1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông

26 567 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 279,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt luận án rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông Tóm tắt luận án rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông Tóm tắt luận án rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông Tóm tắt luận án rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông Tóm tắt luận án rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở trung học phổ thông

Trang 1

Nghị luận là kiểu văn bản được con người sử dụng nhằm biện hộ cho mình, thuyết phụcngười khác và qua đó giải quyết các vấn đề về thế giới khách quan Để đạt được mục đích ấy, ngườiviết (người nói) phải thực hiện một quá trình việc nêu sự thực, trình bày lý lẽ, phân biệt đúng sai đểtiến hành phân tích luận chứng khoa học đối với khách quan và quy luật bản chất của sự vật Nóimột cách khác, để đạt được mục đích ấy, người nói, người viết phải thực hiện quá trình lập luậnnhằm tường minh vấn đề được nghị bàn Cũng vì thế, lập luận là hành động cơ bản được người nói,người viết sử dụng khi tạo lập VBNL.

1.2 Năng lực sử dụng các thao tác lập luận của học sinh PT hiện nay chưa tốt nay chưa tốt

Trong chương trình Ngữ văn từ Trung học cơ sở (THCS) đến Trung học phổ thông (THPT)hiện hành, lập luận là một trong những nội dung kiến thức được đặc biệt chú trọng khi dạy học kiểuvăn bản nghị luận Mục đích của việc triển khai hệ thống kiến thức này trong chương trình khôngchỉ đơn thuần là trang bị những hiểu biết về lập luận khi tạo lập văn bản cho học sinh (HS), màquan trọng hơn là thông qua đó giúp các em biết vận dụng vào thực tế viết văn của bản thân Tuynhiên, cho đến nay, khi tiếp cận với sản phẩm của các em, có thể nhận thấy năng lực lập luận, trong

đó có năng lực sử dụng các TTLL của HS còn chưa tốt Bởi vậy, năng lực lập luận nói chung, nănglực thực hiện các TTLL nói riêng của HS PT hiện nay trở thành một trong những vấn đề đáng quantâm của giáo dục Việt Nam

1.3 Việc dạy học các thao tác lập luận trong Làm văn nghị luận ở THPT còn nhiều tồn tại cần khắc phục

Làm văn là một phân môn của chương trình Ngữ văn Theo quan niệm đổi mới, một sốmảng kiến thức của phân môn này có sự điều chỉnh TTLL là một trong số những nội dung kiếnthức mới ấy Tuy nhiên, khi khảo sát thực tế dạy và học ở một số trường THPT, chúng tôi nhận thấyviệc dạy học các TTLL vẫn còn nhiều tồn tại, cần được khắc phục

Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:

“Rèn luyện các thao tác lập luận trong dạy học làm văn nghị luận ở THPT”.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Từ việc xác định cơ sở lý thuyết khoa học về các TTLL trong VBNL, luận án đề xuất hệthống BT được sử dụng như một phương tiện chủ yếu để hình thành và rèn luyện năng lực tiến hànhcác TTLL nhằm nâng cao chất lượng diễn đạt của HS

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu baogồm:

- Xác định cơ sở lý thuyết và thực tiễn của việc dạy học các TTLL: phân tích, so sánh, bác

bỏ và bình luận cho học sinh THPT

- Giới thiệu hệ thống BT rèn luyện các TTLL cho HS THPT

- Tổ chức thực nghiệm để đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả của hệ thống BT đã được

đề xuất

Trang 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Để hoàn thành các nhiệm vụ trên, chúng tôi chọn nghiên cứu các TTLL trong VBNL và quátrình rèn luyện năng lực sử dụng các thao tác này cho HS THPT

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong VBNL, để tổ chức lập luận, người nói, người viết phải sử dụng nhiều TTLL Tuynhiên, gắn với nội dung đề tài, luận án tập trung hình thành và rèn luyện năng lực thực hiện bốnTTLL: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận

4 Giả thuyết khoa học

TTLL là yếu tố quan trọng giúp người nghị luận thực hiện hành động lập luận Nếu việc rènluyện các TTLL có một cơ sở khoa học đáng tin cậy, một hệ thống BT phù hợp với HS thì chúng ta

có thể củng cố, nâng cao năng lực sử dụng các TTLL, góp phần tăng hiệu quả lập luận khi viết vănnghị luận cho HS THPT

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu cơ sở lý luận

5.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

Là PP được sử dụng triệt để trong quá trình nghiên cứu để đưa ra những nội dung mang tínhchất là cơ sở lý luận và những tiền đề thực tiễn khi dạy học các TTLL trong làm văn nghị luận cho

HS THPT

5 1.2 Phương pháp so sánh đối chiếu

PP này được sử dụng khi làm rõ những đặc trưng cơ bản của từng TTLL Thông qua việc sosánh, đối chiếu, luận án sẽ chỉ ra những nét tương đồng cũng như những dấu ấn khác biệt của mỗithao tác Đồng thời việc sử dụng PP này còn giúp luận án có cơ sở để khái quát hoá quy trình thựchiện các TTLL khi TLVB

5.2 Phương pháp nghiên cứu cơ sở thực tiễn

5.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát

PP này được sử dụng trong quá trình đánh giá cơ sở thực tiễn của việc dạy học cũng nhưnăng lực lập luận của học sinh

5.2.2 Phương pháp thực nghiệm

Nhờ có PP này mà những nội dung được nêu ra trong luận án có điều kiện thực nghiệm vàđối chứng nhằm đánh giá mức độ khả thi cũng như tính đúng đắn

5.2.3 Phương pháp thống kê

Để đánh giá mức độ tính khả thi của các biện pháp, các hình thức rèn luyện TTLL, chúng tôi

sử dụng PP này để thu thập, đúc kết và phân tích các số liệu đã thu được trong quá trình thựcnghiệm

6 Đóng góp của luận án

- Về mặt lý luận, đề tài góp một phần nhỏ vào việc khẳng định bản chất, vị trí của TTLL

trong quá trình lập luận - hành động quan trọng nhất trong hoạt động tạo lập VBNL Đồng thời luận

án đề xuất hệ thống BT được sử dụng để hình thành, củng cố và nâng cao năng lực tiến hành cácTTLL khi lập luận

- Về mặt thực tiễn, giúp GV nhận thức sâu hơn, biết cách hình thành và nâng cao năng lực

tiến hành các TTLL cho HS Qua đó hình thành và rèn luyện cho các em ý thức nghiêm túc, cẩnthận khi sử dụng chúng trong quá trình tạo lập văn bản Đây là một trong những việc làm cần thiết

để khơi gợi khả năng sáng tạo cho HS khi học Làm văn

- Về ý nghĩa xã hội, ngoài mục đích trang bị cho HS những kỹ năng cơ bản để tổ chức lập

luận khi tạo lập VBNL, việc nghiên cứu đề tài này còn hướng tới việc rèn luyện năng lực chủ động,tích cực, sáng tạo và biết cách thể hiện những suy nghĩ, thái độ, quan điểm của bản thân một cáchchính xác nhưng cũng rất hấp dẫn qua các văn bản cụ thể cho, đáp ứng được yêu cầu của xã hội chonhững chủ nhân tương lai của đất nước

7 Bố cục luận án

Ngoài các phụ lục được sử dụng khi nghiên cứu đề tài, hệ thống tài liệu tham khảo (bao gồm

cả các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt và tiếng Anh), luận án được triển khai theo cấu trúc sau:

Trang 3

- Mở đầu: Phần này tập trung trình bày các nội dung có tính định hướng cho việc triển khailuận án.

Tổng quan: Phần này được triển khai nhằm đánh giá lịch sử nghiên cứu các TTLL ở ViệtNam và thế giới, qua đó tìm ra hướng nghiên cứu cho luận án

- Nội dung: Ở phần này, chúng tôi tập trung vào các nội dung:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức rèn luyện các thao tác lập luận cho

HS THPT

Chương 2: Hệ thống bài tập như một phương tiện chủ yếu để rèn luyện các thao tác lập luậncho HS THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

- Kết luận: Chốt lại toàn bộ những nội dung đã được trình bày trước đó (ở phần mở đầu,phần nội dung)

- Danh mục công trình công bố của tác giả

Tổng quan

Nghị luận là kiểu văn bản có tầm quan trọng to lớn đối với đời sống con người Vì thế, cácnhà khoa học đã đặc biệt quan tâm nghiên cứu kiểu văn bản này Tuy nhiên, ở các thời điểm khácnhau, lịch sử nghiên cứu về kiểu văn bản này nói chung, lịch sử nghiên cứu các TTLL có những đổithay nhất định

1 Việc nghiên cứu về thao tác lập luận phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ ở nước ngoài

Khảo cứu các công trình khoa học bàn về cách viết văn hay những công trình nghiên

cứu cách viết bài luận, chúng tôi nhận thấy khái niệm phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ ít nhiều

được giới thiệu Tuy trong tiếng Anh, các nhà khoa học không quan niệm chúng là các TTLL song đã phầnnào chứng tỏ phân tích, giải thích, chứng minh, tổng hợp, bình luận là những thao tác cơ bản giúp con ngườithực hiện mục đích nghị luận

Nghiên cứu VBNL, các nhà nghiên cứu của Trung Quốc nhận thấy rõ vai trò của lập luận trong kiểu

văn bản này.Trong cuốn “Phương pháp biện luận” [122], tác giả Triệu Truyền Đống giới thiệu một số

phương pháp được sử dụng để lập luận khi biện luận Trong cuốn sách này, bốn phương pháp cơ bản được

dùng khi hùng biện là: thắng bằng logic, thắng bằng nghệ thuật ngôn từ, thắng bằng mưu chước và thắng bằng vạch trần ngụy biện Từ đó, tác giả Triệu Truyền Đống khẳng định quan điểm muốn biện luận thành

công, người hùng biện phải tác động để thuyết phục được người tiếp nhận tin vào chân lý Nói một cáchkhác, con đường dẫn đến thành công trong biện luận chính là lập luận Trong công trình này, tuy người viếtkhông bàn luận trực tiếp đến các TTLL song qua các lập luận cụ thể, tác giả Triệu Truyền Đống đã nêu rađược một số kiểu lập luận, phương pháp lập luận và có nhiều gợi ý liên quan tới các TTLL như chứng minh,

so sánh, phân tích và đặc biệt là bác bỏ Tìm hiểu những phương pháp biện luận như: nêu ví dụ phản bác [122, 49], luận chứng loại suy [122 41], phép phản bác phản chứng [122, 43], phép phản bác chứng điều kiện [122, 43], phép bác phản chứng loại suy [122, 47], phản bác luận chứng [122, 90], chúng tôi nhận thấy

chúng đều liên quan tới TTLL bác bỏ Không chỉ có vậy, cũng trong công trình nghiên cứu này, chúng tôicòn nhận thấy biểu hiện khác nhau của TTLL so sánh được trình bày với tư cách là các phương pháp biệnluận Chẳng hạn, khi bàn về phương pháp biện luận thắng bằng logic, tác giả đã nêu ra các phương pháp:

phép đối chiếu lịch sử [122, 67], pháp luật là căn cứ [122, 69…] Có thể nói, những phương pháp biện luận

trên tương đồng với TTLL so sánh được sử dụng khi thực hiện lập luận trong VBNL

Ngoài ra, trong công trình này, các phương pháp biện luận như: suy luận ưu tiên, nhận rõ nhân quả, lấy luận cứ chứng minh tại chỗ, suy luận biện chứng, luận đoán tương lai…cũng được tác giả giới thiệu khá

Trang 4

rõ Về cơ bản, các phương pháp biện luận nêu trên thực chất thể hiện bản chất của TTLL khác như bìnhluận, chứng minh… khi lập luận

Tóm lại, bàn về lập luận khi tạo lập VBNL, hầu hết các công trình nghiên cứu về văn nghị luận haycách viết bài luận trên thế giới đều ít nhiều trình nhắc tới các TTLL như phân tích, chứng minh, bình luận,bác bỏ… Điều đó chứng tỏ các nhà khoa học đều nhận thấy vai trò của chúng đối với việc lập luận khi tạolập VBNL

2 Việc nghiên cứu về thao tác lập luận phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ ở Việt

Nam

Các nhà nghiên cứu Làm văn nghị luận ở nước ta cũng rất quan tâm tới lập luận nói chung

và TTLL nói riêng như phân tích, bình luận, bác bỏ Tuy nhiên, trong những thời điểm khác nhau,lịch sử nghiên cứu TTLL có những thay đổi

2.1 Thuật ngữ " thao tác" trong một số công trình Làm văn

Bàn về ý nghĩa của từ “thao tác”, Từ điển Tiếng Việt thông dụng xác định từ này hai

phương diện ý nghĩa sau: “thực hiện những động tác kỹ thuật để làm một việc gì đó” và “các động tác kỹ thuật để làm một việc gì đó” [118,721] Nói một cách khác, “thao tác” chính là cách con

người sử dụng các động tác có tính chất kỹ thuật khi thực hiện một công việc nào đó Vận dụng vàotrong VBNL, có thể nhận thấy các nhà nghiên cứu sử dụng "thao tác" này để nhấn mạnh tới cáchngười viết tiến hành các động tác có tính chất kỹ thuật để sắp xếp lời diễn đạt nội dung nghị luận vàthể hiện những mục đích riêng của bản thân Tuy nhiên, trong thực tế, các nhà nghiên cứu lại nêuthành thuật ngữ khác nhau như thao tác chính của văn nghị luận, thao tác nghị luận Như vậy,thông qua một số công trình nghiên cứu về VBNL, chúng tôi nhận thấy, các nhà khoa học đã sửdụng thuật ngữ "thao tác" khi giới thiệu về kiểu văn bản này Tuy cách gọi tên trong các công trìnhtrên chưa thực sự đồng nhất với nhau song có thể khẳng định, đó là gợi ý để chúng tôi nghiên cứu

đề tài này

2.2 Những thay đổi trong quan niệm về thao tác lập luận

2.2.1 Quan niệm đồng nhất thao tác lập luận với kiểu bài

Từ những phát triển trong nhận thức về đặc trưng của kiểu văn bản này, trong một khoảngthời gian dài, các công trình nghiên cứu về VBNL có sự đồng nhất với nhau trong cách gọi tên cho

các dạng nghị luận Theo đó, các nhà khoa học xác định phân tích, bình luận, chứng minh, giải thích

là những kiểu bài nghị luận thường dùng nhất Có thể kể tới một số công trình thể hiện quan niệmnày như [15], [98], [16], [27], [38] Cơ sở của việc đồng nhất quan niệm TTLL trên thành các kiểubài được khẳng định cụ thể: để vấn đề phân loại văn nghị luận bớt phức tạp, dễ tiếp thu và vận

dụng, “thiết tưởng chúng ta nên căn cứ vào hình thức để phân chia văn nghị luận thành bốn loại (kiểu bài) tiêu biểu tương ứng với bốn thao tác chứng minh, giải thích bình luận và phân tích - bình giảng” [38, 15].

Từ những yêu cầu khi tạo lập cho từng kiểu bài nghị luận, trong quá trình dạy học, GVthường tập trung vào hướng dẫn HS nắm được những đặc điểm cơ bản của từng kiểu bài Điều đódẫn tới thực tế là HS vận dụng những kiến thức lý thuyết máy móc, khiên cưỡng khi các em viết bàivăn Vì thế, sản phẩm do các em tạo ra khô khan, ít sáng tạo

Mục đích chính của việc dạy học VBNL ở trường PT là trang bị cho HS những hiểu biết và

kỹ năng cơ bản kiểu văn bản này, qua đó hình thành và rèn luyện năng lực tạo lập văn bản cho các

em Tuy nhiên, muốn tạo ra một văn bản hấp dẫn, có giá trị, lập luận đóng vai trò quan trọng Bởi

lẽ, nghị luận là loại văn của tư duy logic Nó đòi hỏi, lập luận phải chặt chẽ, chắc chắn, ý tứ rõ ràng,mạch lạc nhằm đảm bảo độ chính xác cao, giàu sức thuyết phục Để đạt được yêu cầu đó, người tạolập phải có năng lực nhận thức tốt, biết vận dụng những TTLL để tổ chức lập luận Nói một cáchkhác, giá trị của VBNL một phần lớn thể hiện ở năng lực tổ chức lập luận của người viết Vì thế,khi lập luận, người tạo lập không chỉ thực hiện một TTLL mà cần phải kết hợp nhiều thao tác khácnhau, nhằm giúp cho lời văn sinh động, hấp dẫn, có sức thuyết phục người tiếp nhận Như vậy, việcđồng nhất quan niệm các TTLL với các kiểu bài là chưa thỏa đáng

Trang 5

2.2.2 Quan niệm không đồng nhất thao tác lập luận với kiểu bài

Trong một số công trình Làm văn, các nhà nghiên cứu đều nhắc tới phân tích, so sánh, bìnhluận, bác bỏ Mặc dù có sự thống nhất trong việc xác định bản chất, song mỗi công trình lại sử dụngthuật ngữ khác nhau Điều đó dẫn tới một quan niệm khác - quan niệm không đồng nhất TTLL vớikiểu bài Có thể nhắc tới một số thuật ngữ sau:

Một số tác giả khi tiếp cận với VBNL xác định các khái niệm phân tích, so sánh, bình luận,

bác bỏ giống với "phương pháp lập luận" Họ cho rằng đó là một thứ công cụ được người viết thực

hiện để biểu đạt nội dung nghị luận theo dụng ý riêng của bản thân Quan niệm này có phần tiến bộhơn, song việc xác định bản chất của chúng vẫn chưa thực sự thỏa đáng

Không gọi là "phương pháp lập luận", nhóm tác giả Nguyễn Đăng Mạnh (chủ biên) [68] lại

xác định đó là "biện pháp" được người viết thực hiện để làm sáng tỏ nội dung nghị luận Các tác giả khẳng định đây là thao tác không chỉ giúp người viết tạo ra lời văn tự nhiên, sinh động, phong phú,

có sức thuyết phục, mà còn tạo ra sự nổi bật góc cạnh cũng như màu sắc của vấn đề nghị luận Sau

đó, khi nhắc tới so sánh, các tác giả nhận xét: so sánh là một phương pháp, một cách thức trình bày khi viết bài văn nghị luận [68] Đồng quan niệm với cách gọi trên, tác giả Trần Đình Sử [100] và

[101] đã cho rằng phân tích, so sánh là những cách luận chứng trong văn nghị luận Như vậy, khinghiên cứu VBNL, các nhà nghiên cứu nhận thấy rõ vai trò, giá trị của so sánh Tuy nhiên, do địnhhướng nghiên cứu khác nhau, nên các tác giả chưa thực sự chú trọng về nội dung này Cũng bởi thế,cho đến nay, so sánh vẫn đang có những quan điểm khác nhau về vị trí của nó đối với quá trình tạo lậpVBNL

Quan niệm TTLL là "phương pháp lập luận" có phần đồng nhất với cách gọi trong sách giáo

khoa (SGK) Ngữ văn 7 và SGK Ngữ văn 9 - THCS Ở THCS, các khái niệm: giải thích, chứng

minh, phân tích và tổng hợp được gọi là “phép” Chương trình Ngữ văn THCS quan niệm giải

thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp giống như phương pháp lập luận Theo đó, để tạo ra sự phù

hợp với nhận thức của HS THCS, SGK Ngữ văn gọi chúng là “phép” Cách sử dụng thuật ngữ như

vậy, tuy chưa thể hiện đúng bản chất của các khái niệm đó nhưng nó là một giải pháp sư phạm củachương trình dành cho cả GV và HS Cũng vì thế, trong các cuốn Tài liệu bồi dưỡng GV, SGV bậc

THCS cũng không nêu ra khái niệm về "phép" hay "phương pháp lập luận" một cách cụ thể

Ngoài ra, trong một số công trình như [16], [27], [38], [94] , các nhà khoa học còn sử dụng

thuật ngữ: thao tác, thao tác chính của văn nghị luận, thao tác nghị luận, phép, phương pháp Có

thể nói, cùng xác định bản chất ý nghĩa cho phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận và có thể mở rộnghơn là giải thích, chứng minh , song mỗi nhà nghiên cứu lại sử dụng thuật ngữ riêng

Chính những cách gọi khác nhau như vậy đã khiến cho cả GV và HS khó hiểu khi tiếp cậnvấn đề Vì thế, muốn rèn luyện năng lực lập luận cho HS đạt hiệu quả, một trong những yêu cầu cầnthiết là phải có một thuật ngữ phù hợp

2.2.3 Quan niệm về thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn THPT

TTLL là thuật ngữ được đề ra từ ngành khoa học tâm lý học hoạt động, được vận dụng vàomột hoạt động quan trọng của con người - hoạt chiếm lĩnh thế giới bằng tư duy lôgic

Trong tạo lập văn bản, muốn tổ chức một văn bản tốt, người viết ngoài việc xác định rõ mụcđích, còn phải biết cách tổ chức lập luận để triển khai nội dung cần nghị luận Để thực hiện hànhđộng lập luận khi tường minh luận đề, người nói, người viết phải thực hiện các động tác có tính chất

kỹ thuật để sắp xếp trật tự các yếu tố của lập luận như luận điểm, luận cứ, luận chứng Quá trình đóđược chương trình Ngữ văn hiện hành THPT gọi là các TTLL Tuy nhiên, ở các khối lớp khácnhau, việc sử dụng thuật ngữ TTLL cũng không đồng nhất

Ở lớp 10, chương trình sử dụng khái niệm “thao tác nghị luận” Theo đó, SGK nêu rõ: “thao tác nghị luận là những động tác được thực hiện theo trình tự và yêu cầu kỹ thuật được quy định trong hoạt động nghị luận” Đến lớp 11, SGK Ngữ văn, Tài liệu bồi dưỡng GV chương trình môn Ngữ văn 11 chọn thuật ngữ “thao tác lập luận” Thuật ngữ này được sử dụng trong hệ thống các

Trang 6

bài giới thiệu về phân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ Tên gọi cho phân tích, so sánh, bình luận,bác bỏ ở chương trình Ngữ văn 11đã co hẹp hơn mục đích sử dụng chúng khi tạo lập VBNL Nóimột cách khác, việc lựa chọn thuật ngữ TTLL đã xác định rõ nội hàm bản chất cũng như vai trò củaphân tích, so sánh, bình luận, bác bỏ khi lập luận, qua đó, thể hiện rõ tầm quan trọng của chúngtrong hoạt động nghị luận Tóm lại, TTLL là một quan niệm mới được các tác giả biên soạn SGKNgữ văn đề ra Quan niệm này thể hiện sự thay đổi trong việc nghiên cứu và đánh giá ý nghĩa củacác khái niệm phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ Về bản chất, thuật ngữ TTLL đã chỉ rõ nhữngđộng tác cơ bản được người tạo lập sử dụng trong quá trình lập luận Nó giúp cho người tạo lập tiếnhành tổ chức lập luận nội dung cần bàn luận một cách chính xác, cụ thể hấp dẫn, sinh động, qua đóthể hiện dụng ý riêng của thân khi thực hiện hoạt động nghị luận Có thể nói, thuật ngữ ấy, mộtphần vừa thể hiện tính khoa học của lý thuyết làm văn, nhưng quan trọng hơn, nó còn thể hiện tínhđịnh hướng cho GV khi hướng dẫn HS cách thức để trình bày vấn đề Nếu quan niệm đồng nhấtquan niệm TTLL với kiểu bài thì khi tạo lập văn bản, HS sẽ vận dụng và tổ chức lập luận một cáchkhô khan, khiên cưỡng khi hành văn Nếu quan niệm phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ khôngphải là kiểu bài mà giống như các phương pháp, các biện pháp, hay là thao tác tổ chức nội dung bàivăn nghị luận thì HS sẽ mơ hồ, lúng túng trong việc tổ chức các yếu tố của lập luận để triển khai nộidung bàn luận Còn quan niệm phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ là các TTLL, HS sẽ dễ dàngtrong việc tiếp nhận cách thức thực hiện và tổ chức lập luận khi tạo lập văn bản Điều đó còn tạo ra

sự thuận lợi cho GV trong quá trình rèn luyện kỹ năng tổ chức lập luận cho HS

Quan niệm phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ là các TTLL đã thể hiện sự tiến bộ củachương trình Ngữ văn hiện hành Nó hướng tới việc giúp cho cả GV và HS hiểu đúng hơn bản chấtcủa chúng khi tiếp cận với văn nghị luận Đồng thời, nó tạo ra những định hướng cụ thể cho HScách thực hiện phân tích, bình luận, so sánh, bác bỏ trình bày để các em có thể vận dụng và tạo lập

được những văn bản có giá trị Với nhận thức đó, chúng tôi tán đồng với quan niệm về “thao tác lập luận” trong SGK Ngữ văn THPT hiện hành.

Khảo cứu các công trình Làm văn, chúng tôi cũng nhận thấy việc rèn luyện lập luậncho HS được quan tâm chủ yếu thông qua các bài tập hướng dẫn HS cách viết đoạn, viết bài, quacách hướng dẫn các em lập dàn ý để có một cơ sở triển khai lập luận khi tạo lập VBNL Một sốcông trình tiêu biểu có thể kể tới là [3], [80], [84], [99], Như vậy, có thể khẳng định, trong cáccông trình nghiên cứu Làm văn và dạy học làm văn nghị luận, rèn luyện năng lực lập luận cho HS

đã được các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục quan tâm Tuy nhiên, trên thực tế, việc rèn luyện cácTTLL cho HS chưa thực sự được chú trọng Cũng vì thế, trong một thời gian dài, năng lực tổ chứclập luận trong bài viết của các em chưa tốt Từ đó, với mục đích là hình thành và rèn luyện kỹ nănglàm văn để các em có thể làm việc suốt đời, rèn luyện TTLL là việc làm cần thiết

Trang 7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN LUYỆN CÁC THAO TÁC LẬP LUẬN KHI DẠY HỌC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH

THPT 1.1 Quan niệm về lập luận

1.1.1 Quan niệm về lập luận trong logic học

Thuật ngữ lôgic bắt nguồn từ tiếng Hy lạp, với ý nghĩa là "tư tưởng", "trí tuệ" và "từ".Những ý nghĩa đó được đề ra từ mục đích con người muốn biểu thị tập hợp các quy luật bắt buộccủa quá trình tư duy khi phản ánh thực tế khách quan Nói một cách khác, nhiệm vụ cơ bản củalôgic học là làm sáng tỏ những điều kiện nhằm đạt tới tri thức chân thực Để đạt được nhiệm vụ ấy,con người phải thực hiện quá trình nhận thức, phải tư duy Cơ sở để con người ghi lại quá trình tưduy là ngôn ngữ, là lập luận Cũng vì thế, lập luận là một trong những đối tượng cơ bản của lôgichọc

Lập luận trong lôgic học được thể hiện rõ trong suy luận Theo đó, suy luận là "hình thức của tư duy" [28, 90] nhằm tạo ra cơ sở để rút ra phán đoán mới từ các quy tắc của lôgic Phán đoán, kết luận

khoa học được tạo ra từ những quy tắc lôgic thông qua các thao tác của tư duy và được thể hiệntheo một cách thức lập luận nhất định Bởi vậy, lập luận chính là con đường để tổ chức nhận thứckhoa học Lôgic học đã xác lập rõ các quy luật của tư duy, quy tắc của lập luận cũng như những tiền

đề thiết yếu để thu được nhận thức chân lý như tính chân thực, quy tắc của lôgic lập luận [23],[28] Như vậy, trong lôgic học, có thể nhận thấy lập luận là yếu tố không thể thiếu của bất kì suyluận nào Nó vừa là cách thức, là thao tác tìm ra nhận thức chân lý mới, vừa là quá trình dẫn dắt conngười đi đến và kiểm nghiệm độ xác thực của chân lý ấy

1.1.2 Quan niệm về lập luận trong ngôn ngữ học

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân, khi bàn về lập luận, cho rằng: đó là “một hoạt động, một thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào

đó Lập luận là một hoạt động bằng lôgic ngôn từ mà người nói thể hiện nhằm tác động đến quần chúng” [23, 21] Theo quan niệm này, có thể nhận thấy lập luận chính là các hành động ngôn ngữ

được con người thực hiện để nêu ra những nhận xét, suy luận hay phán đoán nào đó nhằm tạo ranhững tác động nhất định đối với người tiếp nhận

Còn nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu cho rằng lập luận một hành động ngôn ngữ có cấu tạo

chặt chẽ Tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định, thuật ngữ “lập luận” được hiểu theo hai nghĩa:“thứ nhất, nó chỉ sự lập luận tức là hành vi lập luận Thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận tức toàn bộ cấu trúc của lập luận cả về nội dung và hình thức” [14, 19] Theo quan niệm trên, có thể

khẳng định, về bản chất, lập luận là một hành động ngôn ngữ được biểu hiện qua cả phương diệnnội dung và cấu trúc hình thức

Như vậy, hiểu một cách đơn giản: lập luận là đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói, người viết muốn đạt tới.Với tư cách là một hành động ngôn ngữ, lập luận là yếu tố giúp cho con người tạo thành phát ngôn cụ thể để hiện thực hóa nhận thức Nói một cách khác, lập luận là hành động lôgic ngôn từ có cấu trúc và gắn với một nội dung cụ thể Vì thế, khi xem xét lập luận, các nhà ngôn ngữ học

thường tập trung tìm hiểu cấu trúc hình thức của lập luận, mối quan hệ giữa lập luận với thực tếkhách quan, với dụng ý của người tạo lập luận và từ đó đánh giá biểu hiện của các hành vi ngôn ngữ(hành vi ở lời, hành vi mượn lời, hành vi tạo lời ) Cho nên, khi tiếp cận lập luận, chúng ta cầnxem xét nó trên các bình diện của hành động ngôn ngữ (như mục đích, nhận thức) và các hành vi

Trang 8

ngôn ngữ được con người thực hiện khi giao tiếp Nhờ đó, chúng ta hiểu đúng về cấu trúc, ý nghĩacũng như mục đích tạo lập văn bản - sản phẩm của hoạt động giao tiếp Bởi vậy, khi nghiên cứu vănbản, lý thuyết lập luận là một trong những cơ sở khoa học không thể thiếu.

1 2 Lập luận trong văn bản nghị luận

Khẳng định vai trò của lập luận, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống, khi tiếp cận với văn nghị

luận cho rằng: “ Văn nghị luận là một thể loại nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục ”[106, 189] Nhận định trên khẳng định cho đặc trưng cơ bản của văn

bản này Có thể nói, nhờ hệ thống lý lẽ, dẫn chứng và thông qua việc diễn đạt bằng ngôn từ lôgic,người viết có thể trình bày nội dung nghị luận một cách chính xác, tạo ra những tác động nhất địnhđối với người tiếp nhận.Như vậy, lập luận trong VBNL là hành động ngôn ngữ giúp cho người tạolập biểu đạt nội dung nghị luận sâu sắc, đầy đủ, chính xác

Hơn nữa, lập luận còn là hành động của tư duy logic Khi thực hiện hoạt động nghị luận,tận dụng những quy tắc về nhận thức chân lý trong logic, người tạo lập tổ chức sắp xếp các yếu tốcủa lập luận để dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với chân lý khoa học, nhằm đạt được các mục đíchkhác nhau như tuyên truyền, giáo dục, nhận thức xã hội, giao lưu truyền bá hay truyền cảm bồidưỡng Cũng vì thế, khi dạy học lập luận trong VBNL, GV một mặt phải tuân theo các quy tắc củalogic, mặt khác phải đảm bảo tới cấu trúc của lập luận, nhưng đặc biệt phải chú trọng tới cách tổchức hệ thống lập luận khi tạo lập văn bản Dạy học các TTLL ở THPT chính là nhằm rèn cho HSnăng lực thiết yếu để tổ chức lập luận khi viết văn nghị luận

1.3 Thao tác lập luận trong văn bản nghị luận

Tiếp cận VBNL, các nhà nghiên cứu nhận thấy rõ tầm quan trọng của phân tích, chứngminh, bình luận… Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành quan niệm đó là các TTLL Để tìm hiểuTTLL, chúng tôi xem lập luận trong VBNL là một hành động ngôn ngữ Đó là hành động được conngười thực hiện để tạo ra các sản phẩm giao tiếp cụ thể VBNL là một sản phẩm của hoạt động giaotiếp, và để tạo ra được sản phẩm ấy, người tạo lập phải sử dụng TTLL để tổ chức lập luận khi triểnkhai nội dung nghị luận

1.3.1 Khái niệm thao tác lập luận

Thao tác là thuật ngữ được đề ra từ tâm lý học hoạt động Nghiên cứu VBNL, có thể nhậnthấy con người sử dụng kiểu văn bản này nhằm thực hiện những mục đích riêng Bởi vậy, hoạt độngnghị luận của con người cũng được tiến hành theo cấu trúc hoạt động của con người Muốn đạtđược mục đích nghị luận, người viết phải sử dụng tới các thao tác tổ chức lập luận Từ bản chất kiếnthức cấu trúc hoạt động, về lập luận, có thể quan niệm về TTLL như sau:

Thao tác lập luận là những động tác có tính chất kỹ thuật được người nói, người viết sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện hoạt động nghị luận.

1.3.2 Các thao tác lập luận trong chương trình Ngữ văn THPT

Nghiên cứu VBNL, có thể nhận thấy người nói, người viết thường sử dụng các TTLL cơbản sau: giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp, so sánh, bác bỏ, bình luận Tuy nhiên, gắn vớiphạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi tập trung vào các TTLL dưới đây:

1.3.2.1 Thao tác lập luận phân tích

Khi tạo lập VBNL, để nội dung nghị luận được trình bày khoa học, khách quan, người viếtphải thực hiện TTLL phân tích Như vậy, phân tích là TTLL được người viết sử dụng nhằm dẫn dắtngười tiếp nhận hiểu hơn từng đặc điểm, từng biểu hiện, qua đó có cách nhìn chính xác, khách quanđối với của nội dung được bàn luận Nhờ có TTLL này, người tạo lập thể hiện cách thức tiếp cận đốitượng, rút ra những hiểu biết của bản thân và dẫn dắt người tiếp nhận đi đến các phán đoán, kết luậnkhoa học, và nhận thức đúng nội dung nghị luận Trong VBNL, TTLL phân tích không đơn thuầnchỉ là tách nhỏ các mặt nội dung để mà còn cần phải xác lập mối liên hệ giữa chúng để có cơ sở

Trang 9

khái quát lại toàn bộ nội dung đã trình bày trước đó, từ đó rút ra nhận thức chân lý Muốn nhìnnhận đối tượng trong sự thống nhất hữu cơ của nó thì cần phải tổng hợp

1.3.2.2 Thao tác lập luận so sánh

Tóm lại, trong VBNL, so sánh là một TTLL được người tạo lập dùng để tìm ra sự giốngnhau hoặc khác nhau giữa các đối tượng, và qua sự so sánh ấy để dẫn dắt người tiếp nhận đi đếnmột ý kiến, nhận định nào đấy đối với nội dung được bàn luận Nói một cách khác, đó là cách ngườilập luận thực hiện nhằm dẫn dắt người tiếp nhận đến với một chân lý một kết luận nào đấy về nộidung nghị luận Cũng bởi thế, so sánh thể hiện rõ mục đích cũng như tính lập luận trong văn nghịluận Tính lập luận của so sánh có thể được thực hiện bằng một câu, nhưng cũng có thể được ngườiviết trình bày trong một đoạn văn hoặc cả bài văn Việc sử dụng TTLL này trong một câu, một đoạnhay thậm chí cả bài đều gắn với mục đích và dụng ý của người viết Khi sử dụng TTLL so sánh,người viết không chú trọng tới độ dài ngắn của lập luận mà đặc biệt quan tâm tới việc sử dụng cácyếu tố so sánh và làm như thế nào đó để hướng người đọc tới nhận thức, chân lý hay kết luận cuốicùng cần nêu ra Trên thực tế, khi sử dụng so sánh để tổ chức lập luận, người lập luận có thể thựchiện theo hai hình thức: so sánh tương đồng hoàn toàn và so sánh tương đồng có dị biệt

Như vậy, trong VBNL, người nói, người viết sử dụng TTLL so sánh nhằm bày tỏ ý kiến,quan niệm đối với nội dung được bàn luận Sử dụng TTLL này, người tạo lập không chỉ dẫn dắtngười đọc đến với những kết luận khoa học, chính xác mà còn giúp cho lời văn trong văn bản sinhđộng, hấp dẫn, nhiều hình ảnh Đó cũng là cách mà người nói, người viết tạo sức thuyết phục đốivới độc giả

1.3.2.3 Thao tác lập luận bác bỏ

Trong VBNL, bản chất của TTLL bác bỏ là cách người viết tổ chức lập luận nhằm phủ nhậnmột ý kiến, một kết luận bằng cách dùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra một cách rõ ràng, tường tận,thấu đáo những sự vô lý, sai lầm của nó Nó thực chất là cách người tạo lập thực hiện các động tácphủ định nhằm thể hiện nhận thức, thái độ của bản thân đối với nội dung được nghị bàn.Vì thế, lậpluận trong TTLL này gắn với hành vi mượn lời Nó được người viết sử dụng khi và chỉ khi gặpnhững quan điểm không đúng hoặc có người không tán đồng với những ý kiến mà mình đưa ratrong quá trình bàn luận Nhờ có TTLL này, người tạo lập sẽ chỉ ra lệch lạc, chưa chính xác trongsuy nghĩ rồi từ đó dẫn dắt người tiếp nhận đi đến với những chân lý đúng đắn, xác thực hơn

Khi nghị luận, TTLL bác bỏ có hình thức diễn đạt gần giống với chứng minh, bởi lẽ, đó làmột dạng lập luận chứng minh đặc biệt Sở dĩ nói được như vậy là vì: chứng minh là việc đi tìmnhững lý lẽ dẫn chứng để trực tiếp khẳng định tính đúng đắn của nội dung đó Còn TTLL bác bỏ lạixuất phát từ một ý kiến, một quan niệm sai, sau đó dùng lý lẽ, dẫn chứng để chỉ ra cái sai, và nêu rachân lý (cái đúng) Cũng bởi vậy, khi sử dụng TTLL bác bỏ, người viết luôn chú ý sử dụng nhiềuhình thức diễn đạt phủ định Đặc điểm này xuất phát từ chính bản chất của TTLL này Đó là cáckiểu câu theo cấu trúc: không , không ; có thể nhưng không; đâu phải là

1.3.2.4 Thao tác lập luận bình luận

Bình luận là một thao tác được con người thực hiện trong nhiều lĩnh vực như văn học, thểthao, y tế Trong VBNL, bình luận là TTLL quan trọng không thể thiếu Khi lập luận, để thể hiệnsuy nghĩ, thái độ, quan điểm của mình, người viết phải dùng ngôn ngữ, lý lẽ, dẫn chứng đối với nộidung nghị luận Đó chính là quá trình người tạo lập thực hiện bình luận Nói một cách khác, trongVBNL, bình luận là TTLL giúp người viết, thể hiện rõ tư tưởng, tình cảm, thái độ của mình đối vớibản thân nội dung luận bàn

Khi thực hiện bình luận, người viết thực hiện hai động tác cơ bản là luận và bình Trong đó, luận là người viết xác định rõ luận điểm, tìm ra các luận cứ, luận chứng nhằm làm rõ nội dung vấn đề; bình là việc từ những luận cứ, luận chứng, lí lẽ đã nêu, người viết rút ra đánh giá của mình về nội dung được “luận” trước đó.

Với đặc trưng là dạng lập luận mang tính khái quát, bình luận là TTLL có vị trí tự do, có thể

có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, được sử dụng khi nghị bàn (cả văn học và cả các vấn đề của đờisống xã hội) và cũng là TTLL có thể kết hợp với tất cả các TTLL khác

Trang 10

1.3.3 Sự kết hợp các TTLL trong bài văn nghị luận

Trong VBNL, mỗi TTLL có đặc điểm riêng, và được sử dụng nhằm một mục đích, mộtdụng ý riêng của người viết Tuy nhiên, khi lập luận, các TTLL lại có thể bổ sung, hỗ trợ cho nhautrong việc tường minh nội dung bàn luận Và khi chúng kết hợp với nhau, người viết có thể tạo racách diễn đạt chính xác phù hợp với các chân lý khách quan, khoa học, qua đó gây dựng sự tintưởng ở phía người tiếp nhận Vì vậy, yêu cầu cần thiết đối với người tạo lập là phải căn cứ vàomục đích, đối tượng nghị luận để lựa chọn và kết hợp các TTLL cho phù hợp

1.4 Kỹ năng và kỹ năng lập luận

Mục đích của việc dạy học Làm văn ở trường PT là hình thành và rèn luyện cho HS kỹ năngtạo lập các kiểu văn bản, để từ đó các em có năng lực thực hiện những yêu cầu cụ thể của cuộcsống Không là ngoại lê, quá trình dạy học VBNL cũng hướng tới mục tiêu là rèn cho HS có những

kỹ năng thiết yếu để các em có thể tạo ra những sản phẩm đúng về mặt khoa học, có giá trị thựctiễn Để đạt được điều đó, trong mọi khâu, mọi hoạt động của quá trình dạy học, GV đều phảihướng tới việc hình thành và phát triển kỹ năng cho HS

1.4.1 Kỹ năng và hình thành kỹ năng

Hiểu một cách đơn giản:"kỹ năng của con người chính là khả năng con người thực hiện một

hành động nào đó có tính chất kỹ thuật, được rèn luyện thông qua hoạt động luyện tập thực hành

Nhà tâm lý Pe- trôv- xki nhấn mạnh: "Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà cả trong điều kiện thay đổi" [113, 88] Vì thế, con đường hình thành kỹ năng phải trải qua các bước:

Bước 1: Tìm hiểu, nhận thức đúng đắn, đầy đủ về hành động cần thực hiện Đây là bước

trang bị những hiểu biết nhằm định hướng cho việc hình thành kỹ năng

Bước 2: Quan sát mẫu, làm thử theo mẫu Đây chính là bước theo dõi kỹ lưỡng các động tác

thực hiện hành động, đối chiếu với lý thuyết, từ đó hình thành kỹ năng

Bước 3: Luyện tập Trên cơ sở bước 2, con người tiến hành luyện tập, hoàn thiện kỹ năng, phát triển thành năng lực riêng của từng cá nhân

1.4.2 Thao tác lập luận trong kỹ năng lập luận

Trong quá trình giáo dục, cái đích cuối cùng của việc dạy học Làm văn là hìnhthành và rèn luyện những kỹ năng cơ bản, cần thiết để các em tự chủ, độc lập, sáng tạo khi các em

sản sinh lời nói Theo đó, quá trình dạy Làm văn chính là quá trình HS “có được các kỹ năng hình thành và thể hiện ý riêng của mình bằng ngôn ngữ đó để suy nghĩ, để nói ra và viết ra khi nhận thức và giao tiếp” [66, 234] Cũng bởi thế, nội dung tri thức của làm văn đều hướng tới việc trang

bị cho các em những kỹ năng cần thiết phục vụ cho việc tạo lập văn bản TTLL trong chương trìnhNgữ văn THPT là hệ thống kỹ năng Bản chất của nó là trang bị cho các em những hiểu biết và cách

tổ chức lập luận khi biểu đạt nội dung nghị luận Nói một cách khác, đó là kỹ năng giúp HS có thểlập trình đúng những nội dung cũng như cách tổ chức các phương tiện ngôn ngữ khi biểu đạt nộidung nghị luận Vì thế, trang bị hệ thống kiến thức về TTLL là hình thành cho HS kỹ năng thiết yếu

về cách tổ chức lập luận, từ đó giúp các em biết vận dụng kỹ năng ấy vào thực tế tạo lập văn bảncủa chính bản thân

1.4.3 Hình thành kỹ năng thực hiện các thao tác lập luận

TTLL là những động tác được người viết thực hiện nhằm tổ chức các phương tiện ngôn ngữ

để thể hiện dụng ý riêng của bản thân khi nghị luận Nói một cách khác, nó giúp người viết địnhhướng và tổ chức những nội dung cần trình bày khi lập luận Vì thế, việc hình thành những kỹ năng

về các TTLL có thể được cụ thể theo các giai đoạn sau:

Trước hết, GV định hướng cho người học nắm được phương thức thực hiện TTLL Việc làmnày nhằm trang bị cho các em những hiểu biết cơ bản về TTLL ( về mục đích, yêu cầu, về cách thựchiện TTLL)

Sau khi đã tác động bên ngoài, GV tổ chức cho HS luyện tập cách thực hiện TTLL Đâychính là quá trình HS quan sát, tập vận dụng và rèn luyện kỹ năng sử dụng TTLL Giai đoạn nàyđược tiến hành theo các công việc cụ thể:

Trang 11

Thứ nhất, GV phải hướng dẫn HS xác định mục đích nghị luận (xác định luận điểm cần nghị luận.)

Tiếp theo, GV hướng dẫn cho HS cách thực hiện TTLL.

Sau đó, GV tổ chức cho HS luyện tập.

Cuối cùng, GV tạo điều kiện để các em củng cố nhận thức, và biến những kỹ năng ấy thành cái riêng, thành năng lực lập luận của chính bản thân HS

Quá trình hình thành và bồi dưỡng năng lực sử dụng TTLL chủ yếu được thực hiện trongđiều kiện học tập ở nhà trường một cách có chủ định Nó gắn liền với ý thức học tập của chủ thể

HS Việc hình thành và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ thường bắt đầu từ thấp đến cao, từ phântích đến tổng hợp, từ vận dụng tới sáng tạo Theo đó, việc rèn luyện các năng lực ngôn ngữ nóichung, năng lực lập luận nói riêng cũng phải thực hiện theo đúng các cấp độ đó Tuy nhiên, để HS

có năng lực thực hiện, khi hình thành cho HS có những hiểu biết về TTLL, GV cần phải có giảipháp khoa học vì đó là kỹ năng khó và trừu tượng Muốn HS nắm được cách thực hiện TTLL, giảipháp hữu hiệu nhất là khái quát thành các bước (tương ứng với các động tác) cụ thể Bởi khi kháiquát thành các bước, những kiến thức trừu tượng trở nên cụ thể, dễ nhận thấy, dễ vận dụng Cơ sở

để xác định các bước thực hiện TTLL được chúng tôi chọn là luận điểm, luận cứ, luận chứng - cácyếu tố của lập luận

1.5 Thăm dò thực trạng tổ chức rèn luyện các TTLL ở trường THPT

1.5.1 Mục đích của việc điều tra, khảo sát hoạt động dạy học TTLL ở trường THPT

Có thể nói đây là hoạt động giúp chúng tôi thu được cơ sở thực tiễn nhất về trường PT, vềtình hình tổ chức hoạt động dạy Ngữ văn nói chung, Làm văn nói riêng cũng như những biểu hiện

về chất lượng nhận thức, hiệu quả giáo dục sau một thời gian đào tạo thông qua một nội dung họctập cụ thể Nhờ có điều tra, khảo sát chúng tôi có thể hiểu được suy nghĩ, nhận thức, nắm đượcnhững khó khăn, tồn tại trong quá trình tổ chức hoạt động giảng dạy và học tập của GV, HS về hệthống kiến thức TTLL Qua đó tìm ra những biện pháp khắc phục khi tổ chức rèn luyện các TTLLcho HS THPT

1.5.2 Nội dung điều tra, khảo sát

1.5.2.1 Khảo sát chương trình, SGK Ngữ văn bậc THPT

TTLL được triển khai ở cả hai học kỳ Theo phân phối chương trình, mỗi TTLL được triểnkhai thành một tiết và một tiết luyện tập thực hành Cách triển khai như vậy vừa thể hiện sự tôntrọng tính chất thực hành của Làm văn, vừa quan tâm tới việc rèn luyện kỹ năng sử dụng các TTLLcho HS Hơn nữa, cuối mỗi học kỳ, chương trình còn bố trí một tiết thực hành về cách kết hợp cácTTLL (kết hợp TTLL so sánh và phân tích và kết hợp các TTLL trong văn nghị luận)

Với SGK Ngữ văn 11, chúng tôi tập trung vào khảo sát hệ thống BT được sử dụng khi dạyhọc các TTLL Cơ sở để khảo sát hệ thống BT là dựa vào mục đích sử dụng BT để phân loại SGKtriển khai những BT lớn với nhiều yêu cầu khác nhau Vì thế, khi khảo sát BT, chúng tôi xác địnhmỗi BT gắn với một yêu cầu phải thực hiện

Trang 12

1.5.2.2 Điều tra, khảo sát GV và HS

Theo nội dung đề tài, chúng tôi xác định đối tượng được điều tra, khảo sát là đội ngũ GV và

HS đang giảng dạy và học tập chương trình Ngữ văn lớp 11- THPT

1.5.3.Phương pháp khảo sát, điều tra

Để tiến hành việc điều tra, khảo sát đạt kết quả, chúng tôi thực hiện qua một số phương phápnhư sau:

1.5.3.1 Dự giờ

1.5.3.2 Khảo sát giáo án của GV

1.5.3.3 Phiếu điều tra, thăm dò ý kiến của GV và HS

1.5.3.4 Khảo sát bài viết của HS

1.5.4 Kết quả điều tra, khảo sát

1.5.4.1 Kết quả khảo sát chương trình, SGK Ngữ văn THPT

Từ hệ thống BT được triển khai trong SGK Ngữ văn 11 , trong công trình này, chúng tôitiếp thu một số BT được sử dụng khi hình thành lý thuyết, khi luyện tập thực hành Đồng thờichúng tôi nhận thấy cần bổ sung thêm BT chữa lỗi- một dạng BT quan trọng trong quá trình rènluyện năng lực sử dụng các TTLL cho HS

1.5.4.2.Về phía giáo viên

Phần lớn GV ở các trường PT đều nhận thấy việc dạy học các TTLL là cần thiết, nhưng rấtkhó Khó khăn được thể hiện rõ nhất là nội dung kiến thức có nhiều mới lạ, không đồng nhất trongcách dùng thuật ngữ, thời gian dạy học chưa thỏa đáng cho việc rèn luyện kỹ năng sử dụng cácTTLL, hệ thống tài liệu tham khảo chưa đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của GV Trong quá trình dạyhọc , GV chưa phát huy hết vai trò của BT để rèn luyện các TTLL cho HS

1.5.4.3.Về phía học sinh

Với lý do muốn tập trung vào khối dự thi đại học, không thích học Làm văn,vì chưa hiểuđúng mục đích nghị luận nên khi tạo lập văn bản, nhiều em đã không vận dụng những yêu cầu vềcách sử dụng các TTLL để tổ chức các ý của nội dung cần nghị luận Mặt khác, HS chưa thực sựbiết cách vận dụng kết hợp các TTLL để tạo ra sự mạch lạc và lôi cuốn người tiếp nhận Vì thế, sảnphẩm của các em chưa tạo ra sự thuyết phục đối với người tiếp nhận

Tiểu kết chương 1

TTLL là một nội dung kiến thức mới trong chương trình Ngữ văn bậc PT Nội dung kiếnthức này được đề ra từ những kiến thức về cấu trúc hoạt động của con người trong tâm lý học hoạtđộng Khi TTLL, người viết sử dụng các động tác mang tính chất kỹ thuật để tổ chức lập luận nộidung TTLL được đề ra từ đặc trưng đó Từ bản chất ý nghĩa của “thao tác” và những cách hiểu

khác nhau về thao tác nghị luận, có thể quan niệm: Thao tác lập luận là những động tác có tính

Trang 13

chất kỹ thuật được người viết sử dụng để sắp xếp các yếu tố của lập luận (luận điểm, luận cứ) theo trình tự và yêu cầu nhằm đạt được những mục đích riêng khi thực hiện hoạt động nghị luận

Mặc dù từ THCS đến THPT, HS được trang bị khá nhiều kiến thức và kỹ năng làm văn nghịluận, song năng lực tạo lập văn bản, trong đó có năng lực lập luận của HS còn hạn chế Cũng vì thế,rèn luyện các TTLL trong dạy học Làm văn nghị luận ở trường THPT đòi hỏi phải có một biệnpháp khoa học, phù hợp với chủ thể HS để tạo ra hiệu quả nhất định Trong luận án này, chúng tôi

sử dụng hệ thống BT như một phương tiện cơ bản để tổ chức rèn luyện năng lực thực hiện TTLLcho HS - THPT

Chương 2: Hệ thống bài tập như một phương tiện chủ yếu để rèn luyện các

thao tác lập luận

Như trên đã nói, TTLL là một trong những kỹ năng quan trọng để thực hiện hành động lậpluận Tuy nhiên, muốn HS năng lực thực hiện TTLL khi tạo lập VBNL, GV phải tổ chức rèn luyện.Trong luận án này, chúng tôi xác định hệ thống BT là phương tiện chủ yếu được sử dụng khi rènluyện năng lực thực hiện và sử dụng TTLL

2.1 Vai trò của bài tập trong quá trình rèn luyện kỹ năng Làm văn

Trong quá trình dạy học Làm văn, BT là phương tiện quan trọng, Bởi Làm văn là hệ thống

tri thức có tính chất thực hành Nói một cách khác, những kiến thức và kỹ năng tạo lập văn bản chỉđược hình thành và phát triển thông qua các hoạt động giải quyết các BT

Trong dạy học Làm văn, BT trước hết là công cụ thiết thực giúp GV hướng dẫn HS hìnhthành những kiến thức, kỹ năng Làm văn trong các giờ lý thuyết

Hơn nữa, mỗi BT Làm văn dù ở dạng cho sẵn một nội dung ngữ liệu hay yêu cầu tạo lậpđoạn, văn bản cũng là cơ sở để GV tạo ra định hướng học tập cho HS

Hệ thống BT trong giờ học Làm văn (đặc biệt là BT yêu cầu viết đoạn, viết văn bản) còn lànhững tình huống học tập mới đòi hỏi các em phải vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng và sángtạo để tạo ra sản phẩm mới Mặt khác, khi giải quyết BT, HS phải sử dụng các hoạt động của tư duynhư phân tích, chứng minh, phán đoán, khái quát, tổng hợp Vì vậy, hướng dẫn HS giải quyết các

BT là điều kiện tốt để GV phát triển tư duy, óc tưởng tượng, tính độc lập trong suy luận, hình thành

ý thực nghiệm túc, khoa học trong học tập cho HS

Như vậy, trong quá trình dạy học Làm văn, hệ thống BT là bộ công cụ thiết yếu đối với cả

GV và HS Nhờ đó, GV có thể điều chỉnh, bổ sung hoặc củng cố kiến thức, kỹ năng Làm văn để các

em nắm chắc tri thức, biến nó thành cái riêng của mỗi cá nhân Mặt khác, hệ thống BT thực hành làcầu nối gắn kết GV và HS - cơ sở để tạo ra không gian học tập thân thiện, một yếu tố quan trọngtrong việc gây dựng hứng thú trong học tập đối với các em

2.2 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện các TTLL

Ngày đăng: 05/04/2016, 08:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w