GDMN không chỉ chiếm một vị trí vô cùng quan trọng mà nó còn là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người mới xã hội ch
Trang 1
Trang 2
HÀ NỘI 2014
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
Trang 3
TS. LÊ TRƯỜNG SƠN CHẤN HẢI
HÀ NỘI 2014
Trang 4Tên tôi là: Đỗ Thị Thu Hằng
Sinh viên: Lớp K36B Khoa Giáo Dục Tiểu Học
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu, số liệu được trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực và độc lập với kết quả của tác giả khác.
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Số bảng
biểu
g Bảng 1.1 Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trường
Bảng 3.3 Kế hoạch giảng dạy TCVĐ nhằm nâng cao năng lực phát
triển thể chất cho trẻ 5 6 tuổi trường mầm non Hoa Hồng
42
Trang 8Bảng 3.4 Kết quả kiểm tra trình độ thể lực theo tiêu chuẩn RLTT
Trang 9Trang 10
Trang 11
Một quốc gia có nền giáo dục phát triển là một quốc gia có nền kinh tế
phát triển hết sức hùng mạnh Vì vậy, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự
phát triển, đảm bảo xây dựng một thế hệ kế tiếp có đầy đủ những phẩm chất
về tri thức, năng lực, trình độ để phục vụ cho đất nước Tại đại hội Đảng khóa
IX đã xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo
dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người”
[9] Vì vậy hiện nay giáo dục đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã
hội đặc biệt là GDMN. GDMN không chỉ chiếm một vị trí vô cùng quan trọng mà nó còn là
khâu đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân là bậc học đặt nền móng cho
sự phát triển nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tinh
thần:…hình thành những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN
Việt Nam Chăm sóc giáo dục trẻ em ngay từ những tháng năm đầu tiên của
cuộc sống là một việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong sự nghiệp chăm lo đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con
người chủ nhân tương lai của đất nước Nếu ví rằng giáo dục con người là
cuộc chạy đua việt dã đầy khó khăn gian khổ thì GDMN chính là giai đoạn
khởi động, nếu khởi động tốt chắc chắn vận động viên sẽ đạt được thành tích
tốt Việt Nam đang có một bước chuyển mình thay đổi hết sức mạnh mẽ trên
con đường đi lên xây dựng cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc. Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em là công dân của xã hội, là
Trang 12giáo dục trẻ thật chu đáo để trở thành hành trang vững chắc mà mỗi con người
cần phải có để bước vào cuộc sống xã hội Và một yếu tố vô cùng quan trọng
không thể thiếu trong hành trang ấy là nhiệm vụ GDTC cho trẻ Đặc biệt, giáo
GDTC cho trẻ càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi trong Nghị quyết số 46
NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe
nhân dân trong tình hình mới có ghi rõ: “ Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi
con người và của toàn xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân
dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp
xy dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu
của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện
bản chất tốt đẹp” [11] Do đó, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến
hành một cách mạnh mẽ, toàn diện, cần được sự quan tâm của toàn xã hội, tạo
điều kiện cho trẻ được phát triển tốt nhất. Đối với trẻ mầm non, khả năng tự nhận thức của trẻ còn hạn chế, do đó
cần hình thành ở trẻ những nhu cầu, thói quen đến việc thực hiện bài tập thể
chất hàng ngày, giáo dục lòng yêu thích rèn luyện thể dục sự hứng thú đến
việc luyện tập điều này sẽ giải quyết được những nhiệm vụ giáo dục trí tuệ,
đạo đức, thẩm mỹ và lao động cho trẻ mầm non sẽ tạo ra những điều kiện
thuận lợi cho sự hoạt động của hệ thần kinh, cơ xương, giúp cho các quá trình
tâm lý như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy như quan sát, so sánh, tổng hợp,
khái quát Ngoài ra còn củng cố ở trẻ những kiến thức không chỉ liên quan
đến GDTC, mà còn thu nhận được những kiến thức về sự vật, hiện tượng
xung quanh, những hiện tượng thiên nhiên và xã hội. Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối nên trẻ rất
dễ bị ảnh hưởng bởi những tác động của môi trường sống nếu không được
Trang 13chăm sóc giáo dục đúng đắn và có kế hoạch cụ thể sẽ rất dễ dẫn đến những
thiếu sót trong sự phát triển cơ thể trẻ mà không thể khắc phục được Nhận
thức được điều đó, Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây đã đặc biệt
chú trọng đến công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non Tuy nhiên, trong quá
trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn tình hình sức khỏe còn nhiều vấn đề
đáng lo ngại Nhiều trẻ mắc bệnh còi xương, suy dinh dưỡng, các bệnh đường
hô hấp, các bệnh đường ruột…các điều kiện đảm bảo và chăm sóc sức khỏe
của trẻ còn nhiều thiếu thốn Cơ sở vật chất ở các trường và gia đình còn quá
chật hẹp, chưa đảm bảo vệ sinh môi trường cho trẻ ảnh hưởng đến việc học
tập, sinh hoạt Vì vậy, GDTC cho trẻ em ở nước ta cần được tiến hành một
cách mạnh mẽ toàn diện và cần được sự quan tâm ủng hộ của toàn xã hội, tạo
điều kiện cho trẻ được phát triển một cách tốt nhất. Vì thế, là một GVMN tương lai, tôi rất quan tâm tới vấn đề phát triển
thể chất cho trẻ nên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá năng lực phát
triển thể chất của trẻ em 5 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn thị xã
Phúc Yên Vĩnh Phúc”. ❖ Mục đích nghiên cứu Đánh giá năng lực phát triển thể chất của trẻ em 5 6 tuổi trường mầm
non trên địa bàn thị xã Phúc Yên Vĩnh Phúc, tìm ra nguyên nhân và trên cơ
sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực phát triển thể chất cho
trẻ mẫu giáo ở trường mầm non. ❖ Giả thuyết khoa học Lựa chọn và sử dụng các bài tập thể chất có hiệu quả sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả phát triển thể chất cho trẻ em lứa tuổi mầm non, bổ xung thêm
Trang 14Chương trình GDMN thể hiện mục tiêu GDMN; cụ thể hóa các yêu cầu nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từng độ tuổi; quy định việc tổ chức các hoạt động nhằm tạo điều kiện để trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí
Trang 15tuệ, thẩm mỹ, hướng dẫn cách thức đánh giá sự phát triển của trẻ em ở tuổi
mầm non. Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành chương trình GDMN trên cơ sở thẩm
định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình GDMN. 1.1.2. Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về GDMN Phát triển GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều
kiện để phát huy nguồn nhân lực con người Đây là trách nhiệm của toàn
Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục là lực lượng
nòng cốt, có vai trò quan trọng [8] Nhận thức được điều đó GDMN trong những năm gần đây luôn được
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, định hướng xác định mục tiêu, nhiệm
vụ giáo dục học sinh lứa tuổi mầm non Trong các Nghị quyết của Trung
ương Đảng 2011 2014 về nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục và đào tạo đã
nêu rõ: “…Kiên quyết giảm hợp lí nội dung chương trình học cho phù hợp với
tâm sinh lí của học sinh bậc học mầm non và bậc học phổ thông…” [8]. Tư tưởng của Đảng và của Nhà nước về GDMN cũng được thể hiện rõ
trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đó là “… Đổi mới mạnh
mẽ GDMN và giáo dục phổ thông Khẩn trương điều chỉnh, khắc phục tình
trạng quá tải và thực hiện nghiêm túc chương trình giáo dục và sách giáo khoa
phổ thông bảo đảm tính khoa học, cơ bản, phù hợp tâm lý lứa tuổi và điều
kiện cụ thể của Việt Nam…”, “… Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay
sang mô hình giáo dục mở mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt
đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học Phát triển giáo
dục mầm non, giáo dục phổ thông và hệ thống hướng nghiệp, dạy nghề…” [10].
Trang 16Quan điểm chiến lược về GD&ĐT đến 2020 là thực hiện mục tiêu giáo
dục toàn diện ở tất cả các bậc học đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định: Ở mọi bậc
học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo vệ
sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được rèn luyện thông
qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động TDTT, để bản thân các em luôn có
trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội [3]. Nhà nước coi GDMN là một bậc học cần thiết và bắt buộc phải có
trong hệ thống giáo dục Từ chỉ thị 53/CP của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12
tháng 8 năm 1966 đã xác định mục tiêu của GDMN “Giáo dục mầm non tốt
sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt” Trong Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày
11/1/1997 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã chỉ rõ: “… kết hợp các
biện pháp thể dục, khoa học và những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức
khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được
nuôi dưỡng và phát triển tốt”. 1.1.3. Hệ thống giáo dục mầm non Trong những năm gần đây việc đầu tư cho cơ sở vật chất cho GDMN
đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Đặc biệt hệ thống các
trường lớp mầm non đang được xây dựng, sửa chữa và xây dựng mới Các
trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc giáo dục trẻ cũng đang từng bước
được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp với yêu cầu giáo dục. Theo số liệu của tổng cục thống kê từ năm 2007 2013 số trường
mầm non, số học sinh mầm non và số lượng GVMN tính đến hàng năm, được
thể hiện ở các bảng 1.1, 1.2, 1.3. Bảng 1.1: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trường mầm non trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê).
Trang 17
Năm 20072008 2008200
9
2009201
0
20102011 20112012 2012201
3 Trường
(cả nước) 11.629 12.190 12.357 12.980 13.172 13.548
Theo số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy số trường mầm non trong cả
nước tăng dần theo từng năm, năm học 2007 2008 cả nước có 8.732 trường
đến năm học 2012 2013 cả nước đã có 10.707 trường Điều đó cho thấy
trong những năm gần đây việc đầu tư cho GDMN đang được Đảng và Nhà
nước ta hết sức quan tâm Đặc biệt các hệ thống trường lớp mầm non đang
được xây dựng và sửa chữa Các trang thiết bị phục vụ cho việc chăm sóc
giáo dục trẻ cũng đang từng bước được bổ sung và hiện đại hóa cho phù hợp
với yêu cầu giáo dục. Bảng 1.2: Bảng số liệu “Giáo dục mầm non” thống kê về số trẻ
trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê).
Năm 2007200
8
2008200
9
2009201
0
2010201
1
20112012 2012201
3 Trẻ em
(cả nước) 3.195.731 3.305.391 3.409.823 3.599.663 3.873.445 4.148.356 Nhà trẻ 508.694 494.766 508.190 528.869 553.117 597.274
Trang 18Quy mô của GDMN ngày càng tăng thu hút hầu hết các cháu trong độ
tuổi mầm non đến trường Theo số liệu thống kê ở bảng 1.2 cho thấy số trẻ
mầm non trong cả nước tăng dần theo từng năm, năm học 2007 2008 ở nhà
trẻ cả nước có 508.694 trẻ đến năm học 2012 2013 cả nước đã có 597.274
trẻ Đối với trẻ mẫu giáo năm học 2007 2008 cả nước có 2.687.037 trẻ đến
năm học 2012 2013 cả nước đã có 3. 551.082 trẻ. Bảng 1.3: Bảng số liệu “Giáo giáo dục mầm non” thống kê về số
GVMN trong những năm gần đây (Nguồn tổng cục thống kê). Năm 20072008 2008200 9 2009201 0 20102011 20112012 2012201 3 Giáo viên (cả nước) 172.978 183.443 195.852 211.225 229.724 244.478 Nhà trẻ 44.140 45.385 49.256 52.244 55.715 56.302 Mẫu giáo 128.838 138.058 146.596 158.981 174.009 188.176 Hệ thống các trường khoa sư phạm mầm non trong những năm gần đây
đang từng bước được kiện toàn cho phù hợp với yêu cầu của nền giáo dục hội
nhập Các chính sách chế độ cho GVMN cũng đang có sự quan tâm thích
đáng của Đảng và Nhà nước Theo số liệu thống kê ở bảng 1.3 cho thấy số
GVMN cả nước tăng dần theo từng năm học 2007 2008 ở nhà trẻ cả nước có
44.140 GV đến năm học 2012 2013 cả nước đã có 56.302 GV, ở mẫu giáo
năm học 2007 2008 cả nước có 128.838 GV đến năm học 2012 2013 cả
nước đã có 188.176 GV.
Trang 191.2.1. Giáo dục các kỹ xảo và thói quen vệ sinh
Giáo dục các kỹ xảo và thói quen vệ sinh là một nội dung không thể thiếu được trong việc GDTC và hình thành nhân cách cho trẻ Trong cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày, trẻ cần đến nhiều loại thói quen khác nhau Đối với trẻ mầm non, cần giáo dục một số loại kỹ xảo và thói quen vệ sinh sau:
Vệ sinh thân thể: Có thói quen tắm rửa và gìn giữ sạch sẽ thân thể (mặt, mũi, đầu, tóc, chân, tay…) Không cho tay, đồ chơi hoặc bất kỳ một vật
Sắp xếp các thao tác tạo nên hành động theo một thứ tự nhất định, hợp
lý.
Lập kế hoạch thứ tự các hành động.
Từng bước giúp trẻ nhận thức được ý nghĩa và sự hợp lý của các thao tác, các hành động văn hóa vệ sinh từ đó hình thành nhu cầu về thói quen văn hóa vệ sinh.
Trang 20 Người lớn phải thực hiện mẫu mực tất cả những yêu cầu văn hóa vệ
sinh trước trẻ và nhắc nhở trẻ làm như người lớn. Phối hợp với gia đình để tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ được vận
dụng, củng cố những kỹ năng đó ở gia đình để nhanh chóng hình thành nhu
cầu thói quen văn hóa vệ sinh. 1.2.2. Tổ chức cho trẻ ăn Ăn uống là một nhu cầu không thể thiếu được đối với mỗi con người
Để giúp cơ thể phát triển tốt, đảm bảo sự phát triển bình thường của các cơ
quan và hệ cơ quan trong cơ thể cần tổ chức chế độ ăn uống hợp lý cho trẻ.
Hàng ngày, cần cho trẻ ăn đủ chất, đủ lượng và đặc biệt phải đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm cho trẻ. Chế độ ăn uống hợp lí được xây dựng trên cơ sở mức năng lượng cần
thiết ở độ tuổi (quy ra calo) sự kết hợp các thành phần thức ăn theo cấu tạo
các thành phần hóa học (protit, lipit, glucid, muối khoáng và vitamin) sự đa
dạng của các loại thức ăn và cách nấu nướng. Để tổ chức bữa ăn cho trẻ tốt cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau: Phòng ăn sạch sẽ, thoáng mát Bàn ghế sắp xếp thuận tiện cho trẻ ngồi
xuống và đứng lên. Bàn ăn, bát đĩa phù hợp với lứa tuổi và được xếp đặt có thẩm mỹ. Trước khi ăn khoảng nửa giờ, cần kết thúc các buổi dạo, các trò chơi
kích thích Thời gian này cần các trò chơi, các giờ học yên tĩnh Tránh gây ra
những kích thích thần kinh tạo ra nhiều ấn tượng. Cho trẻ rửa tay, rửa mặt trước khi ăn Khi ngồi vào bàn được ăn ngay
không phải chờ đợi lâu. Hình thành cho trẻ các kỹ xảo ăn có văn hóa: không ăn vội vàng, nhai
kĩ Lấy thức ăn từng ít một Cầm thìa, bát, đũa đúng động tác, nhai nhỏ nhẹ,
Trang 21ngậm miệng không phát ra tiếng Với trẻ lớn cần phải có các kỹ xảo sử dụng
các đồ dùng nhà bếp, có kỹ năng tự phục vụ. Quá trình tổ chức cho trẻ ăn GV cần quan sát và phát hiện nguyên nhân
trẻ ăn không ngon và đưa ra biện pháp khắc phục: Bình thường, với bữa ăn tổ chức đúng đắn trẻ ăn uống tự giác, vui vẻ
và ngon lành Song có nhiều trường hợp trẻ ghê sợ bữa ăn, có thái độ chống
đối hay ăn uống uể oải Khi ấy, nếu dùng phương pháp ép buộc, thậm chí dỗ
dành, khen ngợi đều là không đúng và gây tác hại, gây ra tâm lí tiêu cực với
bữa ăn. Cần tìm hiểu nguyên nhân làm cho trẻ ăn không ngon miệng, thậm chí
ghê sợ bữa ăn để từ đó đưa ra cách khắc phục hợp lí có thể là: + Do thức ăn khô, khó nuốt. + Do tình trạng sức khỏe không bình thường. + Do thức ăn lạ với trẻ, không thích hợp với trẻ vì gia đình chưa bao
giờ cho ăn. + Do trẻ được nuông chiều ở nhà, khi ăn bao giờ cũng quen dỗ dành.
Từ các nguyên nhân trên mà các nhà giáo dục đưa ra biện pháp khắc phục tích
cực nhất cho trẻ. 1.2.3. Tổ chức cho trẻ ngủ Giấc ngủ của trẻ có ý nghĩa to lớn trong việc phục hồi khả năng làm
việc của các tế bào thần kinh Một giấc ngủ sâu, đủ độ dài là phương tiện cơ
bản để ngăn ngừa tình trạng quá mệt mỏi của hệ thần kinh và cơ thể Trẻ nhỏ
thường ngủ nhiều hơn người lớn bởi hệ thần kinh của trẻ còn yếu, dễ mệt mỏi.
Chính vì vậy, chúng ta cần tổ chức cho trẻ ngủ thật tốt để giúp trẻ khôi phục
Trang 22lại trạng thái bình thường của các tế bào thần kinh nhằm củng cố và tăng cường sức khoẻ cho trẻ.
Một phương tiện cơ bản để tạo ra nhu cầu cần ngủ ở trẻ một cách đúng đắn là việc tạo ra một chế độ ngày đêm thích hợp với lứa tuổi và những đặc điểm cá nhân trẻ Muốn vậy cần tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho trẻ ngủ nhanh, ngủ sâu vào những giờ giấc đã quy định cho giấc ngủ. Cụ thể:
Cần tạo ra trạng thái yên tĩnh cần thiết trước giờ ngủ, không có những hoạt động kích thích mạnh hưng phấn cho trẻ, không làm ồn, không để ánh sáng chói chiếu vào phòng ngủ, phòng ngủ không khí phải thoáng.
Cho trẻ ngủ đúng giờ tạo ra phản xạ có điều kiện thuận lợi cho việc rèn luyện thói quen ngủ nhanh, ngủ ngon giấc.
Không nên có những hình thức giao tiếp gây xúc cảm tiêu cực cho trẻ
Trang 23hô hấp, tuần hoàn, tăng cường sự trao đổi chất và sức khoẻ cho trẻ Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo như: TCVĐ, thể dục buổi sáng, các tiết học thể dục, dạo chơi, lao động.
Trong các TCVĐ, trong các tiết học thể dục, vận động khi đi dạo trẻ được giáo dục nhiều phẩm chất quý giá: sự định hướng trong không gian, nhanh nhẹn chính xác, vận động khéo léo, mở rộng quan hệ trong tập thể.
Sự phát triển vận động gắn chặt với sự phát triển toàn bộ cơ thể và tâm
lí của trẻ Bởi vậy khi lập chương trình GDTC nhằm phát triển vận động cần dựa trên những cơ sở sau:
Ưu tiên lựa chọn các bài tập, trò chơi hoạt động lao động có tác dụng chung đến cơ thể và động viên nhiều cơ bắp tham gia.
Chọn các bài tập, trò chơi gây hứng thú và đồng thời đặt ra trước trẻ một nhiệm vụ vừa sức.
Tăng cường các nhóm cơ bắp còn non yếu về mặt sinh lí và giáo dục
tư thế đúng.
Giáo dục kĩ năng vận động và vận động trong tập thể.
Các TCVĐ, trò chơi thể thao là hình thức hoạt động hấp dấn trẻ em và các tác động giáo dục nhiều vận động cơ bản và sự phối hợp các vận động ấy. Các TCVĐ rất phong phú và đa dạng được lựa chọn trong chương trình phù hợp với từng độ tuổi Với trẻ nhỏ trò chơi bao gồm các vận động đơn giản với các luật chơi đơn giản Với các trẻ lớn thì nội dung vận động và luật chơi phức tạp hơn đòi hỏi các em phải hiểu điều kiện chơi, vận động chính xác và đúng luật chơi.
Trang 24Bài tập thể dục có tác dụng tốt đến hoạt động sinh lí cơ thể Cơ bắp được vận động thích hợp sẽ tăng cường quá trình trao đổi chất, tăng cường sự làm việc các cơ quan bên trong hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp Đặc biệt
sự làm việc toàn vẹn của các tế bào thần kinh của não được tăng cường sẽ có tác động trở lại đối với toàn bộ vận động và hoạt động của các cơ quan.
1.2.5. Tổ chức chế độ sinh hoạt của trẻ ở trường mẫu giáo
Chế độ sinh hoạt là điều kiện quan trọng để GDTC cho trẻ có kết quả. Chế độ sinh hoạt là sự luân phiên rõ ràng và hợp lý các dạng hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ trong một ngày, nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu về ăn, ngủ,
vệ sinh cá nhân, hoạt động và nghỉ ngơi của trẻ theo lứa tuổi, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cơ thể phát triển tốt.
Chế độ sinh hoạt có ý nghĩa giáo dục đối với trẻ Do sự lặp lại thường xuyên các thao tác, các hoạt động trong thời gian nhất định và theo một trình
tự nhất định làm cho trẻ nắm được những sinh hoạt hợp lí, những kỹ năng văn hóa vệ sinh và hoạt động.
Chế độ sinh hoạt ở trường mẫu giáo được xây dựng trên cơ sở những đặc điểm sinh lí, tâm lí của trẻ, trên cơ sở những nhiệm vụ giáo dục và điều kiện sinh hoạt quyết định. Cụ thể:
Chế độ sinh hoạt phải phù hợp lứa tuổi Đây là yêu cầu cơ bản của việc xây dựng chế độ sinh hoạt cần căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi của hoạt động thần kinh cao cấp, giới hạn làm việc của tế bào thần kinh vỏ não để định thời gian hoạt động, ngủ cho trẻ ở các nhiệm vụ giáo dục.
Chế độ sinh hoạt phải được cố định Khi chế độ sinh hoạt đã được xác lập một cách khoa học thì cần phải thực hiện một cách cố định.
Trang 25Việc thực hiện chế độ sinh hoạt không nên quá cứng nhắc, với mỗi trẻ cần có sự linh hoạt thích đáng Có thể xê dịch thời gian biểu ở mức độ cần thiết Chẳng hạn, khi trẻ đang quá ham chơi và mệt mỏi, thì có thể kéo dài giờ chơi chút ít, một trẻ cần ngủ sớm hay dậy sớm cũng được khi chúng có yêu cầu.
Chế độ sinh hoạt của trẻ được chương trình chăm sóc giáo dục trẻ do
Trang 26GDTC là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện Đó
là quá trình tác động chủ yếu vào cơ thể trẻ thông qua việc rèn luyện cơ thể và hình thành phát triển các kỹ xảo vận động, tổ chức sinh hoạt và giữ gìn vệ sinh nhằm làm cơ thể phát triển hài hòa cân đối, sức khỏe được tăng cường làm cơ sở cho sự phát triển toàn diện nhân cách.
Sức khỏe là vốn quý giá nhất có ý nghĩa sống còn đối với con người, đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi Ở lứa tuổi này quá trình tăng trưởng của trẻ diễn ra rất nhanh chóng, nhưng cơ thể của trẻ lại quá non nớt, trẻ dễ chịu ảnh hưởng của những tác động bên ngoài, sức đề kháng của trẻ kém cho nên trẻ dễ mắc các loại bệnh nguy hiểm đến tính mạng Do vậy, trẻ chỉ có thể phát triển thể lực tốt nếu như người lớn chú ý đến việc chăm sóc giữ gìn sức khỏe, bảo vệ
hệ thần kinh khỏe mạnh cho trẻ Khi đứa trẻ khỏe mạnh, hiển nhiên sẽ có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển chung của trẻ.
GDTC có mối quan hệ mật thiết tới việc giáo dục đức, trí, thẩm mỹ và lao động cho trẻ Bởi sự thành công của bất cứ hoạt động nào của trẻ đều phụ thuộc vào trạng thái sức khỏe của nó Nếu cơ thể khỏe mạnh sẽ làm cho trẻ
Trang 27yêu đời hơn, tri giác cái đẹp sâu sắc, tinh tế hơn và trẻ có khả năng tạo ra cái đẹp trong mọi hoạt động và đời sống GDTC còn có mối liên hệ chặt chẽ với giáo dục lao động Thể dục giúp trẻ có sức khỏe dẻo dai, vận động nhanh nhẹn, chính xác hơn, trẻ có cảm giác về nhịp điệu và sự định hướng không gian tốt hơn.
1.3.1.2. Mục tiêu GDTC cho trẻ mẫu giáo
Căn cứ quyết định số 55 của Bộ GD&ĐT quy định mục tiêu kế hoạch đào tạo: GDMN “Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam”:
Trang 28 Làm quen với một số việc tự phục vụ, giữ gìn sức khỏe.
Nhận biết và tránh một số nguy cơ không an toàn.
Nội dung chương trình GDTC mầm non theo lứa tuổi được trình bày tại bảng 1.5.
Trang 29Tập thụ động:
Tay: co, duỗi, đưa lên cao, bắt chéo tay trước ngực.
Tập thụ động:
Tay: giơ cao, đưa phía trước, đưa sang ngang.
Hô hấp: tập hít thở
Tay: giơ cao, đưa sangngang
Tập trườn, xoay người theo các hướng
Tập bò.
Chân: dang sang 2 bên, nhấc cao từng chân, 2 chân.
Lưng, bụng, lườn Cúi về phía trước, Nghiêng người sang
2 bên.
Tập trườn , bò qua vật cản.
Chân: dang sang 2bên, ngồi xuống, đứnglên.
Lưng, bụng, lườn:Cúi về phía trước,nghiêng người sang 2bên.
Tập bò, trườn:
+ Bò, trườn tới đích.+ Bò chui
Tập tung, ném:
Trang 30bàn tay.
Vẫy tay, cử động các ngón.
Xoay bàn tay và
cử động các ngón tay.
Co, duỗi ngón tay, đanngón tay
Trang 31Con người sinh ra và lớn lên ai cũng mong muốn được khỏe mạnh cơ thể phát triển cân đối hài hòa Song để đạt được điều đó họ cần giáo dục và tổ chức tập luyện thể dục một cách có hệ thống nhằm hoàn thiện dần về cơ thể ngay từ những năm tháng đầu tiên.
Trang 33 Trèo lên xuống thang
Trang 34Vận động là nhu cầu tự nhiên của cơ thể, đặc biệt có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển thể chất của trẻ mẫu giáo Vận động làm cho các cơ bắp và toàn bộ cơ thể hoạt động, làm tăng cường sự hoạt động của hệ
hô hấp, tuần hoàn, tăng cường sự trao đổi chất và sức khỏe cho trẻ Sự phát triển vận động được thực hiện thông qua nhiều hình thức phong phú phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo: TCVĐ, thể dục buổi sáng, các tiết học thể dục, dạo chơi, lao động.
* Phát triển vận động của trẻ 5 tuổi:
Giai đoạn này trẻ trở nên cứng cáp hơn, biết tự lực, rất hiếu động và không biết mệt mỏi, các mệt mỏi của trẻ dần đi đến hoàn thiện Vì vậy, sự vận động của trẻ cần được người lớn theo dõi, kiểm tra Khả năng chú ý của trẻ tăng, trẻ hiểu được nhiệm vụ của mình trẻ có thể thực hiện được những động tác quen thuộc bằng nhiều cách, trong một thời gian dài hơn, với lượng vận động lớn hơn Các vận động của trẻ đạt tới mức độ chính xác, nhịp nhàng, biết phối hợp vận động của mình với các bạn: trẻ có khả năng quan sát hình ảnh động tác mẫu của GV ghi nhớ để thực hiện lại Do đó, phải tăng dần yêu cầu đối với trẻ để giúp trẻ hoàn thiện vận động, sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau giúp trẻ thực hiện động tác một cách có ý thức và đạt hiệu quả cao hơn Chú ý thường xuyên theo dõi, kiểm tra đánh giá quá trình vận động của trẻ Lứa tuổi này sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở những vận động đi, chạy và phát triển cảm giác thăng bằng, vận động nhảy, vận động ném, trườn, trèo.
* Phát triển vận động của trẻ 6 tuổi
Trang 35Tốc độ trưởng thành của trẻ tăng rất nhanh, tỷ lệ cơ thể đã cân đối, tạo
ra tư thế vững chắc, cảm giác thăng bằng được hoàn thiện, sự vận động tốt hơn Hệ thần kinh của trẻ phát triển tốt, trẻ có khả năng chú ý cao trong quá trình tập luyện bài tập vận động Các vận động cơ bản được thực hiện tương đối chính xác, mềm dẻo, thể hiện sự khéo léo trong vận động, lực cơ bắp được tăng lên Sự phát triển vận động của trẻ diễn ra trên cơ sở những vận động đi, vận động nhảy, vận động chạy, bò, ném.
Như vậy, dựa vào đặc điểm phát triển thể chất và vận động của trẻ ở từng độ tuổi mầm non, ta sẽ lựa chọn những nội dung và phương pháp hướng dẫn vận động phù hợp với trẻ để có thể đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình tập luyện.
1.3.2 Tổ chức GDTC cho trẻ em 5 6 tuổi trường mầm non trên địa bàn Thị xã Phúc Yên Vĩnh Phúc
Trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng là hai trường mầm non đang phấn đấu đạt chuẩn quốc gia ở khu vực Thị xã Phúc Yên Vĩnh Phúc Trong các nội dung giáo dục thì GDTC là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành GDMN và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ nên được các trường đặc biệt quan tâm, lưu ý Và để tìm hiểu rõ hơn về hoạt động tổ chức GDTC cho trẻ em 5 6 tuổi trong các trường mầm non tôi đã sử dụng phương pháp quan sát về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo GV
và tổ chức GDTC trong hai trường: trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng thuộc khu vực Thị xã Phúc Yên Vĩnh Phúc.
1.3.2.1 Cơ sở vật chất trường mầm non Hoa Hồng và trường mầm non Phúc Thắng Phúc Yên Vĩnh Phúc
Trang 36 Trường mầm non Hoa Hồng có tổng diện tích là: 10.000m 2, đạt 12m 2/ cháu Trong đó diện tích sân vườn trường là 5000m 2, còn lại là diện tích xây dựng cơ bản Các công trình đều được xây dựng kiên cố, phòng sinh hoạt chung được trang bị đầy đủ bàn ghế, đồ dùng, đồ chơi sắp xếp theo chủ đề giáo dục, có tranh, ảnh, hoa, cây cảnh trang trí đẹp, phù hợp với đặc điểm sinh
lí trẻ ở từng độ tuổi Tất cả các thiết bị đều đảm bảo theo đúng quy cách của thông tư 02 của Bộ GD&ĐT quy định Trường đã được trang bị hệ thống máy tính phục vụ cho chương trình học Kisdmart gồm 22 máy tính, 4 máy chiếu cho trẻ và GV, giúp các bé tiếp cận với công nghệ thông tin và kích thích phát triển trí thông minh sáng tạo của trẻ.
Trang 37thiết kế thông thoáng, ánh sáng tự nhiên, tạo cảm giác thoải mái khi trẻ học tập và vui chơi giúp trẻ học tập tốt, vui chơi phát triển trí tuệ, năng khiếu…