1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non phúc thắng phúc yên vĩnh phúc

63 722 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 193,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự thống nhất giữa thể chất vàtinh thần, luận điểm về sự phát triển toàn diện giữa các mặt giáo dục đức, trí,thể, mỹ và lao động trong học thuyết c

Trang 1

ĐINH THỊ XUÂN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG

CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC

GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU

GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON PHÚC

THẮNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐINH THỊ XUÂN

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TỔ CHỨC GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO TẠI TRƯỜNG MẦM NON PHÚC THẮNG - PHÚC YÊN - VĨNH PHÚC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục thể chất Người hướng dẫn khoa học

Th.S NGUYỄN THỊ HÀ

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

Tên tôi là: Đinh Thị Xuân

Sinh viên: Lớp K36B - GDMN trường ĐHSP Hà Nội 2

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi đã trình bày trong khoá luậntốt nghiệp này là kết quả quá trình nghiên cứu, tìm tòi học hỏi của bản thândưới sự chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn Những kết quả nghiên cứu trongkhoá luận chưa từng được công bố tại bất cứ công tình nghiên cứu nào

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Đinh Thị Xuân

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4

1.1 Cơ sở lí luận xác định, định hướng nghiên cứu của đề tài 4

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ

mầm non 4

1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 4

1.2 Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 4

1.2.1 Mục tiêu của GDMN 4

1.2.2 Chương trình GDMN 4

1.2.3 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non 4

1.2.4 Yêu cầu về nội dung, phương pháp Giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non 4

1.3 Đặc điểm hoạt động của nghề nghiệp của Giáo viên Mầm non 4

1.3.1 Khái niệm về nghề nghiệp 4

1.3.2 Khái quát về nghề sư phạm 4

1.4 Đặc điểm hoạt động của nghề giáo viên mầm non 4

1.4.1 Đội ngũ GVMN 4

1.4.2 Vị trí của người GV trong xã hội hiện đại 4

1.4.3 Đặc thù lao động của GVMN 4

1.4.4 Yêu cầu chuẩn về nghề nghiệp của GVMN 4

1.5 Nội dung và phương pháp Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo 4

1.5.1 Nội dung GDMN 4

1.5.2 Phương pháp GDMN 4

1.6 Đặc điểm phát triển thể chất ở trẻ em lứa tuổi mầm non 4

1.7 Nhà trường mầm non 4

Trang 5

2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

2.2 Phương pháp nghiên cứu 4

2.3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 4

2.4 Kế hoạch nghiên cứu và tổ chức nghiên cứu 4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4

3.1 Thực trạng tổ chức giáo dục thể chất tại trường mầm non Phúc Thắng - Phúc Yên - Vĩnh phúc 4

3.1.1 Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường 4

3.1.2 Thực trạng về đội ngũ GV 4

3.1.3 Thực trạng về công tác quản lí 4

3.1.4 Thực trạng về việc tổ chức giảng dạy môn học GDTC trong trường mầm non 4

3.2 Một số giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chất lượng tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ mầm non 4

3.2.1 Cơ sở lý luận về lựa chọn các giải pháp 4

3.2.2 Lựa chọn một số TCVĐ nhằm phát triển khả năng vận động cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6) trường mầm non Phúc Thắng - Phúc Yên - Vĩnh Phúc 4

3.2.3 Lựa chọn các test đánh giá việc áp dụng các TCVĐ trong quá trình dạy học môn GDTC cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Phúc Thắng 4

3.2.4 Tổ chức thực nghiệm 4

3.2.5 Kết quả thực nghiệm 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 4

TÀI LIỆU THAM KHẢO 4

Trang 6

Số bảng

Tran g

Bảng 1.1 Bảng thống kê trường học trong cả nước từ năm 2010 -2013 27

Bảng 3.1

Kết quả phỏng vấn GV về việc lựa chọn một số TCVĐ

nhằm phát triển thể lực cho trẻ 41

Bảng 3.2

Bảng phỏng vấn test lựa chọn các TCVĐ trong môn học

GDTC của trường mầm non Phúc Thắng 44

1

Thành tích chạy tiếp cờ của 2 nhóm thực nghiệm và đốichứng, trước và sau thực nghiệm

50

Biểu đồ 2 Thành tích chạy ai nhanh hơn của 2 nhóm thực nghiệm

và đối chứng, trước và sau thực nghiệm

50

Biểu đồ 3 Thành tích chạy cướp cờ của 2 nhóm thực nghiệm và đối

chứng, trước và sau thực nghiệm

51

Trang 7

GD & ĐT : Giáo dục và đào tạoGDMN : Giáo dục mầm nonGDTC : Giáo dục thể chất

GV : Giáo viên

GVMN : Giáo viên mầm nonTCVĐ : Trò chơi vận độngNĐC : Nhóm đối chứngNTN : Nhóm thực nghiệm

Trang 8

Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng đầu tiên của cuộc sống

là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sựchăm lo đào tạo và bồi dưỡng cho thế hệ trẻ, trở thành những con người tươnglai của đất nước Việt Nam đang có bước chuyển biến mạnh mẽ trên conđường đi đến xây dựng cuộc sống ấm no văn minh và hạnh phúc Trẻ em hômnay, thế giới ngày mai, trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và bảo vệ,được tồn tại, được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng Vì thế giáo dụccon người ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mỗingười đối với xã hội, đối với cộng đồng

Trẻ em là công dân của xã hội, là thế hệ tương lai của đất nước nênngay từ thủa lọt lòng chúng ta cần chăm sóc giáo dục trẻ thật chu đáo Đặcbiệt là GDTC cho trẻ càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi trong Nghị quyếttrung ương 4 khóa V về vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ

sức khỏe của nhân dân ghi rõ: " Sức khỏe là cái vốn quý của mỗi con người

và của toàn xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ

tổ quốc" GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện,

Trang 9

có mối quan hệ mật thiết với giáo dục đạo đức, thẩm mĩ và lao động Hơnnữa, GDTC cho trẻ mầm non càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi cơ thể trẻđang phát triển khỏe mạnh, hệ thần kinh, cơ xương hình thành nhanh, bộ máy

hô hấp đang hoàn thiện Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mấtcân đối nếu không được chăm sóc giáo dục đúng đắn thì có thể gây nênnhững thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được.Nhận thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đãđặc biệt chú trọng tới công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Tuy nhiêntrong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, tình hình sức khoẻ cònnhiều vấn đề đáng lo ngại Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng,các bệnh đường hô hấp, các bệnh đường ruột, các điều kiện đảm bảo và chămsóc sức khỏe của trẻ còn nhiều thiếu thốn Cơ sở vật chất ở các trường và cácgia đình còn quá chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ sinh hoạt,học tập Vì vậy, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành một cáchmạnh mẽ toàn diện, cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo điềukiện cho trẻ được phát triển tốt nhất

Vì thế, chúng tôi rất quan tâm tới vấn đề GDTC cho trẻ nên chúng tôi

chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non Phúc Thắng - Phúc Yên - Vĩnh Phúc.

* Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng tổ chức GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non và

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức GDTC trong nhàtrường mầm non

* Giả thiết khoa học

Các giải pháp đã được lựa chọn, áp dụng trong việc tổ chức hoạt độngGDTC cho trẻ mầm non sẽ có giá trị lớn trong nhiệm vụ phát triển thể chất cho trẻ

em, góp phần bổ sung lượng kiến thưc không ngừng phát triển GDMN

Trang 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1 Cơ sở lí luận xác định, định hướng nghiên cứu của đề tài

1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC cho trẻ mầm non

Hồ Chủ Tịch đã từng căn dặn: “Dạy trẻ như trồng cây non”, [II.15],

“Giáo dục mẫu giáo tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” Nhận thức đượcvai trò quan trọng của GDMN trong sự hình, [II.10] Thành phát triển nhâncách con người Việt Nam hiện đại, giáo dục trẻ trước tuổi học - giáo dục tiềnhọc đường, luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướngxác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục học sinh lứa tuổi mầm non Nghị quyết

số 14 NQ/TW Ngày 11/1/1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ

rõ “ kết hợp các biện pháp thể dục khoa học và những biện pháp y học hiệnđại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháungay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt", [8] Trong thư gửi tạp chí

“Vì trẻ thơ” ngày 8/1/1997, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã viết: “Bảo vệ vàchăm sóc giáo dục trẻ em, là một trong những mắt xích đầu tiên của quá trìngtriển khai thực hiện chiến lược con người”

Quan niệm giáo dục hiện đại và tiến bộ nhấn mạnh rằng, cùng với việcchăm lo nuôi dưỡng, bảo vệ sức khoẻ của trẻ, chủ động tạo ra những kíchthích, làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới, từng bước hoàn thiện và phát triểnnhân cách của trẻ Vì vậy, việc chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ những nămđầu tiên của cuộc sống, là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vôcùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trởthành những chủ nhân tương lai của đất nước

Con người cần phải được giáo dục, đào tạo một cách có hệ thống ngay

từ khi bước những bước chập chững đầu tiên Trong những điều kiện phát

Trang 11

triển giáo dục một cách đặc biệt, thì những khả năng tiềm tàng to lớn của trẻ

sẽ được bộc lộ, và do đó việc hình thành nhân cách cho trẻ sẽ thu được nhữngthành công to lớn Nhiều công trình khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đãchứng minh lợi ích của việc “can thiệp” vào lứa tuổi mầm non đã chứng minhđiều đó Việc chăm sóc sức khỏe của trẻ một cách khoa học từ khi trẻ còn nhỏ

sẽ đảm bảo phát triển toàn diện, đúng hướng, làm cơ sở cho sự phát triểntrong những giai đoạn tiếp theo của con người

Do vậy, giáo dục nói chung và GDTC nói riêng cho trẻ trước tuổi đi học

có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nếu trẻ không được chăm sóc, GDTC đúng đắn

và có hệ thống sẽ gây nên những thiếu sót trong sự phát triển cơ thể của trẻ, mà

về sau không thể khắc phục được Có thể nói, sự thành công trong bất kỳ hoạtđộng nào của trẻ cũng đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe Sức khoẻ tốt sẽ tạođiều kiện cho trẻ tiếp thu quá trình giáo dục một cách toàn diện [II.3]

Quan điểm chiến lược về GD & ĐT và đào tạo đến năm 2020 là thựchiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tất cả các bậc học, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đãkhẳng định: Ở bậc học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việcchăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em đượcrèn luyện thông qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động thể dục thể thao, đểbản thân các em luôn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội [I.3]

1.1.2 Cơ sở khoa học của lý luận GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non

1.1.2.1 Cơ sở khoa học xã hội

* Cơ sở triết học:

Trong đời sống thực tế xã hội, không có GDTC chung tồn tại ngoàiđiều kiện lịch sử cụ thể Trong mỗi chế độ kinh tế xã hội nhất định đều cótừng loại GDTC cụ thể

Các nhà lý luận giáo dục duy tâm cho rằng, GDTC là bản tính hay nhucầu bản năng của con người giống như các sinh vật khác, GDTC mang tính

Trang 12

chất bẩm sinh của con người cũng tương tự như “sự giáo dục” - bắt chước củaloài vật như đi, chạy, nhảy Với lập luận này, trên thực tế họ đã phủ nhận vaitrò của lao động và tư duy - một hiện tượng mới về chất đã làm cho con ngườikhác biệt với các loài vật Theo họ, thực tiễn của hình thức giáo dục này nhằmthoả mãn những yêu cầu bản năng nào đó và hầu như không có liên quan đếnyêu cầu xã hội Do đó, họ đã phủ nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa xã hội vàgiáo dục và cả nội dung của giáo dục

Các nhà lý luận duy vật cho rằng, GDTC là một hiện tượng xã hội, làphương tiện phục vụ xã hội, chủ yếu nâng cao thể chất, đồng thời tác độngmạnh mẽ đến sự phát triển tinh thần của con người Họ khẳng định rằng, chỉkhi nào con người tự giác tập luyện các bài tập thể chất, nhằm phát triển cơthể của bản thân để chuẩn bị cho những hoạt động nhất định, thì lúc đó mới

có GDTC thực sự

Các tư tưởng tiến bộ về giáo dục toàn diện con người cho rằng, conngười phải được phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đã xuất hiện trongkho tàng văn hoá chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây

Từ nhà triết học cổ đại Hi Lạp Aristôt (384 - 322 tr.CN), những ngườitheo chủ nghĩa nhân đạo thời Phục Hưng như: Moongtenghơ (1533 - 1592),những người theo chủ nghĩa không tưởng như: Saint - Simon (1760 - 1825),Robert Owen (1771 - 1858), đến những nhà bác học và giáo dục nổi tiến củaNga như: M.V.Lômônxốp (1771 - 1765), V.G.Belinxki (1811 - 1848),K.Đ.Usinxki (1824 - 1870), N.G.Strecnưsépxki (1828 - 1889), P.Ph.Lexgáp(1837 - 1909) và nhiều người khác nữa, đã phát triển bảo vệ tư tưởng của họcthuyết về sự phát triển hài hoà giữa năng lực thể chất và tinh thần của con người

Tuy nhiên, do tính chất của quan hệ xã hội và lịch sử của chế độ ấy,thực tế đã không vượt ra khỏi giới hạn của những ước mơ tuy cao đẹp nhưngkhông có điều kiện khách quan để biến thành hiện thực

Trang 13

Trên cơ sở nghiên cứu một cách sâu sắc các quy luật khách quan của sựphát triển xã hội, Các Mác và Ăngghen đã chứng minh sự phụ thuộc của giáo dục

và điều kiện vật chất, khám phá bản chất xã hội và giai cấp của giáo dục Các Mácnhấn mạnh rằng: “Giáo dục trong tương lai sẽ kết hợp lao động sản xuất với chídục và thể dục, đó không những là biện pháp để tăng thên sức sản xuất của xã hội,

mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người phát triển toàn diện”

Công lao lớn nhất của C Mác là phát hiện ra sự tái xuất trong mỗi conngười để xã hội phát triển Ông coi GDTC là một bộ phận hữu cơ của quátrình giáo dục, là điều kiện tất yếu đối với việc phát triển con người một cáchtoàn diện GDTC là phương tiện quan trọng để phát triển thể lực con người và

nó phải được bắt đầu từ lứa tuổi nhỏ GDTC cho trẻ mầm non là cơ sở pháttriển toàn diện, rèn luyện cơ thể, hình thành những thói quen vận động cầnthiết cho cuộc sống

Như vậy, luận điểm về tính tất yếu của sự thống nhất giữa thể chất vàtinh thần, luận điểm về sự phát triển toàn diện giữa các mặt giáo dục đức, trí,thể, mỹ và lao động trong học thuyết của Mác và sau này người kế tục làV.I.Lênin đã trang bị cho lý luận GDTC phương pháp nhận thức và cho phépnghiên cứu sâu sắc những quy luật sư phạm trong quá trình GDTC cho conngưòi nói chung cũng như cho trẻ mầm non nói riêng

GDMN cung cấp những kiến thức về mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục trẻ

em, nhưng quan điểm cơ bản, các nguyên tắc xây dựng chương trình chăm

Trang 14

sóc và giáo dục, các phương pháp, hình thức tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ,trong đó GDTC là một bộ phận của giáo dục phát triển toàn diện

1.1.2.2 Cơ sở khoa học tự nhiên

Cơ sở khoa học tự nhiên của lý luận GDTC là toàn bộ các môn khoahọc mà nhiệm vụ của chúng là nghiên cứu những quá trình phát triển sinh họccủa con người Những kiến thức về đặc điểm giải phẫu sinh lý, vệ sinh trẻ emgiúp cho việc bảo vệ sức khỏe của trẻ, việc tổ chức sinh hoạt hợp lý và hoạtđộng vận động của các em Những kiến thức khoa học này được xây dựngtrên cơ sở học thuyết của các nhà sinh học vĩ đại như: I.M.Xêtrênốp (1829 -1905), I.P.Paplốp (1849 - 1936) và những người kế tục

Các học thuyết đó bao gồm: Học thuyết về sự thống nhất giữa cơ thể vàmôi trường, học thuyết về mối quan hệ tạm thời của các phản xạ có điều kiện

và sự hình thành định hình động lực, học thuyết về hệ thần kinh cao cấp

1.2 Giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vị tríquan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực con người, nhà giáodục học người Nga, Makarenko đã viết: “Những cơ sở căn bản của việc giáodục trẻ đã được hình thành trước tuổi lên năm Những điều dạy trẻ trong thời

kì đó, chiếm 90% tiến trình giáo dục trẻ về sau, việc giáo dục đào tạo conngười vẫn tiếp tục, nhưng lúc đó bắt đầu nếm quả, còn những nụ hoa đã đượcvun trồng trong những năm đầu tiên.”[8] Điều đó cho thấy rằng: Việc nuôidạy “con người” bắt đầu từ những năm đầu của cuộc sống là một việc làm hếtsức quan trọng và có ý nghĩa lớn lao về nhân văn, xã hội và kinh tế, nhưng lại

vô cùng vất vả và khó khăn.[2]

1.2.1 Mục tiêu của GDMN

Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trítuệ thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách, chuẩn bị cho trẻvào lớp một

Trang 15

1.2.2 Chương trình GDMN

(Ban hanh kèm theo thông tư số: /2009/TT-BGDĐT ngày tháng năm

2009 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

GDMN là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân GDMN thựchiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi

Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về mặt thể chất, tình cảm, trítuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị chotrẻ vào lớp một GDMN tạo sự khởi đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ,đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời

GDMN được chia thành hai giai đoạn: nhà trẻ và mẫu giáo Giai đoạnnhà trẻ thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng đến

ba tuổi; giai đoạn mẫu giáo thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

em từ ba tuổi đến sáu tuổi

Chương trình GDMN là căn cứ để triển khai và chỉ đạo công tác chămsóc giáo dục trẻ trong các cơ sở GDMN, đồng thời là căn cứ để đào tạo bồidưỡng GVMN, tăng cường cơ sở vật chất và đảm bảo các điều kiện khác đểnâng cao chất lượng GDMN

Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN, cụ thể hoá các yêu cầu

về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở từng độ tuổi, quy định việc tổchức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tìnhcảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn đánh giá sự phát triển của trẻ em ở lứa tuổimầm non

1.2.3 Nhiệm vụ GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non

Mục tiêu chung của giáo dục mẫu giáo là nhằm "hình thành ở trẻ những

cơ sở đầu tiên của nhân cách con người xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

- Khỏe mạnh và nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hoài hòa cân đối

- Giàu lòng thương, biết quan tâm nhường nhịn, giúp đỡ những ngườigần gũi, thật thà lễ phép, mạnh dạn hồn nhiên

Trang 16

- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ởxung quanh

- Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹnăng sơ đẳng (quan sát, so sánh, tổng hợp) cần thiết để vào trường phổ thông,thích đi học

Để thực hiện được các mục tiêu trên, GDTC trong trường mẫu giáo cónhững nhiệm vụ cụ thể sau:

a Bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởnghài hòa của trẻ

- Đảm bảo chế độ dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt hợp lý, tích cực phòngbệnh, phòng tai nạn, làm tốt công tác vệ sinh môi trường, sinh hoạt và thânthể, không để trẻ mệt mỏi vì hoạt động quá sức hoặc thần kinh căng thẳng

- Hướng dẫn tổ chức rèn luyện cho trẻ một cách hợp lý nhằm tăngcường sức khỏe, phát triển cân đối hình dạng và các chức năng của cơ thểtăng cường khả năng thích ứng của trẻ với những thay đổi của thời tiết hoặcmôi trường bên ngoài

b Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chấtvận động

- Nhiệm vụ thứ hai của GDTC là giúp trẻ hình thành, phát triển và hoànthiện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản (đi, chạy, nhảy, leo trèo), rèn luyệnnăng lực phối hợp cảm giác với vận động, phối hợp các vận động của các bộphận cơ thể với nhau

- Từng bước rèn luyện những phẩm chất của vận động, giúp trẻ vậnđộng ngày càng nhanh nhẹn, linh hoạt, dẻo dai, gọn gàng, ngày càng chính xákhéo léo hơn

c Giáo dục nếp sống có giờ giấc, có thói quen và các kỹ năng kỹ xảo

vệ sinh cụ thể:

- Trường mẫu giáo có nhiệm vụ giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc.Rèn luyện cho trẻ thói quen ăn, ngủ, thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi

Trang 17

chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác Những thói quen này khôngnhững giúp trẻ ăn ngon, ngủ say, hoạt động thoải mái, ảnh hưởng tốt đến sứckhỏe của trẻ mà càng rất cần thiết để trẻ dễ dàng thích nghi với thời khóa biểusau này ở trường tiểu học.

- Về giáo dục kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh về thân thể, về ăn uống, về quần

áo, và vệ sinh môi trường, có thể hình thành ở trẻ và từng bước trở thành thóiquen của chúng

1.2.4 Yêu cầu về nội dung, phương pháp Giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non

Nội dung GDMN phải đảm bảo phù hợp với sự phát triển tâm sinh lýcủa trẻ em, hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục, giúp trẻ phát triểncân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn, biết kính trọng yêu mến, lễ phép với ông bà,cha mẹ, thầy cô giáo và người trên, yêu quý anh, chị, em, bạn bè, thật thà,mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp, ham hiểu biết, thích đi học

Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt độngvui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương, độngviên, khích lệ

1.3 Đặc điểm hoạt động của nghề nghiệp của Giáo viên Mầm non

1.3.1 Khái niệm về nghề nghiệp

Nghề nghiệp theo tiếng Latinh “professio” có nghĩa là công việcchuyên môn được hình thành một cách chính thống, là dạng lao động đòi hỏimột trình độ học vấn nào đó, là cơ sở hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại

Theo tác giả E.A.Klimov thì “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sứclao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiếtcho xã hội (do sự phân công lao động mà có) nó tạo cho con người khả nănglao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại vàphát triển” [5]

Theo từ điển Tiếng việt, khái niệm nghề nghiệp là: “Công việc chuyênlàm theo sự phân công của xã hội” [9]

Trang 18

Từ một khái niệm trên, có thể hiểu nghề nghiệp là: “Công việc chuyênlàm theo sự phân công lao động của xã hội” [9]

Từ một số khái niệm trên, có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng laođộng vừa mang tính xã hội (Sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân(nhu cầu bản thân) trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòihỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và cá nhân Và bất cứnghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong đó một hệ thống giá trị: Tri thức nghề,

kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Những giá trị này

có thể hình thành theo con đường tự phát (tức là do tích luỹ kinh nghiệmtrong quá trình sống với cộng đồng mà có), hoặc theo con đường tự giác (dođược đào tạo trong các cơ sở trường, lớp dài hạn hay ngắn hạn)

Như vậy: Nghề nghiệp là một dạng lao động đòi hỏi ở con người mộtquá trình đào tạo chuyên biệt, có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhấtđịnh Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo ra sản phẩmthoả mãn những nhu cầu của cá nhân và xã hội

1.3.2 Khái quát về nghề sư phạm

Ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người, khi con người chỉ săn bắthái lượm, loài người đã có nhu cầu truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm Nhờ

đó mà kinh nghiệm của con người được gìn giữ và cũng nhờ đó mà xã hộicũng tồn tại và phát triển Hoạt động truyền đạt và lĩnh hội đó được gọi làhoạt động day học Cùng với sự phát triển của xã hội, hoạt động dạy học đượcthực hiện bởi thầy giáo, dạy học được coi là một nghề trong xã hội và ta gọi

nó là nghề dạy học hay nghề sư phạm Nghề sư phạm là nghề đào tạo ranhững con người phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nghềkhông đơn giản là dạy chữ mà còn là nghề “trồng người”, giáo dục, xây dựngnên tâm hồn, nhân cách con người

Trong bất cứ thời đại nào, xã hội nào thì nghề sư phạm đều cần thiết vàquan trọng Vì giáo dục là nền tảng văn hoá của một nước, là sức mạnh tương

Trang 19

lai của một dân tộc Người thầy giáo có vai trò to lớn trong quá trình giáo dụcthế hệ trẻ, là người quyết định chất lượng đào tạo và là “cái cầu nối” giữa nềnvăn hoá nhân loại và dân tộc, là mắt xích trong sợi dây chuyền nối liền các thế

hệ, các thời đại, là người trao “tín vật” của hiện tại cho tương lai Chính điều

đó làm cho hoạt động của thầy giáo trở nên thiêng liêng và đầy sáng tạo

Xã hội càng phát triển, càng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với người laođộng Do vậy vai trò và nhiệm vụ của công việc đào tạo thế hệ trẻ, chuẩn bịcho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống, hoà nhịp với xã hội ngày càng trở nênnặng nề hơn Trong thời đại ngày nay, chức năng của người thầy giáo rất toàndiện, thầy giáo không chỉ là người truyền thụ tri thức khoa học hiện đại màcòn là người tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của học sinh

Như vậy: Nghề sư phạm là một lĩnh vực hoat động của người thầy giáotheo sự phân công cụ xã hội, trong đó người thầy sử dụng các năng lực thểchất tinh thần và toàn bộ nhân cách của mình để dạy dỗ, giáo dục, đào tạo thế

hệ trở thành những con người hữu ích cho xã hội Đó là nét đặc thù riêng, độcđáo của lao động sư phạm mà không thể nào có được

Như vậy bất kỳ loại lao động nào, lao động sư phạm là một hoạt động

có mục đích Lao động sư phạm nhằm giáo dục thế hệ trẻ, hình thành ở họnhững phẩm chất và năng lực mà xã hội yêu cầu Lao động sư phạm là quátrình tác động qua lại giữa người dạy và người học, là quá trình truyền thụkinh nghiệm và tri thức của thế hệ trước cho thế hệ sau

1.4 Đặc điểm hoạt động của nghề giáo viên mầm non

1.4.1 Đội ngũ GVMN

GVMN là những người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ

em trong trường, gồm: hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và giáo viên nhóm, lớp

Nhiệm vụ của GVMN:

GV trong nhóm, lớp có những nhiệm vụ sau đây:

Trang 20

- Thực hiện theo chương trình và kế hoạch nuôi dưỡng, chăm sóc, giáodục trẻ em theo lứa tuổi, thực hiện theo quy chế chuyên môn và chấp hành nộiquy của nhà trường: Các phòng cho lứa tuổi nhà trẻ; các phòng cho lứa tuổimẫu giáo; phòng hoạt động âm nhạc; phòng rèn luyện thể chất; hội trường;văn phòng trường; khối phòng tổ chức ăn; sân vườn; hệ thống cấp thoát nước,

vệ sinh; yêu cầu về thiết kế và xây dựng; trường được xây dựng theo mẫuthiết kế do Bộ GD & ĐT quy định; nhà phải được xây dựng kiên cố; nhà phảiđảm bảo ấm về mùa đông, thoáng mát về mùa hè; có đủ ánh sáng tự nhiên vàthoáng; nền nhà phải lát gạch men

- Thiết bị đồ dùng, đồ chơi: Trường phải có đủ thiết bị đồ chơi, đồ dung

cá nhân theo quy định của GD & ĐT, đảm bảo yêu cầu của việc nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục trẻ Trường phải có kế hoạch bảo quản, sửa chữa, thay thế,

bổ sung nâng cấp thiết bị, đồ dùng, đồ chơi

1.4.2 Vị trí của người GV trong xã hội hiện đại

Người GV có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triểngiáo dục của Đảng Thầy giáo là cầu nối liền giữa nền văn hoá dân tộc vànhân loại với sự tái sản xuất nền văn hoá ấy trong chính đứa trẻ Hoạt độngcủa người GVMN gồm có: Hoạt động dạy, hoạt động giáo dục, hoạt động tựhoàn thiện chuyên môn nghiệp vụ và hoạt động xã hội

Thời đại ngày nay, người GV không chỉ có chức năng truyền đạt trithức cho học sinh mà còn có chức năng tác động tích cực đến sự hình thànhnhân cách cho học sinh Người GV phải có tính tích cực công dân, có ý thứctrách nhiệm xã hội, hăng hái tham gia sự phát triển của cộng đồng GV phải

có lòng yêu trẻ và hợp tác với trẻ Nhà trường hiện đại phải tô đậm tính nhânvăn của mình, nên hoạt động của GV phải chú ý đến mục tiêu nhân bản Mộtgiờ lên lớp không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức khoa học, hình thànhcác kĩ năng cụ thể mà phải hướng vào tạo dựng, phát triển nhân cách của học

Trang 21

sinh Thầy giáo phải làm việc với tập thể học sinh, nhưng phải chú ý tới họcsinh Vì vậy, quá trình dạy học và giảng dạy là việc làm đầy trách nhiệm củangười thầy giáo, có nhiệm vụ đào tạo hàng loạt công dân có nhân cách nhưnglại phải vun trồng từng học sinh, làm nảy nở hết bản sắc riêng của mỗi họcsinh để chúng trở thành con người và đặc trưng cá nhân Xét theo góc độ đó,sản phẩm của nhà giáo dục không có khuôn mẫu nhân cách cố định Bởi lẽ,trẻ em này khác trẻ em khác, trẻ em này không hoà tan vào trẻ em khác, nó là

nó nhưng không chỉ là nó ở trong xã hội trẻ em, trong cộng đồng Thầy giáotrong xã hội hiện đại không phải dạy cái gì thầy thích mà phải dạy trò cái mà

xã hội hiện đại yêu cầu Thầy giáo là người đại diện cho trí tuệ thời đại Xaxưa, thầy giáo chỉ cần học một lần là đủ dùng cho cả cuộc đời, ngày nay, thầygiáo phải được đào tạo cao về học vấn, cao về khoa học nghiệp vụ, đồng thờithầy phải học suốt đời

1.4.3 Đặc thù lao động của GVMN

Đối tượng lao động trực tiếp của người GVMN là trẻ em từ 0 - 6 tuổi.Các em có quy luật tâm sinh lí riêng, là lứa tuổi tiềm ẩn những khả năng pháttriển rất lớn Do đó, thầy giáo phải có tình thương yêu, lòng tin và sự tôntrọng đối với trẻ em, đối xử công bằng, dân chủ và tế nhị trong cách cư xử,mềm dẻo nhưng kiên quyết

Công cụ lao động của người thầy giáo là trí tuệ và phẩm chất của chínhmình Người thầy giáo dùng trí tuệ của mình để tác động vào đối tượng, dùngnhân cách đã ổn định của mình tác động lên nhân cách còn đang non trẻ, đang cầnrèn luyện Công cụ này sẽ tác động có hiệu quả khi thầy có uy tín cao, tức là phẩmchất và năng lực, đức và tài của thầy cao thì sức thuyết phục học sinh càng lớn

Lao động của GVMN tạo ra sản phẩm đặc biệt, đó là trang bị cho trẻ

em kĩ năng sống, kĩ năng vận động, khả năng tư duy và nhân cách trước tuổingồi trên ghế nhà trường phổ thông

Trang 22

Trong bài thơ “Nửa đêm”, Bác Hồ có viết: “Hiền dữ phải đâu là tínhsẵn Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Makarenko đã đúc kết: “Không sợ học sinh hỏng mà sợ giáo dụchỏng” Suy nghĩ cho thấy con người chỉ sinh ra con người, còn giáo dục mớisản sinh ra nhân cách Nói cách khác, lao động của nhà giáo là lao động sảnxuất ra nhân cách, sản xuất ra giá trị nhân loại Sản phẩm lao động của nhàgiáo gắn liền với tương lai dân tộc, loài người Lao động của nhà giáo là tạo

ra sức lao động mới trong từng con người Nghề dạy học là nghề tái sản xuất,

mở rộng sức lao động

Khác với GV các bậc học khác, GVMN được đào tạo để giảng dạy toàndiện các môn học thuộc cấp học, nên họ có tác động cực kì to lớn đến tâmhồn, nhân cách và trí tuệ của trẻ Họ vừa là người dạy chữ, dạy kiến thức, dạytrẻ những kĩ năng cơ bản của cuộc sống, vừa là người quản lí giáo dục, người

tổ chức quá trình dạy học, người chịu trách nhiệm toàn diện và triệt để đối với

sự tiến bộ của trẻ

1.4.4 Yêu cầu chuẩn về nghề nghiệp của GVMN

* Yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: Chấphành các quy định của pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhànước Là người có đạo đức tốt, lối sống lành mạnh giản dị, yêu nghề, mến trẻ,thân thiện với đồng nghiệp Chăm sóc giáo dục trẻ bằng tình thương, sự côngbằng và trách nhiệm của một nhà giáo Tích cực học tập, nghiên cứu, tiếp cậnnhu cầu của xã hội để phát triển, đóng góp cho ngành nghề trong công tác xãhội hoá GDMN

* Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kiến thức: Hiểu biết cơ bản về đặc điểmtâm lý, sinh lý trẻ lứa tuổi mầm non Nắm vững chương trình GDMN hiệnhành của Bộ GD & ĐT Hội tụ đầy đủ kiến thức và kỹ năng về nuôi dưỡng,chăm sóc, giáo dục, phát triển thể chất cho trẻ Có kiến thức xã hội sâu rộng,

Trang 23

định hướng phát triển đối với trẻ Có phương pháp tổ chức hoạt động chơi chotrẻ, tạo nhiều tình huống, khơi dậy sự hứng thú, tính tò mò thúc đẩy sự pháttriển của trẻ lứa tuổi mầm non.

* Các yêu cầu thuộc lĩnh vực kỹ năng sư phạm: Biết lập kế hoạch theodõi, chăm sóc, giáo dục trẻ theo tuần, theo tháng, theo năm Tổ chức các hoạtđộng chăm sóc, giáo dục trẻ theo hướng tích hợp, phát huy tính tích cực, sángtạo của trẻ Dạy trẻ một số kỹ năng tự phục vụ, chăm sóc cho bản thân Biết quansát, đánh giá trẻ và có phương pháp chăm sóc, giáo dục trẻ phù hợp Giao tiếp,ứng xử nhẹ nhàng với đồng nghiệp, gia đình trẻ và những người xung quanh

“Không còn nghi ngờ gì chất lượng giáo dục phụ thuộc rất lớn vàokhông khí chung của nhà trường, nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là ở nhâncách của người GV, con người thường xuyên tiếp xúc với trẻ Ảnh hưởngnhân cách của GV lên tâm hồn trẻ tạo nên một sức mạnh giáo dục to lớn màsách giáo khoa, các lời thuyết giáo đạo đức, khen thưởng và trách phạt khôngthể thay thế được” (K.D.Usinxki) Do đó, người GVMN cần có yêu cầu chuẩn

về nghề nghiệp như sau [I.2]

1.5 Nội dung và phương pháp Giáo dục Thể chất cho trẻ mẫu giáo

1.5.1 Nội dung GDMN

Nội dung giáo dục mầm non phải đạt các yêu cầu:

- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm pháttriển từ dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ,mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa các nội dung giáo dục với cuộchiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từngbước hòa nhập vào cuộc sống

- Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôidưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ em phát triển cơ thể cân đối, khỏemạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kỹ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ embiết kính trọng, yêu mến, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học

Trang 24

1.5.2 Phương pháp GDMN

Phương pháp GDMN chủ yếu là thông qua việc tổ chức các hoạt độngchơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện; chú trọng việc nêu gương, động viên,khích lệ

- Đối với giáo dục nhà trẻ, phương pháp giáo dục phải chú trọng giao tiếpthường xuyên, thể hiện sự yêu thương và tạo sự gắn bó người lớn với trẻ; chú ýđặc điểm cá nhân trẻ để lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp, tạo cho trẻ cócảm giác an toàn về thể chất và tinh thần; tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ đượctích cực hoạt động giao lưu cảm xúc, hoạt động với đồ vật và vui chơi, kích thích

sự phát triển các giác quan và các chức năng tâm - sinh lý; tạo môi trường giáodục gần gũi với khung cảnh gia đình, giúp trẻ thích nghi với nhà trẻ

- Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiệncho trẻ được trải nghiệm tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dướinhiều hình thức đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương trâm

"chơi mà học, học mà chơi" Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dụcnhằm kích thích và tạo cơ hội cho trẻ tích cực phám phá, thử nghiệm và sángtạo ở các khu vực hoạt động một cách vui vẻ

Kết hợp hài hòa giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cánhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp

Tổ chức hợp lý các hình thức hoạt động cá nhân theo nhóm nhỏ và cả lớp,phù hợp với độ tuổi của nhóm/lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu vàhứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế

1.6 Đặc điểm phát triển thể chất ở trẻ em lứa tuổi mầm non

* Đặc điểm phát triển của trẻ em lứa tuổi mầm non

Thể chất là chất lượng cơ thể con người có thể vận dụng vào thực hiệnmột việc nào đó trong học tập, lao động, thể thao

Phạm trù thể chất thường bao gồm các mặt về: Tầm vóc cơ thể, nănglực cơ thể, năng lực thích ứng của cơ thể, trạng thái tâm lí

Trang 25

Phát triển thể chất là quá trình thay đổi hình thái và chức năng sinh họccủa cơ thể con người, là tổng hợp các đặc tính hình thái của cơ thể, đặc trưngcho quá trình trưởng thành của cơ thể ở mỗi giai đoạn phát triển

Nói đến sự phát triển thể chất của trẻ em là đề cập đến sự lớn lên củatrẻ em về mặt hình thể nên ngoài những thay đổi và hoàn thiên chức năng củacác cơ quan tương ứng với độ tuổi

Như vậy, đánh giá sự phát triển thể chất của trẻ em dựa vào các chỉ số

về hình thái (chiều ao, cân nặng, vòng đầu ) và chức năng sinh học (nhịptim, nhịp hô hấp, huyết áp ) của cơ thể

Sự phát triển thể chất của trẻ em khác nhau theo từng lứa tuổi và diễn

ra theo quy luật nhất định trong cùng một độ tuổi Sự phát triển thể chất cóliên quan chặt chẽ tới yếu tố di truyền và môi trường sống của trẻ em Nó cóảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các lĩnh vực phát triển vận động và tinhthần của trẻ

- Tuổi nhà trẻ: Trẻ từ 0 - 3 tuổi: Một trong những chỉ số quan trọng của

sự phát triển thể chất là sự tăng cân bình thường Ngoài ra cần chú ý đến chỉ

số chiều cao, kích thước vòng đầu, mọc răng Tình trạng các hệ cơ, hệ xương,

hệ thần kinh, các cơ quan nội tạng cũng như sự phát triển tâm lí có ý nghĩa tolớn đối với sự phát triển cân đối của trẻ

- Tuổi mẫu giáo: Trẻ từ 3 - 6 tuổi: Đây là thời kỳ thuận lợi để trẻ tiếp thu

và củng cố các kỹ năng cần thiết Trẻ em lứa tuổi này lớn nhanh, cảm thấy nhưgầy hơn, mất vẻ tròn trĩnh, mập mạp đã có ở tuổi nhà trẻ Đặc trưng của trẻ emlứa tuổi này là cơ thể phát triển chưa ổn địnhvà khả năng vận động còn hạn chế

* Đặc điểm phát triển vận động ở trẻ em

Phát triển vận động của trẻ trong năm đầu

- Giai đoạn từ 1,5 - 3 tháng: Giai đoạn này trẻ đã có thời gian thức sau

khi ăn nên ta có thể áp dụng một số bài tập vận động cho trẻ Điều kiện cơ

Trang 26

bản để phát triển đầy đủ thể lực và thần kinh ở giai đoạn này là tạo cho trẻ cótrạng thái cảm súc tốt Có thể áp dụng các bài tâp xoa vuốt nhẹ các ngón tay

và chân để giảm trương lực cơ gấp, tăng khả năng duỗi của cơ Đến cuốitháng thứ hai sang tháng thứ ba tập cho trẻ biết nâng và giữ đầu cao, có ýnghĩa lớn cho sự phát triển của não Sự vân động của đầu làm cho tuần hoàntốt hơn, mở rộng sự hiểu biết của trẻ, não nhận thức được nhiều kích thích từbên ngoài

- Giai đoạn từ 3 - 4 tháng: Giai đoạn này đã có sự cân bằng trương lực cơ

duỗi của tay, trẻ có thể co, duỗi tay dễ dàng Ta có thể áp dụng các bài tập thụđộng cho tay như: Cho trẻ duỗi các ngón tay, sờ vào tay của mình, với lắc haygiữ đồ chơi Chân của trẻ chưa có sự cân bằng trương lực giữa cơ co và duỗi nêncần tập các bài tập xoa vuốt nhẹ, bài tập phản xạ cho chân và bàn chân

- Giai đoạn từ 4 - 6 tháng: Ở trẻ đã có sự cân bằng trương lực cơ co và

duỗi của chân, xuất hiện động tác trườn Các nhóm tay, chân, ngực và bụngđược củng cố Tháng thứ tư đến tháng thứ năm trẻ đã hình thành đường dẫntruyền thính giác, khi cho trẻ tập nên phối hợp đếm để tăng mức độ nhịpnhàng của động tác và rèn luyện phản xạ vận động với âm thanh Tháng thứsáu trẻ có thể lẫy thành thạo, có thể đứng hoặc ngồi nếu được đỡ lưng và bắtđầu tập bò

- Giai đoạn tư 6 - 9 tháng: Trẻ ở giai đoạn này phát triển nhanh các vận

động và các hoạt động tương đối nhịp nhàng Tháng thứ bảy, trẻ biết nângngười bằng hai tay, hai chân và bò Đây là giai đoạn quan trọng trong quatrình phát triển, là vận động chuyển từ tư thế nằm sang đứng, củng cố các cơlưng, bả vai, tác động đến cột sống Đến tháng thứ tám trẻ có thể ngồi vàđứng vịn Do vậy, giai đoạn này cần dạy trẻ các bài tập củng cố toàn thân,nhằm phát triển khả năng ngồi, bò, đứng và đi men cho trẻ Hệ thống tín hiệuthứ hai tiếp tục được hoàn thiện, trẻ hiểu được một số từ, bắt đầu nói bập bẹnên trong quá trìng tập luyện cần nói chuyện với trẻ để điều khiển động tác

Trang 27

- Giai đoạn từ 9 - 12 tháng: Trẻ có thể thay đổi tư thế trong không gian

một cách dễ dàng, nên tập cho trẻ những bài tập thay đổi tư thế đứng, ngồi, đitheo vật di chuyển Cho trẻ tập với đồ chơi khác nhau, tập bắt chước các vậnđộng của người hướng dẫn, kết hợp với việc sử dụng lời nói để hướng sự chú

ý của trẻ đến việc thực hiện bài tập

Phát triển vận động của trẻ hai tuổi: Sự phát triển vận động diễn ra trên

cơ sở của những vận động tự đi bộ, cảm giác thăng bằng, vận động bò, vậnđộng lăn và ném Như vậy, khi trẻ lên hai, đa số các vận động cơ bản đã đượcvận động cơ bản đã được hình thành, trừ vận động chạy và nhảy Khi quan sáttrẻ chơi cho thấy, trẻ có khả năng bắt chước cao và dần dần tự thực hiện độngtác Khả năng phối hợp vận động của trẻ hai tuổi cũng trở nên rõ rệt hơn

Phát triển vận động của trẻ ba tuổi: Vai trò điều chỉnh của trẻ ở lứa

tuổi này tốt hơn, các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh chóng, cácquá trình kìm hãm được phát triển Trẻ có cảm giác thường xuyên đòi hỏithay đổi vận động, trẻ không giữ được mình trong tư thế yên tĩnh, cần phảiluân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi Sự phát triển vận động của trẻ diễn ratrên cơ sở những vận động đi, chạy có cảm giác thăng bằng, vận động nhảy,vận động bò và ném Như vậy, để phát triển những vận độngkhác nhau ở trẻ,phải sử dụng nhiều loại dụng cụ khác nhau ở trẻ, phải sử dụng nhiều loại dụng

cụ khác nhau nhằm gây hứng thú và lòng ham muốn vận động của trẻ

Phát triển vận động của trẻ bốn tuổi: Tốc độ phát triển thể lực ở lứa

tuổi này chậm hơn so với lứa tuổi trước, nhưng quá trình cốt hoá ở xươngdiễn ra nhanh Khả năng làm việc của hệ thần kinh còn yếu, nên nếu vận độngnhiều, nặng thì trẻ nhanh mệt mỏi Các phản xạ có điều kiện được hình thànhnhanh, song củng cố còn chậm Vì vậy những thói quen vận động mới đượchình thành không bền vững, dễ sai lệch Sự phát triển vận động của trẻ diễn ratrên cơ sở những vận động đi, chạy và cảm giác thăng bằng, vân động nhảy,vận động ném, chuyền, bắt, vận động bò, trườn, trèo

Trang 28

Phát triển vận động của trẻ năm tuổi: Giai đoạn này trẻ trở nên cứng

cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động và không biết mệt mỏi, các mệt mỏi của trẻdần đi đến hoàn thiện Vì vậy, sự vận động của trẻ cần được người lớn theodõi, kiểm tra Khả năng chú ý của trẻ tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình,trẻ có thể thực hiện được những động tác quen thuộc bằng nhiều cách, trongmột thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn Các vận động của trẻ đạttới độ chính xác, nhịp nhàng, biết phối hợp vận động của mình với các bạn

Trẻ có khả năng quan sát hình ảnh động tác mẫu của GV, ghi nhớ đểthực hiện lại Do đó, phải tăng dần yêu cầu đối với trẻ để giúp trẻ hoàn thiệnvận động, sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau giúp trẻ thực hiệnđộng tác một cách có ý và đạt kết quả cao hơn Chú ý thường xuyên theo dõi,kiểm tra quá trình vận động của trẻ Lứa tuổi này sự phát triển vận động của trẻdiễn ra trên cơ sở những vận động đi, chạy và phát triển cảm giác thăng bằng,vận động nhảy, vận động ném, chuyền, bắt, vận động bò, trườn, trèo

Phát triển vận động của trẻ sáu tuổi: Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất

nhanh, tỉ lệ cơ thể đã cân đối, tạo ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng đượchoàn thiện, sự phối hợp vận động tốt hơn Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ

có khả năng chú ý cao trong quá trình tập luyện bài tập vận động Các vận động

cơ bản được thực hiện tương đối chính xác, mềm dẻo, thực hiện sự khéo léotrong vận động, lực cơ bắp được tăng lên Sự phát triển vận động của trẻ diễn ratrên cơ sở những vận động đi, vận động nhảy, vận động chạy, bò, ném

Như vậy, dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ởtừng độ tuổi mầm non, ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướngdẫn vận động phù hợp với trẻ để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong quátrình tập luyện

* Các bài tập thể dục cho trẻ em lứa tuổi mầm non

Bài tập thể dục gồm một hệ thống động tác được chọn lọc, tác động lêntoàn bộ cơ thể con người, tăng cường các quá trình chức năng cơ bản, thuậnlợi cho sự phát triển cân đối và nâng cao trương lực sống

Trang 29

Bài tập thể dục có tác dụng đẩy mạnh các quá trình sinh lý trong cơ thể

và củng cố sức khỏe cho trẻ Giúp hình thành đúng những hoạt động vận động

và phát triển các tố chất thể lực

Bài tập thể dục cho trẻ em lứa tuổi mầm non là bài tập thể dục cơ bản,bao gồm: Bài tập đội hình đội ngũ, bài tập phát triển chung và bài tập vậnđộng cơ bản

- Bài tập đội hình đội ngũ: Là loại bài tập thể chất sử dụng vận động đi

với nhiều hình thức khác nhau

Bài tập đội hình đội ngũ cho trẻ em ở trường mầm non thực hiện nhiềutrong thể dục buổi sáng, tiết học thể dục, giáo dục âm nhạc và sử dụng trongTCVĐ Luyện tập đội hình đội ngũ giúp trẻ phát triển khả năng chú ý, phốihợp hành động khi hoạt động tập thể, khả năng định hướng trong không gian,rèn luyện tư thế đứng như đi thẳng, bước dứt khoát và bồi dưỡng tính tổ chức

kỷ luật, tinh thần tập thể, tính tự giác cho trẻ

Nội dung tập luyện đội hình đội ngũ đối với trẻ em các lứa tuổi: Từ 18tháng tuổi trở lên, khi trẻ biết đi vững, bắt đầu cho trẻ tập luyện đội hình đội ngũ

+ Đối với trẻ em từ 18 - 36 tháng tuổi, có: Đội hình tự do; đội hìnhvòng cung; đội hình vòng tròn; quay về phía có vật chuẩn; đứng thành hàngdọc; quay phải, quay trái, quay đằng sau

+ Đối với trẻ em từ 3 - 4 tuổi, có: Đội hình vòng tròn; xếp hàng dọctheo tổ; từ hàng dọc chuyển thành hành ngang; từ hàng ngang chuyển thànhhàng dọc; quay phải, quay trái, quay đằng sau

+ Đối với trẻ em từ 4 - 5 tuổi, có: Xếp thành 1 - 2 vòng tròn; xếp thànhhàng dọc, hàng ngang; từ hàng dọc chuyển thành hàng ngang và ngược lại; từ

1 hàng dọc chuyển thành 2 hàng dọc và ngược lại

+ Đối với trẻ từ 5 - 6 tuổi, có: Xếp hàng dọc, hàng ngang theo tổ;chuyển 1 hàng dọc (ngang) thành 2 hàng dọc (ngang) và ngược lại, một vòngtròn thành hai vòng tròn và ngược lại

Trang 30

- Bài tập phát triển chung: Là một hệ thống động tác được chọn lọc có

tác dụng phát triển và củng cố những nhóm cơ bắp riêng biệt như cơ bả vai,

cơ tay, cơ lưng, cơ ngực

Bài tập phát triển chung có tác dụng củng cố và tăng cường sức khỏecho trẻ, nâng cao trạng thái hoat động của cơ thể, ảnh hưởng tích cực lên hệthần kinh, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, giúp cơ thể phát triển cân đối, hài hoà vềhình thái và chức năng bằng con đường củng cố các bắp cơ riêng biệt, củng

cố hệ xương, đặc biệt là sự hình thành đúng độ cong của cột sống, tạo nên tưthế đúng, điều hoà vận động có ý thức và chủ động

Nội dung tập luyện đội hình đội ngũ đối với trẻ em các lứa tuổi:

Trẻ em từ 3 - 12 tháng tuổi được chia thành các giai đoạn sau

+ Với trẻ em từ 3 - 6 tháng cần dạy trẻ những bài tập sau: Nằm ngửabắt chéo hai tay trước ngực; nằm ngửa tay co, tay duỗi; nằm ngửa co duỗi đềuhai chân; nằm ngửa chân co chân duỗi; đứng nhún nhảy (4 - 6 tháng); lẫy sấp(4 - 6 tháng); tập trườn (5 - 6 tháng)

+ Với trẻ em từ 6 - 9 tháng cần dạy trẻ những bài tập sau: Nằm ngửabắt chéo tay trước ngực; nằm ngửa co duỗi đều hai chân; nằm ngửa

chân co, chân duỗi; nằm ngửa nâng hai chân duỗi thẳng; trườn theo đồ chơi( 6 - 7 tháng); tập bò (7 - 9 tháng); tập ngồi (8 - 9 tháng); ngồi tay co, tay duỗi( 8 - 9 tháng); vịn đứng lên, ngồi xuống (8 - 9 tháng)

+ Với trẻ em từ 9 - 12 tháng cần tập những bài tập sau: Nằm ngửa bắtchéo hai tay trước ngực; nằm ngửa co duỗi đều hai chân; nằm ngửa nâng haichân duỗi thẳng; ngồi tay co, tay duỗi; ngồi đưa tay ra mọi phía; nằm ngửa,luân phiên đưa thẳng từng chân lên; chuyển tư ngồi xuống nằm (9 - 10 tháng);

bò theo đường thẳng; đứng vị và đi men; tập chững (10 - 12 tháng); tập đi (11

- 12 tháng)

Trẻ em từ 12 - 24 tháng tuổi được chia thành các giai đoạn sau

Ngày đăng: 05/04/2016, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Tạp chí " Vì trẻ thơ " ngày 8/1/1997 của nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì trẻ thơ
1. Đào Thanh Âm (2004), Giáo dục học mầm non, tập I, II, III, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
2. Hoàng Thị Bưởi (2009), Phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ mầm non, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Khác
3. Bộ GD & ĐT, Trường cao đẳng Sư phạm nhà trẻ - mẫu giáo (1999), Kỷ yếu hội thảo khoa học Khác
4. Bộ GD & ĐT (2008), chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, Quyết định số 02/2008/QĐ - BGDĐT ngày 22 - 1 - 2008, Hà Nội Khác
5. Bộ GD & ĐT, quyết định 55 quy định mục tiêu đào tạo của nhà trẻ, trường mẫu giáo Hà Nội Khác
6. Các nghị quyết của trung ương Đảng 2001 - 2004 Khác
7. Đặng Hồng Phương (2008), Giáo trình lý luận và phương pháp giáo dục thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non, Đại học sư phạm Khác
8. Đinh Văn Lâm - Đào Bá Trì (1999), giáo trình trò chơi vận động, NXB TDTT Khác
9. Hà Đình Lâm (1996), giáo trình trò chơi, NXBTDTT Hà Nội Khác
10. Phạm Vĩnh Thông (1996), Trò chơi vận động và trò chơi vui chơi giải trí Khác
12. Nguyễn Đức Văn (1987), phương pháp thống kê TDTT, NXB TDTD Hà Nội 13. Văn kiện Đại hôi Đảng toàn quốc lần thứ X, NXB chính trị quốc gia Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Tiến trình giảng dạy TCVĐ trong trường mầm non Phúc Thắng - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non phúc thắng   phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 3.3. Tiến trình giảng dạy TCVĐ trong trường mầm non Phúc Thắng (Trang 52)
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra của 2 nhóm sau thực nghiệm  (n A  = n B  = 20) - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức giáo dục thể chất cho trẻ mẫu giáo tại trường mầm non phúc thắng   phúc yên   vĩnh phúc
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra của 2 nhóm sau thực nghiệm (n A = n B = 20) (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w