1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng adhd trong lớp học hòa nhập mầm non

60 880 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những nghiên cứu về hội chứng ADHD Rối loạn tăng động, giảm chú ý ADHD dùng để mô tả những trẻ cóbiểu hiện kém chú ý, tăng hoạt động, xung động không phù hợp theo tuổi,những triệu chứng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGÔ THỊ THU TRANG

PHÁT TRIỂN CHÚ Ý CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM

NON

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

Th.S LÊ THỊ NGUYÊN

Trang 2

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo, Th.S Lê ThịNguyên - giảng viên khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm HàNội 2 - người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thựchiện và hoàn thành khóa luận

Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáotrong khoa Giáo dục Tiểu học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ,tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình học tập tại nhà trường Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, các thầy cô giáo ở trườngmầm non Sao Mai (Đông Anh, Hà Nội) đã tạo điều kiện cho tác giả điều tra,khảo sát các vấn đề thực tiễn có liên quan đến phạm vi nghiên cứu của đề tài

Hà Nội, tháng 5 năm 2014

Người thực hiện

Ngô Thị Thu Trang

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tác giả, nộidung khóa luận không trùng với bất cứ một công trình nghiên cứu nào

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADHD Attention Deficit Hyperactivity Disorder- rối loạn tăng

động giảm chú ý

ADD Attention Deficit Disorder -rối loạn giảm chú ý

APA Americann Psychological Association - Hội tâm lý học

Hoa Kỳ

CD Conduct Discoder- rối loạn hành vi

DSM Diagnostic anh statistical Manual of Mental Discorders -

Sổ tay chẩn đoán và phân loại bệnh tâm thần (của hội tâm thần học Hoa Kỳ)

GV Giáo viên

ICD International Statistical Classification of Diseases and

Related Health Problems - Hệ thống phân loại quốc tếcác bệnh và vấn đề sức khỏe liên quan (hiện nay dùng ICD-10)

NIMH National Institute of Mental Health - Viện sức khỏe Tâm

thần Quốc gia (Hoa Kỳ)TKT Trẻ khuyết tật

Trang 6

MỤC LỤC

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục Quốcdân, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ, là cơ sởcho quá trình học tập tiếp theo Mọi trẻ em đều có quyền cơ bản được giáodục, được tạo cơ hội để đạt và duy trì trình độ học ở mức có thể chấp nhậnđược Trẻ khuyết tật cũng vậy, bất kể ở mức độ nặng nhẹ như thế nào, mangkhiếm khuyết gì đều cần phải được học tập trong môi trường hạn chế nhất.Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ khuyết tật được phát triển tối đa khả năng làmục tiêu giáo dục quan trọng

Rối loạn tăng động giảm chú ý là một hiện tượng mang tính toàn cầu

Nó nảy sinh và tồn tại không phân biệt ranh giới, xã hội, văn hóa cũng nhưcác nhóm dân tộc Ở hầu hết trẻ em, các triệu chứng này xuất hiện từ trướctuổi lên 7 Các triệu chứng này ảnh hưởng đến khả năng của trẻ ở mức độ caotại ít nhất hai môi trường xã hội, đặc biệt là ở nhà và trường học Theo sổ tayChẩn đoán thống kê những rối nhiễu tâm thần xuất bản lần IV (DSM- IV)khoảng 3-7% trẻ em ở độ tuổi đến trường bị ảnh hưởng bởi rối loạn này Hiện nay, trẻ mắc hội chứng ADHD ngày càng phổ biến Tuy nhiên, cácbậc phụ huynh thường chỉ quan tâm tới trẻ bị đau ốm, bị bệnh thực thể (ho,sốt, viêm đau, nhiễm trùng, chấn thương…) bởi đó là những bệnh có thể nhìnthấy và nếu không khám chữa ngay thì sẽ gây nguy hiểm cho trẻ Họ ít quantâm tới những biểu hiện của hội chứng tăng động giảm chú ý và không biếtrằng đó là một căn bệnh nguy hiểm, có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển củatrẻ Những trẻ mắc ADHD không thể tập trung lâu vào các hoạt động họctập cũng như vui chơi, không thể ngồi yên, hành động thiếu suy nghĩ, vàhiếm khi hoàn thành được một nhiệm vụ nào đó Nếu không được điều trị,

Trang 8

rối loạn có thể ảnh hưởng lâu dài đến khả năng học tập, kết bạn và nhữngcông việc của trẻ Chính vì vậy, cần phải phát hiện sớm và đưa ra nhữngbiện pháp can thiệp, hỗ trợ để trẻ giúp những trẻ ADHD có thể có cuộc sốngbình thường như những đứa trẻ khác là một vấn đề rất cần thiết.

Các phương thức giáo dục trẻ khuyết tật hiện nay bao gồm: giáo dục hoànhập, giáo dục bán hoà nhập và giáo dục chuyên biệt Trong đó, phương thứcgiáo dục hòa nhập là dựa trên quan điểm tích cực, đánh giá đúng trẻ khuyếttật và các em được nhìn nhận như mọi trẻ em khác Trẻ khuyết tật sẽ đượchọc cùng một chương trình, cùng lớp, cùng trường với trẻ bình thường Vànhư mọi trẻ khác, trẻ khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục

Trên thực tế, công tác giáo dục hòa nhập đã được nhà nước quan tâmnhưng do cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xãhội trong việc giáo dục trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Một số cha mẹ trẻkhuyết tật cũng đặc biệt là trẻ ADHD chưa tin tưởng vào chất lượng giáo dụchòa nhập nên không gửi con đến trường Một số phụ huynh khác không chấpnhận khi nghe cô giáo nói con mình có triệu chứng ADHD Họ cho rằng, cô cóđịnh kiến với con họ, ghét bỏ con họ và lập tức cho con nghỉ học hoặc chuyểntrường… Việc phát hiện ra trẻ có triệu chứng ADHD không phải là một việcquá khó khăn đối với các cô giáo ở trường mầm non, bởi họ là người trực tiếpchăm sóc, dạy dỗ trẻ Tuy nhiên việc đánh giá mức độ hiếu động - kém chú ý

và nhất là việc đưa ra những biện pháp can thiệp là một điều không đơn giản.Với những trường học có trẻ ADHD, GV cần phải được đào tạo hay tập huấn

về tâm lý của các trẻ này để có biện pháp ứng xử và dạy dỗ đúng cách

Từ những yêu cầu của xã hội ngày càng lớn và những lí do kể trên là

căn cứ để người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Phát triển chú ý cho trẻ mắc

hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non”.

Trang 9

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHDtrong lớp học hòa nhập mầm non, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả giáo dụccho trẻ ADHD ở các trường mầm non hòa nhập

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển chú ý cho trẻ mắc hộichứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non

- Đề xuất các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng ADHDtrong lớp học hòa nhập mầm non

- Minh họa một số biện pháp phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứngADHD trong lớp học hòa nhập mầm non

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến chú ýcủa trẻ mắc hội chứng ADHD lứa tuổi 3-6 tuổi trong lớp học hòa nhập mầmnon

- Khách thể nghiên cứu: trẻ mắc hội chứng ADHD trong các hoạt độnghọc tập, vui chơi, sinh hoạt…ở trường, lớp hòa nhập mầm non

5 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài giới hạn nghiên cứu trẻ ADHD lứa tuổi từ 3- 6 tuổi, địa bàn nghiêncứu: trường mầm non Sao Mai (Đông Anh - Hà Nội) và một số trung tâm:Khánh Tâm, Nắng Mai (Hà Nội)

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

Trang 10

7 Giả thuyết khoa học

Nếu các biện pháp phát triển chú ý cho trẻ ADHD được sử dụng và phốihợp một cách hệ thống, thường xuyên và linh hoạt phù hợp với các dạng hoạtđộng ở trường mầm non hòa nhập thì sẽ giúp trẻ cải thiện, nâng cao khả năngtập trung, chú ý

Trang 11

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN CHÚ Ý CHO TRẺ MẮC HỘI CHỨNG ADHD

TRONG LỚP HỌC HÒA NHẬP MẦM NON

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về hội chứng ADHD

Rối loạn tăng động, giảm chú ý (ADHD) dùng để mô tả những trẻ cóbiểu hiện kém chú ý, tăng hoạt động, xung động không phù hợp theo tuổi,những triệu chứng này đủ để gây ra suy kém các hoạt động chủ yếu trong đờisống hằng ngày Thuật ngữ ADHD có thể mới có nhưng mô tả về những trẻ

có các hành vi hoạt động quá mức, không biết kềm chế đã có từ lâu

Trong văn học, đã có những mô tả về một số người có vấn đề nghiêmtrọng về chú ý, tăng động, và suy yếu kiềm chế xung động Đại văn hàoShakespeare (Anh) đã mô tả về sự suy giảm chú ý như là một trong nhữngđặc điểm của vua Henry VIII Năm 1845, Herinich Hoffman, một bác sĩngười Đức đã mô tả về một cậu bé tăng động giảm chú ý trong bài thơ của

mình có tên “Bé Phil hay cựa quậy”

Năm 1902, bác sĩ nhi khoa người Anh Goerge F.Still đã mô tả rõ ràngmột nhóm trẻ có vấn đề nghiêm trọng về hành vi đạo đức, không thể tập trung

và gặp khó khăn trong học tập ở bài thuyết trình của mình trước Viện Hànlâm Y khoa Hoàng gia Ông cho rằng nhóm trẻ đó có sự thiếu hụt khả năngkiểm soát hành vi Tuy nhiên, phát hiện này của ông hầu như rất ít được quantâm (Mash EJ & Barkley, 1996)

Một cách nhìn nhận khác về ADHD và cơ chế gây ra nó cũng bắt đầuxuất hiện ở Bắc Mỹ xung quanh thời điểm dịch viêm não lớn vào năm 1917-

1918 Kết quả của trận đại dịch gây ra là những vấn đề liên quan đến hành vi

Trang 12

ở trẻ như sự tăng động, dễ kích thích, mất tập trung chú ý Những trẻ này vànhững trẻ bị chấn thương khi sinh, chấn thương đầu hoặc tiếp xúc với độcchất cũng biểu hiện các vấn đề về hành vi được gọi là “hội chứng trẻ em bịtổn thương não”, thường có kèm theo chậm phát triển tâm thần Trong nhữngnăm 1940 đến 1950, thuật ngữ này cũng được sử dụng cho những trẻ có biểuhiện các hành vi tương tự nhưng không có bằng chứng tổn thương não hoặcchậm phát triển tâm thần và được gọi với tên: “tổn thương não tối thiểu”(Minimal brain damage) hay “rối loạn chức năng não tối thiểu” (Minimalbrain dysfunction) Những thuật ngữ này làm cho mọi người quy kết một cách

dễ dàng rằng nguyên nhân của những vấn đề về hành vi là do nguyên nhânthực thể (Schacar, 1986) Mặc dù một vài trường hợp ADHD có thể giải thíchbởi các chấn thương não nhưng các giả thuyết cuối cùng bị từ chối vì nó chỉgiải thích được một số ít các trường hợp (Rie, 1980)

Những năm 50 của thế kỉ XX, nhiều tác giả lại quan tâm đến những hành

vi đặc trưng của tăng động và xung động, được gọi là rối loạn tăng động xung động, và quy cho là do sự suy yếu bộ lọc của đồi não đối với những kích thích

quá mức của vỏ não Đến năm 1969, DSM-II đã miêu tả tất cả rối loạn thời thơ

ấu như là “những phản ứng” và hội chứng tăng động giảm chú ý ở trẻ em được

gọi với cái tên “phản ứng tăng động thời thơ ấu”.

Cho đến những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà nghiên cứu lại nhấnmạnh tầm quan trọng của vấn đề duy trì chú ý và kiểm soát xung động(Douglas, 1972) Những quan điểm của Douglas ảnh hưởng lớn đến nhiều

nghiên cứu về chú ý sau này, dẫn đến việc đổi tên gọi từ phản ứng tăng động thời thơ ấu trong DSM-II thành rối loạn suy giảm chú ý (ADD) trong DSM-

III (APA, 1980) Theo DSM-III, ADD được chia làm hai thể: thể có tăngđộng và thể không tăng động (Mash EJ & Barkley, 1996)

Tuy nhiên, chỉ một vài năm sau khi khái niệm ADD ra đời, các nghiêncứu lại cho thấy rằng tăng hoạt động và xung động là những đặc trưng rất

Trang 13

quan trọng để phân biệt những rối loạn này với rối loạn khác và để dự đoán sự

phát triển sau này Sau đó, rối loạn được đổi tên thành rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) trong DSM-III-R (APA, 1987)

Đến DSM-IV, tên gọi ADHD vẫn giữ nguyên nhưng cách phân loại cácthể ADHD đã tách tăng động và giảm chú ý ra thành: thể tăng động chiếm ưuthế, thể giảm chú ý chiếm ưu thế và thể kết hợp cả tăng động và giảm chú ý [9]

1.1.2 Nghiên cứu về việc phát triển chú ý của trẻ ADHD

Nền kinh tế - xã hội ở các nước Bắc Mỹ và Châu Âu rất phát triển cùngvới đó là sự phát triển cao của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần Tuynhiên các nghiên cứu mới về ADHD ở các nước tiên tiến này chủ yếu tậptrung vào vấn đề so sánh hiệu quả giữa các cách can thiệp khác nhau: dùngthuốc, điều trị tâm lý, chăm sóc cộng đồng Các nghiên cứu về điều trị ADHDgần đây của Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia, Hội Tâm thần học Hoa Kỳ,Học viện nhi khoa Hoa Kỳ chủ yếu nhằm so sánh hiệu quả giữa các phươngthức khác nhau Các phương thức bao gồm: dùng thuốc đơn thuần, trị liệu tâm

lý (chủ yếu là cách tiếp cận hành vi), kết hợp dùng thuốc và điều trị tâm lý,còn lại là chăm sóc cộng đồng

Mặc dù can thiệp tâm lý được các chuyên gia, gia đình và nhà trườngđánh giá cao nhưng nó ít được chứng minh bằng tài liệu về hiệu quả điều trịADHD

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về ADHD chủ yếu dừng lại ở mức độthống kê, mô tả như đã đề cập ở trên Có thể kể đến các công trình nghiên cứu

khoa học như: “Tìm hiểu ảnh hưởng của hội chứng tăng động giảm chú ý đối với học tập ở trẻ em tiểu học” (Đặng Hoàng Minh, Hoàng Cẩm Tú, 2001);

“Bước đầu thích nghi hóa các thang đánh giá những hành vi kém thích nghi của Conner trên học sinh tiểu học và trung học cơ sở” (Nguyễn Công Khanh, 2002); “Đặc điểm tâm lý tâm sàng của học sinh tiểu học có rối loạn tăng

Trang 14

động giảm chú ý” (Nguyễn Thị Vân Thanh, 2010); đề tài “Thử ứng dụng một vài liệu pháp tâm lý trong trị liệu tăng động giảm chú ý ở học sinh trung học

cơ sở ở Hà Nội” (Nguyễn Thị Hồng Nga, 2003)… Ngoài ra còn có một số bài

viết chuyên ngành, các khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tâm lý học Lâmsàng của khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa Học xã hội và Nhân văn;Tâm lý giáo dục, Giáo dục đặc biệt thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội cũng đềcập đến rối loạn tăng động giảm chú ý Các nghiên cứu cho thấy, các triệuchứng ADHD xuất hiện ở trẻ em từ 3 đến 6 tuổi Vì vậy, phát hiện và canthiệp sớm cho trẻ ADHD ngay từ lứa tuổi mầm non là rất quan trọng, bởi nóảnh hưởng lâu dài đến sự phát triển và hòa nhập của trẻ ở các lứa tuổi sau này.Trẻ ADHD do thiếu tập trung, chú ý, tăng động - bồng bột nên trẻ gặprất nhiều khó khăn trong học tập, giao tiếp và quan hệ xã hội Đã có nhiềucông trình nghiên cứu nhằm can thiệp và hỗ trợ cho trẻ ADHD Tuy nhiên,những nghiên cứu này chủ yếu theo hướng tiếp cận can thiệp cá nhân Trongkhi đó, thực tiễn giáo dục cho thấy, giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật nóichung và trẻ ADHD nói riêng là một tất yếu nhằm giúp trẻ có thể phát triển vàhòa nhập vào cộng đồng (theo mục tiêu của UNESCO) Do vậy, việc nghiêncứu hỗ trợ trẻ ADHD ở trường mầm non hòa nhập là một việc rất cần thiết.Đây cũng chính là lí do để người nghiên cứu lựa chọn đề tài: Phát triển chú ýcho trẻ mắc hội chứng ADHD trong lớp học hòa nhập mầm non

1.2 Hội chứng tăng động giảm chú ý ADHD ở trẻ em

1.2.1 Khái niệm và phân loại

Hội chứng tăng động giảm chú ý ADHD

Theo DSM-IV: ADHD là một mẫu hành vi khó kiểm soát, biểu hiện dai dẳng của sự kém tập trung chú ý và tăng cường hoạt động một cách thái quá, khác biệt hẳn với mẫu hành vi của những trẻ bình thường khác cùng tuổi phát triển [2]

Trang 15

Theo ICD-10, rối loạn tăng động giảm chú ý có đặc điểm: dấu hiệu khởi phát sớm, sự kết hợp của một hành vi hoạt động quá mức, kém kiểm tra với thiếu chú ý rõ rệt và thiếu kiên trì trong công việc; và những đặc điểm hành

vi lan tỏa trong một số lớn hoàn cảnh và kéo dài theo thời gian.

ADHD - Hội chứng tăng động giảm tập trung chú ý - là một dạng rốiloạn gây ra những khó khăn vĩnh viễn biểu hiện ở một hoặc nhiều hành vi

sau: a) Thiếu chú ý, b) Quá hiếu động, c) Hấp tấp [7]

- Thiếu chú ý: khó khăn trong việc tập trung vào các chi tiết hay tham gia vàocác công việc cụ thể; khó duy trì thời gian tham gia công việc, hay sai sót; có

vẻ mơ màng, thờ thẫn, hay quên, không chú ý khi người khác nói với mình

và hiếm khi hoàn thành nhiệm vụ

- Quá hiếu động: khó kiềm chế các hành vi: cơ thể luôn vận động khôngngừng; khó khăn khi chơi hoặc khó tham gia một cách bình tĩnh vào các hoạtđộng giải trí; nói quá nhiều, gây ồn ào cho các hoạt động cần im lặng

- Hấp tấp: khó kiềm chế phản ứng, không kiên nhẫn, trả lời trước khi ngườikhác hỏi hết câu hỏi; ngắt lời hoặc nói leo theo; đi linh tinh vào những chỗkhông được phép

ADHD là một trong những rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặcđiểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suygiảm khả năng chú ý Căn bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả nănghọc tập và gây khó khăn trong quan hệ với mọi người [10]

Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm về ADHD của một số tác giả, người

nghiên cứu nhìn nhận: Rối loạn tăng động giảm chú ý là một trong những rối loạn phát triển thường gặp ở trẻ em, đặc điểm chung của ADHD là những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý thường xuất hiện trước 7 tuổi

ADHD là dạng rối nhiễu xuất hiện ở trẻ em tại tất cả các quốc gia trênthế giới với các nền văn hóa khác nhau.Theo Trung tâm kiểm soát dịch bệnh,

số bé trai có khả năng bị chẩn đoán mắc ADHD hơn bé nhưng các chuyên gia

Trang 16

không chắc chắn vì nếu điều đó Có nghĩa là nhiều bé trai thực sự có tìnhtrạng ADHD, hoặc nếu chúng chỉ là nhiều khả năng có dạng ADHD mà theokết quả thống kê của hành vi nghịch phá [8]

ADHD ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng học tập và quan hệ giaotiếp với mọi người Theo DSM-IV, hiện nay hội chứng ADHD không chỉ tổntại với 3 biểu hiện chính như trên mà người ta còn xem xét ADHD đi kèm vớicác biểu hiện khác như:

- Kém chịu đựng sự thất bại

- Thường xuyên bùng phát các cơn cáu giận

- Cư xử thiếu tôn trọng

- Có vấn đề khi giao tiếp với mọi người xung quanh

- Có hành vi chống đối

- Lo âu, trầm cảm

- Có tính khí bộc phát…

Các nghiên cứu cho thấy một tỉ lệ không nhỏ trẻ ADHD được chuẩn

đoán kèm với rối loạn tính cách (Mood Disorders), rối loạn chống đối (Oppositional Defiant Disorders), rối loạn lo âu (Anxiety Disorders).

Các thuật ngữ có liên quan

ADHD - Rối loạn tăng động giảm chú ý (trước đây gọi là ADD) mộtdạng rối nhiễu phát triển thường gặp ở trẻ em Đặc điểm chung của ADHD lànhững hành vi hiếu động quá mức đi kèm theo sự suy giảm khả năng chú ý.Nếu không được điều trị, có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả nănghọc tập và khó khăn trong quan hệ với mọi người

Cho đến nay, vẫn còn nhiều ý kiến liên quan đến các thuật ngữ hay định

nghĩa về ADHD Những định nghĩa được đưa ra hầu hết là các định nghĩa mang tính mô tả về những triệu chứng điển hình của hội chứng ADHD

Trang 17

Phân loại của DSM-IV sử dụng thuật ngữ ADHD (Attention- Deficit/Hyperactivity Disorder), trong đó chia thành 3 dạng:

 Dạng giảm tập trung ADD (Attention Deficit Disorder)

 Dạng tăng động- hấp tấp

 Dạng kết hợp (tăng động - hấp tấp, thiếu tập trung chú ý)

Ngoài ra, trường hợp những người có triệu chứng giống như ADHDnhưng không đủ các tiêu chí để chuẩn đoán là ADHD theo ba dạng trên đượcgọi là “ADHD không điển hình” (ADHD not Otherwise Specified)

Về ý nghĩa, thuật ngữ ADHD dùng để mô tả cho rối loạn tăng động giảm tập trung Thuật ngữ ADD để mô tả cho rối loạn giảm tập trung Một

người có khả năng mắc ADD mà không hề tăng động, nói cách khác người đó

có thể được chuẩn đoán là ADHD hay ADD dựa vào việc người đó có tăng động hay không Do đó, để điều chỉnh cho khả năng một người mắc rối loạn chú ý có hay không tăng động, hội chứng này được viết là AD(H)D -

Attention-Deficit (Hyperactivity) Disorder hoặc AD/HD - Attention-Deficit/Hyperactivity Disorder)

Thuật ngữ của ICD: những trẻ có triệu chứng của hội chứng này đượcgọi “Rối nhiễu Hyperkinetic” (Hyperkinetic Disorder), trong đó chia thành:

 Dạng rối nhiễu hoạt động & tập trung (Disturbance of Activity andAttention)

 Các rối nhiễu Hyperkinetic khác (Other Hyperkinetic Disorder)

 Rối nhiễu Hyperkinetic không điển hình (Hyperkinetic Disorder,Unspecifeid)

Thuật ngữ ADS (Attention-deficit syndrome) nghĩa là “Hội chứng giảm tập trung” Thuật ngữ ADS tương đương với thuật ngữ ADHD song được

đưa ra với là do một số nhà chuyên môn không muốn gọi hội chứng này là

một “Rối nhiễu” (Disorder).

Trang 18

Thuật ngữ MCD (Minimal Cerebral Dysfunction) nghĩa là “Giảm chứcnăng não bộ tối thiểu” Thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi ở Mỹ.

Thuật ngữ DAMP (Deficits in Attention, Motor control and Perception)

nghĩa là “Suy giảm khả năng tập trung, kiểm soát vận động & tri giác” Thuật

ngữ này thường được sử dụng ở Đan Mạch & Thụy Điển để chỉ những trẻ

mang ADHD kèm dyspraxia (chứng rối loạn phối hợp động tác)

Hội chứng tăng động giảm chú ý ở lứa tuổi mầm non

Trẻ em bị ADHD ít chú ý, hiếu động hay bốc đồng, và nhiều trẻ có thểkết hợp cả những hành vi này

Khi tham gia môi trường hòa nhập, trẻ ADHD hay bị xem là những kẻphá rối trong các hoạt động ở lớp học Trong khi tất cả trẻ nhỏ có thể bốcđồng, hiếu động hoặc không chú ý ở một giai đoạn, thì ở những trẻ em ADHDcác hành vi này xảy ra thường xuyên và liên tục [4]

Như vậy trên cơ sở tổng hợp khái niệm về trẻ ADHD của một số tác giả,

người nghiên cứu nhìn nhận: Trẻ ADHD là trẻ có những hành vi hiếu động quá mức đi kèm sự suy giảm khả năng chú ý.

1.2.2 Chuẩn đoán ADHD ở trẻ em

Thứ nhất: chẩn đoán ADHD theo DSM - IV

Việc chuẩn đoán ADHD căn cứ theo các tiêu chí phân loại của DSM-IV,bao gồm 5 tiêu chí (A-E) Đây cũng là những biểu hiện/đặc trưng của trẻ mắc hộichứng ADHD xét trong môi trường chủ yếu là ở lớp học/trường hoặc gia đình

A Mắc phải một trong hai triệu chứng (A1) hoặc (A2) sau:

(A1): Có ít nhất 6 triệu chứng giảm tập trung - chú ý, kéo dài trong thời giantối thiểu là 6 tháng, ở mức độ không thích nghi và không phù hợp/mẫu thuẫnvới mức phát triển

- Thường khó tập trung vào các chi tiết hoặc thường mắc lỗi do cẩu thả khi làmbài ở trường, ở nơi làm việc hay trong các hoạt động khác

Trang 19

- Thường khó duy trì sự tập trung vào nhiệm vụ hoặc hoạt động giải trí.

- Thường có vẻ không chăm chú vào những điều người đối thoại đang nói

- Thường không theo dõi các hướng dẫn và không làm hết bài tập ở trường,các việc vặt và những nhiệm vụ khác ở nơi làm việc (không phải hành vichống đối hay không hiểu được lời hướng dẫn)

- Thường khó tổ chức các nhiệm vụ và hoạt động

- Thường tránh né, không thích hoặc miễn cưỡng tham gia các hoạt động đòi hỏiphải duy trì nỗ lực trí tuệ (ví dụ như học bài ở trường hoặc bài tập về nhà)

- Thường quên những thứ quan trọng cho nhiệm vụ hoặc hoạt động (ví dụ như:

đồ chơi, quần áo, giày, dép, ba lô…)

- Thường dễ bị sao lãng bởi kích thích bên ngoài

- Thường đãng trí trong các hoạt động hằng ngày

(A2): Có ít nhất 6 triệu chứng tăng động - bồng bột, kéo dài trong thời giantối thiểu là 6 tháng, ở mức độ không thích nghi và không phù hợp/mẫu thuẫnvới mức phát triển

Quá hiếu động:

- Thường hay cựa quậy chân tay hoặc cả người khi ngồi

- Thường rời khỏi ghế trong lớp học hoặc trong những trường hợp cần ngồi cốđịnh

- Thường chạy hoặc leo chèo quá mức trong những tình huống không phù hợp

- Thường khó khăn khi chơi hoặc tham gia một cách yên tĩnh vào các hoạtđộng giải trí

- Thường “luôn tay luôn chân” hoặc thường hành động như thể “được gắnđộng cơ”

- Thường nói quá nhiều

Bồng bột - hấp tấp:

- Thường đưa ra câu trả lời trước khi người hỏi đặt xong câu hỏi

- Thường khó chờ đợi đến lượt mình

- Thường cắt ngang hoặc nói leo người khác (ví dụ như chen vào cuộc tròchuyện hay thứ tự chơi trò chơi)

B Một vài triệu chứng quá hiếu động - hấp tấp hoặc giảm tập trung gây ra sựkém khả năng xuất hiện trước 7 tuổi

Trang 20

C Có một dạng khuyết tật nào đó từ những triệu chứng này bộc lộ trong haimôi trường hoặc hơn (như ở trường/ở nơi làm việc và ở nhà).

D Phải có bằng chứng lâm sàng rõ ràng về sự suy yếu đáng kể trong các chứcnăng xã hội, học tập và nghề nghiệp

E Những triệu chứng không xuất hiện riêng biệt trong các loại rối loạn pháttriển diện rộng, bệnh loạn tinh thần, hoặc rối loạn tinh thần khác và không thểxếp vào một dạng rối loạn trí tuệ nào (như rối loạn tâm trạng, rối loạn lo lắng,rối loạn không giao tiếp hay rối loạn nhân cách)

Diễn giải các dạng ADHD theo kết quả chuẩn đoán:

- Nếu cả triệu chứng (A1) và (A2) đều có trong 6 tháng qua: Rối loạn tăngđộng giảm chú ý dạng kết hợp

- Nếu có triệu chứng (A1) nhưng có triệu chứng (A2) trong 6 tháng qua: Rốiloạn tăng động giảm chú ý dạng ADD

- Nếu có triệu chứng (A2) nhưng không có (A1) trong 6 tháng qua: Rối loạntăng động giảm chú ý dạng tăng động - hấp tấp

Thứ hai: chẩn đoán ADHD theo ICD - 10

Theo tổ chức y tế thế giới (1990), mặc dù ICD-10 không đưa ra các tiêuchí cụ thể để chẩn đoán ADHD và các dạng của chúng, song ICD-10 đã đưa

ra mã bệnh ADHD-F90 và đề cập đến các nguyên tắc chẩn đoán Quán triệtnhững nguyên tắc này đảm bảo việc chẩn đoán chính xác, nội dung cácnguyên tắc bao gồm:

- Các nét đặc trưng về sự chú ý và tăng hoạt động đều là tiêu chuẩn cần thiếtcho chẩn đoán và được thể hiện rõ trong những hoàn cảnh khác nhau (ở nhà,

Trang 21

- Các triệu chứng kết hợp không đủ hoặc không cần thiết để chẩn đoán, nhưng

có thể giúp cho chẩn đoán: Thiếu kiềm chế trong mối quan hệ xã hội, sự dạidột trong những hoàn cảnh nguy hiểm, sự coi thường các quy tắc xã hội mộtcách tự phát, ngẫu hứng (can thiệp hay làm gián đoạn công việc của ngườikhác, vội vã đưa ra câu trả lời trước khi trẻ hiểu đầy đủ câu hỏi hoặc khôngyên tâm chờ đợi đến lượt mình) đều là những nét đặc trưng của trẻ em có rốinhiễu ADHD

- Những khó khăn trong học tập và sự vụng về trong vận động không đượcxem là một thành phần của chẩn đoán hiện tại về rối loạn tăng động

- Rối loạn ADHD thường khởi phát sớm và tồn tại lâu dài Tuy nhiên, để cóthể chẩn đoán quyết định có hay không có ADHD thì thường phải ở thời điểmkhi trẻ đến trường

Như vậy, từ các nguyên tắc chẩn đoán ADHD của ICD-10 cho thấy:

- Các tiêu chí để chẩn đoán ADHD gồm các dấu hiệu (triệu chứng) đặc trưng

và dấu hiệu kết hợp Các dấu hiệu kết hợp sẽ là số liệu bổ sung để chẩn đoánđạt kết quả chính xác

- Tiêu chí đánh giá ADHD phải dựa vào chuẩn mực, đặc điểm lứa tuổi tươngứng về mặt tâm sinh lí lẫn kĩ năng thích ứng, giao tiếp xã hội

- Các triệu chứng, dấu hiệu để kết luận về rối nhiễu ADHD phải được xuấthiện như nhau trong hành vi của trẻ ở mọi lúc, mọi nơi

- Cần phải có sự chẩn đoán phân biệt giữa ADHD với các rối nhiễu hành vikhác có những triệu chứng chung giống nhau

Thứ ba: chẩn đoán ADHD theo thang lượng giá của C Keith Conner

C.Keith Conner, một trong những nhà tâm lí học lâm sàng nổi tiếng nhấttrong lĩnh vực rối nhiễu hành vi với 30 năm nghiên cứu về ADHD và các rốinhiễu hành vi khác, năm 1989, lần đầu tiên ông công bố thang đánh giá hành

vi kém thích nghi “Conner’s Test” (Bộ trắc nghiệm Conners Rating Scales CRS) Thang CRS được xây dựng từ số liệu nghiên cứu trên các mẫu hành vi

Trang 22

-kém thích nghi của trẻ bình thường và trẻ có vấn đề về hành vi điều trị ngoạitrú tại các cơ sở y tế Ban đầu, bộ trắc nghiệm CRS được sử dụng để phát hiệntrẻ ADHD, nhưng sau nhiều lần bổ sung, hoàn thiện, nó được phát triển thànhcông cụ phát hiện, chẩn đoán rối nhiễu ADHD và các rối nhiễu hành vi kémthích nghi khác có liên quan Năm 1997, C.K.Conner đã sửa chữa bổ sungthêm hàng loạt đề mục và chuẩn hóa lại bộ trắc nghiệm này Bộ trắc nghiệmđược chỉnh sửa mới gọi tắt là CRS-R (Conners Rating Scales - Revised) baogồm các thang đo:

 Thang đo Conners’ Parent Rating Scale - Revised (CPRS-R): Thang đoConner dành cho cha mẹ - Bảng sửa đổi (phiên bản đầy đủ và phiên bản rútgọn)

 Thang đo Conners’ Teacher Rating Scale - Revised (CTRS-R): Thang đoConner dành cho giáo viên - Bảng sửa đổi (phiên bản đầy đủ và phiên bản rútgọn)

 Thang đo Conners’ - Wells’Adolescent Self-Report - Revised (CASS-R):Thang đo Conner dành cho vị thành niên tự đánh giá - Bảng sửa đổi

Thang CRS-R bao gồm các tiểu thang liên kết trực tiếp với DSM-IV vànhấn mạnh đến đánh giá đa phương thức (thang dành cho cha mẹ và giáoviên), do đó CRS-R liên quan trực tiếp đến đánh giá lâm sàng và chẩn đoán.Theo Barkley (1990), phiên bản CRS-R thực sự chứa đựng các tiêu chí cơ bản

và quy chuẩn Đặc biệt, thang chỉ số ADHD liệt kê các đề mục tốt nhất đểphân biệt trẻ em ADHD với trẻ bình thường

Bảng liệt kê này giúp kiểm soát trẻ em và trẻ vị thành niên có nguy cơmắc ADHD Thang CRS-R hoàn toàn thích hợp trong quản lí, chăm sóc, theodõi, điều trị, giáo dục và đánh giá hiệu quả quá trình điều trị và giáo dục Đặcbiệt các thang rút gọn rất hữu ích trong việc theo dõi thường xuyên tình trạngcủa trẻ ADHD

Trang 23

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, đứng ở góc độ là một giáo viênmầm non, người nghiên cứu chỉ trình bày thang đánh giá ADHD dạng rút gọndành cho giáo viên (CTRS-R: S) (chi tiết xem phụ lục 2)

- Chống đối gồm 5 đề mục: 2, 6, 10, 15, 20 Những trẻ có điểm cao ởthang này có biểu hiện rối loạn cư xử thể chống đối đáp ứng với các tiêuchuẩn chẩn đoán của DSM-IV rối loạn chống đối

- Thiếu hụt chú ý gồm 5 đề mục: 4, 8, 13, 18, 22 Những trẻ có điểm cao

ở thang này có biểu hiện thiếu hụt chú ý đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩnđoán của DSM-IV về tăng động giảm chú ý thể thiếu hụt chú ý chiếm ưu thế

- Tăng động, xung động gồm 7 đề mục: 3, 7, 11, 17, 21, 24, 27 Nhữngtrẻ có điểm cao ở thang này có biểu hiện tăng động, xung động đáp ứng vớicác tiêu chuẩn chẩn đoán cúa DSM-IV về tăng động giảm chú ý thể tăng độngchiếm ưu thế

- Hỗn hợp tăng động giảm chú ý gồm 12 đề mục: 1, 5, 9, 12, 14, 16, 19,

23, 25, 26, 27, 28 Những trẻ có điểm cao ở thang này có biểu hiện tăng độnggiảm chú ý đáp ứng với các tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-IV về tăng độnggiảm chú ý thể hỗn hợp, tăng động giảm chú ý cùng chiếm ưu thế

Thứ tư: Chẩn đoán phân biệt

Hầu hết các bậc cha mẹ đều quan sát thấy những vận động quá mức củatrẻ lần đầu tiên khi trẻ mới biết đi, trùng hợp với thời điểm phát triển khảnăng vận động độc lập Tuy nhiên, vì có rất nhiều trẻ nhỏ tăng vận độngkhông phát triển tình trạng ADHD về sau, nên việc chẩn đoán ADHD phải hếtsức thận trọng vào những năm đầu đời

Ở trẻ nhỏ, có thể khó phân biệt các triệu chứng của ADHD với nhữnghành vi bình thường của những trẻ nhỏ tăng động (như chạy nhảy, làm ồn ).Tuy vậy, khả năng chú ý của những trẻ nhỏ cũng có thể được đánh giá (ví dụtrẻ khoảng 2-3 tuổi đã có thể cùng ngồi với người lớn và xem một quyển sách

Trang 24

hình Ngược lại, trẻ nhỏ có tình trạng ADHD thường không chú ý được hoặcchúng tăng động quá mức và khó có thể kiềm chế).

Việc chẩn đoán đặc biệt khó thực hiện ở trẻ nhỏ dưới 4-5 tuổi, bởi vìhành vi đặc trưng của chúng thay đổi nhiều hơn so với trẻ lớn và có thể gồmnhững nét tương tự như các triệu chứng của ADHD Hơn nữa, triệu chứnggiảm chú ý ở trẻ chưa đến tuổi đi học thường ít được quan sát thấy, bởi nhữngtrẻ nhỏ ở tuổi này thường không được đòi hỏi phải chú ý nhiều

Các triệu chứng giảm chú ý cũng thường gặp ở những trẻ chậm pháttriển trí tuệ được bố trí học trong những môi trường học tập không phù hợpvới khả năng của trẻ Những hành vi này phải được phân biệt với các dấu hiệutương tự của trẻ bị ADHD Ở trẻ chậm phát triển trí tuệ, một chẩn đoánADHD chỉ nên tiến hành khi tình trạng giảm chú ý hoặc tăng động trở nênquá mức đối với tuổi khôn (Mental Age) của trẻ

Giảm chú ý cũng có thể xảy ra ở một trẻ rất thông minh được bố trí trongmột môi trường học tập “dưới ngưỡng” (Understimulating Environment)

ADHD cũng phải được phân biệt với sự khó khăn trong việc định hướngmục đích cho hành vi của những trẻ sống trong môi trường thiếu thốn, hỗnđộn và vô tổ chức

Những trẻ có hành vi chống đối có thể từ chối những công việc và bàihọc ở trường đòi hỏi sự vận dụng sáng tạo, bởi những trẻ này thiếu khả năngđáp ứng các yêu cầu của người khác Những triệu chứng này cũng phải phânbiệt với sự tránh né công việc học tập ở trường, một điều thường gặp ở trẻ bịADHD Sự phức tạp trong chẩn đoán phân biệt là trẻ bị ADHD có thể phátsinh một thái độ chống đối thứ phát đối với những công việc như thế

Không chẩn đoán là ADHD nếu các triệu chứng được giải thích bởi mộtrối loạn tâm thần khác (rối loạn khí sắc, rối loạn lo âu, rối loạn phân li, rối

Trang 25

loạn nhân cách) Nếu rối loạn khí sắc hoặc lo âu cùng xảy ra đồng thời vớiADHD, từng tình trạng nên được chẩn đoán riêng.

ADHD không được chẩn đoán khi các triệu chứng tăng động và giảmchú ý xảy ra trong thời gian diễn tiến của một rối loạn phát triển lan tỏa(Pervasive Developmental Disorder) hoặc một tình trạng loạn tâm khác

Các triệu chứng giảm chú ý, tăng động, xung động có thể liên quan đếnviệc sử dụng một số dược chất (thuốc giãn phế quản, isoniazide, akathisia lấy

từ các neuroleptics) ở những trẻ dưới 7 tuổi không được chẩn đoán là ADHD,thay vào đó nên chẩn đoán là các rối loạn liên quan hóa chất không đặc hiệu(Other Substance-Related Disorders Not Otherwise Specified) [1]

1.2.3 Nguyên nhân và những giải thích về cơ chế gây ADHD

Các nhà khoa học vẫn chưa biết chắc chắn nguyên nhân nào dẫn đếnbệnh tăng động giảm chú ý (ADHD), mặc dù có nhiều nghiên cứu cho thấygen đóng một vai trò quan trọng trong vấn đề này Như rất nhiều loại bệnhkhác, bệnh tăng động giảm chú ý có thể do nhiều nguyên nhân gây nên

Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền (gen) được đề cập đến trong một nghiên cứu trên 238cặp song sinh (Goodman và Stevenson, 1989) đã tìm ra sự phù hợp cho chẩnđoán lâm sàng tăng động ở 51% các cặp sinh đôi cùng trứng và 33% các cặpsinh đôi khác trứng

Di truyền là nguyên nhân gây ra 50-92% các hành vi qua hiếu động vàgiảm tập trung Khi khoa học phát triển, người ta có khả năng sẽ tìm ra gen gâyADHD Trong nhiều nghiên cứu di truyền, các nhà khoa học đã gợi ý rằngADHD không phải là một tình trạng bệnh lí mà là một đặc điểm của con người.Các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra cách thức di truyền ADHD, một sốcho rằng có một nhóm gen gây nên ADHD, một số khác lại cho rằng chỉ mộtloại gen duy nhất nào đó gây ra ADHD Nhìn chung các nhà khoa họcnghiêng nhiều về giả thuyết cho rằng ADHD là do một nhóm gen gây nên

Trang 26

Nghiên cứu khẳng định rằng ADHD xuất hiện từ khi kết hợp một số loại gen,trong đó có gen ảnh hưởng lên quá trình luân chuyển dopamine Những loạigen được đề cập đến bao gồm gen DATI, gen DRD4, và gen DBH TaqI Sửdụng máy scan SPECT (Single-Photon Emission Computed Tomography),các nhà khoa học nhận thấy những người mắc ADHD có lượng máu lưuthông thấp hơn so với người bình thường và có mức lưu thông dopamine ởthể vân vùng trước trán nhiều hơn.

Các nghiên cứu gia đình chỉ ra rằng có khoảng 40% cha mẹ có con bịADHD thì chính họ cũng mang triệu chứng ADHD và khoảng 30% nhữngcặp anh chị em trong tổng số gia đình có trẻ mang ADHD cùng bị ADHD.Các nghiên cứu trên trẻ sơ sinh khẳng định, so với các dạng rối nhiễukhác, ADHD có tính di truyền cao hơn Các nghiên cứu đó cũng xác nhận cáctriệu chứng ADHD mang tính cộng hưởng và tích lũy, giống như chiều cao,cân nặng hay huyết áp Khi các triệu chứng ADHD xuất hiện với mức độ vàtuần suất cao hơn bình thường, hội chứng ADHD sẽ hình thành ở trẻ

Những vấn đề về gen nảy sinh có thể do di truyền từ các thế hệ hoặc dokhi mang thai, người mẹ hút thuốc, uống rượu, sử dụng ma túy hoặc bị nhiễmđộc hóa chất [6, tr.48, 49]

Yếu tố sinh học (liên quan đến chức năng & hoạt động của não bộ)

Theo Volkow và cộng sự (2003), tăng giải phóng Dopamine trong não

bộ có thể là nguyên nhân chính trong rối loạn ADHD Các chất Dopamine,Norepinephrine và Serotonin có liên quan đến quá trình cảm giác và tri giác,gây ra mất tập trung, làm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động, gây ra tăngđộng và khó điều phối kích thích hành vi, gây ra sự thôi thúc hành động [1]Doparmine là chất dẫn truyền thần kinh được có nhiều chức năng trong não,

có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi và nhận thức Các nghiên cứu

Trang 27

phát hiện thấy sự thay đổi của nồng độ Doparmine cũng có ảnh hưởng đến cáctriệu chứng ADHD Các cứ liệu ủng hộ cho nhận định này chủ yếu xuất phát

từ những nghiên cứu phát hiện thấy nồng độ dopamine tăng thì các triệuchứng của ADHD giảm

Các nhà khoa học cũng tập trung nghiên cứu vai trò, ảnh hưởng của thùytrước đối với các hội chứng Thuỳ trán trước cũng được cho rằng có liên quanđến ADHD bởi vì vùng não này liên quan chủ yếu đến chức năng thực hànhnhư hoạch định, tổ chức, tự điều chỉnh, và kiểm soát xung động Điều này cóthể giải thích cho các yếu tố ảnh hưởng đến việc cải thiện những triệu chứng củahội chứng vỏ não trước có liên quan đến các hành vi xung động và hung tính.Trẻ em bị tổn thương não đôi khi cũng có những biểu hiện giống với trẻADHD Nhưng tỉ lệ những trẻ ADHD có nguyên nhân từ tổn thương não rất thấp.Các nghiên cứu gần đây đã nêu lên sự khác biệt trong chức năng củanão, trao đổi chất ở não thấp hơn mức bình thường của nữ mắc ADHD(F.Rief Sandra, 2008) Một nghiên cứu khác trong suốt 10 năm của Viện sứckhỏe Tâm thần Quốc gia Hoa Kì đã so sánh những lớp chụp cộng hưởng từMRI (Magnetic Resonnace Imaging) ở nam giới bình thường và mắc ADHD,cho thấy thùy trán ở những trẻ mắc ADHD nhỏ hơn trẻ bình thường

Hàng loạt nghiên cứu trắc nghiệm tâm lí - thần kinh về chức năng củathùy chán (việc kiềm chế đáp ứng hành vi) cho rằng, có sự suy yếu đáng kể ởphần này của não bộ trẻ [1]

Yếu tố môi trường

Một số nhà khoa học cho rằng mối tương tác giữa cha mẹ và trẻ từ tuổi

ấu thơ có thể là nguyên nhân gây nên ADHD Trẻ em có nguy cơ bị ADHDcao hơn nếu sống trong môi trường thiếu kích thích, bị ngược đãi và có cáccăng thẳng trong gia đình Tuy nhiên, tỉ lệ ADHD do nguyên nhân này không

Trang 28

đáng kể, đôi khi sự căng thẳng của gia đình là hệ quả của việc trong gia đình

có trẻ ADHD chứ không phải là nguyên nhân gây nên ADHD [7, tr.49]

Chế độ dinh dưỡng

Những nghiên cứu khác nhau đã tìm ra sự khác nhau về quá trình traođổi chất giữa trẻ ADHD và trẻ bình thường Nếu một trẻ không có khả nănghấp thu hay chuyển đổi một số loại chất nào đó từ thức ăn, có thể sẽ dẫn tớiADHD Vào năm 1990, nhà hóa học Neil Ward đã chứng minh rằng trẻADHD bị thiếu chất kẽm khi sử dụng thức ăn được nhuộm tartrazine Một sốnghiên cứu khác chỉ ra rằng, việc thiếu hụt một số acid béo, đặc biệt là acidbéo omega-3 có thể gây nên ADHD Các giả thuyết này được đưa ra khinhiều nghiên cứu nhận thấy những trẻ được ăn dặm từ 6 tháng tuổi (hoặc hơnmột chút) có ít nguy cơ bị ADHD hơn so với những trẻ ăn dặm muộn, vìnhững loại thức ăn sẵn dành cho trẻ nhỏ thường không có đủ acid béo omega-

3 [7]

1.2.4 Can thiệp và trị liệu ADHD ở trẻ em

Mặc dù hiện nay chưa có phương pháp chữa khỏi bệnh ADHD, nhưng

có rất nhiều sự lựa chọn điều trị có hiệu quả ở một số trẻ Những chiến lượchiệu quả bao gồm liệu pháp hành vi, y dược và kết hợp nhiều phương pháp

Trị liệu bằng thuốc

Hầu hết những loại thuốc được chỉ định cho trẻ ADHD là các chất kíchthích Những chất này có tác dụng kích thích đối với những vùng não có chứcnăng kiểm soát sự tập trung chú ý và tính bốc đồng Việc sử dụng các chất kíchthích để điều trị hội chứng (thường là tăng động) đôi khi lại dẫn tới các tác dụngngược lại và không giúp cho cá nhân có thể tự kiểm soát hành vi của mình.Dược phẩm được biết đến nhiều nhất là Methylphenidate (thường đượcbiết đến bởi hai dòng sản phẩm là Ritalin và Concerta) Hiệu quả của các loại

Trang 29

thuốc này là giúp cho trẻ ADHD tăng cường khả năng tập trung tuy nhiên nócũng có tác dụng phụ gây ảnh hưởng tới cơ thể của trẻ.

Ở các nước Châu Âu, nhất là nước Pháp, việc dùng thuốc để điều trị chotrẻ ADHD vẫn là vấn đề còn rất nhiều tranh cãi Vì vậy, điểu trị bằng thuốccho trẻ ADHD vẫn còn rất nhiều hạn chế

Trị liệu bằng chế độ dinh dưỡng

Trị liệu bằng chế độ dinh dưỡng là một trị liệu được đưa vào nhằm hỗtrợ cho trẻ ADHD, nhưng trên thực tế vẫn chưa có những nghiên cứu cụ thểđáng tin cậy xác nhận tính đúng đắn của các trị liệu này Có một số nghiêncứu đã chứng minh rằng quá trình trao đổi chất ở trẻ ADHD có một sự khácbiệt so với trẻ bình thường, và từ đó giả thuyết cho rằng việc thay đổi chế độ

ăn cho trẻ ADHD có thể kiểm soát được phần nào biểu hiện ADHD ở trẻ.Vào những năm 1980, vitamin B được coi là một phương thuốc dànhcho trẻ có khó khăn về học bao gồm cả nhóm trẻ có khả năng tập trung thấp.Sau đó, kẽm và vitamin tổng hợp được đề cập tới Gần đây nhất, acid béoOmega-3 được đánh giá là rất có ưu điểm Một số chất kích thích nhẹ như càphê và theobromine cũng có thể tăng cường chức năng ở một số trẻ có triệuchứng ADHD

Trị liệu hành vi

Nhìn chung, sự tăng động hay giảm tập trung quá mức của trẻ ADHDchính là nguyên nhân gây nên các hành vi bất thường ở trẻ (hay gây ra tainạn, quên đồ đạc…) và thực sự điều đó tạo ra sự phiền nhiễu cho chính trẻ,giáo viên và cha mẹ Nhà trị liệu hành vi sẽ sử dụng các kĩ thuật quản lýhành vi để tăng dần các hành vi mong muốn ở trẻ và giảm dần các hành vikhông mong muốn

Trị liệu ngôn ngữ

Trang 30

Do vấn đề tăng động, giảm chú ý, ngôn ngữ của trẻ ADHD có một sốđặc trưng đặc biệt: nói quá nhanh, nói không rõ nghĩa, nói được nửa câu sau

đó thì không biết nói tiếp như thế nào hoặc quá ù lì, không phản ứng Đồngthời trẻ cũng bị hạn chế các kĩ năng giao tiếp xã hội: không biết chờ đến lượtmình, hay nói chen ngang, chưa nghe hết câu hỏi đã trả lời, lơ đãng, khôngquan tâm đến người đối thoại… Thông qua trị liệu ngôn ngữ, trẻ ADHD cóthể cải thiện được khả năng ngôn ngữ và kĩ năng giao tiếp xã hội của mình

Trị liệu cảm giác

Trẻ ADHD cũng có thể được trị liệu cảm giác nhằm cải thiện và nângcao trạng thái cân bằng về cảm giác, tuy nhiên trị liệu này không phải luôncần cho mọi trẻ

1.3 Đặc điểm chú ý của trẻ mắc hội chứng ADHD lứa tuổi mầm non

1.3.1 Các phương thức giáo dục cho trẻ ADHD ở mầm non

Để đảm bảo cho TKT được phát triển như những trẻ em bình thườngkhác, các nhà giáo dục đã đưa ra các phương thức giáo dục cho trẻ mắc cácrối loạn phát triển bao gồm:

Giáo dục chuyên biệt: là phương thức giáo dục trẻ có cùng một dạng và mức

độ nhu cầu theo một chương trình riêng, khác với giáo dục phổ thông, tại một

cơ sở riêng, tách biệt Đối với TKT, “Giáo dục chuyên biệt là phương thứcgiáo dục dành riêng cho người khuyết tật trong cơ sở giáo dục”

Đây là dạng mô hình xuất hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục TKT,khoảng từ thế kỉ XI ở Pháp, Đức, Tây Ban Nha và một số nước châu Âu khác.Mục tiêu của GD chuyên biệt:

- Chăm sóc, chữa trị và phục hồi chức năng cho người khuyết tật

- Dạy văn hóa, dạy nghề và một số lĩnh vực khác phù hợp với khả năng của trẻ(âm nhạc, hội họa…)

- Giám sát, quản lý TKT trong một phạm vi, mức độ nhất định

Ngày đăng: 05/04/2016, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Thị Minh Hà (2012), Hướng nghiên cứu về trẻ có rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD), Tạp chí khoa học TPHCM, 27/8/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng nghiên cứu về trẻ có rối loạn tăng độnggiảm chú ý (ADHD
Tác giả: Lê Thị Minh Hà
Năm: 2012
[2] Nguyễn Công Khanh (2002), Rối nhiễu hành vi tăng động giảm chú ý ở học sinh Tiểu học, tạp chí tâm lý giáo dục, 28/04/2002, 7-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nhiễu hành vi tăng động giảm chú ý ởhọc sinh Tiểu học
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 2002
[3] Bùi Hoàng Lâm, Hoàng Thị Nho, giáo trình giáo dục hòa nhập, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình giáo dục hòa nhập
Nhà XB: Nxb Giáodục Việt Nam
[4] Toàn Phạm, PsyD, Texas, Tâm bệnh học (Psychopathology), U.S.A 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm bệnh học
[5] Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Nguyễ Thị Như Mai, Đinh thị Kim Thoa (2008), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên), Nguyễ Thị Như Mai, Đinh thị Kim Thoa
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2008
[6] Trần Thị Thúy Vinh, Tâm lý học trẻ em, Nxb Trường cao đẳng Mẫu giáo TW3, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em
Nhà XB: Nxb Trường cao đẳng Mẫu giáoTW3
[7] Nguyễn Thị Hoàng Yến (chủ biên), Đỗ Thị Thảo, Đại cương giáo dục trẻ khuyết tật trí tuệ, Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương giáo dục trẻkhuyết tật trí tuệ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tổng hợp nội dung điều tra thực trạng - phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng adhd trong lớp học hòa nhập mầm non
Bảng 1.1. Tổng hợp nội dung điều tra thực trạng (Trang 35)
Bảng tranh các loại rau ăn lá - phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng adhd trong lớp học hòa nhập mầm non
Bảng tranh các loại rau ăn lá (Trang 43)
Bảng tranh rau ăn quả Ví dụ: trong hoạt động phát triển ngôn ngữ, GV có thể sử dụng thẻ tranh để luyện cho trẻ tri giác ngữ âm, rèn sự tập trung chú ý giúp trẻ ghi nhớ các chữ cái và các âm tiết bằng cả thị giác và thính giác - phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng adhd trong lớp học hòa nhập mầm non
Bảng tranh rau ăn quả Ví dụ: trong hoạt động phát triển ngôn ngữ, GV có thể sử dụng thẻ tranh để luyện cho trẻ tri giác ngữ âm, rèn sự tập trung chú ý giúp trẻ ghi nhớ các chữ cái và các âm tiết bằng cả thị giác và thính giác (Trang 44)
Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với các toa tàu - phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng adhd trong lớp học hòa nhập mầm non
nh ảnh đoàn tàu xuất hiện với các toa tàu (Trang 47)
Hình ảnh các chữ số bắt đầu xuất hiện - phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng adhd trong lớp học hòa nhập mầm non
nh ảnh các chữ số bắt đầu xuất hiện (Trang 47)
Hình ảnh con sâu ngộ nghĩnh với nhiều màu sắc - phát triển chú ý cho trẻ mắc hội chứng adhd trong lớp học hòa nhập mầm non
nh ảnh con sâu ngộ nghĩnh với nhiều màu sắc (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w