1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông

137 633 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM KIỀU ANH

RÈN LUYỆN CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN

Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học

bộ môn Văn và Tiếng Việt

Mã số: 62.14.01.11

LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

GS TS LÊ A

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

Bảng viết tắt trong luận án

1 . BGD &ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo

Trang 3

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC

CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN TRONG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC

SINH THPT1.1 Quan niệm về lập luận

Ngay từ xa xưa, khi bàn về thuật hùng biện, Aristote đã trình bày nhữnghiểu biết của mình về lập luận Theo đó, lập luận được xác định thuộc phạm vicủa thuật hùng biện Nó là con đường dẫn dắt người đọc, người nghe tiếp nhận

để nắm bắt được một vấn đề nào đó của thế giới khách quan, của xã hội loàingười Cùng với sự phát triển của thời gian, con người ngày càng nhận ra tầmquan trọng của lập luận trong đời sống xã hội Bởi thế, con người đặc biệt quantâm và tìm hiểu lập luận Có thể nhắc tới hai ngành khoa học nghiên cứu về lậpluận dưới đây:

1.1.1 Quan niệm về lập luận trong lôgic học

Thuật ngữ lôgic bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với ý nghĩa là "tư tưởng", "trítuệ" và "từ" Những ý nghĩa đó được đề ra từ mục đích con người muốn biểuthị tập hợp các quy luật bắt buộc của quá trình tư duy khi phản ánh thực tếkhách quan Nói một cách khác, nhiệm vụ cơ bản của lôgic học là làm sáng tỏnhững điều kiện nhằm đạt tới tri thức chân thực Để đạt được nhiệm vụ ấy, conngười phải thực hiện quá trình nhận thức, phải tư duy Cơ sở để con người ghilại quá trình tư duy là ngôn ngữ, là lập luận Cũng vì thế, lập luận là một trongnhững đối tượng cơ bản của lôgic học

Lập luận trong lôgic học được thể hiện rõ trong suy luận Theo đó, suy

luận là "hình thức của tư duy" [28, 90] nhằm tạo ra cơ sở để rút ra phán đoán mới

từ các quy tắc của lôgic Phán đoán, kết luận khoa học được tạo ra từ nhữngquy tắc lôgic thông qua các thao tác của tư duy và được thể hiện theo một cáchthức lập luận nhất định Bởi vậy, lập luận chính là con đường để tổ chức nhậnthức khoa học Lôgic học đã xác lập rõ các quy luật của tư duy, quy tắc của lậpluận cũng như những tiền đề thiết yếu để thu được nhận thức chân lý như tínhchân thực, quy tắc của lôgic lập luận [23], [28] Như vậy, trong lôgic học, cóthể nhận thấy lập luận là yếu tố không thể thiếu của bất kì suy luận nào Nó vừa

là cách thức, là thao tác tìm ra nhận thức chân lý mới, vừa là quá trình dẫn dắt

Trang 4

con người đi đến và kiểm nghiệm độ xác thực của chân lý ấy Với đặc trưng đó,khi nghiên cứu lôgic học, các nhà khoa học đã tìm ra những phương pháp lậpluận như: phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp, suy luận trực tiếp, suyluận gián tiếp, suy luận loại suy Hơn nữa, cũng trong lôgic học, các nhà khoahọc còn chỉ ra những cách thức tổ chức lập luận như: phân tích, chứng minh,bác bỏ, tổng hợp Có thể nói những cách thức tổ chức lập luận trên đây gắnliền với các hoạt động của tư duy lôgic, và cũng là con đường giúp con người

đi đến với nhận thức chân lý

1.1.2 Quan niệm về lập luận trong ngôn ngữ học

Lập luận cũng là một trong những nội dung quan trọng của việc nghiêncứu ngôn ngữ học Tìm hiểu lập luận với tư cách là đối tượng của ngôn ngữ,các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những quan niệm khác nhau Nhà nghiên cứu

Nguyễn Đức Dân, khi bàn về lập luận, cho rằng: đó là “một hoạt động, một

thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào đó Lập luận là một hoạt động bằng lôgic ngôn từ mà người nói thể hiện nhằm tác động đến quần chúng” [23,

21] Theo quan niệm này, có thể nhận thấy lập luận chính là các hành độngngôn ngữ được con người thực hiện để nêu ra những nhận xét, suy luận hayphán đoán nào đó nhằm tạo ra những tác động nhất định đối với người tiếpnhận Đó kết quả của một quá trình tư duy, gắn liền với hoạt động nhận thứccủa con người Kết quả ấy được biểu thị qua các hình thức của ngôn ngữ Nóimột cách khác, lập luận chính là sản phẩm của tư duy nhưng được thể hiện cụthể bằng trật tự lôgic của ngôn từ

Còn nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng lập luận một hành độngngôn ngữ có cấu tạo chặt chẽ Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, thuật ngữ “lập

luận” được hiểu theo hai nghĩa:“thứ nhất, nó chỉ sự lập luận tức là hành vi lập

luận Thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận tức toàn bộ cấu trúc của lập luận cả về nội dung và hình thức” [14, 19] Theo quan niệm trên, có thể

khẳng định, về bản chất, lập luận là một hành động ngôn ngữ được biểu hiệnqua cả phương diện nội dung và cấu trúc hình thức Bởi lẽ trong ngôn ngữ, lập

Trang 5

luận là một chiến lược hội thoại được con người thực hiện nhằm dẫn dắt ngườitiếp nhận đi tới một nhận thức hoặc một kết luận nào đó mà người tạo lập muốn

đạt được Các nhà ngôn ngữ học từng khẳng định: “Lập luận là đưa ra một

hoặc một số luận cứ nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn diễn đạt tới” [15, 79] Hay cụ thể hơn, đó

là cách con người “đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết

luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới" [14, 155]

Như vậy, hiểu một cách đơn giản: lập luận là đưa ra những lý lẽ, dẫn

chứng nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn đạt tới.Với tư cách là một

hành động ngôn ngữ, lập luận là yếu tố giúp cho con người tạo thành phát ngôn

cụ thể để hiện thực hóa nhận thức Nói một cách khác, lập luận là hành động

lôgic ngôn từ có cấu trúc và gắn với một nội dung cụ thể Vì thế, khi xem xét lập

luận, các nhà ngôn ngữ học thường tập trung tìm hiểu cấu trúc hình thức củalập luận, mối quan hệ giữa lập luận với thực tế khách quan, với dụng ý củangười tạo lập luận và từ đó đánh giá biểu hiện của các hành vi ngôn ngữ (hành

vi ở lời, hành vi mượn lời, hành vi tạo lời ) Cho nên, khi tiếp cận lập luận,chúng ta cần xem xét nó trên các bình diện của hành động ngôn ngữ (như mụcđích, nhận thức) và các hành vi ngôn ngữ được con người thực hiện khi giaotiếp Nhờ đó, chúng ta hiểu đúng về cấu trúc, ý nghĩa cũng như mục đích tạolập văn bản - sản phẩm của hoạt động giao tiếp Bởi vậy, khi nghiên cứu vănbản, lý thuyết lập luận là một trong những cơ sở khoa học không thể thiếu

1 2 Lập luận trong văn bản nghị luận

Nghị luận là kiểu văn bản đặc biệt quan tâm tới thuyết lý, được thựchiện chủ yếu bằng tư duy logic Vì thế, khi tạo lập, người nghị luận phải phảnánh được nhận thức, quan điểm của bản thân về thế giới khách quan; phải thểhiện được tư tưởng, tình cảm bằng chính ý kiến xác định trên cơ sở của các lý

lẽ và dẫn chứng cụ thể Nói một cách khác, giá trị của VBNL được đánh giádựa vào ý nghĩa của văn bản thông qua lập luận Khẳng định vai trò của lậpluận, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống, khi tiếp cận với văn nghị luận cho rằng:

“ Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ,

Trang 6

quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục ”[106,

189] Nhận định trên khẳng định cho đặc trưng cơ bản của văn bản này Có thểnói, nhờ hệ thống lý lẽ, dẫn chứng và thông qua việc diễn đạt bằng ngôn từlôgic, người viết có thể trình bày nội dung nghị luận một cách chính xác, tạo ra

những tác động nhất định đối với người tiếp nhận

Như vậy, lập luận trong VBNL là hành động ngôn ngữ giúp cho ngườitạo lập biểu đạt nội dung nghị luận sâu sắc, đầy đủ, chính xác Lưu Hiệp khẳngđịnh: Nguyện luận làm thành một thể là để phân biệt đúng - sai, phải - trái, tìmhết lý lẽ, truy cứu ở cái chỗ vô hình, khoan xuyên vật cứng để cho thông, khơichỗ sâu để xem giới hạn, nó là cái giỏ để bắt trăm điều suy nghĩ, là thước đocân nhắc vạn sự [37] Trong nhận xét trên, tác giả Lưu Hiệp chỉ rõ những đặc

trưng cơ bản của VBNL: phân biệt đúng - sai, phải - trái, tìm hết lý lẽ, truy cứu

ở cái chỗ vô hình, khoan xuyên vật cứng để cho thông, khơi chỗ sâu để xem giới hạn, nó là cái giỏ để bắt trăm điều suy nghĩ, là thước đo cân nhắc vạn sự.

Để tạo ra một văn bản đáp ứng được các đặc trưng ấy, người viết phải tổ chức:

lời phù hợp mà ý chặt chẽ, luận giống như việc bổ củi, quý ở chỗ chẻ được lý

ra, người ngụy biện đi ngược ý nghĩa mà nói lấy được thì đọc văn tuy thấy hay đấy nhưng xét lại thì hóa ra dối trá Nói một cách khác, tính chính xác của

VBNL được tạo ra qua hành động lập luận Mặc dù trong VBNL, lập luận đượccoi là hành động ngôn ngữ, nhưng lập luận trong ngôn ngữ và lập luận trongVBNL không hoàn toàn đồng nhất Bởi trong ngôn ngữ, lập luận được xem xéttrong một mẩu, đoạn hoặc trong phát ngôn cụ thể Trên cơ sở đó, các nhà ngônngữ tìm ra cấu trúc, ý nghĩa cũng như dụng ý sử dụng chúng khi giao tiếp Còntrong VBNL, lập luận là hành động ngôn từ được người tạo lập thực hiện trongsuốt quá trình nghị luận Nó không chỉ là một câu, một đoạn mà là hành độngtrong toàn bộ văn bản Nói một cách khác, mỗi VBNL là một chuỗi các hànhđộng ngôn ngữ được người tạo lập tạo ra nhằm tổ chức nội dung luận bàn (từnội dung khái quát tới những nội dung cụ thể thông qua luận điểm, luận cứ vàluận chứng), đồng thời thể hiện dụng ý riêng của bản thân Vì thế, lập luận là

Trang 7

sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung văn bản, là một trong những căn cứ đểđánh giá giá trị của bài văn nghị luận.

Hơn nữa, lập luận còn là hành động của tư duy logic Khi thực hiệnhoạt động nghị luận, tận dụng những quy tắc về nhận thức chân lý trong logic,người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tố của lập luận để dẫn dắt người tiếpnhận đi đến với chân lý khoa học, nhằm đạt được các mục đích khác nhau nhưtuyên truyền, giáo dục, nhận thức xã hội, giao lưu truyền bá hay truyền cảm bồidưỡng Dù mục đích tạo lập khác nhau, nội dung nghị luận khác nhau nhưngthông qua hành động lập luận, người nói, người viết có thể dẫn dắt người nghe,người đọc tiếp cận nội dung bàn luận một cách tự nhiên, khéo léo Bởi lẽ, lập

luận là hành động được người tạo lập thực hiện nhằm“bàn luận với người đọc

về hiện thực” [16, 3] Nói một cách khác, VBNL đặc biệt chú trọng tới cách tổ

chức lập luận nhằm tác động mạnh mẽ đến người tiếp nhận, thuyết phục người

ta tin vào ý kiến của bản thân người tạo lập Nhờ có lập luận, người tạo lập thể

hiện thái độ, quan điểm, cũng như những dụng ý riêng của bản thân “nhằm

khêu gợi, tác động vào cảm xúc, tưởng tượng của người đọc” [26, 5] và tạo ra

những tác động nhất định đối với người tiếp nhận Cho nên, khi nghiên cứuVBNL, lập luận được coi là phương thức biểu đạt cơ bản của kiểu văn bản này

Cũng vì thế, khi dạy học lập luận trong VBNL, GV một mặt phải tuântheo các quy tắc của logic, mặt khác phải đảm bảo tới cấu trúc của lập luận,nhưng đặc biệt phải chú trọng tới cách tổ chức hệ thống lập luận khi tạo lập vănbản Dạy học các TTLL ở THPT chính là nhằm rèn cho HS năng lực thiết yếu

để tổ chức lập luận khi viết văn nghị luận

1.3 Thao tác lập luận trong văn bản nghị luận

Tiếp cận VBNL, các nhà nghiên cứu nhận thấy rõ tầm quan trọng củaphân tích, chứng minh, bình luận… Chương trình Ngữ văn THPT hiện hànhquan niệm đó là các TTLL Để tìm hiểu TTLL, chúng tôi xem lập luận trongVBNL là một hành động ngôn ngữ Đó là hành động được con người thực hiện

để tạo ra các sản phẩm giao tiếp cụ thể VBNL là một sản phẩm của hoạt độnggiao tiếp, và để tạo ra được sản phẩm ấy, người tạo lập phải sử dụng TTLL để

tổ chức lập luận khi triển khai nội dung nghị luận

Trang 8

1.3.1 Khái niệm thao tác lập luận

Thao tác là thuật ngữ được đề ra từ tâm lý học hoạt động Theo A.A.

Leonchiep, con người thực hiện hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó củabản thân Để thỏa mãn những nhu cầu đó, con người thực hiện hành động dựatrên phương tiện trong những điều kiện xác định Mỗi phương tiện quy địnhcách thức hành động Cốt lõi của cách thức ấy chính là thao tác Bởi vậy, thaotác là đơn vị nhỏ nhất của hoạt động Đó là thành phần cấu tạo của hành động.Trong cấu trúc hoạt động, thao tác là nhân tố thuộc về phía chủ thể thực hiệnhoạt động, nó giúp cho chủ thể tiến hành tạo ra các sản phẩm nhằm đáp ứngmục đích cụ thể, mục đích cuối cùng của hoạt động

Có thể hình dung cấu trúc vĩ mô của hoạt động bằng sơ đồ sau:

Chủ thể Khách thể

Hoạt động cụ thể Động cơ

Hành động Mục đích

Thao tác Phương tiện

Sản phẩm

Sơ đồ 1: Cấu trúc vĩ mô của hoạt động (Theo [115, 60])

Như vậy, hành động và thao tác là hai yếu tố cơ bản được con người sử dụng

để thực hiện hoạt động Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với chủ thể conngười Bởi thế, A A Leonchiep cho rằng trong dòng liên tục của các hoạtđộng khác nhau tạo nên đời sống cá nhân, nếu ta lấy ra một hoạt động bất kỳ,tại thời điểm xác định và loại bỏ mọi sự khác nhau về hình thức biểu hiện vàtính chất riêng rẽ, sẽ còn lại quan hệ chủ thể - đối tượng, thông qua công cụhoạt động Nói một cách khác, bản chất cuối cùng của việc thực hiện hoạt độngchính là quá trình thể hiện mối quan hệ giữa con người (nhu cầu của con người)

và hành động thông qua các thao tác cụ thể Vì thế, thao tác là phương tiện đểthực hiện hành động Nó thuần túy là cơ cấu kỹ thuật, máy móc của hành động

Nó có thể được tháo lắp, đập vỡ, chắp ghép và tự do tham gia vào bất kỳ hành

Trang 9

động nào nếu hành động đó phù hợp với nó về lôgic Trong hoạt động, thao tácchính là nhân tố tạo nên sự vận hành của hành động nhằm đạt được mục đích.

Tạo lập VBNL là một hoạt động Hoạt động đó được con người thựchiện nhằm đáp ứng những nhu cầu cụ thể của bản thân Muốn đạt được nhu cầu

ấy, con người phải thực hiện các động tác cụ thể - cơ sở để thực hiện và vậnhành những hành động cụ thể Một trong những hành động thiết yếu chính làhành động lập luận Và để thực hiện hành động ấy, người nghị luận phải sửdụng tới TTLL Theo đó, ta có thể quan niệm về TTLL như sau:

Thao tác lập luận là những động tác có tính chất kỹ thuật mà người nói, người viết sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện hoạt động nghị luận.

1.3.2 Các thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn THPT

Nghiên cứu VBNL, có thể nhận thấy người nói, người viết thường sửdụng các TTLL cơ bản sau: giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp, sosánh, bác bỏ, bình luận Tuy nhiên, gắn với phạm vi nghiên cứu của luận án,chúng tôi tập trung vào các TTLL dưới đây:

1.3.2.1 Thao tác lập luận phân tích

Trong quá trình khám phá thế giới khách quan, con người nhận thấyrằng bất cứ một đối tượng, một sự vật nào cũng đều do nhiều bộ phận hợpthành, mỗi bộ phận lại có những đặc trưng và tính chất riêng biệt của nó Bởivậy, muốn hiểu đúng bản chất đối tượng, ta cần nắm vững đặc trưng của từng

bộ phận Để làm được việc đó, chúng ta thực hiện phân tích Về bản chất, đó làhành động chia cắt, xẻ, tách nhỏ đối tượng nhằm tạo ra cơ sở để khảo sát, tìmhiểu, khám phá đối tượng Như vậy, phân tích là một thao tác của tư duy lôgic

Nó là con đường giúp con người tiếp cận với các yếu tố và nhận thức thế giớikhách quan

Khi tạo lập VBNL, để nội dung nghị luận được trình bày khoa học,khách quan, người viết phải thực hiện TTLL phân tích Như vậy, phân tích làTTLL được người viết sử dụng nhằm dẫn dắt người tiếp nhận hiểu hơn từngđặc điểm, từng biểu hiện, qua đó có cách nhìn chính xác, khách quan đối với của

Trang 10

nội dung được bàn luận Nhờ có TTLL này, người tạo lập thể hiện cách thứctiếp cận đối tượng, rút ra những hiểu biết của bản thân và dẫn dắt người tiếpnhận đi đến các phán đoán, kết luận khoa học, và nhận thức đúng nội dung nghịluận Chẳng hạn, trong ngữ liệu sau:

“Để thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và phát triển cho tâm hồn, trí tuệ

không gì thay thế được việc đọc sách.

Cuốn sách tốt là người bạn giúp ta học tập, rèn luyện hằng ngày.

Sách mở mang trí tuệ, hiểu biết cho ta, dẫn dắt ta vào những chỗ sâu sắc, bí ẩn của thế giới xung quanh, từ sông ngòi rừng núi cho đến vũ trụ bao

la Sách đưa ta vào những thế giới cực lớn, như thiên hà hoặc cực nhỏ, như thế giới các hạt vật chất.

Sách đưa ta vượt thời gian, tìm về với những biến cố lịch sử xa xưa hoặc chắp cánh cho ta tưởng tượng tới ngày mai, hoặc hiểu sâu sắc hơn hiện tại.

Sách văn học đưa ta vào thế giới của những tâm hồn người đủ các thời đại để ta thông cảm với những cuộc đời, chia sẻ những niềm vui, nỗi đau dân tộc và nhân loại.

Sách đem lại cho con người những phút giây thư giãn trong cuộc đời bận rộn, bươn chải Sách làm cho ta hưởng vẻ đẹp, mở rộng con đường giao tiếp với mọi người xung quanh.

Sách là báu vật không thể thiếu được đối với mọi người Phải biết chọn sách mà đọc và trân trọng, nâng niu những cuốn sách quý”.

(Theo SGK Ngữ văn 7, tập 2, tr.23, Nxb Giáo dục)

Ở ngữ liệu trên, để đánh giá vai trò của việc đọc sách, tác giả Thành Mĩ

mở đầu bằng việc khẳng giá trị không thể thay thế của sách Từ luận điểm đượcnêu, tác giả đã chỉ ra các phương diện khác nhau mà sách đem lại Đó là:

1) Sách là người bạn

2) Sách mở mang trí thức, hiểu biết

3) Sách đưa ta vượt thời gian

4) Sách đem lại cho con người những phút giây thư giãn.Bằng cách chia nhỏ tác dụng của sách thành bốn phương diện, tác giảThành Mỹ đã chỉ ra ích lợi của việc đọc sách một cách ngắn gọn, súc tíchnhưng rất cụ thể và thuyết phục người tiếp nhận Ích lợi ấy được biểu hiện qua

Trang 11

các phương diện như: là người bạn, mở mang tri thức, vượt thời gian, và manglại sự thư giãn cho con người Đó đều là những điều kiện cần thiết đối với cuộcsống của mỗi cá nhân Có thể nói thông qua việc sử dụng TTLL phân tích, tácgiả truyền đạt khá đầy đủ dụng ý riêng của bản thân.

Trong hành động lập luận, phân tích là thuộc kiểu hành vi ngôn ngữ ởlời.TTLL này thường được người tạo lập thực hiện trong một đoạn văn, nhiềuđoạn văn, thậm chí là tất cả các đoạn văn trong bài khi giữa chúng có mối quan

hệ với nhau về ý nghĩa Vì vậy, khi thực hiện TTLL phân tích, người nói, ngườiviết phải tuân theo những nguyên tắc sau:

Phải đảm bảo sự phân chia phản ánh đúng nhất tổ chức của đối tượng

Để làm được điều này, chúng ta phải phân xuất được từng khía cạnh, từng bộphận của nội dung và sắp xếp chúng theo một trình tự hợp lý Việc phân chiaphải dựa vào những căn cứ về nội dung, về ý nghĩa hay hình thức biểu hiện đểcác khía cạnh được phân tách có tính chính xác, khoa học Mặt khác, các yếu

tố, các bộ phận phải được phân chia theo cấp bậc Theo đó, khi sắp xếp, ngườiviết dựa vào cấp bậc của các yếu tố để trình bày nội dung theo trật tự nhằm tạomạch lạc trong diễn đạt

Phải lựa chọn những dẫn chứng, lý lẽ phù hợp với từng bộ phận, từngkhía cạnh Khi lập luận, chúng ta cần phải căn cứ vào mục đích để lựa chọncách thức tổ chức lý lẽ và dẫn chứng cho thích hợp

Trong VBNL, TTLL phân tích không đơn thuần chỉ là tách nhỏ các mặtnội dung để mà còn cần phải xác lập mối liên hệ giữa chúng để có cơ sở kháiquát lại toàn bộ nội dung đã trình bày trước đó, từ đó rút ra nhận thức chân lý.Muốn nhìn nhận đối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì cần phải tổnghợp

1.3.2.2 Thao tác lập luận so sánh

So sánh là một thao tác tư duy được con người sử dụng thường xuyêntrong cuộc sống hàng ngày Về bản chất, đó là sự đối chiếu hai hay nhiều đốitượng, nhiều sự kiện, nhiều hiện tượng với nhau dựa trên một mối liên hệ nào

đó, nhằm làm nổi bật được đối tượng đang được xem xét, đánh giá Từ đặctrưng của so sánh, khi sáng tạo nghệ thuật, các nghệ sĩ đã tạo ra biện pháp tu từ

so sánh - một trong những biện pháp giúp người nghệ sĩ có thể tạo ra những

Trang 12

hình tượng nghệ thuật So sánh tu từ được thực hiện theo cơ chế các sự vật,hiện tượng được xem xét đối chiếu dựa trên những mối liên hệ tương đồng nhấtđịnh nhằm mục đích chính là tạo ra những hình tượng nghệ thuật Ví dụ:

Con yêu mẹ bằng con dế (Xuân Quỳnh) Câu thơ trên được trích từ bài thơ cùng tên của nữ sĩ Xuân Quỳnh Cả

bài thơ là lời đối thoại giữa người mẹ và đứa con thơ bé, mà ở đó người connêu lên những tình cảm của mình dành cho người mẹ Ấn tượng sâu sắc nhấtcủa bài thơ được tập trung rõ nét ở câu thơ cuối Nhờ biện pháp so sánh tu từ ởcâu thơ này, Xuân Quỳnh đã tạo ra một kết thúc đầy bất ngờ với một lối diễnđạt vừa dí dỏm, ngộ nghĩnh phù hợp với đặc điểm tâm lý trẻ thơ

Khác với so sánh tu từ, trong VBNL, TTLL so sánh được người tạo lậpthực hiện trên cơ sở tương đồng giữa các đối tượng và từ đó rút ra ý kiến, nhậnđịnh về đối tượng nghị luận Ta có thể nhận thấy đặc điểm đó trong ngữ liệusau:

“Thần Hê-ra-clet của Hi Lạp, chủ yếu là bắp thịt rắn chắc, có tài chiến đấu, nhưng mục tiêu chiến đấu là gì thì bất cần, tâm địa thần tầm thường Trong truyện Thánh Gióng Việt Nam không thấy nói đến bắp thịt rắn chắc mà nói đến đức tính trước hết Đức tính nào cũng cao cả, hình tượng nào cũng phơi phới Thần anh hùng của ta trí dũng kiêm toàn, đạo đức không gợi một hạt bụi, mọi ý nghĩ và hành động đều tập trung vào một việc, mà việc ấy là việc cứu nước.” [111, 58]

Đoạn trích trên được trích lược từ bài đánh giá về vẻ đẹp của ThánhGióng - một vị thần anh hùng bất tử trong truyện cổ dân gian Việt Nam Đểlàm nổi bật lên vẻ đẹp của Phù Đổng Thiên Vương, tác giả Nguyễn Đổng Chi

đã sử dụng triệt để phép so sánh Cũng giống như các hình thức so sánh khác,

so sánh trong lập luận ở đoạn trích trên được tác giả thực hiện bởi sự đối chiếugiữa hai hình ảnh có sự tương đồng với nhau - cả hai vị thần đều có tài chiếnđấu Chọn đối tượng so sánh là thần Hê-ra-clét của Hi Lạp, tác giả đã lần lượtchỉ ra những nét khác biệt giữa hai vị thần trong các tác phẩm dân gian Trongthần thoại Hy Lạp, Hê-ra-clét là vị thần có vẻ đẹp hình thể: bắp thịt rắn chắc vàtài năng chiến đấu hơn người Thánh Gióng của ta cũng một mình đánh đuổi lũ

Trang 13

giặc Ân xâm lược Thế nhưng Hê-ra-clét lại không phân định rõ mục tiêu chiếnđấu, tâm địa tầm thường Còn trong truyện Thánh Gióng, đức Phù Đổng ThiênVương của ta đẹp không phải ở hình thể mà đẹp bởi đức tính Đấy là một vịthần trí dũng kiêm toàn, đạo đức không gợn một hạt bụi, mọi ý nghĩ và hànhđộng đều tập trung vào việc cứu dân cứu nước Như vậy từ việc so sánh hìnhảnh hai vị thần trong truyện, tác giả Nguyễn Đổng Chi đã nêu ra những nét đốilập trong vẻ đẹp của hai nhân vật để rồi chứng minh cho vẻ đẹp bất diệt củađức Phù Đổng Thiên Vương - vẻ đẹp ấy toả sáng lung linh, huyền ảo với nhiều

ý nghĩa mới mẻ sâu xa Thánh Gióng - hình ảnh một vị thần đẹp người, đẹp nết,trí dũng kiêm toàn, sống và hành động vì nghĩa lớn nhưng lại rất bình dị, khiêmnhường Câu kết của đoạn trích chính là kết quả được rút ra từ hành động sosánh trước đó Nhờ có so sánh, ta có thể hiểu đúng hơn vẻ đẹp của ThánhGióng - đó là vẻ đẹp được nhận thấy từ chiều sâu tâm hồn, từ những hànhđộng, việc làm cũng như tinh thần của ngài Vẻ đẹp ấy không toát ra từ cơ bắp,thân hình mà đó là cái đẹp hài hòa trong nhân cách, trong đạo đức của conngười Không chỉ có vậy, khi đánh giá vẻ đẹp của Thánh Gióng, nhờ có so sánh

mà lời lẽ đánh giá của tác giả vừa dung dị lại vừa khách quan, thuyết phục.Như vậy, TTLL so sánh đã thực sự giúp cho người viết triệt để làm nổi bật nộidung đang được bàn luận, có điều kiện bộc lộ tâm trạng, tình cảm cũng nhưthái độ đối với nội dung nghị luận

Tóm lại, trong VBNL, so sánh là một TTLL được người tạo lập dùng đểtìm ra sự giống nhau hoặc khác nhau giữa các đối tượng, và qua sự so sánh ấy

để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến một ý kiến, nhận định nào đấy đối với nộidung được bàn luận Nói một cách khác, đó là cách người lập luận thực hiệnnhằm dẫn dắt người tiếp nhận đến với một chân lý một kết luận nào đấy về nộidung nghị luận Cũng bởi thế, so sánh thể hiện rõ mục đích cũng như tính lậpluận trong văn nghị luận Tính lập luận của so sánh có thể được thực hiện bằngmột câu, nhưng cũng có thể được người viết trình bày trong một đoạn văn hoặc

cả bài văn Việc sử dụng TTLL này trong một câu, một đoạn hay thậm chí cảbài đều gắn với mục đích và dụng ý của người viết Khi sử dụng TTLL so sánh,người viết không chú trọng tới độ dài ngắn của lập luận mà đặc biệt quan tâm

Trang 14

tới việc sử dụng các yếu tố so sánh và làm như thế nào đó để hướng người đọctới nhận thức, chân lý hay kết luận cuối cùng cần nêu ra Chẳng hạn, khi nêu ranhững nhận xét về cách viết văn của một số nhà văn hiện thực, Nguyễn Tuân

có viết: “Làm sao trong đêm tối ngày xưa đó, Ngô Tất Tố đã mò ra được

những thực tế đó và trong đêm tối, ông lụi hụi thắp được bó hương mà tự mình soi đường cho nhân vật mình đi? Lúc đó, không phải là không ai nói về làng xóm dân cày, nhưng người ta nói năng khác ông, người ta bàn cải lương hương ẩm, người ta xoa xoa mà ngư ngư tiều tiều canh canh mục mục Còn Ngô Tất Tố thì xui người nông dân nổi loạn Cái cách viết như thế, cái cách dựng truyện như thế, không là phát động quần chúng nông dân chống quan Tây, chống vua ta thì còn là cái gì nữa!” [53, 80].

Bằng TTLL so sánh, Nguyễn Tuân đã chỉ ra ý nghĩa ẩn sau những mảnhđời đi vào mỗi trang viết của Ngô Tất Tố Trong xã hội cũ, dưới sự kiểm soátgắt gay của thực dân và phong kiến, Ngô Tất Tố đã tìm ra cho mình một hướng

đi riêng, và ta chỉ có thể nhận thấy điều đó khi đặt nó trong mối tương quan vớinhững người khác Nhờ đặt vấn đề xã hội trong cách nói của những người

khác, Nguyễn Tuân đã chỉ ra sự khác biệt của Ngô Tất Tố: “người ta bàn cải

lương hương ẩm, người ta xoa xoa mà ngư ngư tiều tiều canh canh mục mục Còn Ngô Tất Tố thì xui người nông dân nổi loạn” Điều đó đã tạo ra dấu ấn

riêng trong cách viết của Ngô Tất Tố

Trên thực tế, khi sử dụng so sánh để tổ chức lập luận, người lập luận cóthể thực hiện theo hai hình thức: so sánh tương đồng hoàn toàn và so sánhtương đồng có dị biệt Thông thường, người ta sử dụng hình thức so sánh thứnhất để chỉ ra những điểm chung của các yếu tố và qua đó đưa ra những nhậnđịnh có tính chất khái quát cho đối tượng được nghị luận Hãy xem xét ví dụ

sau:“Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của

chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy” (Phạm Văn Đồng)

Để rút ra nhận định về giá trị của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Cố Thủtướng Phạm Văn Đồng đã mượn hình ảnh các vì sao trên bầu trời để so sánh.Không chọn hình dáng hay độ đậm nhạt của ngôi sao khi được nhìn thấy trongthực tế mà tác giả đã chọn ánh sáng của những ngôi sao ấy để làm yếu tố so

Trang 15

sánh Đó là thứ ánh sáng được tác giả xác định ở các đặc trưng: khác thường,

phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng Và những

đặc trưng ấy có những nét tương đồng với biểu hiện của thơ văn Nguyễn ĐìnhChiểu trong nền văn học dân tộc Từ đó, tác giả Phạm Văn Đồng đã rút ra mộtnhận định, một kết luận về giá trị thơ văn Nguyễn Đình Chiểu

Không giống với so sánh tương đồng hoàn toàn, so tương đồng có dịbiệt lại bắt đầu từ việc người viết chọn những yếu tố, những chi tiết, nhữnghình ảnh có đặc điểm khác biệt nhau về hình thức hay giá trị để chỉ ra những nét

riêng của nội dung được bàn luận Điều đó được thể hiện trong ví dụ sau: “Yêu

người, đó là một truyền thống cũ “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm khúc”,

đã nói đến con người Nhưng dù sao cũng là mới bàn đến một hạng người Với

“Kiều”, Nguyễn Du đã nói đến cả xã hội người Với “Chiêu hồn” thì cả loài người được bàn đến [ ] “Chiêu hồn”, con người trong cái chết “Chiêu hồn”, con người trong từng giới, từng loài, “mười loài là những loài nào” với những nét cộng đồng phổ biến, điển hình của từng loài một” [ ].

Tôi muốn nói đến bài văn “Chiêu hồn”, một tác phẩm có một không hai trong nền văn học chúng ta (Nghĩ mà xem, trước “Chiêu hồn” chưa hề có bài văn nào đem cái “run rẩy mới” ấy vào văn học Sau “Chiêu hồn”, lại càng không) Nếu “Truyện Kiều” nâng cao lịch sử thơ ca, thì “Chiêu hồn” đã mở rộng địa dư của nó qua một vùng xưa nay ít ai động tới: cõi chết” [53,79]

Trong ngữ liệu trên, người viết xuất phát từ một điểm: yêu người - mộttruyền thống trong văn thơ dân tộc Tuy nhiên, để đánh giá biểu hiện và giá trịcủa truyền thống ấy trong các tác phẩm cụ thể, người viết đã đi sâu xem xétcách biểu hiện của lòng yêu người trong một số tác phẩm Nhờ có TTLL sosánh, tác giả đã đúc rút ra nhận định về giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm

“Văn chiêu hồn”: thương tất cả thập loại chúng sinh trong cõi sống và cả trong

cõi chết, qua đó dẫn tới nhận thức mới về tác phẩm này

Như vậy, trong VBNL, người nói, người viết sử dụng TTLL sosánh nhằm bày tỏ ý kiến, quan niệm đối với nội dung được bàn luận Sử dụngTTLL này, người tạo lập không chỉ dẫn dắt người đọc đến với những kết luậnkhoa học, chính xác mà còn giúp cho lời văn trong văn bản sinh động, hấp dẫn,

Trang 16

nhiều hình ảnh Đó cũng là cách mà người nói, người viết tạo sức thuyết phụcđối với độc giả

1.3.2.3 Thao tác lập luận bác bỏ

Bác bỏ cũng là một thao tác được con người sử dụng thường xuyên vớimục đích là để gạt bỏ, phản bác những ý kiến, những sự việc sai lầm, và qua đóbảo vệ những điều đúng Theo chiết tự Hán - Việt thì “bác” là phản bác, “bỏ” làgạt đi, bỏ đi Bác bỏ là phản bác để gạt đi, bỏ đi một ý kiến, một nhận xétkhông chính xác Như vậy, bác bỏ là một thao tác của tư duy Nó giúp conngười có những cách thức để phê phán những chân lý, nhận thức hay quanđiểm sai, đi đến với những điều đúng đắn, chính xác

Trong VBNL, bản chất của TTLL bác bỏ là cách người viết tổ chức lậpluận nhằm phủ nhận một ý kiến, một kết luận bằng cách dùng lý lẽ, dẫn chứng

để chỉ ra một cách rõ ràng, tường tận, thấu đáo những sự vô lý, sai lầm của nó

Nó thực chất là cách người tạo lập thực hiện các động tác phủ định nhằm thểhiện nhận thức, thái độ của bản thân đối với nội dung được nghị bàn.Vì thế, lậpluận trong TTLL này gắn với hành vi mượn lời Nó được người viết sử dụngkhi và chỉ khi gặp những quan điểm không đúng hoặc có người không tán đồngvới những ý kiến mà mình đưa ra trong quá trình bàn luận Nhờ có TTLL này,người tạo lập sẽ chỉ ra lệch lạc, chưa chính xác trong suy nghĩ rồi từ đó dẫn dắtngười tiếp nhận đi đến với những chân lý đúng đắn, xác thực hơn Ta có thểnhận thấy vai trò của TTLL bác bỏ trong ngữ liệu sau:

“ Học để làm gì? Câu hỏi ấy nghe ra thật tầm thường cũ rích, tuồng như không ai để ý đến, nhưng cứ như những câu trả lời của các học giả xưa nay thì có một câu vắn tắt mà có thể bao quát được toàn thể và công dụng sự học là:

Học để làm người.

Theo câu nói ấy, có lẽ cãi lại rằng: Vậy thì không học không làm người được sao? Kìa như ông Hán Cao Tổ không học mà làm một ông vua anh hùng, ông Hoắc Quang không học mà làm được công nghiệp lớn Bên Âu Tây, nhiều nhà đại chính trị đại sáng tạo hoặc trọn đời ở trong các mỏ lớn, các công xưởng mà làm được công việc to lớn đó thì sao? Còn ở trên đời biết bao người

Trang 17

vào trường nọ, đậu bằng kia, đào mãi trong trăm ngàn bộ sách, miệng nói ra rành là chuyện văn hào đông tây, mà xét đến phẩm cách tính chất, có điều mất

cả tư cách làm người nữa Thế thì câu nói “học để làm người” không phải là không đúng sao?” [78]

Ngữ liệu trên được trích trong một bài luận đăng trên báo Tiếng dân, số

282, ngày 17/5/1930 Cả bài luận được tác giả dùng để bàn về một hoạt độngquan trọng, thiết yếu đối với cuộc sống mọi cá nhân trong xã hội - hoạt động

học tập Bàn về học tập, tác giả đưa ra một chân lý: Học để làm người Đây là

một chân lý đúng, song trên thực tế, có người lại không đồng quan điểm vớichân lý ấy Bởi vậy, để bảo vệ quan điểm trên, tác giả Huỳnh Thúc Kháng đãđưa ra câu hỏi có tính chất lật ngược nhằm tạo ra một tình huống giả định độc

đáo: Vậy thì không học không làm người được sao? Theo câu hỏi trên, chúng ta

nhận thấy hình ảnh hai cá nhân đang đối thoại với nhau, trong đó nhân vật đangthực hiện hành động tranh luận (giả định) nêu ra câu hỏi phản bác trên Từ đó,tác giả mượn các lý lẽ, và đặc biệt là các dẫn chứng cụ thể trong lịch sử đểchứng minh cho tính xác thực của luận điểm Với những dẫn chứng đã chọn,tác giả lý giải ý nghĩa của chữ “học” Học ở đây không chỉ là học theo trườnglớp, học để nắm bắt tri thức, kỹ năng mà học chủ yếu là học nhân cách, học đểhoàn thiện mình Cách dùng dẫn chứng, lý lẽ như vậy, vừa giúp cho nội dungtrình bày ngắn gọn, súc tích, vừa mang lại sự thuyết phục đối với người tiếpnhận Có thể nói, TTLL bác bỏ đã thực sự phát huy tác dụng khi khẳng định tínhchính xác của nội dung, quan điểm được bàn luận

Khi nghị luận, TTLL bác bỏ có hình thức diễn đạt gần giống với chứngminh, bởi lẽ, đó là một dạng lập luận chứng minh đặc biệt Sở dĩ nói được nhưvậy là vì: chứng minh là việc đi tìm những lý lẽ dẫn chứng để trực tiếp khẳngđịnh tính đúng đắn của nội dung đó Còn TTLL bác bỏ lại xuất phát từ một ýkiến, một quan niệm sai, sau đó dùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra cái sai, và nêu

ra chân lý (cái đúng) Cũng bởi vậy, khi sử dụng TTLL bác bỏ, người viết luônchú ý sử dụng nhiều hình thức diễn đạt phủ định Đặc điểm này xuất phát từchính bản chất của TTLL này Đó là các kiểu câu theo cấu trúc: không ,không ; có thể nhưng không; đâu phải là Ví dụ, trong ngữ liệu trên,

các câu: "Theo câu nói ấy, có lẽ cãi lại rằng: Vậy thì không học không làm

Trang 18

người được sao? Kìa như ông Hán Cao Tổ không học mà làm một ông vua anh hùng, ông Hoắc Quang không học mà làm được công nghiệp lớn" được người

viết sử dụng lối diễn đạt: không học không làm người được sao; hay không

học mà làm một ông vua anh hùng; không học mà làm được công nghiệp lớn

để chỉ ra quan niệm lệch lạc trong luận điểm chính

Khi sử dụng TTLL bác bỏ, người viết thường thực hiện các cách bác bỏnhư bác bỏ luận điểm, bác bỏ luận cứ Việc thực hiện bác bỏ ở luận điểm, hayluận cứ phải căn cứ vào nội dung của chúng, xác định những phương diện chưachính xác trong nội dung luận điểm, luận cứ để từ đó tìm ra những lỹ lẽ, dẫnchứng để có thể phản bác lại những nội dung không chính xác ấy Vì thế, khithực hiện hành động bác bỏ, người viết phải kết hợp với các TTLL khác nhưphân tích, chứng minh, bình luận Để lý giải đặc điểm trên, chúng ta xem xét

ngữ liệu sau: “ Người ta thường nói: “ Cứng quá thì gãy” Kẻ sĩ chỉ lo không

cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc của trời Sao lại đoán trước là sẽ gãy mà chịu đổi cứng ra mềm?

Ngô Tử Văn là một anh chàng áo vải Vì cứng cỏi mà dám đốt cháy đền

tà, chống lại yêu ma, làm một việc hơn cả thần và người Bởi thế được nổi tiếng và được giữ chức vị ở Minh ti, thật là xứng đáng Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng sợ sự cứng cỏi.”[53, 26].

Trong ngữ liệu trên, tác giả Nguyễn Dữ tập trung bàn về quan niệm

“Cứng quá thì gãy”- một quan niệm sống cũng như ứng xử của con người.

Chọn một nhận định chưa thực sự xác đáng, tác giả đã sử dụng lý lẽ và dẫnchứng để chỉ ra sự lệch lạc đó Cũng vì thế, nội dung luận bàn được tác giảNguyễn Dữ trình bày ở câu mở đầu Sau đó, tác giả nêu dẫn chứng bằng thái độcủa một lớp người trong xã hội - kẻ sỹ để chỉ ra phần chưa chính xác và biệngiải cho sự lệch lạc trong nhận thức về quan niệm Vẫn phát triển tiếp nội dungmạch ý trên, người viết đã lấy một dẫn chứng cụ thể - Ngô Tử Văn, một nhân

vật được coi là “anh chàng áo vải”để chứng tỏ thái độ sống cứng cỏi của nhân vật này Từ đó, người viết đã thể hiện thái độ khâm phục của mình: làm một

việc hơn cả thần và người và rút ra lời nhận định: “Vậy kẻ sĩ, không nên kiêng

sợ sự cứng cỏi.” Như vậy, trong ngữ liệu ngắn, với dụng ý là thể hiện thái độ

Trang 19

không đồng tình với một quan điểm sống, tác giả Nguyễn Dữ đã sử dụng TTLLbác bỏ để dẫn dắt người đọc đi đến với chân lý về thái độ sống trong cuộc đời.Khi sử dụng TTLL này, tác giả đã kết hợp với phân tích, bình luận để trình bàynội dung nghị luận ngắn gọn, súc tích Tóm lại, bác bỏ là một TTLL đượcngười nói, người viết thực hiện nhằm đưa ra những lời bàn luận khách quan,sâu sắc, tránh cái nhìn một chiều, sai trái, khiên cưỡng Hơn nữa, trong VBNL,lập luận còn là cách tranh luận ngầm nhằm phản bác những ý kiến không đúng,

từ đó khẳng định điều mà người nghị luận cho là đúng, là chân lý Bởi vậy,TTLL bác bỏ được người tạo lập thực hiện nhằm tổ chức lập luận được toàndiện, giàu tính thuyết phục và hấp dẫn

1.3.2.4 Thao tác lập luận bình luận

Bình luận là một thao tác được con người thực hiện trong nhiều lĩnh vựcnhư văn học, thể thao, y tế Trong VBNL, bình luận là TTLL quan trọngkhông thể thiếu Khi lập luận, để thể hiện suy nghĩ, thái độ, quan điểm củamình, người viết phải dùng ngôn ngữ, lý lẽ, dẫn chứng đối với nội dung nghịluận Đó chính là quá trình người tạo lập thực hiện bình luận Nói một cáchkhác, trong VBNL, bình luận là TTLL giúp người viết, thể hiện rõ tư tưởng,tình cảm, thái độ của mình đối với bản thân nội dung luận bàn Chẳng hạn,

trong ngữ liệu: “Mỗi ai nghiên cứu chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đều tỏ lòng

khâm phục đặc biệt đối với thái độ của người Việt Nam yêu nước trước cái chết vì nước

Chủ nghĩa anh hùng Việt Nam thật là tuyệt diệu ngay cả ở lúc người anh hùng sắp bị hành hình Tinh thần người chết tiếp sức cho người sống nối chí mình Trong ý nghĩ đó, cái chết anh hùng là bất tử”.

Ở ngữ liệu trên, nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu bàn về: người Việt Namcoi cái chết như hành động thể hiện tư thế hiên ngang, không chịu khuất phục

trước kẻ địch Điều đó được thể hiện ngay trong câu mở đầu:“Mỗi ai nghiên

cứu chủ nghĩa anh hùng Việt Nam đều tỏ lòng khâm phục đặc biệt đối với thái

độ của người Việt Nam yêu nước trước cái chết vì nước” Với luận điểm đó,

tác giả đã chỉ rõ biểu hiện tinh thần, thái độ của những chí sĩ yêu nước trongtừng chặng đường lịch sử của dân tộc Bằng những dẫn chứng cụ thể, tác giả

Trang 20

nêu ra nhận xét, đánh giá của bản thân trước các tấm gương trung hiếu ấy:

“Trong lịch sử Việt Nam loại gương ấy đã nhiều lại rất sáng Thời chiến, vấn

đề sống chết… Biết bao thế hệ Việt Nam đã bước qua cái chết để tìm đường sống” Lời bình được tác giả trình bày đan cài, xen kẽ với từng tấm gương tiêu

biểu giúp cho cách biểu đạt nội dung trở nên chặt chẽ, xác đáng nhưng thể hiện

rõ tình cảm, sự trân trọng của người viết Các câu bình luận của người viết như:

“Khí phách y như người chuẩn bị một trận đánh”; hay “ thật là tuyệt diệu ngay cả ở lúc người anh hùng sắp bị hành hình Tinh thần người chết tiếp sức cho người sống nối chí mình Trong ý nghĩ đó, cái chết anh hùng là bất tử” đã

thực sự thuyết phục độc giả Dường như những lời bình ấy đã tạo ra điểm nhấnkhi người viết khẳng định niềm tự hào của bản thân đối với các bậc tiền bối vàbài học giáo dục rút ra từ thực tế lịch sử dân tộc

Trong hành động lập luận, bình luận thực chất là kết quả cuối cùng củaquá trình suy luận Nó được thể hiện ở chỗ: đánh giá, bàn luận bao giờ cũngphải xuất phát từ một nhận định cụ thể; nội dung bình giá luôn là sự đúc rút từnhững phân tích, suy đoán, chứng minh Nói cách khác, bình luận là sự đúcrút chân lí, nhận thức từ những cách tiếp cận nội dung nghị luận Khi thực hiện

bình luận, người viết thực hiện hai động tác cơ bản là luận và bình Trong đó,

luận là người viết xác định rõ luận điểm, tìm ra các luận cứ, luận chứng nhằm

làm rõ nội dung vấn đề; bình là việc từ những luận cứ, luận chứng, lí lẽ đã nêu, người viết rút ra đánh giá của mình về nội dung được “luận” trước đó Đặc điểm này được bộc lộ trong ngữ liệu sau: " Nếu bảo luật chỉ tốt cho việc cai trị

chứ không có đạo đức tinh vi, thế là không biết rằng trái luật là tội, giữ đúng luật là đức Nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức Có cái đức nào lớn hơn chí công vô tư không? Chí công vô tư là đức ở trời Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời, như vậy mà không đáng gọi là đạo đức tinh vi sao? Chỉ sợ con người không tận dụng luật mà thôi Nếu tận dụng cũng đủ trọn vẹn đạo làm người rồi, bất tất phải đi tìm cái gì khác” [53, 71].

Ở đoạn trích trên, tác giả Nguyễn Trường Tộ khi bàn về sự cần thiết của

luật pháp đối với xã hội - đã từ thực tế vai trò của luật pháp đối với mọi người

Trang 21

dân, đối với xã hội nêu lên những nhận xét xác đáng về giá trị và vai trò củaluật pháp Cả đoạn trích được tác giả trình bày về giá trị, ý nghĩa thực tế củaluật pháp Để dẫn dắt người đọc đi đến với chân giá trị của đạo đức, NguyễnTrường Tộ đã kết hợp cả “luận” và “bình” trong đoạn văn ngắn Các đơn vị

ngôn ngữ như: “Nếu bảo luật chỉ tốt cho việc cai trị chứ không có đạo đức tinh

vi”, hay “nếu tận dụng cái lẽ công bằng ở trong luật mà xử sự thì mọi quyền, pháp đều là đạo đức” và “Trong luật cái gì cũng công bằng hợp với đức trời, như vậy mà không đáng gọi là đạo đức tinh vi sao? Chỉ sợ con người không tận dụng luật mà thôi” được tác giả sử dụng nhằm luận giải về chân giá trị của

đạo đức Tiếp sau lời luận giải ấy, tác giả nêu ra những nhận xét cụ thể: “Giữ

đúng luật là đức”, “Có cái đức nào lớn hơn chí công vô tư không? Chí công vô

tư là đức ở trời” và “Nếu tận dụng cũng đủ trọn vẹn đạo làm người rồi, bất tất phải đi tìm cái gì khác” Thông qua cách kết hợp giữa luận và bình ấy, tác giả

Nguyễn Trường Tộ đã giúp ta có thể hiểu ra chân lý luật pháp chính là phạmtrù giúp cho con người sống đúng đắn hơn, thể hiện đúng cái tình, cái lý hơn để

từ đó có những hành vi ứng xử hợp với đạo trời, với tình người Bình luận đãgiúp cho tác giả Nguyễn Trường Tộ vừa thể hiện những suy nghĩ chính xácđược rút ra từ thực tế cuộc sống

Khi lập luận, nhờ có TTLL này, người nói, người viết có điều kiện thểhiện dấu ấn cá nhân bản thân khi bàn luận Ta có thể nhận thấy rõ vai trò của

nó trong ngữ liệu sau:“ Trong lĩnh vực tai nạn giao thông, thần chết là một

kẻ mù lòa, không hề phân biệt người tốt và kẻ xấu khi đưa ngang lưỡi hái vào mạng sống của ai đó Nhất là khi thần chết đồng hành cùng những “sát thủ” trên đường phố ” [56, 73-74].

Từ một sự việc được xác định là vấn nạn của mọi quốc gia trên thế giới,

người viết thể hiện dấu ấn rất riêng của mình khi nhìn nhận nó như “một kẻ mù

lòa” Và để luận bàn cho nhận xét ấy, người viết lý giải qua biểu hiện “không

hề phân biệt người tốt và kẻ xấu” trong mọi hoàn cảnh, ngay cả khi “đồng hành cùng “sát thủ” trên đồng hành cùng những “sát thủ” trên đường phố ” đường phố Từ đó, người viết bày tỏ thái độ: “Đó là sự tổn thương quá lớn cho lực lượng lao động đất nước” và “Nếu chúng ta bằng sự thận trọng khi tham

Trang 22

gia giao thông” Có thể nói, bình và luận đã thực sự tạo ra những cách diễn

đạt vừa hấp dẫn, vừa xác đáng vừa thể hiện nét riêng trong suy nghĩ và nhậnthức của mỗi người viết Nói một cách khác, nhờ có bình luận, người viết mới

có thể nêu lên những nhận xét, những suy luận được đúc rút từ thực tế tiếp cận

và khám phá nội dung nghị luận

Trong VBNL, TTLL bình luận còn là cách người viết dẫn dắt người tiếpnhận đi đến với những suy nghĩ, nhận thức mới Có thể nhận thấy điều đó trong

ngữ liệu sau:“ Trong cuộc sống có biết bao nhiêu sự cảm ơn có lời và không

lời như thế Với những người có văn hóa,“cảm ơn” là lời nói được sử dụng hằng ngày, những lời luôn được cất lên bằng tất cả thái độ lịch sự và tình cảm chân thực nhất Nhưng tiếc rằng, vẫn còn không ít thanh niên chưa nghĩ như vậy Họ coi cảm ơn chỉ là những lời khách sáo, vì thế, chẳng cần phải nói ra Hình như những bạn ấy vẫn nghĩ một cách giản đơn rằng nói lời cảm ơn hay làm những cử chỉ biểu lộ sự biết ơn là “vẽ chuyện”, chỉ làm mất đi sự thân tình

và tăng thêm xa cách mà thôi.

Thế nhưng, cuộc sống hiện đại và yêu cầu về quy tắc giao tiếp giữa người với người đòi hỏi chúng ta phải tập làm quen với lời “làm ơn” và sau đó

là “cảm ơn” Thật hạnh phúc khi ta làm được một việc có ý nghĩa, một điều tốt đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác, kéo mọi người lại gần nhau hơn.

Và cũng sẽ hạnh phúc không kém khi chúng ta thấy mình đã không dửng dưng, bạc bẽo vì đã biết tri ân người giúp đỡ mình bằng những lời nói xuất phát tự đáy lòng, chân thành, lịch thiệp: “cảm ơn” [ 56, 82].

Ngữ liệu trên được người viết thực hiện nhằm bàn về một hành động cầnthiết trong cuộc sống - hành động “đem mọi người đến gần nhau hơn” Có thể

nói trong xã hội hiện đại, đây là việc làm cần thiết, bởi khi đời sống xã hội phát

triển, có nhiều khi con người chỉ biết bản thân mình mà không quan tâm tớicộng đồng Vậy làm thế nào để mỗi cá nhân biết cách để thể hiện sự gắn bó vàtôn trọng lẫn nhau? Bài viết giới thiệu hành động giúp con người biết cách thểhiện sự gắn bó và tôn trọng nhau trong cuộc sống Đó là hành động vốn rất gầngũi với cuộc sống hàng ngày của con người: nói lời cảm ơn với những người đãgiúp đỡ mình Thế nhưng, trên thực tế còn rất nhiều người không hiểu đúng ý

Trang 23

nghĩa cũng như giá trị của hành động ấy Từ những nhận thức được rút ra từ

thực tế cuộc sống, người viết trình bày phát hiện của bản thân: “Họ coi cảm ơn

chỉ là những lời khách sáo, vì thế, chẳng cần phải nói ra Hình như những bạn

ấy vẫn nghĩ một cách giản đơn rằng nói lời cảm ơn hay làm những cử chỉ biểu

lộ sự biết ơn là “vẽ chuyện”, chỉ làm mất đi sự thân tình và tăng thêm xa cách

mà thôi” Có thể nói đó là phát hiện tinh tế, sâu sắc nhưng cũng phản ánh đúng

lối cảm, lối nghĩ của một bộ phận không nhỏ giới trẻ hiện nay Và rồi, từ hiểubiết về chân giá trị của hành động biết cảm ơn, từ những biểu hiện về sự lệch

lạc trong nhận thức của thanh niên, tác giả đưa ra đánh giá: “Thật hạnh phúc

khi ta làm được một việc có ý nghĩa, một điều tốt đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người khác, kéo mọi người lại gần nhau hơn Và cũng sẽ hạnh phúc không kém khi chúng ta thấy mình đã không dửng dưng, bạc bẽo vì đã biết tri ân người giúp đỡ mình bằng những lời nói xuất phát tự đáy lòng, chân thành, lịch thiệp:“cảm ơn” Như vậy, từ những hiểu biết của bản thân, người viết đã khéo

léo bày tỏ thái độ của mình đối với hành động “đem mọi người đến gần nhau

hơn”, qua đó đánh giá về vai trò của cảm ơn trong cuộc sống của mỗi con

người Cách lập luận như vậy, vừa chính xác, khái quát, vừa mang tính thựctiễn Nói một cách khác, thông qua việc trình bày những kiến giải của bản thân,người viết đưa ra đánh giá và ẩn sau đó là một lời hướng dẫn về phương châmsống cho mỗi con người trong xã hội hiện đại Bình luận chính là TTLL giúpngười viết thực hiện được các mục đích đó Khi thực hiện TTLL này, ngườiviết phải tuân theo những yêu cầu nhất định Đó là:

- Người viết phải am hiểu tường tận nội dung nghị luận, biết cách tổchức luận cứ, luận điểm để có thể dẫn dắt độc giả nắm bắt được mục đích màmình đặt ra

- Khi đánh giá, phải căn cứ vào chính những nội dung đã/ sẽ được trìnhbày trước đó để nêu ra những nhận xét cho phù hợp Bởi vậy, khi sử dụngTTLL này, người tạo lập phải có thái độ khách quan, không được xem xét nộidung thoải mái, phiến diện, mang tính chủ quan, áp đặt; các lời bình giá khôngphải được rút ra từ một vài lập luận đơn giản, sơ sài

Trang 24

- Tùy vào từng cách cấu trúc, bố cục đoạn, bài văn mà để xác định đúngnội dung được luận, khi luận cần trình bày trung thực, rõ ràng.

- Khi bình, phải nêu và bảo vệ quan điểm của mình, tìm cách thuyếtphục người tiếp nhận đặt niềm tin vào những đánh giá của bản thân Vì thế, khibình luận, cần tránh thái độ cực đoan, không thể hiện quá mức hay không phùhợp với sự thật Hơn nữa, người nói, người viết phải khéo léo đưa ra kiến giảiriêng, trình bày những phát hiện mới về ý nghĩa mà nội dung nghị luận đặt ra.Khi thực hiện bình luận mà không biết lồng ghép với những phát hiện riêng thìtất yếu tạo ra những lập luận sơ giản, thiếu sức thuyết phục

Với đặc trưng là dạng lập luận mang tính khái quát, bình luận là TTLL

có vị trí tự do, có thể có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, được sử dụng khi nghịbàn (cả văn học và cả các vấn đề của đời sống xã hội) và cũng là TTLL có thểkết hợp với tất cả các TTLL khác

1.3.3 Sự kết hợp các TTLL trong bài văn nghị luận

Trong VBNL, mỗi TTLL có đặc điểm riêng, và được sử dụng nhằm mộtmục đích, một dụng ý riêng của người viết Tuy nhiên, khi lập luận, các TTLLlại có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong việc tường minh nội dung bàn luận

Và khi chúng kết hợp với nhau, người viết có thể tạo ra cách diễn đạt chính xácphù hợp với các chân lý khách quan, khoa học, qua đó gây dựng sự tin tưởng ởphía người tiếp nhận Vì vậy, yêu cầu cần thiết đối với người tạo lập là phải căn

cứ vào mục đích, đối tượng nghị luận để lựa chọn và kết hợp các TTLL chophù hợp Mặc dù vậy, việc phối hợp các TTLL cần tuân theo một trình tự hợp

lý Thông qua một số VBNL, chúng tôi nhận thấy, khi triển khai nội dung nghịluận, các TTLL thường được sắp xếp theo trình tự sau:

Muốn triển khai nội dung cần bàn luận, người viết phải xác định rõ luậnđiểm chính Đây là khâu không thể thiếu được trong quá trình tạo lập văn bản,bởi qua đó, người nói, người viết có cơ sở thực tế định hướng nội dung cầntrình bày Cũng từ luận điểm đã được xác định, người viết lựa chọn và sử dụng cácTTLL để tổ chức lập luận

Từ luận điểm chính đã có, trước hết người viết sử dụng TTLL giải thích

để lý giải nội dung ý nghĩa của luận điểm Nhờ TTLL này, người viết có thểcung cấp những hiểu biết cơ bản về đối tượng nghị luận, qua đó, gây dựng cơ sở

Trang 25

khoa học để tiến hành bàn luận Sau khi giải thích nội dung ý nghĩa luận điểm,người viết chia nội dung của luận điểm thành các khía cạnh nhỏ Việc phântách nội dung luận điểm cũng cần căn cứ vào nội dung ý nghĩa đã được giảithích trước đó Quá trình phân tách được thực hiện nhằm dẫn dắt người đọctiếp cận với bản chất của nội dung được bàn luận Khi phân tích nội dung nghịluận, người viết có thể kết hợp giải thích để xác định đặc trưng của từngphương diện bằng các cách như chỉ ra bản chất, nêu định nghĩa, hay thông quacác mối quan hệ nhân quả của chúng Không chỉ kết hợp với TTLL giải thích,người viết còn phải kết hợp TTLL phân tích với TTLL chứng minh để đánh giátính chính xác của từng yếu tố, từng phương diện

Khi lập luận, người tạo lập khi muốn chứng minh tính đúng sai của nộidung nghị luận, còn có thể kết hợp giữa TTLL chứng minh và TTLL bác bỏ.TTLL chứng minh là cách người viết dùng lý lẽ, dẫn chứng để khẳng định tínhđúng đắn của nội dung Tuy nhiên, khi gặp những nội dung chưa chính xác,người tạo lập phải tìm cách chỉ ra chỗ sai, từ đó dẫn người tiếp nhận đi tới nhậnthức đúng cho nội dung được bàn luận Hai TTLL này được người viết thựchiện kết hợp với nhau khi muốn nhấn mạnh tính đúng đắn của nội dung nghịluận và qua đó tác động tới nhận thức của độc giả

Không chỉ vậy, trong quá trình lập luận, người viết còn có thể kết hợpTTLL phân tích và TTLL so sánh Hai TTLL này khi kết hợp với nhau sẽ giúpngười viết vừa xác định các phương diện của nội dung nghị luận, vừa chỉ ra nétchung và riêng của từng yếu tố, tạo ra sự sinh động, hấp dẫn cho lời văn nghịluận Ta có thể gặp sự kết hợp ấy trong ví dụ sau:

“Chớ tự kiêu tự đại Tự kiêu tự đại là khờ dại Vì mình hay, còn nhiều người hay hơn mình Mình giỏi, còn nhiều người giỏi hơn mình Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ Sông to, bể rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ Người mà tự kiêu tự mãn thì cũng như cái

chén, cái đĩa cạn” [53, 120]

Trong đoạn trích trên, tác giả Hồ Chí Minh đã sử dụng các TTLL nhưgiải thích, phân tích và so sánh, bác bỏ Từ một biểu hiện thuộc về đạo đức vàlối sống - là thói tự kiêu tự đại của một số người, Bác đã chỉ ra sự không đúngđắn trong tư tưởng và trong thực tế của lối sống ấy Trước hết, Bác lý giải thế

Trang 26

nào là tự kiêu tự đại Tuy vậy, sự giải thích của Bác cũng đã được chia nhỏthành hai khía cạnh là: khờ dại và thoái bộ Ở khía cạnh thứ nhất: tự kiêu là khờdại, Bác đã chỉ rõ khờ dại bởi nếu cho mình là hay, là giỏi thì trong xã hội nàycòn nhiều người tài giỏi hơn mình Cách tổ chức lập luận như vậy thể hiện sựkết hợp giữa TTLL phân tích với TTLL bác bỏ và qua đó phản bác lại nhữngsuy nghĩ lệch lạc Ở khía cạnh thứ hai: tự kiêu là thoái bộ, Bác đã mượn nhữnghình ảnh so sánh để chỉ ra sự nông cạn, lệch lạc của thói tự kiêu tự đại Tự kiêu,

tự đại cũng giống hình ảnh cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, nó không đủ độ sâu, độrộng và chất lượng để có thể bao chứa những điều tốt đẹp của cuộc sống Nhưvậy, TTLL so sánh được sử dụng kết hợp với các TTLL khác như phân tích vàbình luận

Khi tổ chức triển khai nội dung nghị luận, TTLL bình luận thường được

sử dụng sau các TTLL trên Ta có thể bắt gặp sự kết hợp này qua ngữ liệu dướiđây:

“Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Pháp rất đậm đà là Thế Lữ [ ]

Nhưng đến năm 1936, ảnh hưởng Pháp lại thấm thía thêm một tầng nữa Trong thơ Thế Lữ ta chỉ thấy ẩn hiện đôi nhà thơ Pháp về thời lãng mạn Xuân Diệu, nhà thơ ra đời hồi bấy giờ, mới một cách rõ rệt Với Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới Với một nghệ thuật tinh vi đã học được của Bô-đơ-le, Xuân Diệu diễn tả lòng ham sống bồng bột trong thơ Đơ nô-ai và trong văn Gi-đơ.[ ]

Ảnh hưởng Pháp trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm Qua năm

1938, Huy Cận ra đời, nó đã bắt đầu xuống, mặc dầu Huy Cận cũng chịu ảnh hưởng thơ Pháp gần đây, nhất là ảnh hưởng Véc-len.[ ]

Trái hẳn với lối thơ tả chân có lối thơ Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên Cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng của Bô-đơ-le và qua Bô-đơ-le , ảnh hưởng nhà văn Mĩ Ét-ga Pô, tác giả tập “Chuyện lạ” Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Bô-đơ-le , Ét-ga Pô đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường tới Bô-đơ-le , Ét-ga Pô và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa.[ ]

Trang 27

Viết xong đoạn trên này đọc lại tôi thấy khó chịu Mỗi nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp Ấy chỉ vì tôi tìm ảnh hưởng để chia xu hướng Sự thực đâu có thế Tiếng Việt, tiếng Pháp khác nhau xa Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn Sự thực thì khi tôi xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến Đơ-nô-ai Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải” [53, 112].

Đoạn trích trên được nhà phê bình văn học Hoài Thanh viết để đánh giá

về sự phát triển hưng thịnh của Văn học Việt Nam trong một giai đoạn lịch sửcủa dân tộc Căn nguyên của nó xuất phát từ thực tế lịch sử của dân tộc, từ quátrình giao thoa và du nhập của văn hóa Pháp Cũng bởi thế, ngay từ câu mở đầuđoạn trích, tác giả đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng ấy qua một nhân vật đại diện -nhà thơ Thế Lữ Không chỉ có vậy, nhà phê bình Hoài Thanh còn giới thiệumột số nhân vật tiêu biểu của Thơ Mới - những nghệ sỹ mới, tạo ramột thời đại mới trong tiến trình phát triển của văn học dân tộc Trong đó, từviệc tiếp cận các thi phẩm Thơ Mới, tác giả Hoài Thanh đã nhận thấy mỗi nhàthơ lại có những chọn lựa riêng khi tiếp nhận và cải biến ảnh hưởng của cácvăn hào Pháp Để chỉ ra sự khác biệt trong ảnh hưởng của văn hóa Pháp đối vớinghệ sỹ thời Thơ Mới, tác giả đã sử dụng TTLL Nhờ có TTLL so sánh, tác giả

đã chỉ rõ: nếu Thế Lữ thi nhân ta còn nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng

rất xưa thì Xuân Diệu khác hẳn với Thế Lữ ở chỗ: Xuân Diệu đốt cảnh Bồng Lai và xua ai nấy về hạ giới Như vậy, thông qua TTLL so sánh, tác giả Hoài

Thanh đã chỉ ra sự đối lập trong ý nghĩa thơ của hai cây bút lớn của Thơ Mới

Và từ việc nêu ra sự đối lập ấy, nhà thơ rút ra một nhận xét về sự ảnh hưởngcủa các cây bút tiêu biểu trong văn học Pháp đối với Xuân Diệu

Không chỉ sử dụng TTLL so sánh, nhà phê bình Hoài Thanh còn sửdụng TTLL phân tích để chỉ ra những phương diện ảnh hưởng khác nhau đốivới từng đại diện tiêu biểu của thơ ca Việt Nam Nhờ có TTLL này, tác giả rút

ra nhận xét: mỗi nhà thơ, tuy chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp song mỗingười lại có những lối thơ, giọng điệu riêng: Xuân Diệu chịu ảnh hưởng của Bô-

đơ-le, Đơ- nô- ai và Gi- đơ, Huy Cận lại chịu ảnh hưởng của Véc-len, Hàn Mặc

Tử và Chế Lan Viên lại gắn với tên tuổi của Bô-đơ-le Thế nhưng điều quan

Trang 28

trọng nhất là khi sáng tạo nghệ thuật, mỗi nghệ sỹ Việt Nam đã có ý thức và thểhiện dấu ấn riêng của bản thân Để rút ra nhận xét đó, nhà nghiên cứu Hoài

Thanh sử dụng TTLL bình luận Những lời nhận xét, đánh giá như: “Ảnh

hưởng Pháp trong thơ Việt đến Xuân Diệu là cực điểm”, hay “Xuân Diệu, nhà thơ ra đời hồi bấy giờ, mới một cách rõ rệt Xuân Diệu, nhà thơ ra đời hồi bấy giờ, mới một cách rõ rệt” được tác giả Hoài Thanh sử dụng như những lời chốt

dẫn dắt người đọc đi tới thế giới nghệ thuật mới lạ nhưng hấp dẫn, sáng tạotrong một thời đại mới của thi ca Việt Nam Những lời dẫn dắt đó, tạo cơ sở

khoa học cho nhận định được nêu trong phần cuối của đoạn trích Từ sự so

sánh, phân tích, chứng minh và đánh giá, được trình bày trước đó, tác giả

khẳng định giá trị rất riêng của mỗi nhà thơ, mỗi thi phẩm của Thơ Mới: “Sự

thực đâu có thế Tiếng Việt, tiếng Pháp khác nhau xa Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn Sự thực thì khi tôi xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến Đơ - Nô - ai Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải.” Tuy nhiên, để

dẫn tới nhận định ấy, tác giả đã sử dụng TTLL bác bỏ để phản bác lại suy nghĩ

lệch lạc: “Viết xong đoạn trên này đọc lại tôi thấy khó chịu Mỗi nhà thơ Việt

hình như mang nặng trên đầu năm bảy nhà thơ Pháp Ấy chỉ vì tôi tìm ảnh hưởng để chia xu hướng Sự thực đâu có thế” Nhờ có TTLL bác bỏ mở đầu

đoạn cuối, tác giả đã chỉ ra mục đích của việc phân tích những ảnh hưởng khácnhau giữa các nhà thơ Việt Nam và các văn hào Pháp được trình bày trước đó.Cuối cùng tác giả đã nêu ra sự đánh giá về giá trị của các nhà thơ Mới, qua đó,

khẳng định chân lý bản sắc dân tộc Việt Nam: Hồn thơ Pháp hễ chuyển được

vào thơ Việt là đã Việt hóa hoàn toàn Sự thực thì khi tôi xem thơ Xuân Diệu, tôi không nghĩ đến Đơ-nô-ai Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam Những sự mô phỏng ngu muội lập tức bị đào thải." Như vậy, nhờ phối hợp

khéo léo các TTLL, tác giả Hoài Thanh đã trình bày nội dung bàn luận tựnhiên, mạch lạc và lôi cuốn người tiếp nhận

1.4 Kỹ năng và kỹ năng lập luận

Mục đích chính của việc dạy học Làm văn ở trường PT là hình thành vàrèn luyện cho HS kỹ năng tạo lập các kiểu văn bản, để từ đó các em có nănglực thực hiện những yêu cầu cụ thể của cuộc sống Không là ngoại lê, quá trìnhdạy học VBNL cũng hướng tới mục tiêu là rèn cho HS có những kỹ năng thiết

Trang 29

yếu để các em có thể tạo ra những sản phẩm đúng về mặt khoa học, có giá trịthực tiễn Để đạt được điều đó, trong mọi khâu, mọi hoạt động của quá trìnhdạy học, GV đều phải hướng tới việc hình thành và phát triển kỹ năng cho HS.

1.4.1 Kỹ năng và hình thành kỹ năng

Khi nghiên cứu quá trình nhận thức của con người, các nhà khoa học

nhận thấy tầm quan trọng to lớn của kỹ năng Hiểu một cách đơn giản:" kỹ năng

là khả năng vận dụng những kiến thức nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế"[113, 87] Với quan niệm trên, chúng ta có thể khẳng định kỹ năng

là năng lực của con người đạt được ở mức sơ giản dựa trên cơ sở nhận thứckhoa học Nó được bộc lộ thông qua việc con người vận dụng những kiến thức

đã có vào giải quyết một nội dung hoặc một yêu cầu nào đó Tác giả Trần

Trọng Thủy quan niệm: "kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động - con người

nắm được cách thức hành động - tức kỹ thuật hoạt động là có kỹ năng Kỹ năng hình thành dần qua luyện tập và hoạt động thực tiễn" [113, 87] Như vậy,

có thể hiểu kỹ năng của con người chính là khả năng con người thực hiện mộthành động nào đó có tính chất kỹ thuật, được rèn luyện thông qua hoạt độngluyện tập thực hành Nhà tâm lý Pe- trôv- xki nhấn mạnh: " Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện thay đổi" [113,

88] Theo đó, kỹ năng được xem xét ở hai phương diện: khả năng thực hiệnmột hành động nào đó trong điều kiện quen thuộc và khả năng thực hiện hànhđộng một cách thành thạo, tự động, linh hoạt, sáng tạo Nói một cách khác, việchình thành kỹ năng phải thực hiện trải qua hai giai đoạn: hình thành khả năngthực hiện hành động và rèn luyện khả năng đó thành năng lực riêng của mỗi cánhân Vì thế, con đường hình thành kỹ năng phải trải qua các bước:

Bước 1: Tìm hiểu, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hành động cần thực

hiện Đây là bước trang bị những hiểu biết nhằm định hướng cho việc hìnhthành kỹ năng

Bước 2: Quan sát mẫu, làm thử theo mẫu Đây chính là bước theo dõi kỹ

lưỡng các động tác thực hiện hành động, đối chiếu với lý thuyết, từ đó hìnhthành kỹ năng

Bước 3: Luyện tập Trên cơ sở bước 2, con người tiến hành luyện tập,

hoàn thiện kỹ năng, phát triển thành năng lực riêng của từng cá nhân

Trang 30

1.4.2 Thao tác lập luận trong kỹ năng lập luận

Trong quá trình giáo dục, cái đích cuối cùng của việc dạy họcLàm văn là hình thành và rèn luyện những kỹ năng cơ bản, cần thiết để các em

tự chủ, độc lập, sáng tạo khi các em sản sinh lời nói Theo đó, quá trình dạy

Làm văn chính là quá trình HS “có được các kỹ năng hình thành và thể hiện ý

riêng của mình bằng ngôn ngữ đó để suy nghĩ, để nói ra và viết ra khi nhận thức và giao tiếp” [66, 234] Cũng bởi thế, nội dung tri thức của làm văn đều

hướng tới việc trang bị cho các em những kỹ năng cần thiết phục vụ cho việctạo lập văn bản TTLL trong chương trình Ngữ văn THPT là hệ thống kỹ năng.Bản chất của nó là trang bị cho các em những hiểu biết và cách tổ chức lập luậnkhi biểu đạt nội dung nghị luận Nói một cách khác, đó là kỹ năng giúp HS cóthể lập trình đúng những nội dung cũng như cách tổ chức các phương tiện ngônngữ khi biểu đạt nội dung nghị luận Vì thế, trang bị hệ thống kiến thức vềTTLL là hình thành cho HS kỹ năng thiết yếu về cách tổ chức lập luận, từ đógiúp các em biết vận dụng kỹ năng ấy vào thực tế tạo lập văn bản của chínhbản thân

1.4.3 Hình thành kỹ năng thực hiện các thao tác lập luận

Nghiên cứu hoạt động dạy học, các nhà khoa học khẳng định đó là quátrình được con người thực hiện nhằm giải quyết những mâu thuẫn bên trong(nhu cầu của con người) và mâu thuẫn bên ngoài (những tác động, đòi hỏi của

xã hội) Để quá trình đó đạt hiệu quả, các chủ thể phải đảm bảo thực hiện cáchoạt động theo trình tự vận động hợp quy luật của nó Trình tự phát triển củaquá trình đó là GV tìm cách tổ chức, hướng dẫn HS đi từ cái chưa biết, chưa

có tới những nội dung mà các em biết, và biết biến những kiến thức ấy thành

kỹ năng, kỹ xảo cho riêng mình, từ đó hình thành, bồi dưỡng nhân cách HS.Theo đó, quá trình dạy học Làm văn là con đường giúp HS hình thành, pháttriển những kỹ năng, kỹ xảo sử dụng lời nói vào giao tiếp

Tâm lý học hoạt động nhấn mạnh, nhân cách của con người được hìnhthành và phát triển trong thực tế hoạt động, trong đó có hoạt động lời nói Conngười muốn học ngôn ngữ để hiểu đúng hơn vai trò, chức năng và bản chất của

hệ thống ngôn ngữ nói chung, hiểu và sử dụng được tiếng mẹ đẻ để giao tiếp vàhọc tập thì phải qua thực hành Thực hành nhằm củng cố tri thức và hoàn thiện,

Trang 31

phát triển kỹ năng, kỹ xảo của HS Tuy nhiên, để nhận thức đúng hệ thống tri

thức ấy, mỗi cá nhân phải “nắm được các phương tiện và các phương thức bên

trong thực hiện chính hoạt động lời nói” (L.X.Vưgôtxki, A.N.Leonchiep,

A.K.Marcova, A.A.Leonchiep, I.A.Dimnhia và những người khác) Bởi lẽ hoạt

động lời nói là “một trường hợp riêng của con người” “Đó là quá tương tác

phức tạp giữa con người nhờ phương tiện ngôn ngữ và các quy luật sử dụng chúng và bộc lộ ra trong hoạt động lời nói (nghe, nói, đọc, viết) ” [66, 55].

Rèn luyện cho HS các TTLL trước hết và quan trọng nhất là phải qua thựchành mà giúp cho các em nắm được các phương tiện, các phương thức để thựchiện tổ chức lời nói theo những mục đích nhất định Qua thực hành, HS sẽ cóđiều kiện vận dụng, sử dụng và bộc lộ con người các em trong những sản phẩm cụthể Tuy nhiên, để hoạt động tương tác ấy đạt hiệu quả, GV cần phải đặt chủ thể

HS trong mối tương quan giữa ngôn ngữ với lời nói Bởi lẽ,“ngôn ngữ được

xem như phương tiện hình thành và thể hiện ý, còn lời nói được xem như phương thức hình thành và thể hiện ý nhờ ngôn ngữ trong quá trình hoạt động lời nói của cá nhân” [66, 56] Còn “lời nói bên ngoài (tức là sản phẩm được

người viết tạo ra), lại là quá trình chuyển biến ý vào từ, là quá trình vật chất

hóa và khách quan hóa ý (ý thức) [66, 59] Như vậy, lời nói được tạo ra là kết

quả của quá trình chuyển hóa nhận thức bên ngoài thành những tín hiệu vậtchất (tức là chuyển hóa thành chữ viết).Vì thế, năng lực nhận thức, suy nghĩ và

cả những kỹ năng của HS được bộc lộ một cách đầy đủ nhất trong các sảnphẩm cụ thể - trong lời nói, trong văn bản

TTLL là những động tác được người viết thực hiện nhằm tổ chức cácphương tiện ngôn ngữ để thể hiện dụng ý riêng của bản thân khi nghị luận Nóimột cách khác, nó giúp người viết định hướng và tổ chức những nội dung cầntrình bày khi lập luận Vì thế, muốn tổ chức rèn luyện hoạt động lời nói nóichung, rèn luyện các TTLL nói riêng, GV cần quan tâm tới những yêu cầucũng như các mức độ đạt được trong quá trình hình thành và phát triển ngônngữ của mỗi con người L.X.Vưgôtxki khẳng định tâm lý con người được hìnhthành theo quy luật hoạt động hai lần Lần thứ nhất diễn ra ở bên ngoài chủ thể,trong xã hội mà chủ thể tồn tại và hoạt động, do GV hướng dẫn Còn lần thứhai diễn ra ở trong chính bản thân chủ thể - do sự tích cực thực hiện của chủ thể

Trang 32

[66] Theo đó, việc hình thành những kỹ năng về các TTLL có thể được cụ thểtheo các giai đoạn sau:

Trước hết, GV định hướng cho người học nắm được phương thức thựchiện TTLL Việc làm này nhằm trang bị cho các em những hiểu biết cơ bản vềTTLL ( về mục đích, yêu cầu, về cách thực hiện TTLL)

Sau khi đã tác động bên ngoài, GV tổ chức cho HS luyện tập cách thựchiện TTLL Đây chính là quá trình HS quan sát, tập vận dụng và rèn luyện kỹnăng sử dụng TTLL Giai đoạn này được tiến hành theo các công việc cụ thể:

Thứ nhất, GV phải hướng dẫn HS xác định mục đích nghị luận (xác định luận điểm cần nghị luận.)

Tiếp theo, GV hướng dẫn cho HS cách thực hiện TTLL.

Sau đó, GV tổ chức cho HS luyện tập.

Cuối cùng, GV tạo điều kiện để các em củng cố nhận thức, và biến những kỹ năng ấy thành cái riêng, thành năng lực lập luận của chính bản thân

HS

Quá trình hình thành và bồi dưỡng năng lực sử dụng TTLL chủ yếuđược thực hiện trong điều kiện học tập ở nhà trường một cách có chủ định Nógắn liền với ý thức học tập của chủ thể HS Việc hình thành và phát triển các

kỹ năng ngôn ngữ thường bắt đầu từ thấp đến cao, từ phân tích đến tổng hợp,

từ vận dụng tới sáng tạo Theo đó, việc rèn luyện các năng lực ngôn ngữ nóichung, năng lực lập luận nói riêng cũng phải thực hiện theo đúng các cấp độđó

Tuy nhiên, để HS có năng lực thực hiện, khi hình thành cho HS cónhững hiểu biết về TTLL, GV cần phải có giải pháp khoa học vì đó là kỹ năngkhó và trừu tượng Muốn HS nắm được cách thực hiện TTLL, giải pháp hữuhiệu nhất là khái quát thành các bước (tương ứng với các động tác) cụ thể Bởikhi khái quát thành các bước, những kiến thức trừu tượng trở nên cụ thể, dễnhận thấy, dễ vận dụng Cơ sở để xác định các bước thực hiện TTLL đượcchúng tôi chọn là luận điểm, luận cứ, luận chứng - các yếu tố của lập luận Đó

là những kiến thức đó HS đã được trang bị ở THCS, và hơn nữa, trong đoạn,bài văn nghị luận, cấu trúc lập luận được biểu hiện cụ thể bởi các yếu tố đó.Tuy nhiên, mỗi TTLL lại được thực hiện theo một cách riêng Vì vậy, khi hình

Trang 33

thành kỹ năng thực hiện, chúng tôi khái quát thành các bước cụ thể cho từngTTLL như sau:

* Hình thành kỹ năng thực hiện thao tác lập luận phân tích

Bước 1: Xác định và nêu rõ luận điểm Đây là bước định hướng cho việcchia nhỏ nội dung cần nghị luận)

Bước 2: Dùng phân tích chia nhỏ luận điểm thành các khía cạnh (dựa vàoquan hệ ý nghĩa của luận điểm) Để thực hiện được bước này, người tạo lậpphải tiến hành các công việc cụ thể sau:

+ Xác định các khía cạnh, các bộ phận của nội dung cần phân tích Đây

là công việc có tính định hướng, giúp cho người viết có cơ sở tìm các luận cứ,luận chứng chính xác, phù hợp Việc xác định các khía cạnh, bộ phận đượcthực hiện dựa trên căn cứ là mối quan hệ (quan hệ nhân quả, quan hệ giữa cácyếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ giữa các đối tượng liên quan, quan hệ giữangười phân tích và đối tượng phân tích) Khi xác lập khía cạnh, người viết cầncăn cứ vào mục đích nghị luận để lựa chọn mối quan hệ cho phù hợp

+ Sắp xếp các khía cạnh, bộ phận theo trình tự hợp lý Đây là việc làmnhằm tạo ra tính hệ thống, tầng bậc cho nội dung được phân tích

+ Trình bày từng khía cạnh, từng bộ phận theo trình tự đã sắp xếp Khithực hiện công đoạn này, người viết cần chú ý tới cách tạo sự liên kết giữa cáckhía cạnh đã được xác định Người viết phải huy động các yếu tố ngôn ngữ đểtrình bày nội dung cụ thể, chính xác

Bước 3: Tổng hợp Việc tổng hợp nội dung phải đảm bảo đầy đủ cáckhía cạnh; phải đánh giá đúng mối quan hệ và chỉ rõ bản chất của các khía cạnh

đã được phân chia để từ đó người tiếp nhận có cái nhìn khái quát về nội dungnghị luận

* Hình thành kỹ năng thực hiện thao tác lập luận so sánh

- Bước 1: Xác định rõ luận điểm cần nghị luận

- Bước 2: Lựa chọn các đối tượng có những điểm tương đồng hoàntoàn hay hay tương đồng có dị biệt để so sánh Việc chọn đối tượng phải dựatrên những tiêu chí nhất định (quan hệ, đặc điểm, ý nghĩa, giá trị tương đồnghay đối lập với nhau)

Trang 34

- Bước 3: Phân tích, đánh giá các đối tượng trong sự so sánh với bảnchất nội dung nghị luận.

- Bước 4: Nêu ra những nhận định, những kết luận dựa trên sự so sánhtrước đó

* Hình thành kỹ năng thực hiện thao tác lập luận bác bỏ

+ Bước 1: Xác định rõ luận điểm cần nghị luận

+ Bước 2: Chỉ ra những phương diện, khía cạnh sai, chưa đúng

+ Bước 3: Thực hiện bác bỏ bằng các cách

Phân tích chỉ ra chỗ sai lệch

Nêu tác hại của sai lệch đó

Đưa ra ý kiến của bản thân

* Hình thành kỹ năng thực hiện thao tác lập luận bình luận

Bước 1: Xác định rõ luận điểm cần bàn luận

Bước 2: Làm sáng tỏ ý nghĩa nội dung cần bình luận thông qua phântích, chứng minh hoặc giải thích

Bước 3: Dùng lý lẽ và dẫn chứng để chỉ ra tính đúng sai, tính chân lýcủa nội dung để tạo ra cơ sở cho việc nhận xét, bình giá

Bước 4: Dùng lý lẽ và ngôn ngữ để bàn luận, bình và đánh giá nội dung

1.5 Thăm dò thực trạng tổ chức rèn luyện các TTLL ở trường THPT 1.5.1 Mục đích của việc điều tra, khảo sát hoạt động dạy học TTLL

ở trường THPT

TTLL là một trong những kiến thức mới được triển khai trong chươngtrình Ngữ văn hiện hành Cũng vì thế, để đánh giá thực trạng dạy học nội dungnày, chúng tôi tiến hành các hoạt động điều tra, khảo sát thực tế Có thể nói đây

là hoạt động giúp chúng tôi thu được cơ sở thực tiễn nhất về trường PT, về tìnhhình tổ chức hoạt động dạy Ngữ văn nói chung, Làm văn nói riêng cũng nhưnhững biểu hiện về chất lượng nhận thức, hiệu quả giáo dục sau một thời gianđào tạo thông qua một nội dung học tập cụ thể

Nhờ có điều tra, khảo sát chúng tôi có thể hiểu được suy nghĩ, nhậnthức, nắm được những khó khăn, tồn tại trong quá trình tổ chức hoạt động

Trang 35

giảng dạy và học tập của GV, HS về hệ thống kiến thức TTLL Qua đó tìm ranhững biện pháp khắc phục khi tổ chức rèn luyện các TTLL cho HS THPT.

1.5.2 Nội dung điều tra, khảo sát

1.5.2.1 Khảo sát chương trình, SGK Ngữ văn bậc THPT( Bộ cơ bản)

TTLL được triển khai ở cả hai học kỳ, với các bài cụ thể là: Thao

tác lập luận phân tích; Luyện tập thao tác lập luận phân tích; Thao tác lập luận so sánh; Luyện tập thao tác lập luận so sánh; Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận phân tích và so sánh; Thao tác lập luận bác bỏ; Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ; Thao tác lập luận bình luận; Luyện tập thao tác lập luận bình luận; Luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận

Theo phân phối chương trình, mỗi TTLL được triển khai thành một tiết

và một tiết luyện tập thực hành Cách triển khai như vậy vừa thể hiện sự tôntrọng tính chất thực hành của Làm văn, vừa quan tâm tới việc rèn luyện kỹnăng sử dụng các TTLL cho HS Hơn nữa, cuối mỗi học kỳ, chương trình còn

bố trí một tiết thực hành về cách kết hợp các TTLL (kết hợp TTLL so sánh vàphân tích và kết hợp các TTLL trong văn nghị luận)

Với SGK Ngữ văn 11, chúng tôi tập trung vào khảo sát hệ thống BTđược sử dụng khi dạy học các TTLL Cơ sở để khảo sát hệ thống BT là dựa vàomục đích sử dụng BT để phân loại SGK triển khai những BT lớn với nhiều yêucầu khác nhau Vì thế, khi khảo sát BT, chúng tôi xác định mỗi BT gắn với mộtyêu cầu phải thực hiện Cho nên hệ thống BT được khảo sát không hoàn toànphù hợp với số lượng BTđược trình bày trong SGK mà nó tương ứng với sốlượng yêu cầu thực hiện

1.5.2.2 Điều tra, khảo sát GV và HS

Theo nội dung đề tài, chúng tôi xác định đối tượng được điều tra, khảosát là đội ngũ GV và HS đang giảng dạy và học tập chương trình Ngữ văn lớp11- THPT

Trang 36

Riêng đối với HS, để có thể hiểu và đánh giá đúng năng lực nhận thứccũng như sự vận dụng của các em, chúng tôi còn mở rộng thăm dò ý kiến, khảosát bài viết của một số HS lớp 12

Khi tiến hành điều tra khảo sát, chúng tôi tập trung vào những trườngđược lựa chọn thực nghiệm Tuy nhiên, chúng tôi còn mở rộng khảo sát một sốtrường ngoài thực nghiệm ở những địa bàn khác nhau để có thể đánh giá kháchquan hơn

1.5.3.Phương pháp khảo sát, điều tra

Để tiến hành việc điều tra, khảo sát đạt kết quả, chúng tôi thực hiện quamột số phương pháp như sau:

Tiêu chí 1: GV có quan tâm tới việc rèn luyện các TTLL bằng các dạng

BT hay không?

Tiêu chí 2: Những BT được GV sử dụng có phong phú, đa dạng không,

hay chỉ sử dụng những BT trong SGK?

Tiêu chí 3: Khi tổ chức luyện tập thực hành, GV có sử dụng đầy đủ các

dạng BT hay không? GV tổ chức cho HS rèn luyện các TTLL như thế nào?

Tiêu chí 4: GV sử dụng các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại

khi hướng dẫn HS chiếm lĩnh tri thức và thực hành rèn luyện các TTLL haykhông?

1.5.3.2 Khảo sát giáo án của GV

Giáo án là phương tiện quan trọng nhất đối với hoạt động dạy học.Thông qua bộ công cụ này, chúng tôi xác định trình độ chuyên môn, cách GV

xử lý nội dung dạy học cũng như việc tác động và giáo dục HS sau mỗi bàihọc Từ đó, chúng tôi rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung kiến thức cho

Trang 37

hợp lý nhằm kích thích hứng thú học tập cho HS Khảo sát giáo án của GVđược đánh giá dựa trên một số tiêu chí sau:

Tiêu chí 1: Giáo án của GV sử dụng những kiểu BT cũ hay mới khi dạy

học các TTLL?

Tiêu chí 2: Trong giờ lý thuyết, GV có sử dụng hệ thống BT để hình

thành tri thức cho HS hay không?

Tiêu chí 3: Trong giờ thực hành, GV có sử dụng những BT ngoài

SGK để rèn luyện cho HS không?

Tiêu chí 4: Trong giáo án, GV có sử dụng hết những dạng BT trong

SGK để bồi dưỡng và rèn luyện các TTLL cho HS?

1.5.3.3 Phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của GV và HS

Để hiểu đúng hơn về suy nghĩ, nhận thức, thái độ của GV và HS khi tiếpcận với TTLL, chúng tôi sử dụng các phiếu điều tra thăm dò ý kiến Có thể nói,thông qua những câu hỏi mang tính thăm dò ý kiến của hai chủ thể GV - HS,chúng tôi có thể hiểu sâu hơn quan niệm của GV và HS Trên cơ sở đó, chúngtôi tìm ra giải pháp khắc phục khó khăn khi tổ chức rèn luyện, nhằm tạo ranhững giờ học đạt hiệu quả Phiếu thăm dò được thực hiện riêng cho GV và HS(theo phụ lục)

1.5.3.4 Khảo sát bài viết của HS

Dạy TTLL nhằm hình thành và bồi dưỡng cho HS kỹ năng cơ bản vềcách tổ chức lập luận, và từ đó giúp cho các em có năng lực lập luận khi tạo lậpvăn bản Vì thế, bài viết của HS vừa là sản phẩm thể hiện chất lượng dạy học,vừa là căn cứ để đánh giá năng lực vận dụng và sáng tạo của HS Việc khảo sátbài viết của các em sẽ giúp chúng tôi hiểu và đánh giá đúng khả năng nhậnthức, sự sáng tạo cũng như những hạn chế còn tồn tại trong nhận thức của chủthể HS Việc đánh giá sản phẩm của chủ thể HS phải tuân thủ theo các tiêu chíđánh giá tổng thể một bài văn, đặc biệt chú trọng tới năng lực thực hiện TTLLthông qua các phương diện:

1 Biết cách thực hiện từng TTLL khi tổ chức lập luận

2 Biết cách kết hợp các TTLL trong bài văn

3.Thể hiện đúng yêu cầu khi sử dụng TTLL trong bài viết của HS

4 Thể hiện đúng mục đích khi sử dụng TTLL để tổ chức lập luận

Trang 38

Khi khảo sát bài viết, chúng tôi khảo sát bài viết thực tế trên lớp thựcnghiệm và khảo sát ngẫu nhiên HS trong khối lớp để hiểu đúng hơn thực tế viếtvăn của các em Việc lựa chọn HS để khảo sát viết bài ngẫu nhiên được thựchiện ở tất cả các lớp trong cùng một khối để đánh giá mức độ và chất lượngviết bài của HS Từ những tiêu chí trên, chúng tôi khảo sát bài viết của HS cảlớp 11 và lớp 12:

Tên trường Đối tượng HS Tổng hợp

Lớp 11 Lớp 12

Tổng cộng 290 195 485

Bảng 1: Số lượng bài khảo sát của HS

1.5.4 Kết quả điều tra, khảo sát

1.5.4.1 Kết quả khảo sát chương trình, SGK Ngữ văn THPT

T nh ng c n c nêu trên, chúng tôi nh n th y SGK Ng v n 11 ừ những căn cứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 ững căn cứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 ăn cứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 ứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 ận thấy SGK Ngữ văn 11 ấy SGK Ngữ văn 11 ững căn cứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 ăn cứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 (b chu n) ã s d ng BT khi gi i thi u v các TTLL Có th th ng ộ chuẩn) đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống ẩn) đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống ử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống ụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống ới thiệu về các TTLL Có thể thống ệu về các TTLL Có thể thống ề các TTLL Có thể thống ể thống ống

kê các BT trong b ng d ảng dưới đây: ưới thiệu về các TTLL Có thể thống đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống i ây:

Trang 39

BT này thường được triển khai trong những giờ thực hành BT đó được triểnkhai nhằm mục đích kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đồng thời cũnghướng tới mục đích là tạo điều kiện để các em có cơ hội học tập, từ đó vậndụng vào thực tế Trong SGK, hệ thống BT được sắp xếp từ dễ đến khó, từ BTnhận diện, BT phân tích đánh giá đến BT tạo lập Điều đó đã thể hiện mục đíchrèn luyện năng lực sử dụng TTLL cho HS Tuy nhiên, SGK SGK Ngữ văn 11chưa giới thiệu dạng BT chữa lỗi khi sử dụng các TTLL Vì thế, khi vào thực tếviết bài, HS thường không chú ý tới vận dụng hoặc vận dụng không đúng cácTTLL khi lập luận Từ hệ thống BT được triển khai trong SGK Ngữ văn 11 ,trong công trình này, chúng tôi tiếp thu một số BT được sử dụng khi hình thành

lý thuyết, khi luyện tập thực hành Đồng thời chúng tôi nhận thấy cần bổ sungthêm BT chữa lỗi- một dạng BT quan trọng trong quá trình rèn luyện năng lực

sử dụng các TTLL cho HS

1.5.4.2.Về phía giáo viên

Từ việc thăm dò, điều tra GV, qua nhiều kênh thông tin khác nhau,chúng tôi nhận thấy:

*Kết quả khảo sát giờ dự:

Theo nh ng tiêu chí ã xác ững căn cứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thốngịnh, chúng tôi tiến hành dự giờ nh, chúng tôi ti n h nh d gi ến hành dự giờ ành dự giờ ự giờ ờ.

D a v o các tiêu chí nêu trên, chúng tôi có b ng th ng kê k t qu ự giờ ành dự giờ ảng dưới đây: ống ến hành dự giờ ảng dưới đây:

ho t ạt động dự giờ như sau: đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thốngộ chuẩn) đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống ng d gi nh sau: ự giờ ờ ư

Tiêu chí đánh

giá giờ dự

Trường THPT Trí Đức

Trường THPT Hàn Thuyên

Trường THPT Xuân Hòa

Bảng 3: Kết quả thống kê dự giờ ở các trường THPT

Từ kết quả trên, có thể nhận thấy trong quá trình rèn luyện TTLL, GVchưa chú trọng tới thay đổi và sáng tạo các nội dung dạy học Trong các giờdạy, phần lớn các GV vẫn bám sát SGK và SGV để triển khai các hoạt độngdạy học GV chưa quan tâm tới việc chọn BT vào các mục đích dạy học củabản than Thậm chí, nhiều GV vẫn còn tổ chức dạy học theo lối truyền thống,một số khác thì dạy sơ lược theo hướng cung cấp kiến thức rồi cho HS luyệntập Không chỉ vậy, khi luyện tập thực hành, nhiều GV cho HS đọc bài rồi gợi

Trang 40

ý và để cho các em tự làm bài vào vở, GV không kiểm tra lại kết quả bài làmcủa các em Hệ thống BT cũng chưa có sự sáng tạo, đó đều là những BT trongSGK Vì thế, HS đều thể hiện thái độ không thích thú học tập phần Làm vănnói chung, TTLL nói riêng.

* Kết quả khảo sát giáo án của giáo viên

C n c v o s phân công d y h c theo các t chuyên môn các ăn cứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 ứ nêu trên, chúng tôi nhận thấy SGK Ngữ văn 11 ành dự giờ ự giờ ạt động dự giờ như sau: ọc theo các tổ chuyên môn ở các ổ chuyên môn ở các ở các

tr ườ ng khác nhau nên s l ống ượng giáo án được chúng tôi khảo sát không ng giáo án đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thốngượng giáo án được chúng tôi khảo sát không c chúng tôi kh o sát không ảng dưới đây: nhi u, ch y u l các GV ề các TTLL Có thể thống ủ yếu là các GV được phân dạy ở các lớp trong trường thực ến hành dự giờ ành dự giờ đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thốngượng giáo án được chúng tôi khảo sát không c phân d y các l p trong tr ạt động dự giờ như sau: ở các ới thiệu về các TTLL Có thể thống ườ ng th c ự giờ nghi m v m t s l p, tr ệu về các TTLL Có thể thống ành dự giờ ộ chuẩn) đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thống ống ới thiệu về các TTLL Có thể thống ườ ng không đã sử dụng BT khi giới thiệu về các TTLL Có thể thốngượng giáo án được chúng tôi khảo sát không c ch n th c nghi m Theo ọc theo các tổ chuyên môn ở các ự giờ ệu về các TTLL Có thể thống

Trường THPT Hàn Thuyên

Trường THPT Xuân Hòa

Trường THPT

Mê Linh

Tiêu chí 1 18/20 = 90% 25/33 = 75,6% 35/40 = 87,5% 17/20 = 85%Tiêu chí 2 14/20 = 70% 26/33 = 78,79% 34/40 = 85% 16/20 = 80%

Bảng 4:Kết quả khảo sát giáo án của một số GV

Từ bảng tổng hợp trên, chúng tôi nhận thấy khi thiết kế giờ học, phầnlớn bản thiết kế của GV đều được thể hiện chưa rõ ràng Hệ thống BT tronggiáo án đều trong SGK, còn đáp án được tham khảo qua SGV và qua một số tàiliệu tham khảo GV không chú trọng tới hệ thống BT khi hình thành lý thuyết,khi thực hành mà thường sử dụng ngữ liệu và một số câu hỏi để hướng dẫn HShọc tập Vì thế, việc giải các BT chưa thấu đáo Trong quá trình dạy học, GVthường tổ chức cho HS thực hiện một đến hai BT, còn lại để cho các em về nhàlàm Điều đó dẫn tới, thái độ học tập không nghiêm túc của HS khi học tập

* Kết quả điều tra, thăm dò ý kiến của giáo viên

Từ những câu hỏi được chúng tôi khái quát trong phụ lục, khi thăm dò ýkiến GV, chúng tôi đã mở rộng ra các trường ngoài thực nghiệm để hiểu đúnghơn về tâm lý và thái độ của GV

+ Phần lớn GV ở các trường PT đều nhận thấy việc dạy học các TTLL

là cần thiết, nhưng rất khó Khó khăn được thể hiện rõ nhất là nội dung kiếnthức có nhiều mới lạ, không đồng nhất trong cách dùng thuật ngữ, thời gian dạyhọc chưa thỏa đáng cho việc rèn luyện kỹ năng sử dụng các TTLL, hệ thống tài

Ngày đăng: 05/04/2016, 08:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Cấu trúc vĩ mô của hoạt động (Theo [115, 60]) - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Sơ đồ 1 Cấu trúc vĩ mô của hoạt động (Theo [115, 60]) (Trang 8)
Bảng 1: Số lượng bài khảo sát của HS - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Bảng 1 Số lượng bài khảo sát của HS (Trang 38)
Bảng 4:Kết quả khảo sát giáo án của một số GV - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Bảng 4 Kết quả khảo sát giáo án của một số GV (Trang 40)
Bảng 5:Bảng thống kê và phân loại lỗi trong bài viết  của HS - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Bảng 5 Bảng thống kê và phân loại lỗi trong bài viết của HS (Trang 42)
Sơ đồ 2: Hệ thống các loại BT rèn luyện các thao tác lập luận - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Sơ đồ 2 Hệ thống các loại BT rèn luyện các thao tác lập luận (Trang 50)
Sơ đồ 4: Hệ thống BT rèn luyện kết hợp các thao tác lập luận - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Sơ đồ 4 Hệ thống BT rèn luyện kết hợp các thao tác lập luận (Trang 84)
Bảng 7: Những nội dung cần thực hiện trong hai đợt thực nghiệm - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Bảng 7 Những nội dung cần thực hiện trong hai đợt thực nghiệm (Trang 103)
Bảng 8: Bảng kết quả thực hiện các dạng BT của HS - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Bảng 8 Bảng kết quả thực hiện các dạng BT của HS (Trang 118)
Bảng 9: Kết quả điều tra mức độ hứng thú của HS ở các trường thực   nghiệm năm 2010 - 2011 - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Bảng 9 Kết quả điều tra mức độ hứng thú của HS ở các trường thực nghiệm năm 2010 - 2011 (Trang 119)
Bảng 12: Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng ở các lớp thực  nghiệm và đối chứng - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
Bảng 12 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng ở các lớp thực nghiệm và đối chứng (Trang 124)
Đồ thị trường Trí Đức (2009- 2010)               Đồ thị trường Trí Đức (2010- 2011 - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
th ị trường Trí Đức (2009- 2010) Đồ thị trường Trí Đức (2010- 2011 (Trang 125)
Đồ thị trường Xuân hòa (2009- 2010)            Đồ thị trường Xuân hòa (2010- 2011) - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
th ị trường Xuân hòa (2009- 2010) Đồ thị trường Xuân hòa (2010- 2011) (Trang 125)
Đồ thị trường Hàn Thuyên (2009- 2010)             Đồ thị trường Hàn Thuyên (2010- 2011) - rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông
th ị trường Hàn Thuyên (2009- 2010) Đồ thị trường Hàn Thuyên (2010- 2011) (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w