Công nghiệp cơ khí là một ngành kinh tế có vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế bởi vì đây là một ngành công nghiệp sản xuất ra máy móc thiết bị cung cấp cho toàn bộ các ngành kinh tế khác. Thực tế cho thấy, trên thế giới không có bất kỳ quốc gia nào thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà lại không có nền công nghiệp cơ khí mạnh, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí vừa là nền tảng vừa là động lực cho sự phát triển của tất cả các ngành nghề khác nhau trong xã hội, nó còn tác động tích cực đến ngành dịch vụ thông qua sự phát triển của mạng lưới phân phối, thu hút số lượng lao động xã hội, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế. Hiện nay, cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một làn sóng đầu tư ồ chảy vào Việt Nam, các công ty sản xuất các sản phẩm cơ khí( cơ khí thiết bị, thiết bị đóng tàu, lắp ráp ô tô...) của Việt Nam đã bắt đầu tìm được những đối tác chiến lược để hình thành nên các liên doanh sản xuất và lắp ráp thiết bị cơ khí. Tuy nhiên, do xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực yếu nên sản phẩm cơ khí của ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam nói chung vẫn còn nhỏ bé. Cho nên chất lượng sản phẩm còn chưa cao. Bởi thế mà các công ty cơ khí nói chung cũng như công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam nói riêng luôn tìm ra những biện pháp đẩy mạnh chất lượng sản phẩm thông qua quá trình quản lý chất lượng. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài nghiên cứu “ Nâng cao quản lý chất lượng sản phẩm trong công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam” Kết cấu đề tài gồm 3 phần : Chương 1. Lý luận về hệ thống quản lý chất lượng trong doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng hoạt động quản lý chất lượng tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam Chương 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 5
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG DOANH NGHIỆP 7
1.1.Khái niệm và đặc điểm chất lượng sản phẩm 7
1.1.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm 7
1.1.2 Đặc điểm của phạm trù chất lượng sản phẩm 9
1.1.3 Các thuộc tính của chất lượng sản phẩm 10
1.2 Khái niệm về quản lý chất lượng 11
1.2.1 Khái niệm 11
1.2.2 Chức năng của quản lý chất lượng 11
b.Chức năng quản lý chất lượng sản phẩm 12
c.Chức năng đánh giá chất lượng sản phẩm 12
d Chức năng cải tiến và điều chỉnh 13
1.2.3 Các phương pháp quản lý chất lượng 13
1.2.3.1 Kiểm tra chất lượng 13
1.2.3.2 Kiểm soát chất lượng 14
1.2.3.3 Đảm bảo chất lượng 14
1.2.3.4 Kiểm soát chất lượng toàn diện 15
1.2.3.5 Quản lý chất lượng toàn diện 15
1.2.4 Nội dung quản lý chất lượng 15
1.2.4.2 Tổ chức thực hiện 17
1.2.4.3 Kiểm tra 19
1.2.4.4 Phân tích và cải tiến chất lượng 20
Trang 21.3 Hệ thống quản lý chất lượng 21
1.3.1 Khái niệm 21
1.3.2 Yêu cầu của hệ thống chất lượng 22
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chất lượng 23
1.4.1 Nhóm nhân tố khách quan 23
1.4.1.1.Thị trường 23
1.4.1.2.Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật .24
1.4.1.3 Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước 25
1.4.1.4 Điều kiện tự nhiên 25
1.4.1.5 Văn minh và thói quen tiêu dùng 25
1.4.2 Nhóm các nhân tố chủ quan 26
1.4.2.1 Trình độ lao động của doanh nghiệp 26
1.4.2.2 Trình độ máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng 27
1.4.2.3 Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp 27
1.4.2.4 Chất lượng nguyên vật liệu 28
1.4.2.5 Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp 29
1.5 Sự cần thiết phải nâng cao công tác quản lý chất lượng 29
Vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm là sự sống còn của doanh nghiệp: 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI LĨNH NAM 32
2.1 Giới thiệu khái quát về TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam 32
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 32
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty 34
Trang 32.1.3 Cơ cấu bộ máy của Công ty 35
2.1.3.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của công ty 35
2.1.3.2 Lực lượng lao động của công ty .37
Bảng 2.1 Cơ cấu lao động 37
2.1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây 39
2.2 Thực trạng về quản lý chất lượng sản phẩm tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam 40
2.2.1 Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật của công ty ảnh hưởng tới việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng 40
2.2.2 Thực trạng công tác quản lý chất lượng sản phẩm tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam 43
2.2.2.1.Hoạch định quản lý chất lượng sản phẩm tại công ty 43
2.2.2.2 Tổ chức thực hiện 44
2.2.2.3 Công tác kiểm tra của công ty 46
2.2.2.4 Phân tích và cải tiến chất lượng 50
2.3 Đánh giá về thực trạng quản lý chất lượng 51
2.3.1 Ưu điểm 51
2.3.1.1 Hoạch định quản lý chất lượng sản phẩm 51
2.3.1.2 Tổ chức thực hiện 51
2.3.1.3 Công tác kiểm tra 52
2.3.1.4 Phân tích và cải tiến chất lượng 52
2.3.2 Nhược điểm 53
2.3.2.2 Tổ chức thực hiện 53
2.3.2.3 Kiểm tra chất lượng 53
Trang 42.3.3 Nguyên nhân của nhược điểm 54
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan 54
2.3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 54
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI LĨNH 56
3.1 Định hướng phát triển của công ty 56
3.2 Giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng 56
3.2.1 Hoàn thiện công tác hoạch định chất lượng 56
3.2.2 Nâng cao ảnh hưởng tổ chức thực hiện 57
3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm tra 59
3.2.4 Đẩy mạnh công tác cải tiến chất lượng 60
3.2.3 Một số giải pháp khác 62
KẾT LUẬN 64
Trang 5Lời mở đầu
Công nghiệp cơ khí là một ngành kinh tế có vị trí đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triển của nền kinh tế bởi vì đây là một ngành công nghiệp sản xuất ra máy móc thiết bị cung cấp cho toàn bộ các ngành kinh tế khác Thực tế cho thấy, trên thế giới không có bất kỳ quốc gia nào thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà lại không có nền công nghiệp cơ khí mạnh, sự phát triển của ngành công nghiệp cơ khí vừa là nền tảng vừa là động lực cho sự phát triển của tất cả các ngành nghề khác nhau trong xã hội, nó còn tác động tích cực đến ngành dịch vụ thông qua sự phát triển của mạng lưới phân phối, thu hút số lượng lao động xã hội, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế
Hiện nay, cùng với quá trình mở cửa nền kinh tế và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới là một làn sóng đầu tư ồ chảy vào Việt Nam, các công ty sản xuất các sản phẩm cơ khí( cơ khí thiết bị, thiết bị đóng tàu, lắp ráp ô tô ) của Việt Nam đã bắt đầu tìm được những đối tác chiến lược để hình thành nên các liên doanh sản xuất và lắp ráp thiết bị cơ khí Tuy nhiên, do xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực yếu nên sản phẩm cơ khí của ngành công nghiệp cơ khí Việt Nam nói chung vẫn còn nhỏ bé Cho nên chất lượng sản phẩm còn chưa cao Bởi thế mà các công ty cơ khí nói chung cũng như công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam nói riêng luôn tìm ra những biện pháp đẩy mạnh chất lượng sản phẩm thông qua quá trình quản lý chất lượng Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này,
em đã chọn đề tài nghiên cứu “ Nâng cao quản lý chất lượng sản phẩm trong
công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam”
Kết cấu đề tài gồm 3 phần :
Chương 1 Lý luận về hệ thống quản lý chất lượng trong doanh nghiệp
Trang 6Chương 2 Thực trạng hoạt động quản lý chất lượng tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam
Chương 3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm tại công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam
KẾT LUẬN
Do hạn chế về trình độ và thời gian nên trong bài viết không tránh khỏi những sai sót, vì vậy em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để bài chuyên đề thực tập được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, năm 2016
Sinh viên PHẠM HỒNG HẠNH
Trang 7CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.Khái niệm và đặc điểm chất lượng sản phẩm
1.1.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù phức tạp mà con người thường hay gặp trong các lĩnh vực hoạt động của mình Có nhiều cách giải thích khác nhau tùy những góc độ của người quan sát.Khái niệm chất lượng sản phẩm đã được hàng trăm tác giả định nghĩa ở những góc độ khác nhau
Sau đây ta có thể nêu ra một vài định nghĩa chất lượng sản phẩm
Theo nhà sản xuất : Chất lượng là sản phẩm/dịch vụ phải đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật đề ra
Theo người bán hàng : Chất lượng là hàng bán hết, có khách hàng thường xuyên
Theo người tiêu dùng : Chất lượng là sự phù hợp với mong muốn của họ Chất lượng sản phẩm/dịch vụ phải thể hiện các khía cạnh sau :
- Thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó
- Thể hiện cùng với chi phí
- Gắn liền với điều kiện tiêu dùng cụ thể
Theo chuyên gia K Ishikawa : Chất lượng là khả năng thỏa mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất
Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu – European Organisation For Quality Control : Chất lượng của sản phẩm là năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ thỏa mãn những nhu cầu đòi hỏi của người sử dụng
Theo Philip B Crosby trong quyển “ Chất lượng là thứ cho không “ đã diễn tả :
“chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”
Trang 8Thông thường người ta cho rằng sản phẩm có chất lượng là những sản phẩm hay dịch vụ hảo hạng, đạt được trình độ của khu vực hay thế giới và đáp ứng được mong đợi của khách hàng với chí phí có thể chấp nhận được Nếu quá trình sản xuất có chi phí không phù hợp với giá bán thì khách hàng sẽ không chấp nhận giá trị của nó, có nghĩa là giá bán cao hơn giá mà khách hàng chịu bỏ ra để đổi lấy các đặc tính của sản phẩm.
Như vậy ta thấy cách nhìn về chất lượng giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng khác nhau nhưng không mâu thuẫn nhau
Xuất phát từ những quan điểm khác nhau, hiện có hàng trăm định nghĩa khác nhau về chất lượng sản phẩm
Theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 đã đưa ra định nghĩa: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng và các bên liên quan”.
Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp không chỉ bán sản phẩm tốt mà còn phải giúp khách hàng giải quyết các vấn đề nẩy sinh trong khi sử dụng Ví dụ khi những sản phẩm đầu tiên của Nhật Bản bán ra thị trường nước ngoài, khách hàng không thể đọc được các bản hướng dẫn sử dụng vì nó viết bằng tiếng Nhật, nhưng sau đó họ đã rút kinh nghiệm và hàng hóa của Nhật ngày càng được chấp nhận nhiều hơn ở nước ngoài
Chất lượng sản phẩm phải thể hiện thông qua các yếu tố sau:
- Sự hoàn thiện của sản phẩm: đây là yếu tố để giúp chúng ta phân biệt sản phẩm nầy với sản phẩm khác thường thể hiện thông qua các tiêu chuẩn mà nó đạt được Đây cũng chính là điều tối thiểu mà mọi doanh nghiệp phải cung cấp cho khách hàng thông qua sản phẩm của mình
- Giá cả: thể hiện chi phí để sản xuất (mua) sản phẩm và chi phí để khai thác và sử dụng nó Người ta thường gọi đây là giá để thỏa mãn nhu cầu
- Sự kịp thời, thể hiện cả về chất lượng và thời gian
Trang 9- Phù hợp với các điều kiện tiêu dùng cụ thể: sản phẩm chỉ có thể được coi
là chất lượng khi phù hợp với điều kiện tiêu dùng cụ thể Doanh nghiệp phải đặc biệt chú ý điều nầy khi tung sản phẩm vào các thị trường khác nhau để đảm bảo thành công trong kinh doanh
Trong thực tế sản xuất kinh doanh, nếu không chú ý đầy đủ đến các yếu tố trên sẽ dẫn đến thiệt hại không nhỏ
1.1.2 Đặc điểm của phạm trù chất lượng sản phẩm
- Chất lượng phải là một tập hợp các đặc tính của thực thể thể hiện khả năng thỏa mãn nhu cầu Do đó, khi đánh giá chất lượng của thực thể ta phải xét đến mọi đặc tính của thực thể có liên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể
- Chất lượng phải được gắn liền với điều kiện cụ thể của nhu cầu: Kinh tế, kỹ thuật, xã hội, phong tục, tập quán
- Chất lượng là sự phù hợp với nhu cầu Cho nên, nếu một thực thể dù đáp ứng được tiêu chuẩn nhưng không phù hợp với nhu cầu, không được thị trường chấp nhận thì vẫn phải bị coi là không chất lượng Đây là một vấn đề mang tính then chốt và là cơ sở đề các nhà quản lý định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình
- Chất lượng chỉ được thể hiện và đánh giá đầy đủ khi tiêu dùng và chỉ thể hiện đúng trong điều kiện tiêu dùng cụ thể Không thể có chất lượng sản phẩm chung cho tất cả mọi điều kiện mọi đối tượng
- Chất lượng là khái niệm tương đối, biến đổi theo không gian và thời gian, theo sự phát triển của nhu cầu xã hội và tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Chất lượng được đánh giá trên hai mặt chủ quan và khách quan Tính chủ quan thể hiện thông qua chất lượng thiết kế, mức độ phù hợp với nhu cầu của khách hàng Tính khách quan thể hiện thông qua các thuộc tính vốn có trong từng sản phẩm
Trang 101.1.3 Các thuộc tính của chất lượng sản phẩm
Mỗi sản phẩm đều được cấu thành bởi rất nhiều các thuộc tính có giá trị sử dụng khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Mỗi thuộc tính chất lượng của sản phẩm thể hiện thông qua một tập hợp các thông số kinh tế- kỹ thuật phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Các thuộc tính này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo ra một mức chất lượng nhất định của sản phẩm
- Những thuộc tính chung nhất phản ánh chất lượng sản phẩm bao gồm: Các thuộc tính kỹ thuật: Phản ánh tính công dụng, chức năng của sản phẩm
Được quy định bởi các chỉ tiêu kết cấu vật chất, thành phần cấu tạo đặc tính về
cơ lý, hóa của sản phẩm
Các yếu tố thẩm mỹ: đặc trưng cho sự truyền cảm, hợp lý về hình thức, dáng
vẻ, kết cấu, kích thước, tính cân đối, màu sắc, trang trí, tính thời trang
Tuổi thọ của sản phẩm: Đây là yếu tố đặc trưng cho tính chất của sản phẩm
giữ được khả năng làm việc bình thường theo đúng tiêu chuẩn thiết kế trong một thời gian nhất định Đây là yếu tố quan trọng trong quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng
Độ tin cậy của sản phẩm: Là một trong những yếu tốt quan trọng nhất phản
ánh chất lượng của một sản phẩm và đảm bảo cho tổ chức có khả năng duy trì
và phát triển thị trường của mình
Độ an toàn của sản phẩm: Những chỉ tiêu an toàn trong sử dụng, vận hành
sản phẩm, an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng và môi trường là yếu tố tất yếu, bắt buộc phải có đối với mỗi sản phẩm
Mức độ ô nhiễm của sản phẩm: Là yêu cầu bắt buộc các nhà sản xuất phải
tuân thủ khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường
Tính tiện dụng: phản ánh những đòi hỏi về tính sẵn có, tính dễ vận chuyển,
bảo quản, dễ sử dụng và khả năng của mình ra thị trường
Tính kinh tế của sản phẩm: Thể hiện khi sử dụng sản phẩm như có tiêu hao
nguyên liệu, năng lượng
Trang 111.2 Khái niệm về quản lý chất lượng
1.2.1 Khái niệm
Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên
mà có Nó là kết quả tác động hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này Hoạt động quản lý định hướng vào chất lượng được gọi là quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng là một khái niệm được phát triển và hoàn thiện liên tục phản ánh ngày càng đầy đủ và thích ứng với điều kiện của môi trường Ngày nay, quản lý chất lượng được ứng dụng trong mọi lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ và quản lý và ứng dụng trong toàn bộ chu trình của sản phẩm
Theo A.Feigenbaum:
“Đó là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai những tham số chất lượng, duy trì và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng một cách kinh
tế nhất, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng”.
Theo ISO 8402 : 1999:
“Quản trị chất lượng là những hoạt động của chức năng quản trị chung nhằm xác định chính sách chất lượng và thực hiện thông qua các biện pháp như lập kế hoạch chất lượng, đảm bảo chất lượng, và cải tiến chất lượng trong hệ thống chất lượng”
1.2.2 Chức năng của quản lý chất lượng
a.Chức quy định (hoạch định) chất lượng sản phẩm.
Chức năng này thể hiện trong các khâu điều tra, nghiên cứu nhu cầu của thị trường cũng như thiết kế, đề xuất mức chất lượng hay quy định những điều kiện,
Trang 12tiêu chuẩn kỹ thuật mà sản phẩm phải đạt được theo yêu cầu của Nhà nước, của doanh nghiệp, hợp đồng kinh tế đã ký kết, những chỉ tiêu giá cả, mức độ chất lượng sản phẩm, điều kiện và thời gian giao hàng… cũng cần được hoạch định ở chức năng này.
Chức năng hoạch định mang tính quyết định đến hoạt động quản lý chất lượng sản phẩm Hoạt động này cho phép doanh nghiệp có một mục tiêu chất lượng,
và phương châm hành động vì chất lượng cũng như sử dụng hợp lý nhất các nguồn lực mà doanh nghiệp có thể khai thác Từ đó doanh nghiệp có điều kiện
mở rộng sản xuất và thị trường
b.Chức năng quản lý chất lượng sản phẩm.
Gồm mọi hoạt động các khâu từ sản xuất đến tiêu dùng, hay chi tiết hơn đó là từ khi chuẩn bị nguyên, nhiên vật liệu chế tạo thử sản xuất đại trà và chuyển sang mạng lưới lưu thông phân phối rồi sử dụng sản phẩm
Thực hiện chức năng này là phòng ban quản lý sản xuất- kinh doanh, kiểm tra, điều chỉnh chất lượng dưới sự lãnh đạo của trưởng phòng và các nhân viên thực hiện
c.Chức năng đánh giá chất lượng sản phẩm.
Để chất lượng sản phẩm hoàn hảo đòi hỏi việc đánh giá chất lượng sản phẩm phải thực hiện chi tiết và tổng hợp có nghĩa là đánh giá từ các yếu tố đầu vào, sản xuất cho tới chất lượng sản phẩm được chế tạo ra
Đánh giá chi tiết, đó là chỉ tiêu của từng loại nguyên, nhiên vật liệu chế tạo ra sản phẩm, chất lượng của thiết kế, chất lượng của quy trình công nghệ sản xuất, chất lượng của bán thành phẩm, chất lượng kỹ thuật gia công, tổ chức quản lý sản xuất và việc kiểm tra chất lượng sản phẩm, bao gói vận chuyển bảo quản sản phẩm…
Trang 13Nếu chúng ta có đánh giá đúng và có điều chỉnh kịp thời những yếu tố trên sẽ vô hình chung tạo cho chất lượng tổng hợp của sản phẩm được bảo đảm.
Đánh giá chất lượng sản phẩm toàn phần của sản phẩm hàng hoá thể hiện các đánh giá tổng quát chất lượng sản phẩm dựa vào các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm được Nhà nước quy định, yêu cầu của người tiêu dùng hoặc của tổ chức tiêu chuẩn hoá Như các chỉ tiêu về độ tin cậy, độ an toàn, tuổi thọ sản phẩm…
d Chức năng cải tiến và điều chỉnh.
Trong quá trình quản lý, đánh giá chất lượng sản phẩm không phải luôn diễn ra suôn sẻ mà ngược lại nó có độ bất định do có các yếu tố khách quan hay chủ quan tác động Vì thề để đạt được các mục tiêu đề ra chúng ta cần thiết phải cải tiến và thực hiện điều chỉnh kịp thời Làm như vậy sản phẩm làm ra sẽ tương hợp với nhu cầu khách hàng và mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.Bằng các công cụ thống kê ta hoàn toàn có thể theo dõi và kiểm soát quá trình tìm ra nguyên nhân đột biến dễ dàng nhưng nó cũng đòi hỏi người tham gia quản lý phải có trình độ hiểu biết, nhanh nhạy, có kinh nghiệm mới có thể điều chỉnh kịp thời sự sai lệch phát sinh Trong hoạt động cải tiến và điều chỉnh chúng ta cần tìm tận gốc nguyên nhân chứ không phải cứ chạy theo sửa chữa kết cục của nó sẽ gây lãng phí lớn
1.2.3 Các phương pháp quản lý chất lượng.
1.2.3.1 Kiểm tra chất lượng
Là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm hoặc định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu, quy định nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính
Như vậy, kiểm tra chỉ là phân loại sản phẩm đã được chế tạo, một cách xử lý chuyện đã rồi Ngoài ra, sản phẩm phù hợp quy định cũng chưa chắc thỏa mãn nhu cầu thị trường nếu như các quy định không phản ánh đúng nhu cầu
Trang 141.2.3.2 Kiểm soát chất lượng
Là những hoạt động và kỹ thuật có tính tác nghiệp, được sử dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu chất lượng
Kiểm soát chất lượng là kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng bao gồm:
- Kiểm soát con người thực hiện: Người thực hiện hiện phải được đào tạo để
có đủ điều kiến thức, kỹ năng thực hiện công việc Họ phải được thông tin đầy
đủ về công việc cần thực hiện và kết quả cần đạt được Họ phải được trang bị đầy đủ phương tiện để làm việc
- Kiểm sỏa phương pháp và quá trình sản xuất: Các phương pháp và quá trình sản xuất phải được thiết lập phù hợp với điều kiện sản xuất và phải được theo dõi, kiểm soát thường xuyên nhằm phát hiện kịp thời những biến động của quá trình
- Kiểm soát nguyên vật liệu đầu vào: Nguồn cung cấp nguyên vật liệu phải được lựa chọn Nguyên vật liệu phải được kiểm tra chặt chẽ khi nhập vào trong quá trình bảo quản
- Kiểm soát, bảo dưỡng thiết bị: Thiết bị phải được kiểm tra thường xuyên, định kỳ và được bảo dưỡng, sửa chữa đúng quy định
1.2.3.3 Đảm bảo chất lượng
Là toàn bộ các hoạt động có kế hoạch, có hệ thống được tiến hành trong hệ thống chất lượng và được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng thỏa đáng rằng thực thể sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng
Theo định nghĩa, đảm bảo chất lượng nhằm cả hai mục đích: đảm bảo chất lượng nội bộ nhằm tạo lòng tin cho lãnh đạo và các thành viên trong tổ chức, đảm bảo chất lượng với bên ngoài nhằm tạo lòng tin cho khách hàng và những người có liên quan khác rằng yêu cầu chất lượng được thỏa mãn Nếu những yêu cầu về chất lượng không phản ánh đầy đủ những nhu cầu của người tiêu dùng thì việc đảm bảo chất lượng có thể không tạo được lòng tin thỏa đáng
Trang 151.2.3.4 Kiểm soát chất lượng toàn diện
Theo Armand V.Feigenbum đã định nghĩa: “ Kiểm soát chất lượng toàn diện
là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các nỗ lực phát triên chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng
Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống quản lý nhằm huy động sự nỗ lực hợp tác giữa các bộ phận khác nhau trong một tổ chức vào các quá trình có liên quan đến chất lượng từ nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm đến dịch
vụ sau bán nhằm thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tiết kiệm nhất bằng cách phát hiện và giảm chi phí không chất lượng, tối ưu hóa cơ cấu chi phí chất lượng
1.2.3.5 Quản lý chất lượng toàn diện
Là cách quản lý một tổ chức, quản lý toàn bộ công việc sản xuất kinh doanh nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của khách hàng ở mọi công đoạn, bên trong cũng như bên ngoài Đặc điểm nổi bật của quản lý chất lượng trước đây là nó cung cấp một hệ thống toàn diện cho công tác quản lý và cải tiến mọi khía cạnh liên quan đến chất lượng và huy động con người nhằm đạt mục tiêu chung của
- Tổ chức phân công trách nhiệm thực hiện mục tiêu đó
- Xây dựng quy trình, thủ tục, quy phạm hoạt động phục vụ mục tiêu phát triển của doanh nghiệp
Trang 16* Họach định chất lượng sản phẩm là rất quan trọng và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, sự thỏa mãn của khách hàng, đến thị phần, doanh số từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận Họach định sản phẩm thường tốn nhiều thời gian và công sức Các tổ chức thường có xu hướng không bỏ thời gian cho họach định nhưng lại bỏ thời gian để chỉnh sửa những lỗi lầm do họach định không tốt dẫn đến Các yếu tố ảnh hưởng họach định chất lượng sản phẩm bao gồm:
a Chi phí vòng đời sản phẩm
Với một số sản phẩm tiêu dùng, giá mua sản phẩm cũng là chi phí sử dụng sản phẩm Với những sản phẩm phức tạp có vòng đời dài, giá mua sản phẩm tăng lên và bao gồm cả các chi phí vận hành, bảo trì, và một số chi phí đặc biệt khác
Khi mua một sản phẩm, ngoài giá mua ban đầu, người tiêu dùng còn chịu các chi phí về vận hành, bảo trì, thu hồi sản phẩm Chi phí vòng đời sản phẩm là tổng chi phí mà ngừơi dùng mua, sử dụng và bảo trì sản phẩm trong suốt vòng đời sản phẩm Thiết kế sản phẩm nên hướng đến việc giảm chi phí vòng đời sản phẩm dù có thể gia tăng giá mua ban đầu của sản phẩm
b Khách hàng
Họach định chất lượng sản phẩm phải dựa trên việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng chứ không chỉ đạt được các thông số kỹ thuật đã đề ra Nhu cầu khách hàng được nhận dạng qua việc nghiên cứu thị trường Họach định chất lượng phải dựa vào khách hàng với những nhu cầu khác nhau
Để họach định chất lượng cần nhận dạng 3 lọai khách hàng:
Kinh tế - Giá mua ban đầu là quan trọng hơn chất lượng
Giá trị - Cân nhắc giữa giá cả và chất lượng
Chất lượng - Chỉ để ý đến chất lựơng và phải là tốt nhất
Bảng sau chỉ quan hệ giữa các lọai khách hàng 2 khía cạnh của chất lượng:
Trang 17Khách hàng Đặc tính sản phẩm Không lỗi
Kinh tế
Sẵn lòng bỏ qua một số đặc tính sản phẩm, có thể thêm sau
Chấp nhận lỗi sản phẩm khi mua và sử dụng
Giá trị Cân nhắc giữa giá cả và đặc
tính sản phẩm
Bảo trì là quan trọng
Cân nhắc chi phí vận hành và bảo trì
Chất lượng
Giá cả không là vấn đề
Chất lượng trên hết Cần nhiều đặc tính tiện dụng
Không chấp nhận lỗi
Bảo trì hòan tòan và nhanh chóng
Họach định chất lượng phải để ý đến khách hàng Có tổ chức họach định cho
1 lọai khách hàng, có tổ chức họach định cho nhiều lọai khách hàng
Hoạch định chất lượng có tác dụng sau:
- Lập kế hoạch chất lượng tốt, chính xác, đầy đủ sẽ là cơ sở giúp doanh nghiệp có thế định hướng tốt hoạt động tiếp theo
- Tạo ra sự khuyến khích căn bản về phương pháp quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp
1.2.4.2 Tổ chức thực hiện
Tổ chức thực hiện tốt bao gồm việc tiến hành các biện pháp kinh tế, tổ chức, kỹ thuật, chính trị, tư tưởng, hành chính nhằm thực hiện kế hoạch đã xác định nhiệm vụ này bao gồm:
- Làm cho mọi người thực hiện kế hoạch biết rõ mục tiêu sự cần thiết và nội dung công việc mình phải làm
- Tổ chức chương trình đào tạo và giáo dục cần thiết đối với những người thực hiện kế hoạch
- Cung cấp nguồn lực cần thiết ở mọi lúc mọi nơi
Trang 18Trong nhiều tổ chức, chất lượng thường đựơc xem là nhiệm vụ của phòng chất lượng với tên gọi và công việc thay đổi theo thời gian từ kiểm tra chất lượng, kiểm sóat chất lượng, đảm bảo chất lượng, quản lý chất lượng.
Hai phương pháp phối hợp các họat động chất lượng:
Phối hợp kiểm sóat
Phối hợp cải tiến
Phối hợp kiểm sóat thực hiện bởi các tổ chức thường trực đó là phòng chất lượng qua các quy trình, thủ tục sẳn có Phòng chất lượng là tổ chức thường trực có nhiệm vụ duy trì, không thể thực hiện thay đổi để cải tiến Các họat động phối hợp cải tiến được thực hiện bởi các tổ chức song hành với các tổ chức thường trực như các nhóm chất lượng được thiết lập để cải tiến hay tạo sự thay đổi Các tổ chức song hành nhằm tạo cải tiến và tạo sự thay đổi như các nhóm quá trình, nhóm dự án, hội đồng chất lượng Các tổ chức này được thiết lập và tồn tại thường xuyên hay có thể tồn tại trong một thời gian, có thể là tự nguyện hay bắt buộc
Có 2 hình thức tổ chức cơ bản:
a Tổ chức theo chức năng
Tổ chức theo chức năng là hình thức tổ chức kinh điển, mọi tổ chức sản xuất thừờng được tổ chức theo các bộ phận chức năng Một công ty có các bộ phân tiếp thị, tài chính, mua sắm, kỹ thuật, sản xuất, … Một trường đại học có các bộ phận chức năng như phòng đào tạo, phòng quan hệ, phòng khoa học và công nghệ, phòng tài chính, … Hình thức tổ chức theo chức năng có nhược điểm là khi thực hiện một quy trình nào cần sự tham gia của các phòng chức năng dẫn đến kéo dài thời gian, ảnh hưởng cả chất lượng và chi phí
b Tổ chức theo quá trình
Một hình thức tổ chức hiện đại là tổ chức theo quá trình Một trong 8 nguyên tắc của quản lý chất lượng là tiếp cận quá trình Trong giải thưởng chất lượng Malcom Balridge, cũng như các giải thưởng quốc gia khác, một tiêu chuẩn đánh giá là quản lý theo quá trình với các tiêu chí về quản lý các quá trình sản xuất –
Trang 19dịch vụ, quá trình hỗ trợ, quá trình liên quan nhà cung ứng , đối tác Trong tổ chức theo quá trình, các họat động ở 3 mức:
1.2.4.3 Kiểm tra
Thực chất của kiểm tra, kiểm soát là hoạt động theo dõi, thu nhập, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, chính sách chất lượng đã đề ra, phát hiện nguyên nhân gây ra những vấn đề chất lượng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Những nhiệm vụ chủ yếu của kiểm tra chất lượng là:
+ Theo dõi tình hình thực hiện, tổ chức thu thập thông tin và các dữ kiện cần thiết về chất lượng thực hiện
+ Đánh giá tình hình thực hiện chất lượng và xác định mức độ chất lượng đạt được trong thực tế của doanh nghiệp
+ So sánh chất lượng thực tế với kế hoạch để phát hiện các sai lệch và đánh giá các sai lệch đó trên các phương tiện kinh tế - kỹ thuật và xã hội
+ Phân tích các thông tin nhằm tìm kiếm và phát hiện các nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện đi chệch so với kế hoạch đặt ra
Khi thực hiện kiểm tra các kết quả thực hiện kế hoạch cần đánh giá hai vấn
đề cơ bản:
Mức độ tuân thủ nghiêm túc kế hoạch đã vạch ra
+ Quá trình có đảm bảo đúng thủ tục, yêu cầu và kỷ luật không
+ Các giai đoạn có được tôn trọng hay bỏ sót
+ Các tiêu chuẩn có được duy trì và cải tiến không
Trang 20Tính chính xác, đầy đủ và khả thi của bản thân kế hoạch.
1.2.4.4 Phân tích và cải tiến chất lượng
Theo ISO 9001, “ Cải tiến chất lượng là những hoạt động được tiến hành trong toàn tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động và quá trình để tạo thêm lợi ích cho cả tổ chức và khách hàng của tổ chức đó.”
Theo Masaaki Imai, “ Cải tiến chất lượng có nghĩa là nỗ lực không ngừng nhằm không những duy trì mà còn nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm”
Có hai phương cách khác hẳn nhau để đạt được bước tiến triển về chất lượng trong các công ty : phương cách cải tiến từ từ ( cải tiến) và phương cách nhảy vọt (đổi mới) Hai phương cách này có những khác biệt chủ yếu như sau
Bảng 1.1 Các phương pháp cải tiến chất lượng
1 Hiệu quả Dài hạn, có tính chất
lâu dài, không tác động đột ngột
Ngắn hạn, tác động đột ngột
3 Khung thời gian Liên tục và tăng lên
7 Cách thức Duy trì và cải tiến Phá bỏ và xây dựng lại
8 Tính chất Kỹ thuật hiện tại Đột phá kỹ thuật mới,
sáng kiến và lý thuyết mới
9 Các đòi hỏi thực Đầu tư ít nhưng cần nỗ Cần đầu tư lớn nhưng ít
Trang 21Thích hợp hơn với nền công nghiệp phát triển nhanh
(Nguồn: Phòng kĩ thuật)
Việc cải tiến và hoàn thiện chất lượng được tiến hành theo các hướng:
- Phát triển sản phẩm mới, đa dạng hóa sản phẩm
- Đổi mới công nghệ
- Thay đổi và hoàn thiện quá trình nhằm giảm khuyết tật
Khi tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần phải phân biệt rõ ràng giữa việc loại trừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân hậu quả Cần tìm hiểu nguyên nhân xảy ra khuyết tật và có biện pháp khắc phục ngay từ đầu
1.3 Hệ thống quản lý chất lượng.
1.3.1 Khái niệm
Theo TCVN ISO 9000: 2000 và TCVN ISO 9004: 2009 : Hệ thống quản lý chất lượng là một hệ thống quản lý để định hướng và kiểm soát tổ chức về chất lượng”
Hệ thống quản lý là một hệ thống để thiết lập chính sách, mục tiêu và cách thức để đạt được các mục tiêu đó
Hệ thống là tập hợp các yếu tố có liên quan lẫn nhau hay tương tác
Chính sách chất lượng là ý đồ và định hướng chung của một tổ chức có liên quan đến chất lượng được lãnh đạo cao nhất công bố chính thức
Mục tiêu chất lượng là điều định tìm kiếm hay nhằm tới có liên quan đến chất lượng
Hệ thống chất lượng bao gồm nhiều quá trình Quá trình là tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác để biến đổi đầu vào thành đầu ra
Trang 22Có thể nói : “ Quản lý chất lượng là một bộ phận hữu cơ của hệ thống quản lý chung, thống nhất trong bất kỳ một tổ chức, một doanh nghiệp nào Chất lượng của công tác quản lý là một trong những yếu tố quyết định chất lượng sản phẩm
và hiệu quả kinh tế của toàn bộ tổ chức”
1.3.2 Yêu cầu của hệ thống chất lượng
a Yêu cầu chung
Tổ chức phải xây dựng, lập văn bản,thực hiện, duy trì hệ thống quản lý chất lượng và thường xuyên nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống
Hệ thống quản lý chất lượng phải đảm bảo các yêu cầu sau :
- Nhận biết các quá trình cần thiết trong hệ thống quản lý chất lượng và áp dụng trong toàn bộ tổ chức
- Xác định trình tự và tương tác của quá trình này
- Xác định các chuẩn mực, phương pháp để đảm bảo tác nghiệp và kiểm soát các quá trình này có hiệu lực
- Đảm bảo sẵn có các nguồn lực và thông tin cần thiết để hỗ trợ cho sự vận hành và giám sát các quá trình này
- Theo dõi, đo lường và phân tích quá trình này
- Thực hiện các hoạt động cần thiết để đạt được dự định và cải tiến liên tục các quá trình này
Các quá trình cần thiết đối với hệ thống quản lý chất lượng nêu ở trên cần bao gồm cả các quá trình về hoạt động quản lý, cung cấp nguồn lực, tạo sản phẩm và đo lường
b Yêu cầu của hệ thống văn bản
Các văn bản của hệ thống quản lý chất lượng bao gồm :
- Các công bố dạng văn bản về chính sách chất lượng và các mục tiêu chất lượng
- Sổ tay chất lượng
- Các thủ tục dạng văn bản theo yêu cầu của tiêu chuẩn này
Trang 23- Các tài liệu cần có của tổ chức để đảm bảo việc lập kế hoạch tác nghiệp và kiểm soát có hiệu lực các quá trình
- Các hồ sơ theo yêu cầu của tiêu chuẩn này
Văn bản của hệ thống quản lý chất lượng của mỗi tổ chức có thể khác nhau tùy thuộc vào :
- Quy mô của tổ chức và loại hình hoạt động
- Sự phức tạp và tương tác giữa các quá trình
- Năng lực con người
Trong hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, hệ thống văn bản, tài liệu được
ví như hòn đá chèn để giữ lại các thành quả đạt được do quá trình cải tiến đem lại
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản lý chất lượng
Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất
để có thể đưa ra những sản phẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu dùng ở những thời điểm nhất định Bởi vì sản phẩm có chất lượng cao không phải lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngược lại chất lượng
có thể không cao nhưng người tiêu dùng luôn mua chúng nhiều Điều này có thể
do giá cả, thị hiếu của người tiêu dùng ở các thị trường khác nhau là khác nhau,
Trang 24hoặc sự tiêu dùng mang tính thời điểm Điều này được phản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuât theo mùa vụ.
Thông thường, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu cầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm nhiều tới mặt xã hội của sản phẩm Nhưng khi đời sống xã hội tăng lên thì đòi hỏi về chất lượng cũng tăng theo Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá cao tới rất cao để
có thể thoả mãn nhu cầu cá nhân của mình
Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sản phẩm
có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu thị trường mà còn phải quan tâm tới khía cạnh tẩm mỹ, an toàn và kinh tế của người tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm
1.4.1.2.Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật.
Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực mới: Tự động hoá, điện tử, tin học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, robot đã tại ra những thay đổi to lớn trong sản xuất cho phép rút ngắn chu trình sản xuất, tiết kiệm nguyên vật liệu nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng đặt ra những thách thức không nhỏ cho các doanh nghiệp trong việc quản lý, khai thác và vận hành công nghệ có hiệu quả cao Bởi vì, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì thời gian để chếtạo công nghệ mới thay thế công nghệ cũ dần dần được rút ngắn lại Sự ra đời của một công nghệ mới thường đồng nghĩa với chất lượng sản phẩm cao hơn, hoàn thiện hơn Bên cạnh đó, đào tạo nhân lực để thích ứng với sự thay đổi liên tục của khoa học công nghệ không thể ngày một ngày hai
mà phải có thời gian Đây cũng là những khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam trong khi nguồn kinh phí cho đào tạo, bồi dưỡng không nhiều
Trang 251.4.1.3 Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh nghiệp Việc ban hành các hệ thống chỉ tiêu chất lượng sản phẩm, các quy định về sản phẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêm việc sản xuất hàng giả, hành kém chất lượng, không bảo đảm an toàn vệ sinh, thuế quan, các chính sách ưu đãi cho đầu tư đổi mới công nghệ là những nhân tố hết sức quan trọng, tạo động lực phát huy tính
tự chủ, sáng tạo trong cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
Rõ ràng, các doanh nghiệp không thể tồn tại một cách biệt lập mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tình hình chính trị, kinh
tế, xã hội, đặc biệt phải kể đến là cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nước Cơ chế quản lý vừa là môi trường, vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng, tốc độ cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
1.4.1.4 Điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với những nước có khí hậu nhiệt dới, nóng ẩm mưa nhiều như Việt Nam Nó tác động tới các đặc tính cơ lý hoá của sản phẩm, làm giảm đi chất lượng của sản phẩm, của hàng hoá trong quá trình sản xuất cũng như trong trao đổi, lưu thông và tiêu dùng
1.4.1.5 Văn minh và thói quen tiêu dùng
Trình độ văn hoá, thói quen và sở thích tiêu dùng của mỗi người là khác nhau Điều này phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố tác động như: Thu nhập, trình độ học vấn, môi trường sống, phong tục, tập quán tiêu dùng của mỗi quốc gia, mỗi khu vực Do đó, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, phân đoạn thị trường theo các tiêu thức lựa chọn khác nhau trên cơ sở các nhân tố ảnh hưỏng để xác định các đối tượng mà sản phẩm mình phục vụ với chất lượng đáp ứng phù hợp với từng nhóm khách hàng riêng biệt
Trang 26Tuy nhiên, khi kinh tế càng phát triển, đời sống ngày càng được nâng cao thì văn minh và thói quen tiêu dùng cùng đòi hỏi ở mức cao hơn Vì thế, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được xu hướng đó, hoàn thiện và nâng cảo sản phẩm của mình để đáp ứng nhu cầu luôn thay đổi của người tiêu dùng.
1.4.2 Nhóm các nhân tố chủ quan.
Là nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp, mà doanh nghiệp có thể( hoặc coi như có thể) kiểm soát được Nó gắn liến với các điều kiện của doanh nghiệp như: lao động, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu, trình độ quản lý Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
1.4.2.1 Trình độ lao động của doanh nghiệp
Trong tất cả các hoạt động sản xuất, xã hội, nhân tố con người luôn luôn là nhân tố căn bản, quyết định tới chất lượng của các hoạt động đó Nó được phản ánh thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm của từng lao động trong doanh nghiệp Trình độ của người lao động còn được đánh giá thông qua sự hiểu biết, nắm vững về phương pháp, công nghệ, quy trình sản xuất, các tính năng, tác dụng của máy móc, thiếtbị, nguyên vật liệu, sự chấp hành đúng quy trình phương pháp công nghệ và các điều kiện đảm bảo an toàn trong doanh nghiệp
Để nâng cao chất lượng quản lý trong doanh nghiệp cũng như nâng cao trình
độ năng lực của lao động thì việc đầu tư phát triển và bồi dưỡng cần phải được coi trọng
Mỗi doanh nghiệp phải có biện pháp tổ chức lao động khoa học, đảm bảo và trang bị đầy đủ các điều kiện, môi trường làm việc an toàn, vệ sinh cho người lao động Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải có các chính sách động viên, khuyến khích nhằm phát huy khả năng sáng tạo trong cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua chế độ thưởng phạt nghiêm minh Mức thưởng phạt
Trang 27phải phù hợp, tương ứng với phần giá trị mà người lao động làm lợi hay gây thiệt hại cho doanh nghiệp.
1.4.2.2 Trình độ máy móc, công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định tới chất lượng sản phẩm
Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng sản phẩm Trong điều kiện hiện nay, thật khó tin rằng với trình độ công nghệ, máy móc ở mức trung bình mà có thể cho ra đời các sản phẩm có chất lượng cao Ngược lại, cũng không thể nhìn nhận rằng cứ đổi mới công nghệ là có thể có được những sản phẩm chất lượng cao, mà chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nguyên vật liệu, trình độ quản lý, trình độ khai thác và vận hành máy móc, thiết bị
Đối với các doanh nghiệp tự động hoá cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt thì chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều Do đó, trình độ của các doanh nghiệp về công nghệ, thiết bị máy móc phụ thuộc vào rất nhiều và không thể tách rời trình độ công nghệ thế giới Bởi nếu không, các nước, các doanh nghiệp sẽ không thể theo kịp được sự phát triển trên thế giới trong điều kiện đa dạng hoá, đa phương hoá Chính vì lý do đó mà doanh nghiệp muốn sản phẩm của mình có chất lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường thì doanh nghiệp đó cần có chính sách công nghệ phù hợp và khai thác sử dụng có hiệu quả các công nghệ và máy móc, thiết bị hiện đại, đã đang và sẽ đầu tư
1.4.2.3 Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp.
Các yếu tố sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động dù có
ở trình độ cao song không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thì cũng khó có thể tạo ra những sản phẩm
có chất lượng Không những thế, nhiều khí nó còn gây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của doanh nghiệp Do đó, công tác tổ chức sản xuất và
Trang 28lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp đóng một vai tròn hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, để mô hình và phương pháp tổ chức sản xuất được hoạt động có hiệu quả thì cần phải có năng lực quản lý Trình độ quản lý nói chung và quản
lý chất lượng nói riêng một trong những nhân tố cơ bản góp phần cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Điều này gắn liều với trình độ nhận thức, hiểu biết của cán bộ quản lý về chất lượng, chính sách chất lượng, chương trình và kế hoạch chất lượng nhằm xác định được mục tiêu một cách chính xác rõ ràng, làm cơ sở cho việc hoàn thiện, cải tiến
Trên thực tế, sự ra đời của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc
tế ISO 9000 đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của quản lý trong qúa trình thiết kế, tổ chức sản xuất, cung ứng và các dịch vụ sau khi bán hàng
1.4.2.4 Chất lượng nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, cấu thành thực thể sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt, kịp thời, đầy đủ, đồng bộ sẽ bảo đảm cho quá trình sản xuất diễn ra liên tục , nhịp nhàng; sản phẩm ra đời với chất lượng cao Ngược lại, không thể có được những sản phẩm
có chất lượng cao từ nguyên liệu sản xuất không bảo đảm, đồng bộ hơn nữa nó còn gây ra sự lãng phí, thất thoát nguyên vật liệu
Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào mà doanh nghiệp có thể bảo đảm được việc cung ứng nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất với chất lượng cao, kịp thời, đầy đủ và đồng bộ ? Điều này chỉ có thể thực hiện được, nếu như doanh nghiệp xác lập thiết kế mô hình dự trữ hợp lý; hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở nghiên cứu đáng giá nhu cầu về thị trường (cả đầu vào
và đầu ra), khả năng tổ chức cung ứng, khả năng quản lý
Trang 291.4.2.5 Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp.
Theo quan điểm quản trị chất lượng sản phẩm hiện đại, mặc dù công nhân là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nhưng người quản lý lại là người phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm sản xuất ra Trong thực tế, tỷ lệ tỷ lệ liên quan đến những vấn đề trong quản lý chiếm tới 80%
Do vậy, họ phải nhận thức được rằng đó không chỉ do lỗi ở trình độ tay nghè người công nhân mà còn do chính bản thân mình Trên thực tế, liệu đã có nhà quản lý nào đặt cho chính họ những câu hỏi như: Họ bố trí lao động đã hợp lý chưa? Việc bố trí có phát huy được khả năng, trình độ tay nghề của người công nhân hay không? Sản phẩm sản xuất với chất lượng kém có phải do con người, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu hay do nguyên nhân nào khác
Thêm vào đó, chính sách chất lượng và kế hoạch chất lượng được lập ra dựa trên những nghiên cứu, thiết kế của các lãnh đạo doanh nghiệp Quan điểm của
họ có ảnh hưởng rất lớn tới việc thực hiện chất lượng trong toàn công ty Điều này chứng tỏ rằng, chỉ có nhận thức được trách nhiệm của lãnh đạo doanh nghiệp thì mới có cở sở thực hiện việc cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
1.5 Sự cần thiết phải nâng cao công tác quản lý chất lượng.
Vấn đề chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm là sự sống còn của doanh nghiệp:
Xét đến việc sản xuất ra một sản phẩm có chất lượng kém thì tất phải loại bỏ, sữa chữa dẫn đến tiêu hao nguyên vật liệu, năng lượng nhân công và làm cho chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm tăng cao Vậy nên ta phải đưa các biện pháp quản lý vào từ khâu đầu đến khâu cuối của quá trình tạo ra chất lượng sản phẩm làm giảm được tỷ lệ hàng hỏng, giá thành sản phẩm sẽ hạ xuống và chất lượng sản phẩm nhờ đó mà tăng lên
Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy để các doanh nghiệp tiến lên đà phát triển, hoà nhập với thị trường khu vực và thế giới song nó cũng gây sức ép lớn
Trang 30cho các doanh nghiệp Trong kinh doanh nếu như đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu thì tất về lâu dài doanh nghiệp sẽ nằm ra ngoài quỹ đạo của thị trường Đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp ta có thể sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau song chỉ tiêu chất lượng sản phẩm là quan trọng nhất Vậy nên, quản lý chất lượng chính là phương thức mà doanh nghiệp cần tiếp cận và hoàn thiện hệ thống của mình Có như vậy doanh nghiệp mới có khả năng thắng lợi trên thương trường.
Quản lý chất lượng sản phẩm là yêu cầu của xã hội.
- Nhu cầu con người ngày một cao nên những đòi hỏi của họ về sản phẩm ngày càng đa dạng và phong phú Trong khi hàng hoá không chỉ sản xuất ra ở một quốc gia mà nó có sự giao thoa nhau mà sản phẩm nào có chất lượng cao sẽ thắng thế
Đáp ứng yêu cầu đó, các nhà sản xuất kinh doanh phải có các biện pháp quản
lý chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ một cách hợp lý để sản phẩm có uy tín với người tiêu dùng, phù hợp quy định quốc gia và quốc tế
- Yêu cầu về tiết kiệm đòi hỏi ta phải quản lý chất lượng sản phẩm
Các nguồn lực cho sản xuất sản phẩm đều có giới hạn nếu như chúng ta không khai thác hợp lý thì sẽ gây lãng phí và những hậu qủa xấu về kinh tế- xã hội, môi trường Tiết kiệm trong sản xuất là một giải pháp đạt hiệu quả kinh tế cao vừa giảm tối đa chi phí sản xuất mà chất lượng vẫn đảm bảo, nhờ đó mà người sản xuất tìm ra các phương pháp tối ưu trong quản lý
Quản lý chất lượng đúng ngay từ đầu (do right the first time) đang được các nhà quản trị doanh nghiệp hết sức quan tâm Đây là con đường tiết kiệm nhất trong kinh doanh và nó cũng là mục tiêu của quản lý chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp nói riêng và quản lý của các đơn vị tổ chức nói chung
Cần nói thêm rằng quản lý chất lượng sản phẩm là phải bảo vệ môi trường, đây không chỉ là vấn đề mang tính pháp lý mà còn chứa đựng đạo đức kinh doanh trong tinh thần nghiệp chủ Quản lý chất lượng phải được xây dựng trên
Trang 31cơ sở phát triển bền vững cân bằng trong mối quan hệ hữu cơ con người- sản xuất-môi trường.
Công tác quản lý chất lượng phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:
Thứ nhất, tập trung chú ý vào người tiêu dùng sản phẩm.Theo Ixikawa: “ Ta phải coi sản phẩm cho thị trường” Nhà sản xuất trước khi tiến hành sản xuất cái
gì, như thế nào phải nghiên cứu nhu cầu sau đó mới có kế hoạch sản xuất, xác định rõ mức chất lượng khách hàng yêu cầu, có như vậy sản phẩm mới tiêu thụ được
Thứ hai, quản lý chất lượng sản phẩm phải bao trùm lên mọi hoạt động tổ chức, không chỉ ở doanh nghiệp mà ở cả các đơn vị hành chính sự nghiệp
Vậy, ta phải tiếp cận quản lý chất lượng trong mọi biểu hiện của nó tức là quản lý các kết quả, các quá trình, công việc của các bộ phận, công việc của công nhân viên ,…
Thứ ba, các quyết định về chất lượng phải đặt trên cơ sở khả năng thanh toán của nhu cầu Một mức chất lượng cao với giá quá cao thì sản phẩm cũng khó tiêu thụ và ngược lại
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TẠI CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT VÀ THƯƠNG MẠI
LĨNH NAM
2.1 Giới thiệu khái quát về TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tên đầy đủ : Công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam.
Trụ sở : Số 64 NGÕ 467 Đ.LĨNH NAM - Q Hoàng Mai - Hà Nội
(CƠ SỞ SẢN XUẤT: SỐ 5 NGÕ 220 NAM DƯ - HÀ NỘI)
Điện thoại : 04 36436287/ DĐ: 0912172103
Website : conlanbangtai.vn
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam được là công ty chuyên nghiệp trong lĩnh vực sản xuất và chế tạo con lăn băng tải và gia công cơ khí được thành lập 2009, có nhiều bước phát triển và nhận được nhiều sự tin tưởng của khách hàng
Công ty bắt đầu hoạt động sản xuất vào tháng 6 năm 2009 với diện tích đất 21ha và tổng vốn đầu tư là 5,8 tỷ VND Sau 6 năm xây dựng ,hoạt động và phát triển tại thị trường Việt Nam,công ty đã có hơn 2000 công nhân ,với 4 xưởng sản xuất vật liệu cơ khí,1 khu hành chính và 2 nhà ăn Ngoài ra,công ty còn có 1 phòng y tế và sân chơi cho công nhân sau giờ làm việc
Dưới dự lãnh đạo của các quản lý giỏi có nhiều kinh nghiệm làm việc, lực lượng lao động chăm chỉ với tác phong công nghiệp ,Công ty TNHH sản xuất
và thương mại Lĩnh Nam chắc chắn sẽ thành công và góp phần vào sự phát triển của kinh tế xã hội
Công ty TNHH sản xuất và thương mại Lĩnh Nam có :
Tài khoản : 0551100799002 Ngân Hàng TMCP Quân Đội – CN Hai Bà Trưng