1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc

74 927 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GDMN không chỉ chiếm một vị trí vô cùng quan trọng mà nó còn là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới xã hội ch

Trang 1

   

 

   

Trang 2

HÀ NỘI ­ 2014 

 TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC 

  

 

Trang 3

       TS. LÊ TRƯỜNG SƠN CHẤN HẢI 

  

 

HÀ NỘI ­ 2014 

Trang 4

Tên tôi là​: ​Đỗ Thị Thu Hằng 

Sinh viên: Lớp K36B ­ Khoa Giáo Dục Tiểu Học 

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết       quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung       thực và độc lập với kết quả của tác giả khác. 

 

Hà Nội​, ngày    tháng 05  năm 2014 

Sinh viên  

 

    Đỗ Thị Thu Hằng  

Trang 7

 DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  

Số bảng 

biểu 

g Bảng 1.1  Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trường       

Bảng 3.3  Kế hoạch giảng dạy TCVĐ nhằm nâng cao năng lực phát       

triển thể chất cho trẻ 5 ­ 6 tuổi trường mầm non Hoa       Hồng 

42 

Trang 8

Bảng 3.4  Kết quả kiểm tra trình độ thể lực theo tiêu chuẩn RLTT       

Trang 9

 

Trang 10

   

Trang 11

 

Một quốc gia có nền giáo dục phát triển là một quốc gia có nền kinh tế       

phát triển hết sức hùng mạnh Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự       

phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp có đầy đủ những phẩm chất       

về tri thức, năng lực, trình độ để phục vụ cho đất nước Tại đại hội Đảng khóa       

IX đã xác định: ​       “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo      

dục ­ đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp      

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người”        

[9] Vì vậy hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã       

hội đặc biệt là GDMN.  GDMN không chỉ chiếm một vị trí vô cùng quan trọng mà nó còn là       

khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân là bậc học đặt nền móng cho       

sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tinh       

thần:​…​hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN       

Việt Nam Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của       

cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng       

trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con       

người chủ nhân tương lai của đất nước Nếu ví rằng giáo dục con người là       

cuộc chạy đua việt dã đầy khó khăn gian khổ thì GDMN chính là giai đoạn       

khởi động, nếu khởi động tốt chắc chắn vận động viên sẽ đạt được thành tích       

tốt Việt Nam đang có một bước chuyển mình thay đổi hết sức mạnh mẽ trên       

con đường đi lên xây dựng cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc.  Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em là công dân của xã hội, là       

Trang 12

giáo dục trẻ thật chu đáo để trở thành hành trang vững chắc mà mỗi con người       

cần phải có để bước vào cuộc sống xã hội Và một yếu tố vô cùng quan trọng       

không thể thiếu trong hành trang ấy là nhiệm vụ GDTC cho trẻ Đặc biệt, giáo       

GDTC cho trẻ càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi trong Nghị quyết số 46 ­       

NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe       

nhân dân trong tình hình mới có ghi rõ: “​      Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi      

con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân      

dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp      

xy dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu      

của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện      

bản chất tốt đẹp” ​         [11] ​  Do đó, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến       

hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm của toàn xã hội, tạo       

điều kiện cho trẻ được phát triển tốt nhất.  Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó       

cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể       

chất hàng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục sự hứng thú đến       

việc luyện tập điều này sẽ giải quyết được những nhiệm vụ giáo dục trí tuệ,       

đạo đức, thẩm mỹ và lao động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra những điều kiện       

thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thần kinh, cơ xương, giúp cho các quá trình       

tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy như quan sát, so sánh, tổng hợp,       

khái quát Ngoài ra còn củng cố ở trẻ những kiến thức không chỉ liên quan       

đến GDTC, mà còn thu nhận được những kiến thức về sự vật, hiện tượng       

xung quanh, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội. ​   Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối nên trẻ rất       

dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động của môi trường sống nếu không được       

Trang 13

chăm sóc giáo dục đúng đắn và có kế hoạch cụ thể sẽ rất dễ dẫn đến những       

thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được Nhận       

thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã đặc biệt       

chú trọng đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Tuy nhiên, trong quá       

trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn tình hình sức khỏe còn nhiều vấn đề       

đáng lo ngại Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các bệnh đường       

hô hấp, các bệnh đường ruột…các điều kiện đảm bảo và chăm sóc sức khỏe       

của trẻ còn nhiều thiếu thốn Cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá       

chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ ảnh hưởng đến việc học       

tập, sinh hoạt Vì vậy, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành một       

cách mạnh mẽ toàn diện và cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo       

điều kiện cho trẻ được phát triển một cách tốt nhất.  Vì thế, là một GVMN tương lai, tôi rất quan tâm tới vấn đề phát triển       

thể chất cho trẻ nên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: ​       “Đánh giá năng lực phát      

triển thể chất của trẻ em 5 ­ 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã      

Phúc Yên ­ Vĩnh Phúc”.   ​❖ ​Mục đích nghiên cứu  Đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­ 6 tuổi trường mầm       

non trên địa bàn thị xã Phúc Yên ­ Vĩnh Phúc, tìm ra nguyên nhân và trên cơ       

sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực phát triển thể chất cho       

trẻ mẫu giáo ở trường mầm non.  ❖​ Giả thuyết khoa học  Lựa chọn và sử dụng các bài tập thể chất có hiệu quả sẽ góp phần nâng       

cao hiệu quả phát triển thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non, bổ xung thêm       

Trang 14

Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN; cụ thể hóa các yêu cầu       nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từng độ tuổi; quy định việc tổ chức       các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí       

Trang 15

tuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi       

mầm non.  Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành chương trình GDMN trên cơ sở thẩm       

định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDMN.  1.1.2. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDMN  Phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực       

quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều       

kiện để phát huy nguồn nhân lực con người Đây là trách nhiệm của toàn       

Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng       

nòng cốt, có vai trò quan trọng  [8]   Nhận thức được điều đó GDMN trong những năm gần đây luôn được       

Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướng xác định mục tiêu, nhiệm       

vụ giáo dục học sinh lứa tuổi mầm non Trong các Nghị quyết của Trung       

ương Đảng 2011 ­ 2014 về nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo đã       

nêu rõ: “…Kiên quyết giảm hợp lí nội dung chương trình học cho phù hợp với       

tâm sinh lí của học sinh bậc học mầm non và bậc học phổ thông…” [8].  Tư tưởng của Đảng và của Nhà nước về GDMN cũng được thể hiện rõ       

trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đó là “… Đổi mới mạnh       

mẽ GDMN và giáo dục phổ thông Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình       

trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa       

phổ thông bảo đảm tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều       

kiện cụ thể của Việt Nam…”, “… Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay       

sang mô hình giáo dục mở ­ mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt       

đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học Phát triển giáo       

dục mầm non, giáo dục phổ thông và hệ thống hướng nghiệp, dạy nghề…”        [10]. 

Trang 16

Quan điểm chiến lược về GD&ĐT đến 2020 là thực hiện mục tiêu giáo       

dục toàn diện ở tất cả các bậc học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại       

hóa đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: Ở mọi bậc       

học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo vệ       

sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được rèn luyện thông       

qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động TDTT, để bản thân các em luôn có       

trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội [3].  Nhà nước coi GDMN là một bậc học cần thiết và bắt buộc phải có       

trong hệ thống giáo dục Từ chỉ thị 53/CP của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12       

tháng 8 năm 1966 đã xác định mục tiêu của GDMN “Giáo dục mầm non tốt       

sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” Trong Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày       

11/1/1997 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: “… kết hợp các       

biện pháp thể dục, khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức       

khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được       

nuôi dưỡng và phát triển tốt”.  1.1.3. Hệ thống giáo dục mầm non  ­ ​ Trong những năm gần đây việc đầu tư cho cơ sở vật chất cho GDMN       

đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Đặc biệt hệ thống các       

trường lớp mầm non đang được xây dựng, sửa chữa và xây dựng mới Các       

trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng đang từng bước       

được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp với yêu cầu giáo dục.  ­ ​ Theo số liệu của tổng cục thống kê từ năm 2007 ­ 2013 số trường       

mầm non, số học sinh mầm non và số lượng GVMN tính đến hàng năm, được       

thể hiện ở các bảng 1.1, 1.2, 1.3.    Bảng 1.1: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trường        mầm non trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê). 

 

Trang 17

Năm  2007­2008  2008­200

2009­201

2010­2011  2011­2012  2012­201

3  Trường 

(cả nước)  11.629  12.190  12.357  12.980  13.172  13.548 

 

Theo số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy số trường mầm non trong cả       

nước tăng dần theo từng năm, năm học 2007 ­ 2008 cả nước có 8.732 trường       

đến năm học 2012 ­ 2013 cả nước đã có 10.707 trường Điều đó cho thấy       

trong những năm gần đây việc đầu tư cho GDMN đang được Đảng và Nhà       

nước ta hết sức quan tâm Đặc biệt các hệ thống trường lớp mầm non đang       

được xây dựng và sửa chữa Các trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc       

giáo dục trẻ cũng đang từng bước được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp       

với yêu cầu giáo dục.  Bảng 1.2: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trẻ       

trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê). 

 

Năm  2007­200

2008­200

2009­201

2010­201

2011­2012  2012­201

3  Trẻ em 

(cả nước)  3.195.731  3.305.391  3.409.823  3.599.663  3.873.445  4.148.356  Nhà trẻ  508.694  494.766  508.190  528.869  553.117  597.274 

Trang 18

Quy mô của GDMN ngày càng tăng thu hút hầu hết các cháu trong độ       

tuổi mầm non đến trường Theo số liệu thống kê ở bảng 1.2 cho thấy số trẻ       

mầm non trong cả nước tăng dần theo từng năm, năm học 2007 ­ 2008 ở nhà       

trẻ cả nước có 508.694 trẻ đến năm học 2012 ­ 2013 cả nước đã có 597.274       

trẻ Đối với trẻ mẫu giáo năm học 2007 ­ 2008 cả nước có 2.687.037 trẻ đến       

năm học 2012 ­ 2013 cả nước đã có 3. 551.082 trẻ.  Bảng 1.3: Bảng số liệu “Giáo giáo dục mầm non” thống kê về số       

GVMN trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê).    Năm  2007­2008  2008­200 9  2009­201 0  2010­2011  2011­2012  2012­201 3  Giáo viên  (cả nước)  172.978  183.443  195.852  211.225  229.724  244.478  Nhà trẻ  44.140  45.385  49.256  52.244  55.715  56.302  Mẫu giáo  128.838  138.058  146.596  158.981  174.009  188.176  Hệ thống các trường khoa sư phạm mầm non trong những năm gần đây       

đang từng bước được kiện toàn cho phù hợp với yêu cầu của nền giáo dục hội       

nhập Các chính sách chế độ cho GVMN cũng đang có sự quan tâm thích       

đáng của Đảng và Nhà nước Theo số liệu thống kê ở bảng 1.3 cho thấy số       

GVMN cả nước tăng dần theo từng năm học 2007 ­ 2008 ở nhà trẻ cả nước có       

44.140 GV đến năm học 2012 ­ 2013 cả nước đã có 56.302 GV, ở mẫu giáo       

năm học 2007 ­ 2008 cả nước có 128.838 GV đến năm học 2012 ­ 2013 cả       

nước đã có 188.176 GV. 

Trang 19

1.2.1. Giáo dục các kỹ xảo và thói quen vệ sinh 

Giáo dục các kỹ xảo và thói quen vệ sinh là một nội dung không thể       thiếu được trong việc GDTC và hình thành nhân cách cho trẻ Trong cuộc       sống và sinh hoạt hàng ngày, trẻ cần đến nhiều loại thói quen khác nhau Đối       với trẻ mầm non, cần giáo dục một số loại kỹ xảo và thói quen vệ sinh sau: 

­ Vệ sinh thân thể: Có thói quen tắm rửa và gìn giữ sạch sẽ thân thể       (mặt, mũi, đầu, tóc, chân, tay…) Không cho tay, đồ chơi hoặc bất kỳ một vật       

­ Sắp xếp các thao tác tạo nên hành động theo một thứ tự nhất định, hợp       

lý. 

­ Lập kế hoạch thứ tự các hành động. 

­ Từng bước giúp trẻ nhận thức được ý nghĩa và sự hợp lý của các thao       tác, các hành động văn hóa ­ vệ sinh từ đó hình thành nhu cầu về thói quen       văn hóa ­ vệ sinh. 

Trang 20

­ Người lớn phải thực hiện mẫu mực tất cả những yêu cầu văn hóa ­ vệ       

sinh trước trẻ và nhắc nhở trẻ làm như người lớn.  ­ Phối hợp với gia đình để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được vận       

dụng, củng cố những kỹ năng đó ở gia đình để nhanh chóng hình thành nhu       

cầu thói quen văn hóa ­ vệ sinh.  1.2.2. ​Tổ chức cho trẻ ăn  Ăn uống là một nhu cầu không thể thiếu được đối với mỗi con người        

Để giúp cơ thể phát triển tốt, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cơ       

quan và hệ cơ quan trong cơ thể cần tổ chức chế độ ăn uống hợp lý cho trẻ.       

Hàng ngày, cần cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng và đặc biệt phải đảm bảo vệ sinh       

an toàn thực phẩm cho trẻ.  Chế độ ăn uống hợp lí được xây dựng trên cơ sở mức năng lượng cần       

thiết ở độ tuổi (quy ra calo) sự kết hợp các thành phần thức ăn theo cấu tạo       

các thành phần hóa học (protit, lipit, glucid, muối khoáng và vitamin) sự đa       

dạng của các loại thức ăn và cách nấu nướng.  Để tổ chức bữa ăn cho trẻ tốt cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau:  ­ Phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát Bàn ghế sắp xếp thuận tiện cho trẻ ngồi       

xuống và đứng lên.  ­ Bàn ăn, bát đĩa phù hợp với lứa tuổi và được xếp đặt có thẩm mỹ.  ­ Trước khi ăn khoảng nửa giờ, cần kết thúc các buổi dạo, các trò chơi       

kích thích Thời gian này cần các trò chơi, các giờ học yên tĩnh Tránh gây ra       

những kích thích thần kinh tạo ra nhiều ấn tượng.  ­ Cho trẻ rửa tay, rửa mặt trước khi ăn Khi ngồi vào bàn được ăn ngay       

không phải chờ đợi lâu.  Hình thành cho trẻ các kỹ xảo ăn có văn hóa: không ăn vội vàng, nhai       

kĩ Lấy thức ăn từng ít một Cầm thìa, bát, đũa đúng động tác, nhai nhỏ nhẹ,       

Trang 21

ngậm miệng không phát ra tiếng Với trẻ lớn cần phải có các kỹ xảo sử dụng       

các đồ dùng nhà bếp, có kỹ năng tự phục vụ.  Quá trình tổ chức cho trẻ ăn GV cần quan sát và phát hiện nguyên nhân       

trẻ ăn không ngon và đưa ra biện pháp khắc phục:  ­ Bình thường, với bữa ăn tổ chức đúng đắn trẻ ăn uống tự giác, vui vẻ       

và ngon lành Song có nhiều trường hợp trẻ ghê sợ bữa ăn, có thái độ chống       

đối hay ăn uống uể oải Khi ấy, nếu dùng phương pháp ép buộc, thậm chí dỗ       

dành, khen ngợi đều là không đúng và gây tác hại, gây ra tâm lí tiêu cực với       

bữa ăn.  ­ Cần tìm hiểu nguyên nhân làm cho trẻ ăn không ngon miệng, thậm chí       

ghê sợ bữa ăn để từ đó đưa ra cách khắc phục hợp lí có thể là:  + Do thức ăn khô, khó nuốt.  + Do tình trạng sức khỏe không bình thường.  + Do thức ăn lạ với trẻ, không thích hợp với trẻ vì gia đình chưa bao       

giờ cho ăn.  + Do trẻ được nuông chiều ở nhà, khi ăn bao giờ cũng quen dỗ dành.       

Từ các nguyên nhân trên mà các nhà giáo dục đưa ra biện pháp khắc phục tích       

cực nhất cho trẻ.   1.2.3. Tổ chức cho trẻ ngủ    Giấc ngủ của trẻ có ý nghĩa to lớn trong việc phục hồi khả năng làm       

việc của các tế bào thần kinh Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ       

bản để ngăn ngừa tình trạng quá mệt mỏi của hệ thần kinh và cơ thể Trẻ nhỏ       

thường ngủ nhiều hơn người lớn bởi hệ thần kinh của trẻ còn yếu, dễ mệt mỏi.       

Chính vì vậy, chúng ta cần tổ chức cho trẻ ngủ thật tốt để giúp trẻ khôi phục       

Trang 22

lại trạng thái bình thường của các tế bào thần kinh nhằm củng cố và tăng       cường sức khoẻ cho trẻ. 

Một phương tiện cơ bản để tạo ra nhu cầu cần ngủ ở trẻ một cách đúng       đắn là việc tạo ra một chế độ ngày ­ đêm thích hợp với lứa tuổi và những đặc       điểm cá nhân trẻ Muốn vậy cần tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ       ngủ nhanh, ngủ sâu vào những giờ giấc đã quy định cho giấc ngủ. Cụ thể: 

­ Cần tạo ra trạng thái yên tĩnh cần thiết trước giờ ngủ, không có những       hoạt động kích thích mạnh hưng phấn cho trẻ, không làm ồn, không để ánh       sáng chói chiếu vào phòng ngủ, phòng ngủ không khí phải thoáng. 

­ Cho trẻ ngủ đúng giờ tạo ra phản xạ có điều kiện thuận lợi cho việc       rèn luyện thói quen ngủ nhanh, ngủ ngon giấc. 

­ Không nên có những hình thức giao tiếp gây xúc cảm tiêu cực cho trẻ       

Trang 23

hô hấp, tuần hoàn, tăng cường sự trao đổi chất và sức khoẻ cho trẻ Sự phát       triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp       với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo như: TCVĐ, thể dục buổi sáng, các       tiết học thể dục, dạo chơi, lao động. 

Trong các TCVĐ, trong các tiết học thể dục, vận động khi đi dạo trẻ       được giáo dục nhiều phẩm chất quý giá: sự định hướng trong không gian,       nhanh nhẹn chính xác, vận động khéo léo, mở rộng quan hệ trong tập thể. 

Sự phát triển vận động gắn chặt với sự phát triển toàn bộ cơ thể và tâm       

lí của trẻ Bởi vậy khi lập chương trình GDTC nhằm phát triển vận động cần       dựa trên những cơ sở sau: 

­ Ưu tiên lựa chọn các bài tập, trò chơi hoạt động lao động có tác dụng       chung đến cơ thể và động viên nhiều cơ bắp tham gia. 

­ Chọn các bài tập, trò chơi gây hứng thú và đồng thời đặt ra trước trẻ       một nhiệm vụ vừa sức. 

­ Tăng cường các nhóm cơ bắp còn non yếu về mặt sinh lí và giáo dục       

tư thế đúng. 

­ Giáo dục kĩ năng vận động và vận động trong tập thể. 

Các TCVĐ, trò chơi thể thao là hình thức hoạt động hấp dấn trẻ em và       các tác động giáo dục nhiều vận động cơ bản và sự phối hợp các vận động ấy.       Các TCVĐ rất phong phú và đa dạng được lựa chọn trong chương trình phù       hợp với từng độ tuổi Với trẻ nhỏ trò chơi bao gồm các vận động đơn giản với       các luật chơi đơn giản Với các trẻ lớn thì nội dung vận động và luật chơi       phức tạp hơn đòi hỏi các em phải hiểu điều kiện chơi, vận động chính xác và       đúng luật chơi. 

Trang 24

Bài tập thể dục có tác dụng tốt đến hoạt động sinh lí cơ thể Cơ bắp       được vận động thích hợp sẽ tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng cường sự       làm việc các cơ quan bên trong hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp Đặc biệt       

sự làm việc toàn vẹn của các tế bào thần kinh của não được tăng cường sẽ có       tác động trở lại đối với toàn bộ vận động và hoạt động của các cơ quan. 

1.2.5. ​Tổ chức chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mẫu giáo 

Chế độ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để GDTC cho trẻ có kết quả.       Chế độ sinh hoạt là sự luân phiên rõ ràng và hợp lý các dạng hoạt động và       nghỉ ngơi của trẻ trong một ngày, nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về ăn, ngủ,       

vệ sinh cá nhân, hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng       thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cơ thể phát triển tốt. 

Chế độ sinh hoạt có ý nghĩa giáo dục đối với trẻ Do sự lặp lại thường       xuyên các thao tác, các hoạt động trong thời gian nhất định và theo một trình       

tự nhất định làm cho trẻ nắm được những sinh hoạt hợp lí, những kỹ năng văn       hóa  vệ sinh và hoạt động. 

­ Chế độ sinh hoạt ở trường mẫu giáo được xây dựng trên cơ sở những       đặc điểm sinh lí, tâm lí của trẻ, trên cơ sở những nhiệm vụ giáo dục và điều       kiện sinh hoạt quyết định. Cụ thể: 

­ Chế độ sinh hoạt phải phù hợp lứa tuổi Đây là yêu cầu cơ bản của       việc xây dựng chế độ sinh hoạt cần căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi của hoạt       động thần kinh cao cấp, giới hạn làm việc của tế bào thần kinh vỏ não để định       thời gian hoạt động, ngủ cho trẻ ở các nhiệm vụ giáo dục. 

­ Chế độ sinh hoạt phải được cố định Khi chế độ sinh hoạt đã được xác       lập một cách khoa học thì cần phải thực hiện một cách cố định. 

Trang 25

Việc thực hiện chế độ sinh hoạt không nên quá cứng nhắc, với mỗi trẻ       cần có sự linh hoạt thích đáng Có thể xê dịch thời gian biểu ở mức độ cần       thiết Chẳng hạn, khi trẻ đang quá ham chơi và mệt mỏi, thì có thể kéo dài giờ       chơi chút ít, một trẻ cần ngủ sớm hay dậy sớm cũng được khi chúng có yêu       cầu.  

Chế độ sinh hoạt của trẻ được chương trình chăm sóc ­ giáo dục trẻ do       

Trang 26

GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện Đó       

là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ thông qua việc rèn luyện cơ thể và       hình thành phát triển các kỹ xảo vận động, tổ chức sinh hoạt và giữ gìn vệ       sinh nhằm làm cơ thể phát triển hài hòa cân đối, sức khỏe được tăng cường       làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách.  

Sức khỏe là vốn quý giá nhất có ý nghĩa sống còn đối với con người,       đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi Ở lứa tuổi này quá trình tăng trưởng của trẻ diễn ra       rất nhanh chóng, nhưng cơ thể của trẻ lại quá non nớt, trẻ dễ chịu ảnh hưởng       của những tác động bên ngoài, sức đề kháng của trẻ kém cho nên trẻ dễ mắc       các loại bệnh nguy hiểm đến tính mạng Do vậy, trẻ chỉ có thể phát triển thể       lực tốt nếu như người lớn chú ý đến việc chăm sóc giữ gìn sức khỏe, bảo vệ       

hệ thần kinh khỏe mạnh cho trẻ Khi đứa trẻ khỏe mạnh, hiển nhiên sẽ có ảnh       hưởng tốt đến sự phát triển chung của trẻ. 

GDTC có mối quan hệ mật thiết tới việc giáo dục đức, trí, thẩm mỹ và       lao động cho trẻ Bởi sự thành công của bất cứ hoạt động nào của trẻ đều phụ       thuộc vào trạng thái sức khỏe của nó Nếu cơ thể khỏe mạnh sẽ làm cho trẻ       

Trang 27

yêu đời hơn, tri giác cái đẹp sâu sắc, tinh tế hơn và trẻ có khả năng tạo ra cái       đẹp trong mọi hoạt động và đời sống GDTC còn có mối liên hệ chặt chẽ với       giáo dục lao động Thể dục giúp trẻ có sức khỏe dẻo dai, vận động nhanh       nhẹn, chính xác hơn, trẻ có cảm giác về nhịp điệu và sự định hướng không       gian tốt hơn.  

1.3.1.2. Mục tiêu GDTC cho trẻ mẫu giáo 

Căn cứ quyết định số 55 của Bộ GD&ĐT quy định mục tiêu kế hoạch       đào tạo: GDMN “Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con       người mới XHCN Việt Nam”: 

Trang 28

­ ​Làm quen với một số việc tự phục vụ, giữ gìn sức khỏe. 

­ ​Nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn. 

Nội dung chương trình GDTC mầm non theo lứa tuổi được trình bày tại bảng 1.5. 

Trang 29

Tập thụ động: 

­ Tay: co, duỗi, đưa lên cao, bắt chéo tay trước ngực. 

Tập thụ động: 

­ Tay: giơ cao, đưa phía trước, đưa sang ngang. 

Hô hấp: tập hít thở

­ Tay: giơ cao, đưa sangngang 

­ Tập trườn, xoay người theo các hướng 

­ Tập bò. 

­ Chân: dang sang 2 bên, nhấc cao từng chân, 2 chân. 

­ Lưng, bụng, lườn Cúi về phía trước, Nghiêng người sang 

2 bên. 

­ Tập trườn , bò qua vật cản. 

­ Chân: dang sang 2bên, ngồi xuống, đứnglên. 

­ Lưng, bụng, lườn:Cúi về phía trước,nghiêng người sang 2bên. 

­ Tập bò, trườn:

+ Bò, trườn tới đích.+ Bò chui

­ Tập tung, ném:

Trang 30

bàn tay. 

­ Vẫy tay, cử động các ngón. 

­ Xoay bàn tay và 

cử động các ngón tay. 

­ Co, duỗi ngón tay, đanngón tay

Trang 31

Con người sinh ra và lớn lên ai cũng mong muốn được khỏe mạnh cơ       thể phát triển cân đối hài hòa Song để đạt được điều đó họ cần giáo dục và tổ       chức tập luyện thể dục một cách có hệ thống nhằm hoàn thiện dần về cơ thể       ngay từ những năm tháng đầu tiên. 

Trang 33

­ Trèo lên xuống thang  

Trang 34

Vận động là nhu cầu tự nhiên của cơ thể, đặc biệt có ý nghĩa hết sức       quan trọng đối với sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo Vận động làm cho       các cơ bắp và toàn bộ cơ thể hoạt động, làm tăng cường sự hoạt động của hệ       

hô hấp, tuần hoàn, tăng cường sự trao đổi chất và sức khỏe cho trẻ Sự phát       triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp       với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo: TCVĐ, thể dục buổi sáng, các tiết       học thể dục, dạo chơi, lao động. 

* Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi: 

Giai đoạn này trẻ trở nên cứng cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động và       không biết mệt mỏi, các mệt mỏi của trẻ dần đi đến hoàn thiện Vì vậy, sự vận       động của trẻ cần được người lớn theo dõi, kiểm tra Khả năng chú ý của trẻ       tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình trẻ có thể thực hiện được những động       tác quen thuộc bằng nhiều cách, trong một thời gian dài hơn, với lượng vận       động lớn hơn Các vận động của trẻ đạt tới mức độ chính xác, nhịp nhàng,       biết phối hợp vận động của mình với các bạn: trẻ có khả năng quan sát hình       ảnh động tác mẫu của GV ghi nhớ để thực hiện lại Do đó, phải tăng dần yêu       cầu đối với trẻ để giúp trẻ hoàn thiện vận động, sử dụng nhiều phương pháp       dạy học khác nhau giúp trẻ thực hiện động tác một cách có ý thức và đạt hiệu       quả cao hơn Chú ý thường xuyên theo dõi, kiểm tra đánh giá quá trình vận       động của trẻ Lứa tuổi này sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở       những vận động đi, chạy và phát triển cảm giác thăng bằng, vận động nhảy,       vận động ném, trườn, trèo. 

* Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi 

Trang 35

Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỷ lệ cơ thể đã cân đối, tạo       

ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, sự vận động tốt       hơn Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong quá       trình tập luyện bài tập vận động Các vận động cơ bản được thực hiện tương       đối chính xác, mềm dẻo, thể hiện sự khéo léo trong vận động, lực cơ bắp được       tăng lên Sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở những vận động đi,       vận động nhảy, vận động chạy, bò, ném. 

Như vậy, dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở       từng độ tuổi mầm non, ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng       dẫn vận động phù hợp với trẻ để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong quá       trình tập luyện. 

1.3.2 Tổ chức GDTC cho trẻ em 5 ­ 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn       Thị xã Phúc Yên ­ Vĩnh Phúc 

Trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng là hai       trường mầm non đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia ở khu vực Thị xã Phúc       Yên ­ Vĩnh Phúc Trong các nội dung giáo dục thì GDTC là một trong những       nhiệm vụ trọng tâm của ngành GDMN và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát       triển của trẻ nên được các trường đặc biệt quan tâm, lưu ý Và để tìm hiểu rõ       hơn về hoạt động tổ chức GDTC cho trẻ em 5 ­ 6 tuổi trong các trường mầm       non tôi đã sử dụng phương pháp quan sát về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo GV       

và tổ chức GDTC trong hai trường: trường mầm non Hoa Hồng và trường       mầm non Phúc Thắng thuộc khu vực Thị xã Phúc Yên ­ Vĩnh Phúc. 

1.3.2.1 Cơ sở vật chất trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non       Phúc Thắng Phúc Yên ­ Vĩnh Phúc 

Trang 36

­ ​ Trường mầm non Hoa Hồng có tổng diện tích là: 10.000m​      2, ​  đạt 12m​  2​/ cháu Trong đó diện tích sân vườn trường là 5000m​      2​, còn lại là diện tích xây       dựng cơ bản Các công trình đều được xây dựng kiên cố, phòng sinh hoạt       chung được trang bị đầy đủ bàn ghế, đồ dùng, đồ chơi sắp xếp theo chủ đề       giáo dục, có tranh, ảnh, hoa, cây cảnh trang trí đẹp, phù hợp với đặc điểm sinh       

lí trẻ ở từng độ tuổi Tất cả các thiết bị đều đảm bảo theo đúng quy cách của       thông tư 02 của Bộ GD&ĐT quy định Trường đã được trang bị hệ thống máy       tính phục vụ cho chương trình học Kisdmart gồm 22 máy tính, 4 máy chiếu       cho trẻ và GV, giúp các bé tiếp cận với công nghệ thông tin và kích thích phát       triển trí thông minh sáng tạo của trẻ. 

Trang 37

thiết kế thông thoáng, ánh sáng tự nhiên, tạo cảm giác thoải mái khi trẻ học       tập và vui chơi giúp trẻ học tập tốt, vui chơi phát triển trí tuệ, năng khiếu… 

Ngày đăng: 05/04/2016, 11:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Thanh Âm (2004), ​         Giáo dục học mầm non, tập I, II, III, NXB Đại                       học Sư phạm Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học mầm non, tập "I, II, III, NXB Đại"         
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại"         "      học Sư phạm Hà Nội. 
Năm: 2004
3. Bộ GD&ĐT (2000), ​       Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục mầm                     non​ , NXB Giáo dục.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục mầm non
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
4. Bộ GD&ĐT, Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non. Vụ giáo dục                           mầm non (2007), ​       Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục                       trong trường mầm non theo chủ đề​, NXB Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục                     trong trường mầm non theo chủ đề​
Tác giả: Bộ GD&ĐT, Trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non. Vụ giáo dục                           mầm non
Nhà XB: NXB Hà Nội. 
Năm: 2007
5. Bộ GD&ĐT, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nhà trẻ ­ Mẫu giáo TW (1999),                             kỷ yếu hội thảo Khoa học​ , TP.Hồ Chí Minh.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỷ yếu hội thảo Khoa học​
Tác giả: Bộ GD&ĐT, Trường Cao Đẳng Sư Phạm Nhà trẻ ­ Mẫu giáo TW
Năm: 1999
7. Hoàng Thị Bưởi (2000), ​         Phương pháp GDTC mầm non​         , NXB Quốc gia         Hà Nội.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp GDTC mầm non
Tác giả: Hoàng Thị Bưởi
Nhà XB: NXB Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
9. Đảng Cộng Sản Việt Nam. ​           Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX​                   ,   NXB chính Trị Quốc Gia.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX​                 
Nhà XB: NXB chính Trị Quốc Gia. 
10. Đảng Cộng Sản Việt Nam. ​             Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X​                     , NXB chính Trị Quốc Gia.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB chính Trị Quốc Gia
13. Đinh Thị Kim Thoa (2009), ​             Đánh giá trong giáo dục mầm non, ​               NXB   giáo dục Việt Nam.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục mầm non, ​             
Tác giả: Đinh Thị Kim Thoa
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam. 
Năm: 2009
6. Bộ GD&ĐT, Quyết định 55 quy định mục tiêu đào tạo của nhà trẻ,                             trường mẫu giáo, Hà Nội.  Khác
8. Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 2001­ 2004, NXB chính trị Quốc                           Gia.  Khác
11. Nghị quyết số 46 ­ NQ/TW của Bộ Chính trị. ​                         Về công tác bảo vệ, chăm           sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.  Khác
12. Quyết định 55 của Bộ giáo dục quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của                                   nhà trẻ, Mẫu giáo Hà Nội, 1990.  Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4  Kết quả kiểm tra trình độ thể lực theo tiêu chuẩn RLTT - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực theo tiêu chuẩn RLTT (Trang 8)
Bảng 1.2: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trẻ - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 1.2 Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trẻ (Trang 17)
Bảng 1.4: Bảng chế độ sinh hoạt của trẻ - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 1.4  Bảng chế độ sinh hoạt của trẻ (Trang 25)
Bảng 1.5: Nội dung GDTC theo độ tuổi  (Ban hành kèm theo thông tư số: 17/2009/TT – BGDĐT ngày 25 - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 1.5  Nội dung GDTC theo độ tuổi  (Ban hành kèm theo thông tư số: 17/2009/TT – BGDĐT ngày 25 (Trang 29)
Bảng 1.6: Nội dung tập luyện các kỹ năng vận động cơ bản và phát                               triển các tố chất trong vận động cho trẻ 5 ­ 6 tuổi - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 1.6 Nội dung tập luyện các kỹ năng vận động cơ bản và phát                               triển các tố chất trong vận động cho trẻ 5 ­ 6 tuổi (Trang 31)
Bảng 3.1: Thực trạng đội ngũ GV của trường mầm non Hoa Hồng                           Phúc Yên ­ Vĩnh Phúc - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ GV của trường mầm non Hoa Hồng                           Phúc Yên ­ Vĩnh Phúc (Trang 48)
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số TCVĐ                             nhằm nâng cao năng lực phát triển thể chất cho trẻ 5 ­ 6 tuổi trường                     mầm non Hoa Hồng (n=25) - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn giáo viên về lựa chọn một số TCVĐ                             nhằm nâng cao năng lực phát triển thể chất cho trẻ 5 ­ 6 tuổi trường                     mầm non Hoa Hồng (n=25) (Trang 55)
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra trình độ thể lực theo tiêu chuẩn RLTT                             của 2 nhóm ĐC (n = 10) và nhóm TN (n = 10) sau TN - đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 ­6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã phúc yên ­ vĩnhphúc
Bảng 3.5. Kết quả kiểm tra trình độ thể lực theo tiêu chuẩn RLTT                             của 2 nhóm ĐC (n = 10) và nhóm TN (n = 10) sau TN (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w