NGUYỄN THỊ THU HƯƠNGLỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG VỀ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 5 - 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN - VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT NGH
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
LỰA CHỌN VÀ ỨNG DỤNG MỘT SỐ TRÒ CHƠI VẬN ĐỘNG VỀ PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN (5 - 6 TUỔI) TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN - VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Thể chất
Người hướng dẫn:
ThS NGUYỄN HỮU HIỆP
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tên tôi là: Nguyễn Thị Thu Hương
Sinh viên lớp K36B - GDMN Trường ĐHSP Hà Nội 2.
Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đềtài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại trườngMầm Non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc Toàn bộ những vấn đề đượcđưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vần đề mang tính thời sự, cấp bách vàđúng thực tế tại trường Mầm Non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014.
Sinh viên Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số
TCVĐ nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫugiáo lớn (n = 20)
29
Bảng 3.2 Bảng phỏng vấn mức độ ưu tiên test kiểm tra
đánh giá sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trườngmầm non Ngô Quyền (n = 20)
35
Bảng 3.3 Tiến trình giảng dạy TCVĐ nhằm phát triển sức
mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non NgôQuyền
Biểu đồ 2 Thành tích ném túi cát của hai nhóm ĐC và TN
trước và sau thực nghiệm
41
Biểu đồ 3 Thành tích nhảy ô của hai nhóm ĐC và TN trước
và sau thực nghiệm
41
Trang 4STT Từ viết tắt Giải thích từ viết tắt
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Giáo dục Việt Nam đang đứng trước nhiều yêu cầu mới của xã hội,phải xây dựng con người có phẩm chất đạo đức, có năng lực vừa “hồng” vừa
“chuyên” như lời Bác Hồ căn dặn
Sức khỏe là vốn quý, điều đó không chỉ có Đảng, nhà nước và nhân dân
ta thừa nhận mà nó được cả nhân loại thừa nhận Cho nên thế hệ trẻ được đàotạo phải có sức khỏe cả về thể chất và tinh thần, có kĩ năng lao động trí óc lẫnchân tay, mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu bảo vệ sự nghiệp cách mạng màĐảng và Bác Hồ đã lựa chọn
Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng dặn “Giáo dục phải đảm bảo
tính toàn diện trong đó giáo dục thể chất là một mặt không thể thiếu được Nếu các đồng chí được Đảng và nhà nước giao trọng trách giáo dục mà coi nhẹ Giáo dục thể chất là một điều không đúng mà còn là một sai lầm”[3].
Như vậy, giáo dục thể chất có một vai trò rất quan trọng trong nền giáo dụcquốc dân Giúp con người phát triển toàn diện cả về thể chất và tinh thần
Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 của Ban bí thư TW đảng giao tráchnhiệm cho bộ giáo dục và đào tạo, tổng cục thể dục thể thao thường xuyênphối hợp chỉ đạo công tác giáo dục thể chất bắt buộc ở tất cả các trường học,
để việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hàng ngày của hầu hết học sinh,sinh viên
Giáo dục mầm non là nấc thang khởi đầu trong hệ thống giáo dục quốcdân với mục tiêu giúp trẻ em phát triển thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mĩ, hìnhthành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào học lớp 1.Qua đó cho thấy giáo dục thể chất cho trẻ trước tuổi đi học đặt cở sở cho sự pháttriển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn tinh thần sảng khoái, rèn kĩ năng vận động
cơ bản, hình thành thói quen vận động cần thiết trong cuộc sống
Một trong những phương tiện của giáo dục thể chất để phát triển sứcmạnh cho con người thì cho chơi vận động là phương tiện tốt để tạo ra sự
Trang 7hứng thú cho các em Trong khi chơi, các em được giao lưu với nhau, có sựhợp tác, đoàn kết với nhau trong khi chơi để đạt được kết quả tố nhất.
Tuổi mẫu giáo, các em đến trường không chỉ được học tập mà các emcòn được hoạt động vui chơi hàng ngày vì lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủđạo là hoạt động vui chơi nên việc lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận độngcho các em là một việc làm ý nghĩa giúp các em phát triển toàn diện, giúp các
em nhanh nhạy hơn với môi trường xung quanh
Lựa chọn và ứng dụng trò chơi vận động vào giảng dạy các giờ pháttriển thể chất có vai trò quan trọng, giúp cho học sinh tiếp thu nhanh hơn kĩthuật động tác, phát triển các tố chất thể lực, gây hứng thú cho học sinh trongcác giờ tập luyện Nhưng qua tìm hiểu thấy việc tổ chức hướng dẫn trò chơivận động trong dạy học ở trường mầm non còn thiếu quan tâm, chưa chútrọng và còn mang tính tùy tiện, chưa xác với mục đích của giờ học, còn hoàinghi chưa dám chắc trò chơi có ảnh hưởng tốt tới chất lượng giờ học pháttriển thể chất hay không
Để đóng góp phần giải quyết các vấn đề trên việc nghiên cứu đưa ramột số trò chơi vận động sao cho phù hợp với điều kiện thực tế, nâng cao chấtlượng học tập môn thể chất cho trẻ trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên -Vĩnh Phúc là vấn đề cần thiết của công tác giáo dục thể chất trường học
Với lí do trên, chúng tôi đã mạnh dạn đề cập đến đề tài: “Lựa chọn và
ứng dụng một số trò chơi vận động để phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”.
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi ở trườngmầm non và đặc điểm về phương pháp sử dụng trò chơi vận động của giáodục thể chất trong trường học, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nài vớimục đích để lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát triển sứcmạnh cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền nói riêng và các trườngmầm non nói chung
* Giả thuyết khoa học
Trang 8Việc áp dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh chotrẻ 5 - 6 tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền chưa phù hợp, các bé chưa thể
hiện và phát huy hết khả năng Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Lựa
chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ
5 - 6 tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc”.
Nếu việc lựa chọn trò chơi phù hợp, phát triển sức mạnh cho trẻ 5 - 6tuổi đạt hiệu quả, các em sẽ tiếp thu nhanh hơn các kĩ thuật động tác, pháttriển các tố chất thể lực, gây hứng thú cho các em trong tập luyện
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí, vai trò và mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.1.1 Vị trí vai trò của giáo dục Mầm non (GDMN)
GDMN là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân Trongbáo cáo giám sát toàn cầu về giáo dục cho mọi người năm 2005, UNESCO đã
đánh giá: “những năm đầu của cuộc sống là giai đoạn chủ yếu của sự phát
triển trí tuệ, nhân cách và hành vi”, “Bằng chứng cho thấy rằng việc chăm sóc giáo duc trẻ ở lứa tuổi trước tuổi học có liên quan đến việc phát triển nhận thức và xã hội tốt hơn” [1].
Nhà giáo dục Xô viết A.S.Makarenko khẳng định: Những cơ sở cănbản của việc giáo dục trẻ được hình thành từ trước tuổi lên 5 Những điều dạycho trẻ trong thời kì đó chiếm tới 90% tiến trình giáo dục trẻ Về sau việc giáodục đào tạo con người vẫn tiếp tục nhưng lúc đó là lúc bắt đầu nếm quả, cùngnhững nụ hoa thời đó được vun trồng trong 5 năm đầu tiên
Lịch sử GDMN ghi nhận: GDMN là khâu đầu tiên của quá trình đàotạo con người mới Việt Nam GDMN góp phần giải phóng phụ nữ, thực hiệnbình đẳng nam nữ Nhờ có phát triển GDMN, phụ nữ yên tâm công tác, laođộng sản xuất, có điều kiện học hành nâng cao hiểu biết và hưởng thụ nhữngphúc lợi nho nhỏ trong gia đình cũng như có cơ hội đóng góp cho xã hội
Như vậy GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống GD quốc dân Tầmquan trọng của GDMN là chỗ nó đặt nền móng ban đầu cho việc GD hìnhthành và phát triển nhân cách trẻ em
1.1.2 Mục tiêu nhiệm vụ của giáo dục mầm non (GDMN)
Điều 21, 22 luật giáo dục (2005) đã xác định mục tiêu, nhiệm vụ
GDMN “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3
tháng đến 6 tuổi” [6] Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát
Trang 10triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào học lớp 1
1.2 Vị trí vai trò của môn giáo dục thể chất (GDTC)
GDTC có một vị trí vô cùng quan trọng, là một bộ phận không thểthiếu của giáo dục quốc dân, là sự phát triển con người toàn diện Vai trò củaGDTC là:
GDTC là cơ sở nền tảng của nền TDTT quốc dân
GDTC là yếu tố tích cực trong đời sống văn hóa tinh thần
GDTC làm phong phú đời sống xã hội hiện đại
GDTC là yếu tố căn bản để chuẩn bị cho lao động và sẵn sàng bảo vệ tổquốc
1.3 Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ mẫu giáo (5 - 6 tuổi) trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
1.3.1 Đặc điểm tâm lí
Trẻ 5 - 6 tuổi thì bé đã có khả năng tiếp thu một lượng kiến thức không
nhỏ Theo A.X Macarenco, một nhà giáo dục nổi tiếng của Nga thì: “Nền
tảng của giáo dục chủ yếu được xây dựng từ khi trước 5 tuổi, nó chiếm 90% chất lượng của cả quá trình giáo dục” [11].
Trẻ 5 - 6 tuổi có một đặc điểm tâm lí rất quan trọng là ý thức về bảnngã (cái tôi):
- Trẻ bắt đầu biết phân biệt 1 cách rõ ràng giữa bản thân và những người xungquanh Trẻ có ý thức về tính sở hữu, biết cái gì của mình và cái gì là củangười khác
- Tuổi mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) tư duy của trẻ có một bước ngoặt lớn Xuấthiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới - tư duy trực quan sơ đồ và nhữngyếu tố của tư duy logic Tư duy của trẻ đã đạt tới những ranh giới của tư duytrực quan hình tượng, những hình tượng và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còngắn liền với những hành động điều đó thể hiện trong những trường hợp, khitrẻ giải quyết những bài toán thực tế
Trang 11Sự phát triển xúc cảm và ngôn ngữ:
- Ở lứa tuổi này, tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ gắn bó mẹ
- con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm nhiều hơn giữa mẹ - con ở trẻ trai
và bố - con ở trẻ gái Trẻ đòi hỏi sự quan tâm cuộc sống một cách cụ thể và đadạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biếu hiện về tình cảm rõ ràng cũngnhư những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau
- Đây là lứa tuổi phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có khảnăng nói những câu đầy đủ, đôi khi phức tạp cũng như hiểu được những câunói dài của người khác Điều này là cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến thứccủa lớp 1 và những bậc học tiếp theo
- Ý thức về bản thân cũng giúp trẻ 5 - 6 tuổi có ý thức chan hòa với bạn cùngchơi Biết tuân thủ luật chơi, biết mượn, chia sẻ đồ chơi với bạn biết thiết lậpmối quan hệ rộng rãi và phong phú với bạn cùng chơi
- Trẻ giai đoạn này cũng rất dễ xúc động, dễ cười, dễ khóc Tâm tư của trẻ tuổinày cũng được bộc lộ ra ngoài Tính tình tương đối ổn định Đời sống tìnhcảm của trẻ tuổi này phong phú và sâu sắc hơn rất nhiều so với tuổi trước
1.3.2 Đặc điểm sinh lí
Hệ thần kinh: sự phát triển của hệ thần kinh ở lứa tuổi này đã ở mức
cao hơn so với lứa tuổi nhà trẻ Sự trưởng thành của các tế bào thần kinh củađại não kết thúc… Tuy nhiên, ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưacân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó, phải đối sử thận trọng
Trang 12với trẻ, tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéodài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi Hệ thần kinh có tác dụng chiphối và điều tiết đối với vận động cơ thể vì vậy hoạt động vận động của trẻ cóhai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy
sự phát triển công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể của trẻ có thể cảithiện tính không công năng của quá trình thần kinh ở chúng Song cần chú ýtới sự luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi, tình trạng quá trình vận độngcủa trẻ
Hệ vận động: bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp.
Hệ xương: thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và
chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xươngmềm, dễ bị cong gãy Ở trẻ 5 - 6 tuổi xương cột sống có 2 đoạn uốn cong vĩnhviễn ở cổ và ở ngực, lồng ngực đã hẹp hơn, đường kính ngang lớn hơn đườngkính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng
Hệ cơ: hệ cơ của trẻ phát triển yếu, tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ
nhỏ mảnh, thành phần nước trong cơ tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắpcòn yếu, cơ nhanh mệt mỏi Do đó, trẻ lứa tuổi này không thích nghi với sựcăng thẳng lâu của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợptrong thời gian luyện tập Khi trẻ được thường xuyên tham gia vận động thểlực hợp lí sẽ tăng cường hiệu quả công năng các tổ chức cơ bắp, làm cho sứcmạnh và sức bền của cơ bắp phát triển
Khớp: trẻ lứa tuổi này ổ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn
yếu, dây chằng lỏng lẻo Hoạt động vận động phù hợp với lứa tuổi của trẻ sẽgiúp khớp được rèn luyện, từ đó tăng dần tính vững chắc của khớp
Hệ tuần hoàn: hệ tuần hoàn của trẻ đang phát triển và hoàn thiện.
Buồng tim phát triể tương đối hoàn thiện, tần số co bóp của tim là 80 - 110lần/phút Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập, nên đa dạng
Trang 13hóa các dạng bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động,phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng.
Hệ hô hấp: đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô
hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Lên 6 tuổi thểtích hô hấp của phổi là khoảng 215 - 220 ml Trẻ 5 - 6 tuổi mỗi phút hít thởkhoảng 20 - 22 lần
Hệ trao đổi chất: cơ thể trẻ đang phát triển đòi hỏi bổ sung liên tục
năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và
mô Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là chohoạt động cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khidinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơbắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình traođổi chất Sẽ làm ảnh hưởng đến cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạycảm Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thứcvận động phù hợp với trẻ
Từ việc nghiên cứu, tìm tòi dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn, nhậnthức được vai trò to lớn của giáo dục thể chất với trẻ mầm non, trong quátrình giảng dạy chúng tôi đã lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận độngnhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trường mầm nonNgô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc góp phần nâng cao công tác giáo dục thểchất cho trường mầm non Ngô Quyền Trẻ hào hứng vui chơi tham gia nhiệttình, xua tan những căng thẳng, mệt mỏi Kích thích trẻ luôn sáng tạo tronghọc tập và vui chơi Trong qúa trình tham gia vào trò chơi, các em biểu lộ tìnhcảm rất rõ ràng như niềm vui khi thắng lợi và buồn khi thất bại, vui mừng khithấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ… Vì tập thể mà các em phải khắc phụckhó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại thắng lợi cho đội trong đó cóbản thân mình, đây chính là đặc tính thi đua rất cao của trò chơi vận động
Vì vậy, trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi đi sâu nghiên cứunhững trò chơi mang tính vận động thể lực và đặc biệt chú ý tới sức mạnh của
Trang 14trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi), từ đó đưa ra một số ứng dụng hiệu quả trongcông tác giáo dục thể chất trường mầm non Ngô Quyền nói riêng và cáctrường mầm non khác nói chung.
1.4 Một số nét đặc trưng của trò chơi vận động
1.4.1 Khái niệm trò chơi vận động
Trò chơi vận động (TCVĐ) là loại vận động tích cực, đây là một trongnhững phương pháp GDTC tốt nhất cho trẻ mầm non, rất phong phú về sốlượng, đa dạng về nội dung và tạo cho các em có điều kiện sáng tạo và pháttriển tư duy của mình một cách độc lập trong những trường hợp cụ thể Đa sốcác trò chơi vận động dành cho trẻ mầm non đều mang tính chủ đề, phù hợpvới đặc điểm tâm sinh lí và khả năng tưởng tượng của trẻ
Khi tham gia vào trò chơi thì trẻ phải tập trung chú ý, ghi nhớ những lờigiải thích của giáo viên để thực hiện đúng vận động Do đó, đặc điểm nổ bật củaTCVĐ là sự đòi hỏi phối hợp vận động của quá trình nhận thức và vận động
Như vậy, TCVĐ là trò chơi nhằm rèn luyện và hoàn thiện các vận độngcho trẻ Nó là phương tiện chủ yếu giáo dục thể lực (GDTL) cho trẻ, giải quyếtcác nhiệm vụ vận động dưới dạng trò chơi nên trẻ vận động tích cực và thoải mái
1.4.2 Ý nghĩa trò chơi vận động
Ở trẻ mầm non, trò chơi chiếm một vị trí quan trọng Trẻ đến trườngkhông chỉ được học tập mà trẻ còn được vui chơi hàng ngày vì lứa tuổi mẫugiáo hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi Các loại trò chơi: đóng vai theochủ đề, trò chơi học tập, trò chơi xây dựng hay trò chơi vận động… được sửdụng rộng rãi Trong đó, trò chơi vận động được chú ý cao vì tất cả các trẻđều được tham gia và phát triển các tố chất thể lực
TCVĐ là phương tiện chủ yếu GDTL có hiệu quả cho trẻ mẫu giáo,qua TCVĐ hình thành các phẩm chất thể lực như sự nhanh nhẹn, linh hoạt,dẻo dai, góp phần củng cố nâng cao sức khỏe cho trẻ Giáo dục trẻ về các mặtđức, trí, thể, mỹ… Đào tạo cho trẻ phát triển toàn diện từ những năm đầu đời
Trang 15TCVĐ còn là một phương tiện vui chơi giải trí, một hình thức nghỉngơi tích cực, một hoạt động có tính văn hóa góp phần nâng cao đời sống tinhthần cho trẻ.
Về phương diện sinh lí vận động: TCVĐ giải tỏa tâm lí tạo nên sự lạcquan yêu đời, vui tươi thoải mái, giúp phần giảm các căng thẳng thần kinh,giảm và chống đỡ được một số bệnh tật
Ở trường mầm non, trò chơi vận động được sử dụng một cách thườngxuyên TCVĐ vừa là nội dung học tập vừa là hình thức vui chơi được trẻ yêuthích và tích cực tham gia Trong khi chơi trẻ hào hứng, hình thành nhữngphẩm chất đạo đức, trẻ biết giúp đỡ lẫn nhau, biết quan tâm với bạn cùngchơi Để tham gia được vào trò chơi thì buộc trẻ phải hiểu được luật chơi,cách chơi và vai trò của mình trong khi chơi, xác định được mối quan hệ giữabản thân và bạn cùng chơi, làm thao tác tư duy, phân tích, so sánh, chú ý, ghinhớ, khái quát được phát triển
Khi trẻ chơi các TCVĐ thì sẽ tác động lên nhiều cơ, tăng quá trình traođổi chất TCVĐ là phương tiện chống lại sự mệt mỏi, căng thẳng của trẻ tronghọc tập Hơn thế, TCVĐ tác động vào hệ thần kinh, các quá trình hưng phấn
và ức chế được cân bằng Đó là điều kiện tốt để hình thành thói quen vậnđộng cho trẻ
Những trò chơi vận động dân gian có từ lâu đời thường gắn liền với cácbài hát hay các câu thơ Khi trẻ chơi thì sẽ phải nhớ những bài hát hay nhữngcâu thơ, cách chơi, luật chơi đó làm cho ngôn ngữ của trẻ phát triển, vốn từthêm phong phú và mở rộng
1.4.3 Đặc điểm và phân loại trò chơi vận động
Trang 16tập thể có trách nhiệm động viên, giúp đỡ bạn cùng chơi hoàn thành nhiệm
vụ, vì vậy tình bạn, lòng nhân ái, tinh thần tập thể… được hình thành Cũngtrong quá trình chơi đã xây dựng cho trẻ tác phong khẩn trương, nhanh nhẹn,tính kỉ luật, sự sáng tạo để hoàn thành nhiệm vụ với tành tích cao… góp phầngiáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho trẻ
Trò chơi vận động có ý nghĩa quan trọng trong công tác GDTC cho trẻ.Trò chơi vận động mang đặc tính thi đua rất cao Trong quá trình thamgia chơi, trẻ biểu lộ tình cảm rất rõ ràng như niềm vui khi thắng lợi và buồnkhi thất bại, vui mừng khi thấy đồng đội hoàn thành nhiệm vụ, bản thân trẻthấy có lỗi khi không làm tốt phần việc của mình… Vì tập thể mà trẻ phảikhắc phục khó khăn, phấn đấu hết khả năng để mang lại hết thắng lợi chođồng đội
Trò chơi vận động là trò chơi có luật lệ, quy tắc nhất định mà bản thântrò chơi vận động lại mang tính thi đua và sự tự giác rất cao Vì vậy khi đãtham gia trò chơi, trẻ phải vận dụng hết khả năng, sức lực, sự tập trung chú ý,trí thông minh và sáng tạo của mình
Một khía cạnh mà các nhà sư phạm phải quan tâm đó là tránh để cáctrẻ ham chơi quá mức quên ăn, quên ngủ, quên học, chơi đến mức quá sứcdẫn đến mệt mỏi, trong trường hợp như vậy không những không có lợi về mặtsức khỏe mà còn ngược lại Đây là một đặc điểm quan trọng, mà giáo viênphải chú ý khi tổ chức cho trẻ chơi
Nội dung TCVĐ đối với trẻ em các độ tuổi
Với trẻ em 12 - 18 tháng tuổi: Đuổi bắt, cô đuổi kịp ú tìm, thăm bạnbúp bê, mang đồ chơi đến cho cô, bò tới đồ chơi, bò chui qua cổng
Đối với trẻ 18 - 24 tháng tuổi: Kéo cưa lừa xẻ, đi qua cầu, con rùa, gấudạo chơi trong rừng (23 - 24 tháng), mèo và chim sẻ (23 - 24 tháng)
Đối với trẻ 24 - 36 tháng: Mèo và chim sẻ, nu na nu nống, chim sẻ và ô
tô, con bọ dừa, bong bóng xà phòng, con rùa, bóng tròn to, bịt nắt bắt dê,dung dăng dung dẻ, trời nắng trời mưa, phi ngựa, vượt đoàn tàu
Trang 17Với trẻ 3 - 4 tuổi: Quả bóng nảy, ô tô và chim sẻ, gấu và ong, nhảy quasuối nhỏ, đuổi bóng, tín hiệu máy bay.
Với trẻ 4 - 5 tuổi: thi xem tổ nào nhanh, ném còn, bắt chước, tạo dáng,cáo và thỏ, ai ném xa nhất, đi như gấu, bò như chuột, tung cao hơn nữa
Với trẻ 5 - 6 tuổi: Nhảy tiếp sức, ai nhanh hơn, kéo co, đua ngựa, nhảy
lò cò, ai ném xa nhất, cáo và thỏ
1.4.3.2 Phân loại trò chơi vận động
Trò chơi vận động cũng rất phong phú và đa dạng, vì vậy có rất nhiềucách phân loại căn cứ trên những quan điểm khác nhau Dưới đây là một sốcách phân loại:
Căn cứ vào những động tác cơ bản của quá trình chơi
Theo cách này, ta có: trò chơi về chạy, nhảy, ném, leo trèo… và nhữngtrò chơi phối hợp hai hay nhiều hoạt động tren với nhau Mục đích của loạitrò chơi này là để người dạy dễ chon lọc và sử dụng trong việc rèn luyệnnhững kĩ năng vận động cơ bản cho trẻ
Căn cứ vào sự phát triển các tố chất thể lực trong quá trình chơi
Ta có: trò chơi rèn luyện sức nhanh, trò chơi rèn luyện sức mạnh, tròchơi rèn luyện sức bền… tuy nhiên, theo cách phân loại này đôi khi khôngđược chính xác mà chỉ tương đối, bởi một rò chơi không chỉ rèn luyện một tốchất thể lực cơ bản mà có khi là hai, ba tố chất
Căn cứ vào khối lượng vận động
Trò chơi “tĩnh”: Các trò chơi có khối lượng vận động không đáng kể
Ví dụ: trò chơi: “Bịt mắt bắt dê”, “Bỏ khăn”…
Trò chơi “động”: Các trò chơi có khối lượng vận động ở mức độ trungbình và cao, Ví dụ: Các trò chơi chạy tiếp sức “tiếp sức chuyển khăn”, “chạyđổi chỗ”, “chạy thoi”
Trang 18Tuy nhiên, cách phân loại này cũng chỉ là tương đối, bởi vì khối lượngvận động và cường độ vận động của một trò chơi có thể tăng, giảm do cách tổchức và tài nghệ điều khiển của người quản trò.
Căn cứ vào yêu cầu tổ chức trò chơi
Ta có: trò chơi chia thành đội, không chia đội và trò chơi có một nhómchuyển tiếp ở giữa
Trò chơi chia thành đội được tiến hành chơi với điều kiện số ngườichơi các đội phải ngang nhau, thậm chí số lượng các trẻ nam và trẻ nữ phảingang nhau Ví dụ: “kéo co”, “chạy tiếp sức”… Những trò chơi này thường
có luật rất nghiêm và chặt chẽ Có tác dụng giáo dục tinh thần tập thể, tính tổchức kỉ luật cao
Trò chơi không chia thành đội được chia thành: Trò chơi có người điềukhiển và trò chơi không có người điều khiển
1.4.3.3 Một số hạn chế khi áp dụng trò chơi vận động cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi)
Một số trẻ tham gia chơi vượt quá khả năng chịu đựng để xảy ra nhữngtai nạn đáng tiếc
Nhiều khi trẻ tham gia một cách hời hợt, thiếu tích cực không phát huyđược hết hiệu quả của TCVĐ
Đôi khi trẻ nhốn nháo, giáo viên rất khó để kiểm soát được toàn bộ lớpnên chưa phát huy được hết những ưu điểm của TCVĐ
Tồn tại lớn nhất là khó kiểm soát lượng vận động trong khi tiến hànhTCVĐ
Vì vậy, lựa chọn và áp dụng có hiệu quả TCVĐ cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6tuổi) là rất cần thiết
1.5 Cơ sở giáo dục sức mạnh
1.5.1 Khái niệm và phân loại sức mạnh
1.5.1.1 Khái niệm
Trang 19Để xác định khái niệm một phẩm chất thể lực, người ta thường chỉ racách đánh giá chung Sức mạnh của con người được đo bằng lực kế hoặcbằng các máy móc đo lực cơ học Điều đó cho thấy: sức mạnh là khả năngkhắc phục lực cản bên ngoài hoặc chống lại lực cản đó, nhờ sự nỗ lực của cơbắp (hay nói một cách khác, sức mạnh là khả năng con người sinh ra lực cơhọc bằng nỗ lực cơ bắp).
1.5.1.2 Phân loại sức mạnh
Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học, người ta đã đi đến một số kếtluận có ý nghĩa cơ bản trong phân loại sức mạnh
- Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị
số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường
- Trong chế độ nhượng bộ, khả năng sinh lực của cơ là rất lớn Đôi khi gấp 2lần lực phát huy trong điều kiện tĩnh
- Trong các động tác nhanh, trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ
- Khả năng sinh lực trong các động tác nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năngsinh lực các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan vớinhau
Trên cơ sở đó có thể phân chia sức mạnh ra thành các loại sau:
- Sức mạnh tĩnh (sức mạnh đơn thuần): Là khả năng sinh lực trong các động tácchậm hoặc tĩnh
- Sức mạnh tốc độ: Là khả năng sinh lực trong các động tác nhanh
- Ngoài ra, còn có sức mạnh bột phát, sức mạnh tuyệt đối và sức mạnh tươngđối
1.5.2 Phương pháp giáo dục sức mạnh
1.5.2.1 Cơ chế sinh lí điều hòa sức mạnh
Lực tối đa mà con người có thể sản sinh ra một mặt phụ thuộc vào đặctính sinh cơ động tác, mặt khác phụ thuộc vào mức độ hoạt động cử từngnhóm cơ riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng Mức độ hoạt động của cơđược quy định bởi 2 yếu tố:
Trang 20Xung động từ các nơron thần kinh vận động trong sừng trước của tủysống đầu cơ.
Phản ứng của cơ - tức là do nó sinh ra để đáp lại xung động thần kinh.Phản ứng của cơ phụ thuộc vào thiết diện sinh lí và đặc điểm cấu trúccủa nó, ảnh hưởng của dinh dưỡng của hệ thần kinh trung ương thông qua hệthống ađrênalin giao cảm; độ dài của cơ tại thời điểm có kích thích và một sốnhân tố khác Cơ chế chủ đạo cho phép thay đổi tức thời mức độ hoạt độngcủa cơ là đặc điểm của xung động li tâm Thay đổi mức độ hoạt động của cơđược thực hiện bằng 2 cách Thứ nhất: Huy động số lượng khác nhau các đơn
vị vận động Thứ 2: Thay đổi tần số xung động ly tâm (trong căng cơ tối đa,
từ 5 - 6 đến 35 - 40 xung động)
Nếu lực do cơ phát huy chỉ vào khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của
nó thì cơ chế điều hòa số lượng sợi cơ cố ý nghĩa cơ bản Điều đó có nghĩa:Nếu lực kích thích nhỏ thì chỉ có số ít sợi co hoạt động tích cực
1.5.2.2 Lựa chọn lực đối kháng là một trong những vấn đề quan trọng nhất của phương pháp giáo dục sức mạnh
Để hiểu rõ cơ sở khoa học của phương pháp giáo dục sức mạnh cầnnghiên cứu cơ sở sinh lí của các động tác được thực hiện với lực đối khángkhác nhau Sau đây sẽ xem xét một số điểm khác nhau khi sử dụng trọnglượng khác nhau để giáo dục sức mạnh
Điều khác biệt thứ nhất:
- Đồng thời huy động số lượng lớn nhất các đơn vị vận động
- Các xung động li tâm có tần số tối đa
- Đồng bộ hóa nhịp điệu hoạt động của các đơn vị vận động
Trong các động tác với lực đối kháng chưa đạt tối đa thì tần số xungđộng của các đơn vị vận động chủ yếu không đồng bộ Những đơn vị bị mệtmỏi được loại trừ khỏi hoạt động và thay vào đó là những đơn vị vận độngmới Trong trường hợp này tập luyện sẽ hoàn thiện cơ chế luân phiên và tấtnhiên sẽ phát triển sức bền và sức mạnh
Trang 21Điều khác biệt thứ 2: các động tác với lực đối kháng khác nhau sẽ khácnhau về đặc điểm tập trung nỗ lực trong không gian và thời gian Khi nângtrọng lượng tối đa và gần tối đa thì tốc độ nhanh chóng đạt được trị số nào đó.Sau đó tốc độ gần như ổn định.
Điều khác thứ 3: lực đối kháng bên ngoài là một kích thích sinh lí cócường độ nhất định Khi nâng trọng lượng giới hạn sẽ có một dòng xung độnghướng tâm mạnh Trong giới hạn nhất định, cường độ phản ứng của cơ tỉ lệthuận với cường độ kích thích Cường độ kích thích càng lớn thì phản ứngcàng mạnh
Đặc điểm cơ chế sinh lí của bài tập với lực đối kháng khác nhau chothấy: muốn phát triển sức mạnh thì nhất thiết phải taọ được sự căng cơ tối đa.Nếu không thường xuyên tập luyện với mức căng cơ tương đối cao thì sứcmạnh sẽ không được phát triển
1.5.2.3 Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh
Nhiệm vụ chung của quá trình giáo dục sức mạnh là phát triển toàndiện và đảm bảo khả năng phát huy cao sức mạnh trong các hình thức hoạtđộng vận động khác nhau Nhiệm vụ cụ thể là:
- Tiếp thu và hoàn thiện khả năng thực hiện các hình thức sức mạnh cơ bản:sức mạnh tĩnh lực và sức mạnh động lực, sức mạnh đơn thuần và sức mạnhtốc độ, sức mạnh khắc phục va sức mạnh nhượng bộ
- Phát triển cân đối sức mạnh của tất cả các nhóm cơ của hệ vận động
- Phát triển năng lực sử dụng hợp lí sức mạnh trong các điều kiện khác nhau
Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể mà mỗi loại hoạt động mà đề ra cácnhiệm vụ chuyên môn
Để giáo dục sức mạnh người ta thường sử dụng các bài tập sức mạnh,các động tác có lực đối kháng, các bài tập được chia thành 2 nhóm:
- Các bài tập có lực đối kháng ở bên ngoài:
+ Các bài tập với dụng cụ nặng
+ Các bài tập với lực đối kháng của người tập
Trang 22+ Các bài tập với lực đàn hồi.
+ Các bài tập với lực đối kháng của môi trường bên ngoài (chạy trêncát…)
- Các bài tập khắc phục trọng lượng cơ thể: lò cò, chống đẩy…
1.5.2.4 Các khuynh hướng phương pháp cơ bản trong giáo dục sức mạnh
Nguyên lí chung trong giáo dục súc mạnh là tạo ra kích thích lớn đốivới hoạt động của cơ Trong thực tế thường có 3 cách tạo tăng cơ tối đa:
- Sử dụng lượng đối kháng chưa tới mức tối đa với số lần lặp lại cực đại
Các động tác thực hiện với lượng đối kháng chưa tới mức tối đa khác về
cơ chế sinh lí so với các động tác với lượng đối kháng tối đa và gần tối đa Song,theo mức độ phát triển của mệt mỏi, cơ chế sẽ thay đổi, lực phát huy của mộtđơn vị vận động bị giảm sút, ngày càng nhiều sợi cơ tham gia hoạt động và trongnhững lần lặp lại cuối cùng, số sợi cơ hoạt dộngđạt trị số tối đa Khi đó, tần sốxung động li tâm tăng lên và quan sát thấy chúng đồng bộ với nhau Như vậy, cơchế sinh lí lại giống như khi đang thực hiện bài tập với lượng đối kháng tối đa.Giá trị phát triển sức mạnh của phương pháp này là ở những lần lặp lại cuốicùng Vì vậy, khi sử dụng phương pháp nỗ lực ặp lại nhất thiết phải lặp lại tớicực hạn Thực nghiệm khoa học đã chứng minh: không lặp lại tới cực hạn không
có tác dụng phát triển sức mạnh, mặc dù tổng số lần lặp lại của buổi tập có thểrất lớn và buổi tập được lặp lại trong thời gian dài
Ưu điểm của phương pháp nỗ lực lặp lại:
+ Tăng sức mạnh cùng với phì đại cơ bắp Khối lượng vận động lớn tấtyếu dẫn tới những biến đổi mạnh mẽ trong quá trình trao đổi chất: quá trìnhdinh dưỡng mạnh xảy ra trong cơ thể do sử dụng phương pháp này thúc đẩyquá trình trao đổi tạo hình làm cơ phì đại và do đó làm tăng sức mạnh
+ Sử dụng lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ hạn chế được hiệntượng ép khí lồng ngực
Trang 23+ Bài tập với lượng đối kháng chưa tới mức tối đa sẽ tạo khả năng kiểmtra kĩ thuật tốt hơn.
+ Đối với người mới tập, sử dụng phương pháp nỗ lực lặp lại hạn chếđược chấn thương
+ Tiêu hao năng lượng tương đối lớn cũng có lợi co buổi tập với xuhướng sức khỏe
Nhược điểm của phương pháp nỗ lực lặp lại:
+ Không có lợi thế về mặt năng lượng
+ Hiệu quả của phương pháp này thấp hơn so với sử dụng phương phápđối kháng tối đa
- Sử dụng lượng đối kháng tối đa và gần tối đa
Trong trường hợp cần tăng sức mạnh cơ bắp nhưng hạn chế được hiệntượng tăng khối lượng của nó, người ta thường tập luyện theo xu hướng sửdụng lượng đối kháng tối đa (1 lần tập) và gần tối đa (2, 3 lần tập)
Lượng đối kháng tối đa dùng để tập luyện nhỏ hơn trọng lượng tối đa thực
tế mà con người có thể khắc phục khi cảm xúc mạnh Kinh nghiệm thực tế chothấy, tập luyện với lượng đối kháng tối đa thực sự đem lại hiệu quả thấp
Tuy có hiệu quả cao trong phát triển sức mạnh trên cơ sở hoàn thiện cơchế điều hòa thần kinh trong nhóm cơ và giữa các nhóm cơ, nhưng phươngpháp nỗ lực cực đại không phải là vạn năng Bởi vì, bất kì một phương phápnào được sử dụng quá nhiều cũng trở nên quen thuộc và cùng với thời gianhiệu quả sử dụng bị giảm sút Cho nên chỉ có thể coi phương pháp nỗ lực cựcđại là cơ bản chứ không phải là duy nhất
- Sử dụng các bài tập tĩnh trong giáo dục sức mạnh
Ngày nay, phương pháp tập tĩnh chỉ được coi là một phương pháp nỗ lựccực đại Hơn nữa, đó chỉ là phương pháp thứ yếu trong giáo dục sức mạnh
Trang 24Ưu điểm của phương pháp tập tĩnh: Duy trì ổn định sự căng cơ trongthời gian tương đối dài, các ài tập tĩnh đòi hỏi ít thời gian và trang thiết bị đơngiản, có thể tác động tới bất kì nhóm cơ nào, có thể tập luyện trong điều kiệnbiên độ động tác bị hạn chế.
Hạn chế của phương pháp tập tĩnh: Hiệu quả thấp so với tập động thựcnghiệm cho thấy, những người chỉ tập bài tập tĩnh thì sức mạnh tăng chậm hơn
so với những người sử dụng các phương tiện giáo dục sức mạnh phổ biến
Khi sử dụng bài tập tĩnh thì sự phát triển của sức mạnh chỉ được thể hiệnchủ yếu ở những tư thế đã tập luyện Ví dụ: Nếu dùng bài tập tĩnh để phát triểnsức mạnh các cơ gấp khớp khuỷu ở góc 90O, thì các góc vượt ra ngoài giới hạn
90O ± 20O lực cơ tăng lên rất ít Vì vậy, mỗi nhóm cơ được tập theo các góc độkhóp khác nhau hoặc chọn tư thế khó khăn của động tác khi thi đấu
Khi sử dụng các bài tập tĩnh nếu lớn, mỗi buổi tập chỉ nên dành 10 - 15phút cho tập tĩnh Nếu mục đích là tăng sức mạnh cơ thì không nên sử dụngcác bài tập tĩnh ở dạng ổn định quá 1 tháng
Chương 2 NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU
2.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục đích nghiên cứu của đề tài, tôi đã đưa ra hai nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng về phát triển sức mạnh của trẻ 5 - 6
tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Nhiệm vụ 2: Lựa chọn và ứng dụng một số trò chơi vận động để phát
triển sức mạnh cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non Ngô Quyền Vĩnh Yên Vĩnh Phúc
-2.2 Các phương pháp nghiên cứu chính
Để giải quyết được những nhiệm vụ đặt ra, tôi sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau:
Trang 252.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Là phương pháp thu thập những nguồn thông tin bằng cách đọc và phântích tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đi tìm hiểu tập hợpđược những tài liệu như các điều luật… của đảng và nhà nước, các sách viếtchuyên khảo, tuyển tập và các tư liệu giảng dạy của TDTT và GDTC, các tài liệulưu trữ, phim ảnh, nghiên cứu tìm hiểu các sách viết về trò chơi vận động, về sứcmạnh, các sách về tâm lí, sinh lí trẻ em… Từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau:sách, báo, đài, internet… Tôi thu thập tài liệu có liên quan nhằm mở rộng thêmkiến thức lí luận, tâm sinh lí, các phương pháp giáo dục và đặc biệt tìm hiểu sâu
về trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn Phươngpháo này được sử dụng trong suốt trong thời gian nghiên cứu
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp quan sát sư phạm là phương pháp nhận thức đối tượngnghiên cứu trong quá trình giáo dục, giáo dưỡng mà không ảnh hưởng tới quátrình đó
Trong thời gian dài thực hiện đề tài này việc quan sát sư phạm được sửdụng trong quá trình dự giờ, quan sát quá trình học thể dục và các hoạt độnghọc khác mà trẻ tham gia
Trang 26Qua phương pháp này có thể đánh giá và phân tích được quá trìnhgiảng dạy, học tập của cô và trẻ, giúp tôi có cái nhìn khách quan và có thể đưa
ra những trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6tuổi) trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh phúc
2.2.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành tổ chức kiểm tra sưphạm nhằm đánh giá sức mạnh của các đối tượng nghiên cứu trước thựcnghiệm và sau thực nghiệm Đặc biệt, phương pháp này còn kiểm nghiệm tínhhiệu quả của các trò chơi vận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫugiáo lớn (5 - 6 tuổi) trường mầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
2.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Với phương pháp này đã tiến hành kiểm nghiệm tính khoa học, tính thựctiễn và tính hiệu quả của trò chơi vận động về cả mặt lí thuyết lẫn thực hành
Tiến hành thực nghiệm so sánh 2 nhóm đối tượng là trẻ mẫu giáo lớntrường mầm non Ngô Quyền Ở đây chúng tôi phân ra 2 nhóm:
Nhóm đối chứng: 15 trẻ
Nhóm thực nghiệm: 15 trẻ
Chương trình được thực nghiệm trong 6 tuần Nhóm đối chứng tập theocác hình thức và chương trình cũ của trường mầm non Ngô Quyền Nhómthực nghiệm được áp dụng hệ thống các trò chơi vận động đã chọn nhằmphát triển sức mạnh cho trẻ
2.2.6 Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp này được sử dụng để phân tích, xử lí số liệu thu thậpđược trong quá trình nghiên cứu đề tài, xác định tính hiệu quả của trò chơivận động nhằm phát triển sức mạnh cho trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) trườngmầm non Ngô Quyền - Vĩnh Yên - Vĩnh phúc Sau khi thu thập số liệu, đã sửdụng phương pháp thống kê toán học để xử lí và áp dụng công thức sau: