những đoạn hồi tưởng lấp đầy một khoảng trống trước đó trong truyện kể, những khoảng trống này có thể là những tỉnh lược
Trang 19ra sau. Cũng giống như đảo thuật, dự thuật cũng bao gồm: Dự thuật bên ngoài, dự thuật bên trong và dự thuật hỗn hợp
Dự thuật bên ngoài vươn ra ngoài giới hạn phạm vi của câu chuyện, gắn với những tình tiết xẩy ra sau điểm kết thúc của câu chuyện và cũng không can thiệp vào khung thời gian của câu chuyện
Trang 20Dự thuật trong văn học, nhất là văn học cổ điểm hay xuất hiện dưới hình thức “điềm báo”hoặc “Báo mộng”
Dù là đảo thuật hay dự thuật cũng đều có hai loại: Đồng sự và dị sự. Loại trước là kể lại hoặc kể trước những sự việc liên đới. Loại sau thì ngược lại, tức là kể lại hoặc kể trước những sự việc không liên đới
Thời sai còn bao gồm tầm thời sai và phạm vi. “Thời điểm của cốt truyện mà ở đó truyện kể được ngắt ra để kể chuyện, G.Genette gọi là tầm thời sai là khoảng cách thời gian từ chuyện đến truyện kể. Nó cũng có thể bao phủ nên khoảng thời gian cốt truyệt dài hay ngắn hơn, Genette gọi là biên độ (amplytude) của nó” [15,tr.116]
1.2.2. Tốc độ nhịp điệu kể
Tốc độ kể chuyện là yếu tố thứ hai của thời gian tự sự. Nó liên quan chặt chẽ, chi phối, làm thành nhịp điệu kể
Tốc độ kể chỉ ra mối liên hệ giữa thời gian có thể thay đổi của các phần của câu chuyện với độ dài của văn bản mà trong đó các phần truyện được kể lại
Trang 21mỉ người và cảnh. Lại có những chỗ không gia giảm gì cả, thời gian câu chuyện và thời gian trần thuật là bằng nhau, chẳng hạn như những đoạn thuật lại đối thoại giữa các nhân vật với nhau
Ông phân biệt bốn vận động tự sự cơ bản, đó là: lược thuật, tỉnh lược, ngừng nghỉ, hoạt cảnh
Lược thuật là thuật lại trong một vài đoạn hay một vài trang sự tồn tại của những quãng thời gian tương đối dài mà không có những chi tiết của hành động hoặc lời nói. Nói cách khác, lược thuật nghĩa là trần thuật rất khái quát
Tỉnh lược là kể rất ít hay không kể một vài phần của câu chuyện
Ngừng nghỉ là những đoạn miêu tả dài của người kể mà trong đó không có hành động nào xảy ra. Chức năng quan trọng của ngừng nghỉ là tạo đường viền không khí cho truyện hoặc tạo phông nền cho các hoạt cảnh
Hoạt cảnh là những giai đoạn sinh động của hành động, xảy ra đồng thời với những thời khắc sôi nổi nhất của câu chuyện. Trong tiểu thuyết, hoạt cảnh chủ yếu là đối thoại, nó chiếm tỉ lệ tương đối lớn so với các vận động tự
sự khác. Sử dụng các hoạt cảnh sẽ đưa câu chuyện tiến gần tới đời thường, với những gì rất chân thật “đang diễn tiến” trong cuộc sống
Từ sự khảo sát những chỗ nhanh hay chậm, hoặc không nhanh không chậm cho thấy rõ nhịp điệu tự sự trong văn bản
1.2.3. Tần suất kể
Tần suất kể chuyện là một bình diện của mối quan hệ giữa thời gian câu chuyện và thời gian truyện kể. Tần suất (frequency), theo G.Genette là
Trang 22Tần suất kể chuyện có ba loại:
Tự sự đơn nhất (rescit singulier) là “sự việc xảy ra một hay bao nhiêu lần thì trần thuật lại bấy nhiêu lần” [20,tr.497]. Gọi là trần thuật đơn nhất là vì lời kể và sự kiện được kể là tương đương với nhau. Trong tự sự đơn nhất lại
có hai dạng:
+ Kể lại một lần điều xảy ra một lần. Dạng này thường thấy trong các diễn ngôn hội thoại, trong truyện ngắn
+ Kể lại n lần điều xảy ra n lần [15,tr.117]
Hai dạng này thoáng nhìn thì có vẻ giống nhau. Bởi ở dạng sau khi ta thay n = 1 thì không khác gì dạng trước. Song, điều lí thú ở đây là ở chỗ “sự việc có thể giống nhau nhưng mỗi lần kể là mỗi lần khác”.
Tự sự trùng lặp (rescit répétitif) là “sự việc chỉ xảy ra một lần, nhưng được trần thuật rất nhiều lần” [20,tr.497]. Đây là sự trùng lặp trong lời kể, thường xuất hiện ở những lời nói của các nhân vật có trạng thái không bình thường. Theo Genette thì kiểu trần thuật này dường như chỉ có trong giả định.
Nó nhấn mạnh vào một sự ám ảnh nào đó, hoặc thể hiện một thái độ, một hành vi vô lí
Tự sự mang tính tổng hợp (récit itératif) là “trần thuật một lần sự việc xảy ra rất nhiều lần” [20,tr.497]. Loại tự sự này có thể được xem xét bởi các yếu tố: khoảng thời gian mà sự kiện xuất hiện, nhịp độ lặp lại của sự kiện và quãng thời gian được mở rộng ra bởi sự thuật lại sự kiện
Trang 23Tần suất chính là “cách tính thời gian kể theo tần số xuất hiện trong mối tương quan giữa lời kể và cốt truyện” [15tr.140].
Tần suất kể truyện chính là một phương diện cơ bản của thời gian tự
sự, tuy nhiên nó ít được các nhà lí luận phê bình chú ý tới
Ba cấp độ kể trên là những phương diện cơ bản nhất và cũng gần như hoàn thiện nhất về thời gian tự sự. Khảo sát thời gian trong một tác phẩm tự
sự dựa trên lí thuyết thời gian tự sự mà G.Genette đã đề xuất sẽ giúp ta nắm bắt được những chuyển vận phức hợp, bóc tách được các lớp thời gian, luận giải được quan niệm thời gian, phương cách tự sự, tư tưởng của tác giả. Genette đã có công lớn trong việc lập ra “công thức” thời gian tự sự để khám phá tác phẩm.
Trang 24Các giả thiết được đưa ra xung quanh những cái chết kì lạ.(b)Những cái chết có phần do bàn tay của ma quỷ(c)
Quá khứ hạnh phúc và hiện tại lang thang của thằng bé với những cãm bẫy chờ đón.(d)
Thằng bé nhớ lại trước khi đến ngôi miếu hoang, bị rơi vào đám đắt gái cho người nước ngoài, làm bưng bê ở một quán bia. Sau đó bị đuổi và gặp ả cave tốt bụng.(e)
Cái chết bí ẩn của cô giáo
Trang 25 Thằng Thượng (thằng bé lang thang nhận được một điều ước).(h)
Sự ứng nghiệm của lời nguyền với những chái chết.(i)
Cách làm giàu của nhân vật xưng tớ.(k)
ả cave nhờ tìm thằng bé ả gặp trên vỉa hè.(l)
Làng Thổ ô nổi tiếng nhờ những cái chết.(m)
Trang 26Sự tự sụp đổ của ngôi miếu hoang(s)
Như vậy, từ bảng thống kê trên, ta có thể nhận thấy Giã biệt bóng tối
được kết hợp bởi 18 mảnh ghép ứng với 18 bloc truyện gắn với năm mạch truyện lớn: cuộc đời lang thang, phiêu bạt của thằng bé mồ côi tên Thượng, những kẻ xấu số, câu chuyện làng Thổ Ô xoay quanh những cái chết, chuyện
về gã đào mỏ tên Bính, cuối cùng là mạch truyện về ả cave. Mỗi câu chuyện gắn với một dòng thời gian khác nhau và cùng vận động
Trong Giã biệt bóng tối, Tạ Duy Anh vừa kể chuyện theo trật tự niên
biểu, vừa phi tuyến tính hóa trình tự kể, có sự đan xen của dự thuật, đảo thuật, thời gian được đồng hiện ở các không gian khác nhau
2.1.1. Trình tự kể biên niên
Trình tự kể biên niên không xuất hiện trong toàn bộ các mạch truyện
mà chúng xuất hiện ở một số mạch truyện nhất định: cuộc đời lang bạt của thằng bé mồ côi tên Thượng, những cái chết kì lạ ở làng Thổ Ô và câu chuyện
về gã đào mỏ tên Bính
Mạch truyện về tuổi thơ lang bạt của thằng bé Thượng gồm ba bloc (d), (e), (h) và được kể theo trật tự biên niên. Truyện bắt đầu bằng sự kiện năm nó mười hai tuổi tới bị dọa biết mất khỏi thành phố. Trong thời gian này các biến
cố liên tiếp xảy ra. Sinh ra trong sự nguyền rủa của dân làng bởi không biết cha mình là ai, lại sớm mồ côi mẹ, Thượng theo bà ngoại tha phương cầu thực. Để
Trang 27tồn tại “Bà đã làm trăm thứ nghề trong đó chủ yếu là nghề quét thóc vãi” [1,tr.111] và “lạy giời” hóa ra đó lại là nghề bà có thể mang lại cho Thượng cuộc sống đủ đầy thậm chí là sung túc nữa. Thời gian cứ thế trôi đi cho tới năm nó mười hai tuổi. Ngày bà trút hơi thở cuối cùng cũng là ngày nó “trở thành đứa trẻ vô gia cư” [1,tr.111]. Đầu tiên nó theo những đứa trẻ đánh giày lang thang, len lỏi khắp các ngõ ngách quán xá để kiếm sống. Nghiệp đánh giày sẽ theo thằng bé đến hết đời nếu không xảy ra cuộc gặp gỡ định mệnh giữa nó và bà lớn. Trước lời dọa nạt độc địa của người đàn bà nham hiểm, Thượng ngoan ngoãn làm theo vì sợ nhiều hơn vì thích. Hàng ngày nó đưa các lá thư tới những địa chỉ khác nhau. Số tiền kiếm được nhiều lên và thằng
bé bắt đầu mơ về tương lai với kế hoạch lớn: “Tôi dự định sẽ dùng số tiền ấy tìm về quê mà có người hứa sẽ mách cho tôi”. Thế nhưng giấc mơ chưa kịp thành hiện thực thì Thượng phát hiện ra nó “Tiếp tay cho tội phạm. Mà là tội phạm buôn bán vận chuyển hêrôin”. Thằng bé bị mất toàn bộ tiền công và đuổi biến mất khỏi thành phố. Thoát khỏi chùm buôn ma túy, ngay lập tức Thượng rơi vào tay “đám dắt gái cho người nước ngoài” [1,tr.118]. Tại đây nó chứng kiến hành động hết sức kì quặc của ông Tây đồng tính và hơn thế, nó phải chịu đựng sự sỉ vả tục tĩu của mụ chủ nhà chứa. “Qua một gã đàn ông làm nghề bảo kê kiêm cò mồi” [1,tr.121], nó tìm được công việc bưng bê trong một quán bia. Một lần, bưng khay bia khệ nệ trên tay, Thượng đã gây ra tai họa khi làm “Cả khay bia lộn nhào xuống đất còn tôi thì chúi vào một bà quyền quí ăn mặc rất cầu kì” “chiếc váy màu trắng của bà in cả mười đầu ngón tay tôi, đúng ở cái chỗ rất bất tiện cho những người muốn chia sẻ” [1,tr.124]. Buổi tối hôm đó thằng bé được thông báo ngày mai không phải đi làm. Bước ra khỏi quán bia nó không biết làm gì hơn ngoài việc mua một ổ bánh mì rồi lại hòa vào dòng người tấp nập. Vừa quyết định ngủ lại trên vỉa
hè, nó lại bị một ả gái làm tiền xua đuổi “Biến đi mày ? Phải để cho tao tí đất
Trang 28làm ăn chứ mày ?”. Mất khách nhưng chị ta không hề tức giận mà còn tỏ ra thương xót Thượng: “Đã có tiền ăn sáng chưa. Giữ cho cẩn thận, trộm cắp, cướp giật nhiều như rươi ấy khốn khổ thân mày” [1,tr.131]. Tỉnh dậy sau một đêm mộng mị, từ góc phố bên kia đường nó nhận ra người phụ nữ đêm qua quay lại tìm nó “Chị có vẻ rất hốt hoảng lia mắt ra bốn phía xung quanh” [1,tr.132]. Nhưng vào giây phút quyết định ấy nó lại đổi ý. Đứng chết lặng nhìn người đàn bà tìm mình gặp tai họa, Thượng tràn ngập lòng ân hận. Không lâu sau đó, nó bị giam trong ngôi nhà kín cổng cao tường. Ở đây, Thượng bị dùng làm trò tiêu khiển cho các công tử chán đời. Chúng dùng thuốc gây nghiện ma quái và sự sợ hãi của thằng bé để tạo ra những cơn khoái chá. “Thế là những con dao chĩa cả về phía tôi rồi cắt vào không khí những đường sáng trắng phụ họa với động tác múa may đó những tiếng hú hét man
rợ được cất lên [1,tr.156]. Hoảng sợ và tuyệt vọng nhưng khi nghĩ tới bà ngoại, Thượng lại có đủ can đảm để tìm cách tự giải thoát cho mình. Vào đêm trời nổi cơn giông bão, “Trong khi các gã con trai đang mải mê ăn uống thì tôi lao vụt ra ngoài, dùng toàn thân đùn những viên gạch long chân ra, rồi chui sang phía bên kia bức tường”. Cuộc tẩu thoát đưa Thượng thoát khỏi ngôi nhà
ma quái
Qua mạch truyện về thằng bé mồ côi tên Thượng, Tạ Duy Anh đã bao quát xã hội đương đại đầy rẫy cạm bẫy thông qua số phận của một đứa trẻ mồ côi. Nhà văn tái hiện những mảng tối, những góc khuất của cuộc đời. Đầu tiên
là chùm buôn ma túy núp dưới bóng bà lớn sang trọng, quyền uy lợi dụng trẻ
em làm điều phi pháp. Mụ Tú bà “dắt gái cho người nước ngoài biến trẻ em thành nô lệ tình dục kiếm những đồng tiền nhơ bẩn. Lão chủ quán bia nanh nọc với triết lý sống hèn hạ không còn nhân tính. Bà lớn giàu sang ngồi cạnh các ông lớn giàu sang khoác lên mình nhung lụa cao sang song bản chất là những kẻ tham lam, đốn mạt. Đỉnh điểm là những cậu ấm “không còn gì để
Trang 29kẻ ấy sống một đời đã chết. Dường như trong mọi ngõ ngách của hiện thực ta không tìm thấy “tình người”. Xã hội dung chứa trong nó sự độc ác, tàn nhẫn
và hèn hạ. Thế giới con người “thật” “giả”; “giả” “thật” lẫn lộn khó phân biệt nổi. Đạo đức không tồn tại ở giới trí thức thượng lưu mà nó ẩn chứa trong một ả cave có mang “cuộc đời rách nát” bị đọa đày dưới đáy xã hội
Không phải ngẫu nhiên chúng tôi khẳng định mạch truyện được kể theo trật tự biên niên mà chúng tôi dựa vào các dấu hiệu cụ thể trong tác phẩm
Chúng tôi nhận thấy dòng thời gian biên niên được tính bằng thời gian
sự kiện: “Thế là tôi sợ hãi bỏ đi ngay sau lời đe dọa chọc mù mắt của gã đàn ông” [1,tr.118], “ trước khi được bưng bê tôi phải trải qua một lớp đào tạo nghề” [1.tr.121]. “ Phải khi bị ai đó đá vào chân tôi mới biết đêm qua mình ngủ trên vỉa hè [133], “Tỉnh dậy tôi thấy mình nằm trong căn phòng lúc trước” [1,tr.157]. Dòng thời gian niên biểu còn được tính bằng thời điểm của một ngày: buổi sáng, buổi tối, khuya khoắt. “Buổi sáng tôi đến trường lang thang tới đâu bà tôi cũng tìm cách cho tôi học dự tính ở trường sở tại” [1,tr.110].
“Buổi tối tôi rúc vào nách bà và thiếp đi trong những câu chuyện cổ tích luôn luôn dang dở” [1,tr.111]. Cũng có khi, thời gian được tính theo mùa: “Ngay
cả khi chưa đến mùa gặt bà cũng không rời chiếc chổi” [1,tr.110]. Mặt khác, trật tự thời gian tuyến tính còn được biểu hiện ở hệ thống từ chỉ thứ tự: Đầu tiên, hôm ấy, lần ấy, lần này, trước khi.
Ở mạch truyện những kẻ xấu số, bloc (i), “Sự ứng nghiệm của lời nguyền với những cái chết” giữ vị trí trung tâm và được kể theo trật tự tuyến tính. Thời gian câu chuyện kéo dài hai tháng, bắt đầu từ “Buổi sáng ấy, khi dân làng Thổ Ô thức dậy thì nó đã ngủ qua một đêm trong ngôi miếu thành hoàng” [1,tr.163] đến “Lão già ngửa cổ cười sằng sặc” “Để xem” [1,tr.213]
Trang 30Sau một đêm mộng mị trong ngôi miếu thành hoàng, Thượng không hề biết rằng nó đã được lão già truyền cho một sức mạnh khủng khiếp vào những lời nguyền của nó. Việc đầu tiên nó làm là vào làng tìm một công việc để kiếm sống. Mới đầu nó đẩy xe bò và trông những thùng phân bắc cho lão Tung ngoài chợ. Một hôm, vì gian lận bị khách hàng phát hiện, trên đường về lão chửi bới thằng bé một cách thậm tệ và trừ nửa tiền công của nó. Thượng lặng lẽ chịu đựng nhưng đến khi “bị lão Tung hất phân vào người thì nó thầm rủa “lão là đồ độc ác” [1,tr.167]. “Hôm sau nó vào làng chờ có người mướn thì thấy người ta mua hương khói đi viếng đám ma” [1,tr.167]. Chưa biết chuyện gì xảy ra thì Thượng bị gã “San chó” say rượu dọa nạt rồi lôi về nhà hắn.Với bản tính du côn cùng cơn ma men hừng hực, San chó lôi thằng bé ra làm trò tiêu khiển. “Nó đấy. Tôi bắt được nó đem về làm con chó cho mình sai bảo đấy. Đúng rồi, cún, mày sủa đi cho bà lớn nghe nào. Ngoan nào. Rồi thì đâu có đó, thịt chó có lá mơ,cầy tơ có rượu lậu. Mình bảo nó ăn cứt nó cũng phải ăn. Nào, êu, êu ”. Trong cơn ấm ức cực độ, Thượng thầm nghĩ
“Đồ khốn nạn”. “Một lúc sau, San chết trên bụng vợ. Sau cái chết của lão Tung và thằng San độ nửa tháng, một hôm vào lúc chập tối, lão Thìn phụ trách an ninh làng tìm đến và yêu cầu nó phải dọn đi ngay trong đêm: “mấy hôm tới bọn ta có cuộc mật phục những kẻ hút trích ma túy,cháu tạm lánh đi chỗ khác một thời gian nhé” [1,tr.174]. Lang thang suốt đêm chờ trời sáng, nó bất ngờ phát hiện ông phụ trách an ninh làng tốt bụng tối qua đã đuổi nó đi để biến ngôi miếu hoang trở thành nơi hành lạc. “Ngồi thờ ra trong khi bụng sôi òng ọc, nó rủa thầm “Đồ khốn nạn, lừa cả trẻ em”. Đúng lúc ấy ông Thìn ngã sấp mặt, chết phòi óc. Trong làng thằng Thượng thường tránh mụ Hường béo. Theo lời kể lại, mụ Hường từng làm nghề trộm vặt và vào tù ra tội. Một lần vào làng lượm ve chai, nó bị mụ nhục mạ, chửi bới một cách thậm tệ. Giữa dòng nước mắt uất hận đến nghẹn ngào “Trong ý nghĩ của nó bật lên một câu nguyền rủa sao kẻ độc ác ấy không chết đi cho người khác nhờ” [1,tr.186].
Trang 31“Có lần lão còn bảo lão “chơi” mẹ nó từ khi nó chưa đẻ” [1,tr.188]. “Sau mấy lần chạm mặt nhau gần đây trong thâm tâm nó mong cho lão Phụng chết tan thây” [1,tr.188]. Kết quả là lão Phụng chết không toàn thây dưới giếng, người nát như băm. Số tiền Thượng dành dụm được ngày một nhiều. Ngày ngày, sau khi nhập thêm những đồng tiền kiếm được, nó lại moi cả gói tiền lên, giở ra đếm. Những việc làm tưởng chừng rất bí mật của nó bị lọt vào mắt lão “Định mắm” trong một lần lão ra ngôi miếu hoang lấy trộm phiến đá xanh. Ngay lập tức trong đầu lão xuất hiện ý nghĩ : “ trở về tao sẽ cho đặt ngay một bộ sập chân quỳ mà tao thèm lắm những không có tiền [1,tr.192]. Mất tiền, thằng Thượng khóc cạn nước mắt, có lẽ nó chỉ còn thiếu tuôn máu ra từ hốc mắt nữa
mà thôi” [1,tr.193]. “Và nó gào lên nguyền rủa kẻ độc ác nào đó hãy chết lìa
cổ ra khỏi đầu để hắn không kịp dặn lại vợ con bất cứ điều gì” [1,tr.193, 194]. Trong giấc mơ kì lạ giống hệt giấc mơ đêm đều tiên nó ngủ lại ngôi miếu hoang, Thượng bàng hoàng phát hiện ra mình là nguyên nhân những cái chết. Không thể tin những lời nói của kẻ vô hình không hề tồn tại, nó quyết định thử khả năng của lão quỷ qua cô giáo với niềm tin “Bà ngoại tôi bảo rằng những người tốt đều được thần linh phù hộ,che chở, ngay cả quỷ sứ cũng không làm gì được”. “Tôi nhắm mắt lại hãy làm cho cô giáo ngã vật xuống đất trước mặt tôi xem” [1,tr.202].
Nếu như ở phần một, Tạ Duy Anh tái hiện lại xã hội với không gian rộng không gian đường phố thì trong phần hai này, không gian xã hội thu hẹp lại tại làng Thổ Ô. Bẩy cái chết trong làng liên tiếp xảy ra theo trật tự tuyến tính, trước sau. Lần lượt bẩy nạn nhân không thể tránh khỏi sức mạnh của lời nguyền rủa. Sự dồn dập, liên tiếp của tang ma tạo nên không khí bức
Trang 32nhận biết qua những từ ngữ chỉ trình tự trước sau: Thời gian đầu, độ nửa tháng sau, đúng lúc ấy, một hôm, mãi hôm sau, sáng hôm sau, buổi trưa, hôm sau. Thời gian không cụ thể, chính xác, nó là những điểm nhấn tô đậm thời gian xảy ra những án mạng.
Phần ba của tiểu thuyết gồm chín bloc xoay quanh hai mạch truyện kể
về gã đào mỏ tên Bính và cuộc đời ả cave. Trong đó mạch truyện kể về gã đào mỏ tên Bính được kể theo trật tự biên niên
Bính là dân chính cư của làng Thổ Ô. Học xong phổ thông, anh theo chúng bạn ra thành phố làm thuê. “ Nhờ cái mã đẹp trai, lại ăn mặc tươm tất”, Bính lọt vào mắt xanh của một bà góa lắm tiền. Sau độ nửa năm làm ăn với
bà, anh ta kiếm được một khoản tiền kha khá. không dừng lại tại đó, Bính âm mưu hốt một mẻ thật đẫy rồi lặn tăm. Sự việc bại lộ, anh ta ra khỏi nhà bà chủ trong nỗi nhục nhã bẽ bàng. Tại nhà trọ, Bính gặp rắc rối với ả cave trọ ở tầng
ba. Sau khi ả gái làm tiền bị đưa tới trại phục hồi nhân phẩm, Bính về quê mang theo lời hứa sẽ tìm thằng bé lang thang cho ả. Về làng Thổ Ô anh thuê thằng bé mồ côi tên Thượng làm giúp việc và bắt đầu kế hoạch xây nhà
Như vậy, trên những nét lớn về mạch truyện, biến cố trong tiểu thuyết
Giã biệt bóng tối của Tạ Duy Anh được kể theo trật tự tuyến tính. Nó góp
phần tái hiện lại bức tranh cuộc sống đương đại đang trôi chảy với nhiều góc khuất, mảng tối đằng sau mảng sáng. Nếu chỉ dừng lại ở đó thì tiểu thuyết Tạ Duy Anh không khác gì những bản tin, tin vắn thời sự mà ta có thể dễ dàng tìm thấy hàng ngày trên các phương tiện truyền thông. Sức dung chứa của thể loại tiểu thuyết lớn hơn thế bởi “nó đặt ra những vấn đề thiết cốt của nhân sinh, nhân quần, nó tái hiện đời sống con người và cuộc sống” [1,tr.28], nó tác động sâu xa tới tâm tư, tình cảm của bạn đọc, “Tiểu thuyết chính là cuộc đời ở tầng sâu nhất của nó” [1,tr.28]. Bởi vậy giá trị của nó không chỉ là ở việc tái hiện những chuỗi sự kiện của đời sống tự nhiên mà nó khám phá, soi chiếu
Trang 332.1.2. Phi tuyến tính hóa trình tự kể
Tính hư cấu là một đặc trưng của truyện, bởi vậy ta khó có thể có sự trùng khít giữa thời gian câu chuyện và thời gian truyện kể. Trên những nét
lớn ở cấp độ mạch truyện, ta nhận thấy các mạch truyện của Giã biệt bóng tối
có sự đồng nhất. Nghĩa là chúng được kể theo trật tự biên niên. Tuy nhiên ở nhiều bloc trong mỗi phần độ chênh giữa ba lớp thời gian được đẩy tới một mức độ nhất định nhờ sự tham gia của các đảo thuật, dự thuật. Điều đó làm đảo lộn trật tự tuyến tính ở một số đoạn. Thủ pháp này thể hiện dụng ý nghệ thuật nhất định của nhà văn
Khảo sát tiểu thuyết Giã biệt Bóng tối của Tạ Duy Anh, chúng tôi nhận
thấy sự xuất hiện của nhiều đảo thuật, ít dự thuật. Đảo thuật bên ngoài và đảo thuật bên trong xuất hiện khá nhiều trong khi đó dự thuật bên ngoài và dự thuật bên trong xuất hiện ít hơn.
Ở mạch truyện kể lại cuộc sống lang bạt của nhân vật Thượng, trong đó Bloc (b) – “Dư luận làng Thổ Ô” nổi bật với các đảo thuật bên ngoài.
Nạn nhân xấu số đầu tiên của làng là lão Tung. Lão là một cựu lính của Nhà nước bảo hộ. Đời lính của mình, lão cũng đã từng giết người những “Là giết hai tên Quan ba chỉ huy khi hắn định bờm xơm với vợ lão” [1,tr.104]. Với phong cách lính tẩy, lão thường cho cả làng những phen hú vía rồi sau đó
là trận cười vỡ bụng. “ ấy là khi giữa ban ngày, ban mặt lão cởi truồng tròe lên ngon cây ổi, nằm tu rượu như tu nước lã, toàn thân đỏ như con lợn bôi tiết” [1,tr.104]. Nạn nhân tiếp theo là “San chó” một kẻ lười chảy thây, sống bằng nghề ăn cắp vặt. “Gặp cơn túng quẫn gã còn đem cô vợ phốp pháp ra