1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đổi mới hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 5 trong môn học mĩ thuật tại trường tiểu học tiên dương đông anh hà nội

84 610 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC NGUYỄN THỊ KHÁNH ĐỔI MỚI HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG MÔN HỌC MĨ THUẬT TẠI TRƯ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

NGUYỄN THỊ KHÁNH

ĐỔI MỚI HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC

NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH LỚP 5 TRONG MÔN HỌC MĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TIÊN DƯƠNG - ĐÔNG ANH - HÀ NỘI

HÀ NỘI 2013

Trang 2

Hà Nội, ngày tháng năm

Sinh viên

NGUYỄN THỊ KHÁNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các căn cứ nêutrong luận văn là trung thực

Đề tài chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2013 Sinh viên

NGUYỄN THỊ KHÁNH

Trang 5

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU Trang 1 Lý do chọn đề tài………

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu………

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài………

5 Giả thuyết khoa học………

6 Phương pháp nghiên cứu……… ……

7 Cấu trúc khóa luận……… …………

Phần 2: NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài………

1 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 5………

1.1 Đặc điểm chú ý………

1.2 Đặc điểm tri giác………

1.3 Đặc điểm trí nhớ………

1.4 Đặc điểm tư duy………

1.5 Đặc điểm tưởng tượng………

2 Khái quát chung về tính sáng tạo………

2.1 Các quan điểm về khái niệm “Sáng tạo”………

Trang 6

2.2 Vai trò của tính sáng tạo đối với con người trong cuộc sống nói chung….

2.3 Tâm lý sáng tạo của trẻ em………

2.3.1 Tâm lý sáng tạo của trẻ em………

2.3.2 Tâm lý sáng tạo của trẻ em trong môn học Mĩ thuật………

3 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5………

3.1 Vai trò của tính sáng tạo đối với HS lớp 5………

3.2.1 Đối với HS trong hoạt động học tập………

3.2.2 Đối với HS trong môn học Mĩ thuật………

3.2 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5………

3.2.1 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5 trong hoạt động học tập……

3.2.2 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5 trong môn học Mĩ thuật……

4 Nội dung chương trình môn Mĩ thuật lớp 5………

4.1 Đặc điểm bộ môn Mĩ thuật lớp 5………

4.2 Nội dung chương trình môn Mĩ thuật lớp 5………

4.3 Việc thực hiện giảng dạy nội dung chương trình môn Mĩ thuật lớp 5 của trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội……… CHƯƠNG 2: CÁC HTTCDH NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HS LỚP 5 TRONG MÔN MĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TIÊN DƯƠNG – ĐÔNG ANH – HÀ NỘI

Em chú ý tên chương không được trùng với tên đề tài và tính phổ quát của chương phải nhỏ hơn đề tài Tên chương 2 của em gần như tên đề tài vì vậy em đơn giản nó đi và tên một chương thì không nên viết tắt mặc dù có trong danh

Trang 7

mục viết tắt danh mục viết tắt và chú ý tên của các mục nhỏ phải kèm với số chương và đứng sau số chương VD: CHƯƠNG 1

1.1 1.1.1 1.1.2 1.2 1.2.1 1.2.2

1 Các HTTCDH ………

1.1 Khái niệm về HTTCDH………

1.2 Một số đặc điểm của HTTCDH ở tiểu học………

1.3 Các HTTCDH Mĩ thuật ở tiểu học………

1.3.1 HTTCDH theo địa điểm………

1.3.1.1 Dạy học trong lớp………

1.3.1.1.1 Tổ chức dạy học chung, HS làm việc theo cá nhân………

1.3.1.1.2 Tổ chức dạy học theo nhóm, HS làm việc theo nhóm…………

1.3.1.2 Dạy học ngoài lớp học………

1.3.1.2.1 Dạy học ngoài thiên nhiên………

1.3.1.2.2 Tham quan………

1.3.2 HTTCDH tích hợp………

1.3.2.1 HTTCDH tích hợp các môn học………

Trang 8

1.3.2.2 HTTCDH tích hợp các hình thức………

1.3.2.3 HTTCDH thông qua trò chơi………

1.3.2.4 HTTCDH kết hợp đồ dùng trực quan hoặc ứng dụng CNTT………

1.3.3 HTTCDH theo từng loại bài………

1.3.3.1 HTTCDH trong loại bài Vẽ theo mẫu………

1.3.3.2 HTTCDH trong loại bài Vẽ trang trí………

1.3.3.3 HTTCDH trong loại bài Vẽ tranh………

1.3.3.4 THTCDH trong loại bài Tập nặn tạo dáng………

1.3.3.5 HTTCDH trong loại bài Thường thức mĩ thuật………

1.4 Một số vấn đề đổi mới HTTCDH ở tiểu học………

1.4.1 Cơ sở của việc đổi mới HTTCDH………

1.4.2 Quan niệm về đổi mới HTTCDH………

1.4.3 Ưu điểm của đổi mới HTTCDH theo hướng tích cực………

1.4.4 Một số HTTCDH tích cực………

2 Các HTTCDH trong môn Mĩ thuật lớp 5 theo các phương pháp truyền thống ở từng loại bài………

2.1 Trong loại bài Vẽ theo mẫu………

2.2 Trong loại bài Vẽ trang trí………

2.3 Trong loại bài Vẽ tranh………

2.4 Trong loại bài Tập nặn tạo dáng………

2.5 Trong loại bài Thường thức mĩ thuật………

Trang 9

3 Đổi mới một số HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS lớp 5 trong

môn Mĩ thuật tại trường tiểu học Tiên Dương………

3.1 Trong loại bài Vẽ theo mẫu………

3.2 Trong loại bài Vẽ trang trí………

3.3 Trong loại bài Vẽ Tranh………

3.4 Trong loại bài Tập nặn tạo dáng………

3.5 Trong loại bài Thường thức Mĩ thuật………

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG GIÁO ÁN GIẢNG DẠY THỬ NGHIỆM THỂ HIỆN VIỆC ĐỔI MỚI HTTCDH NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HS LỚP 5 TRONG MÔN MĨ THUẬT Giáo án thử nghiệm loại bài Vẽ tranh………

Trang 10

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chúng ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Do

đó tất cả các ngành nghề hiện nay đều có sự đổi mới để phù hợp với yêu cầu của

sự phát triển xã hội Trong đó, giáo dục với sản phẩm đặc biệt là con người thìcàng phải đổi mới để tạo ra những con người lao động có trình độ cao, học vấncao, có năng lực, có bản lĩnh, có tư duy và sáng tạo tốt, đáp ứng được mọi yêucầu của cuộc sống hiện đại Đổi mới trong giáo dục phải được hiểu là đổi mớitoàn diện, đổi mới từ mục tiêu, nội dung đến phương pháp và HTTCDH Trong

xu thế đó, sự đổi mới về HTTCDH đang được coi là vấn đề nóng bỏng, mangtính chất thời đại, thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhàquản lý giáo dục cũng như các giáo viên trực tiếp đứng lớp Đổi mới HTTCDHlàm sao phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

Đổi mới phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS phù hợp vớitừng lứa tuổi, từng môn học Cùng với các môn khoa học, xã hội khác, môn Mĩthuật là một môn học cung cấp nhiều các kiến thức, kĩ năng trong các lĩnh vực

Trang 11

tự nhiên cũng như xã hội, giúp cho HS tiếp cận các môn học khác một cách tốthơn và đặc biệt đóng vai trò quan trọng với nhiệm vụ giáo dục thẩm mĩ cho cáccác em Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi hoạt động tổ chức, hướng dẫn của

GV phải hướng tới hoạt động tự chiếm lĩnh kiến thức, tự hình thành kĩ năng họctập của HS, HS phải được chủ động học tập, được bộc lộ mình, được phát huykhả năng tư duy, sáng tạo của bản thân một cách tối đa thông qua hoạt động họctập Mục tiêu này đòi hỏi thầy giáo, cô giáo trong khi tổ chức cho HS học tậpphải sử dụng phối hợp, linh hoạt các HTTCDH có tác dụng phát huy tính chủđộng, tích cực, sáng tạo như: dạy học ngoài thiên nhiên, tham quan, dạy họcthông qua trò chơi học tập…

Tuy nhiên, ở nước ta, cho đến nay môn học Mĩ thuật ở các trường tiểu họcnói chung và trường tiểu học Tiên Dương nói riêng chưa được đầu tư và quantâm đúng mức Chúng tôi muốn đi vào vấn đề này để tìm hiểu cách tổ chức cácHTTCDH trong môn mĩ thuật lớp 5 ở trường tiểu học Tiên Dương- Đông Anh –

Hà Nội Hi vọng rằng qua đó, một mặt góp phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc môn Mĩ thuật của trường, mặt khác phát hiện những cơ sở khoa học gópphần làm sáng tỏ vấn đề đang được các nhà sư phạm quan tâm: “Ở tiểu học nêndạy Mĩ thuật như thế nào?”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Từ trước đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu riêng

về việc dổi mới HTTCDH nhằm mục tiêu phát huy khả năng sáng tạo của HStrong môn Mĩ thuật lớp 5 tại trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội

Vì vậy chúng tôi có thể khẳng định đề tài “Đổi mới HTTCDH nhằm phát huytính sáng tạo cho học sinh lớp 5 trong môn học Mĩ thuật tại trường Tiểu họcTiên Dương- Đông Anh- Hà Nội” là một đề tài hết sức mới mẻ và có tính khảthi trong thực tế rất cao

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu: Đổi mới các HTTCDH trong môn Mĩ thuật nhằm pháthuy tính sáng tạo cho HS

+ Phạm vi nghiên cứu: HS lớp 5 trường tiểu học Tiên Dương- Đông Anh-HàNội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

+ Tìm hiểu cơ sở lý luận về đặc điểm nhận thức, tính sáng tạo và khả năng sángtạo của HS lớp 5

+ Nghiên cứu các HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS lớp 5 trongmôn Mĩ thuật tại trường tiểu học Tiên Dương- Đông Anh- Hà Nội

+ Thiết kế giáo án giảng dạy môn Mĩ thuật lớp 5 minh họa việc vận dụng đổimới các HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS

5 Giả thuyết khoa học

HS lớp 5 trường Tiểu học Tiên Dương - Đông Anh - Hà Nội – lớp cuối củabậc tiểu học, đã thể hiện nhiều sự sáng tạo trong các sản phẩm mĩ thuật của bảnthân Song do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, sáng tạo đó còn mang đậm tính bộcphát, sự phát huy tối đa tiềm năng sáng tạo của bản thân còn chưa cao Nếu cónhững tác động sư phạm đúng mức sẽ giúp phát huy tích cực khả năng sáng tạocủa HS và đó cũng là điều quan trọng để các em có tâm thế hào hứng, say mê,

có những cảm nhận sâu sắc và tinh tế hơn trong việc phát huy và sử dụng khảnăng sáng tạo của mình trong môn Mĩ thuật ở bậc học tiếp theo Góp phần tạodựng định hướng, con đường nghề nghiệp trong tương lai cho các em có tàinăng và niềm yêu thích đặc biệt trong lĩnh vực hội họa

6.Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài chúng tôi thực hiện các phương pháp sau:

Trang 13

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc sách, tạp chí và các công trình nghiêncứu của nhiều tác giả có liên quan đến đề tài nhằm xác định cơ sở lý luận của đềtài và các biện pháp cần thiết để giải quyết vấn đề của đề tài đưa ra.

+ Phương pháp quan sát, dự giờ: Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểunhững biểu hiện có liên quan đến khả năng sáng tạo thể hiện qua sản phẩm mĩthuật (tranh vẽ, xé dán, nặn…) trong các giờ học mĩ thuật trên lớp và trong cáchoạt động sinh hoạt khác ngoài giờ lên lớp của HS Phương pháp này có tácdụng bổ trợ giúp chúng tôi có thêm cơ sở trong việc nhận định mức sáng tạo củatừng HS

+ Phương pháp trò chuyện: Phương pháp này được sử dụng để tạo môi trườngcho chúng tôi gần gũi với các em, trò chuyện để biết thêm và hiểu về những sởthích, sở trường cũng như tài năng của các em Góp phần hỗ trợ trong việc pháthiện những em có năng lực cũng như sự say mê sáng tạo của các em nói chung

và trong môn mĩ thuật nói riêng

+ Phương pháp thực nghiệm: Phương pháp này được sử dụng trong việc soạnmột số giáo án và dạy thực nghiệm theo hình thức mới để kiểm tra kết quả đạtđược khi dạy theo hướng đổi mới HTTCDH

7 Cấu trúc khóa luận

Phần 1: Phần mở đầu

Phần 2: Phần nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

Chương 2: Các HTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS lớp 5 trong môn

Mĩ thuật tại trường tiểu học Tiên Dương – Đông Anh – Hà Nội

Chương 3: Xây dựng giáo án giảng dạy thử nghiệm thể hiện việc đổi mớiHTTCDH nhằm phát huy tính sáng tạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật

Trang 14

Phần 3: Kết luận

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1 Đặc điểm nhận thức của HS lớp 5

1.1 Đặc điểm chú ý

Chú ý là một trạng thái tâm lý của HS giúp HS tập trung vào một hoặc một sốđối tượng để các đối tượng này được phản ánh tốt nhất Chú ý không phải làmột quá trình nhận thức, không tồn tại độc lập mà nó đi kèm các quá trình nhậnthức

Đối với HS lớp 5, chú ý mang những đặc điểm nổi bật:

- Chú ý không chủ định vẫn tiếp tục phát triển ở giai đoạn lớp 5: Những gì mới

lạ, hấp dẫn hoặc có kích thích mạnh vẫn dễ dàng xuất hiện chú ý không chủđịnh ở HS

- Đối với HS lớp 5 (lớp cuối cấp của bậc tiểu học), do yêu cầu của hoạt độnghọc tập, chú ý có chủ định bắt đầu bền vững ở giai đoạn này

- Các thuộc tính chú ý được hình thành và phát triển mạnh: Khối lượng chú ýcủa HS tăng lên, chú ý bắt đầu bền vững, hình thành kĩ năng phân phối chú ý vàbiết chú ý vào nội dung cơ bản của bài học

Trang 15

- Chú ý hướng ra bên ngoài chiếm ưu thế, chú ý hướng vào bên trong còn nonyếu.

1.2 Đặc điểm tri giác

Tri giác là một quá trình nhận thức phản ánh trọn vẹn thuộc tính bề ngoài củađối tượng Mức độ phát triển cao của quan sát là tri giác Nhờ có tri giác mà HSmới phân biệt được các đối tượng, sự vật của các môn học Tri giác cung cấpnhững số liệu, dữ kiện để HS tư duy, từ đó mà phát hiện bản chất đối tượng.Tới giai đoạn lớp 5, tri giác của các em mang những điểm khác biệt so với cáclớp dưới:

- Mang tính không chủ định: Các em chỉ biết nhìn mà chưa biết cách quan sát,phụ thuộc vào chính đối tượng được tri giác, đượm màu sắc xúc cảm

- Mang tính tập thể: HS quen nhìn tổng thể sự vật, ít đi sâu vào các thành phầntri thức của sự vật Các thao tác tư duy – đặc biệt là thao tác phân tích đang hìnhthành nhưng còn non yếu Đến giai đoạn cuối tiểu học tri giác phân tích đượcphát triển mạnh nghĩa là HS bắt đầu biết quan sát các thành phần, đặc điểm, đặctrưng của sự vật

- Gắn liền với hành động vật chất: Đối tượng được HS hành động trực tiếp (sờ

mó, ngửi hít, ngắm nhìn, thử nếm…) thì tri giác đầy đủ hơn

- Thể hiện rõ tính cảm xúc: Những sự vật, hiện tượng tạo ra tính xúc cảm thì HStri giác tốt hơn

- Các loại tri giác phát triển mạnh (Tri giác của các em phát triển dưới ảnhhưởng của hoạt động học tập): Càng ngày càng có khả năng quan sát tinh tế hơn

để tìm ra những dấu hiệu đặc trưng cho sự vật hiện tượng, biết tìm ra các sắcthái của các chi tiết, có mục đích và phương hướng rõ ràng HS đã tri giác đượcnhững vật có kích thước lớn, phức tạp, trừu tượng

Trang 16

1.3 Đặc điểm trí nhớ

Trí nhớ là quá trình ghi lại, giữ lại những kiến thức, cách thức tiến hành học tập

để có thể tái hiện vào vận dụng trong những tình huống khi cần

Các đặc điểm về trí nhớ của các em HS lớp 5 được thể hiện:

- Trí nhớ không chủ định vẫn tiếp tục phát triển: Những đối tượng mới lạ, hấpdẫn thì HS dễ dàng ghi nhớ không chủ định Các em dễ nhớ và nhớ lâu những gìlàm cho các em xúc cảm mạnh như ngạc nhiên, thích thú, tò mò hay sợ hãi

- Trí nhớ có chủ định được phát triển mạnh: HS sử dụng phương pháp ghi nhớmáy móc và ghi nhớ logic để ghi nhớ đối tượng và tri thức đáp ứng yêu cầungày càng cao của quá trình học tập

- Trí nhớ ngắn hạn tiếp tục phát triển; trí nhớ dài hạn bắt đầu bền vững

- Trí nhớ trực quan – hình ảnh phát triển tốt hơn trí nhớ từ ngữ - trừu tượng: HSghi nhớ nội dung bài học kèm theo tranh ảnh sẽ tốt hơn là các tài liệu ngôn từ

1.4 Đặc điểm tư duy

Tư duy là quá trình nhận thức giúp HS tiếp thu được, phản ánh được bản chấtcủa đối tượng học tập mà trước đó học được

Giai đoạn lớp 5, một số thao tác tư duy đã tiến lên một bậc so với các lớp dưới:

- Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục phát triển: HS tiếp thu khái niệm mới phải dựa vàovật thật hoặc các hình ảnh trực quan

- Tư duy trừu tượng đang dần chiếm ưu thế: HS sử dụng các khái niệm đượcthay thế bằng kí hiệu quy ước để tiếp thu khái niệm mới

- Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành cấu trúc tương đối hoàn chỉnh

Trang 17

- Bước đầu biết khái quát hóa đối tượng, biết phán đoán và suy luận: HS biếtchấp nhận những giả thiết không thực, không chỉ xác lập được từ nguyên nhânđến kết quả mà còn xác lập được từ kết quả ra nguyên nhân.

1.5 Đặc điểm tưởng tượng

Tưởng tượng là một quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa từng có trongkinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sởnhững biểu tượng đã có

Tưởng tượng của các em lứa tuổi lớp 5 mang những đặc trưng rõ nét:

- Hình ảnh của tưởng tượng hoàn chỉnh hơn về logic và kết cấu: Nếu đối với HSlớp dưới, hình ảnh tưởng tượng của các em còn nghèo nàn, tản mạn, thì đến giaiđoạn này, hình ảnh trở nên trọn vẹn hơn bởi số lượng chi tiết nhiều hơn và sựsắp xếp chúng cũng chặt chẽ hơn Các yếu tố, chi tiết thừa trong hình ảnh giảm

đi và hình ảnh ngày càng được gọt giũa hơn, tinh giản hơn, mạch lạc và sát thựchơn

- Tính trực quan trong hình ảnh tưởng tượng không cần cao như ở lứa tuổi đầutiểu học: Hình ảnh tưởng tượng của các em không cần xây dựng dựa trên nhữngđối tượng cụ thể (tranh, truyện…) mà đã được phát triển trên cơ sở của ngôn từ.Điều này cho phép trẻ xây dựng hình ảnh mới một cách sáng tạo, bằng cách cảitạo, chế biến những ấn tượng cũ và kết hợp chúng lại thành những tổ hợp mớimẻ

- Tưởng tượng của các em được phát triển, phong phú hơn và có sự quyện chặtgiữa tưởng tượng phóng khoáng với hiện thực

2 Khái quát chung về tính sáng tạo (Phần này em có thể đổi lại tên đề mục mang tính trọng tâm của đề tài hơn VD: Tính sáng tạo và đặc điểm tâm lý sáng tạo của trẻ em (HS tiểu học)

Trang 18

2.1 Các quan điểm về khái niệm “Sáng tạo”

Khái niệm “Sáng tạo” đã được định nghĩa ở những cấp độ, mức độ và góc độkhác nhau bởi các nhà chuyên môn của nhân loại

- Theo quan điểm xuất phát từ tiếng Latin, “Sáng tạo” – “Creatio” về cơ bảnchỉ gắn với những hành động của Chúa Nhưng sau đó, trong thời đại La Mã,khi con người lần đầu tiên nhận ra khả năng riêng của họ là có thể sáng tạo ramột cái gì đó mới từ một cái đã tồn tại, từ đó “Sáng tạo” được sử dụng để miêu

tả thành tích của con người

- Theo các nhà chuyên môn của Pháp thì cho rằng: “Sáng tạo” (tiếng Pháp:Créer, creation) thường được dùng trong Thần Học, Đạo Học và Hữu Thể học,

có nghĩa: Làm cho một thứ gì từ cái “không gì cả” trở thành “hiện hữu”

- Theo định nghĩa của tác giả Hoàng Phê (chủ biên) trong cuốn “Từ điển tiếngViệt” có định nghĩa:

+“Sáng tạo” (động từ) có nghĩa là “tạo ra những giá trị mới về vật chấthoặc tinh thần” Ví dụ: Sáng tạo ra chữ viết, sáng tạo nghệ thuật

+ “Sáng tạo” (tính từ) có nghĩa là “có cách giải quyết mới, không bị gò bó,phụ thuộc vào cái đã có” Ví dụ: Óc sáng tạo, vận dụng một cách sáng tạo

- Theo giáo trình “Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật” của tác giảNguyễn Quốc Toản (chủ biên) thì “Sáng tạo được định nghĩa “là khả năng sảnsinh những ý thưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với từng hoàn cảnh”

- “Tính sáng tạo” hay “Sáng tạo tính” hay “Óc sáng tạo” là khả năng được xem

là có tính chất sáng tạo trong mọi công trình của con người đã tạo tác nên những

gì “mới hơn” so với những cái “cũ” hoặc “mới mẻ” vì chưa có trước đấy Đấy làkhuynh hướng, là khả năng của con người hướng về sáng tạo do thôi thúc pháttriển của trí tuệ trong mọi công trình khám phá thiên nhiên cùng khám phá con

Trang 19

người để mỗi hiểu biết, mỗi việc làm, mỗi hành động… được nâng cao, được

mở rộng, được phong phú và tốt đẹp hơn Và, trên vũ trụ này, chỉ riêng conngười mới có “Tính sáng tạo” hay “Óc sáng tạo”

- Giản dị nhất, “Tính sáng tạo” được định nghĩa là một ý tưởng mới, phù hợpvới thời đại và không gian sinh ra nó, và ý tưởng đó mang lại giá trị

2.2 Vai trò tính sáng tạo đối với con người trong cuộc sống nói chung

- Trong cuộc sống đang thay đổi từng ngày này, thành công không còn chỉ làvấn đề chăm chỉ mà đòi hỏi kỹ năng tư duy sáng tạo để mang lại những cải tiếntối đa về liên tục về chất lượng và hiệu quả bằng những giải pháp đột phá Sứcsáng tạo là yếu tố quyết định nhất đối với sự thành công trong một thế giới đầythử thách và cạnh tranh ngày càng gay gắt Sức sáng tạo sẽ tạo ra bước nhảy vọttrong sự nghiệp cua con người Đó là yếu tố định hình mỗi cá nhân

- Tính sáng tạo trở thành yếu tố quan trọng nhất, có giá trị nhất đối với năng lựccủa con người Sáng tạo càng độc đáo, giá trị càng cao và cơ hội thành côngcàng lớn Nếu trước kia người ta chú trọng đến sở hữu vật chất là chính thì ngàynay sở hữu trí tuệ là nguồn tài sản ngày càng được chú trọng

- Người có tâm hồn sáng tạo luôn lạc quan, vui vẻ Thái độ lạc quan giúp sángtạo thêm linh hoạt, tích cực sáng tạo trở thành những hoạt động hàng ngày,được vui thú với công việc của mình thì con người sẽ làm việc tốt hơn

- Tính sáng tạo còn giúp con người trở nên tự tin, can đảm, không khuất phụcnhững thành kiến, không sợ hãi khi phải từ bỏ lối mòn quen thuộc để khám phánhững con đường mới Tin điều không thể là hoàn toàn có thể, kiên trì với lýtưởng bản thân để phá vỡ hình thức cũ, dựng lên cột mốc mới

- Tính sáng tạo giúp tâm hồn con người ta luôn tươi mới, thúc đẩy sự tò mò,khuyến khích sự tự tin vào khả năng tiềm ẩn của bản thân, giúp con ngườikhông e dè, sẵn sàng làm những điều chưa bao giờ làm, chưa bao giờ thích nên

Trang 20

có thể thấy được điều kỳ diệu của những sự việc mà ta cho là bình thường, hiểnnhiên

2.3 Tâm lý sáng tạo của trẻ em

2.3.1 Tâm lý sáng tạo của trẻ em

- Ngay từ khi mới sinh ra thì trẻ nhỏ đã chứng tỏ mình có rất nhiều tiềm năng

trong mọi lĩnh vực Chúng ta đều biết mỗi đứa trẻ thông minh ở mức độ khácnhau, mức độ sáng tạo khác nhau và những điều này được hình thành và pháttriển theo từng giai đoạn Do vậy, cần phải căn cứ vào tính chất mỗi giai đoạnphát triển mà người lớn chúng ta nói chung và các nhà sư phạm nói riêng đưa racác lựa chọn về hình thức khơi dậy phù hợp giúp phát triển tiềm năng sáng tạocủa trẻ

- Đối với trẻ em lứa tuổi tiểu học, đây là giai đoạn trẻ được phát huy tính sángtạo cũng như trí tưởng tượng một cách tự nhiên nhất Trẻ thường có những pháthiện rất lý thú mà nhiều khi làm cho người lớn chúng ta phải ngỡ ngàng Trẻ cóthể biểu hiện sự “sáng tạo” của bản thân ở khắp mọi nơi, trên lớp học, khi ởnhà, lúc đi chơi, khi nói chuyện với bạn bè, vv… Đôi khi, còn đưa ra những câuhỏi “hóc búa”

- Trẻ rất hay tò mò, muốn khám phá mọi thứ xung quanh mình Cho nên trẻkhông ngừng đi tìm lời giải đáp cho những tò mò ấy, và trong quá trình đi tìmcâu trả lời cho vấn đề ban đầu, trẻ lại phát hiện, tìm tòi ra những điều mới lạ, lýthú khác

- Trẻ rất hay bắt chước người khác trong mọi lời nói và hành động Bắt chước làmột con đường ngắn nhất để hướng tới kết quả Tuy nhiên, sự bắt chước ở trẻnhỏ không đơn thuần là sao chép, là làm giống hệt, mà ở trẻ có sự “cách điệu”riêng mang đậm “màu sắc trẻ thơ” tạo nên những điều mới mẻ thú vị khôngngờ

Trang 21

- Trẻ luôn muốn mình là trung tâm chú ý của mọi người, chính vì vậy, trẻ luônnghĩ ra những điều gây sự chú ý Chính suy nghĩ này là một trong các nhân tốgiúp cái “nụ” sáng tạo tiềm ẩn bên trong trẻ có cơ hội “trổ bông”.

- Hầu như tất cả mọi trẻ em đều có chung một “bản năng” – đó là hiếu động vànghịch ngợm Sự bướng bỉnh của trẻ, ở một góc độ nào đó, cần phải hạn chếbằng những biện pháp sư phạm can thiệp kịp thời Nhưng đôi khi, chính điều

mà người lớn chúng ta lo ngại lại là một nhân tố giúp “ngọn lửa sáng tạo” trongtrẻ có cơ hội được “bùng cháy”

2.3.2 Tâm lý sáng tạo của trẻ em trong môn học Mĩ thuật

- Có thể nói, môn Mĩ thuật là môn học yêu cầu và đòi hỏi trẻ có sự sáng tạo cao

nhất trong các môn học cả về ý tưởng và cách trình bày ý tưởng Sự sáng tạotrong môn Mĩ thuật thể hiện bằng sản phẩm mĩ thuật của các em – đó là đườngnét, màu sắc, bố cục, hình ảnh,vv…có trong các bức tranh, hình nặn…do chínhcác em làm ra; hoặc đôi khi, sự sáng tạo còn chính là một ý tưởng, một thôngđiệp nào đó các em muốn bày tỏ mà ngôn ngữ nói và viết thông thường khôngthể diễn đạt được hết

- Cũng mang tâm lý sáng tạo chung của trẻ em trong các lĩnh vực khác, trongmôn Mĩ thuật, các em (đặc biệt các em lứa tuổi tiểu học) dùng hình ảnh, đườngnét, hình mảng, màu sắc để thể hiện sự sáng tạo của bản thân mang đậm đặcđiểm của lứa tuổi mình

Em chú ý các khái niệm Tính sáng tạo, Tâm lý sáng tạo, khả năng sáng tạo

Tính sáng tạo: Như phần trình bày khái niệm trên của em có thể tổng hợp lại

khái niệm TST là thuộc tính cá nhân được thể hiện ở hoạt động tâm lý, hoạt động thể chất và hoạt động thực tiễn (lao động), có những chứng minh quan sát được, như:

- Thái độ sáng tạo

- Tư duy và tưởng tượng ra sáng tạo

- Hành động sáng tạo

Trang 22

Như vậy Tính sáng tạo có tính phổ quát và rõ nhất, Tâm lý sáng tạo (chính là

thái độ sáng tạo: VD: Hứng thú, say mê quan sát ,say mê khám phá, luôn có tư

duy phân tích, phản biện, …) nằm trong tính sáng tạo Phần 3 Khả năng sáng tạo là cái có thể hoặc không thể xảy ra, vì vậy khả năng là thứ không thể tổng

kết, đánh giá được và chúng ta cũng không biết đến mức độ nào thì gọi là khảnăng sáng tạo Như vậy em nên cân nhắc và sửa tên đề mục cho đúng trọng tâmnghiên cứu của đề tài “ Tính sáng tạo …”

3 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5

3.1 Vai trò tính sáng tạo đối với HS lớp 5

3.1.1 Đối với HS lớp 5 trong hoạt động học tập

Sáng tạo có vai trò rất lớn trong hoạt động học tập của HS tiểu học nói chung và

HS lớp 5 nói riêng trên con đường chinh phục tri thức, học tập và đúc rút kinhnghiệm bản thân:

- HS có tính sáng tạo luôn có động lực muốn tìm tòi, hiểu biết mọi thứ xungquanh, học tập và lao động một cách tích cực

- Sáng tạo của các em đôi khi sẽ giúp các em tìm ra được những phương phápmới, con đường mới để tiếp cận tri thức một cách tối ưu và hiệu quả hơn

- Sáng tạo đi cùng tưởng tượng phong phú của các em sẽ là nguồn sáng tác vôcùng lớn để tạo ra những điều độc đáo, mới lạ, hấp dẫn và mang lợi ích

3.1.2 Đối với HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật

Cũng như đối với hoạt động học tập nói chúng, các môn khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hộ khác, tính sáng tạo có vai trò rất lớn đối với các em HS lớp 5trong môn Mĩ thuật:

- Sáng tạo giúp các em suy nghĩ và có những ý tưởng mới lạ, độc đáo khi đứngtrước một đề tài nào đó

- Các em có thể sử dụng sự sáng tạo của bản thân để tạo dựng, sắp xếp hình ảnh,hình mảng, bố cục, màu sắc, đối tượng, vv… theo ý tưởng của riêng mình

Trang 23

3.2 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5

3.2.1 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5 trong hoạt động học tập

Lớp 5 là giai đoạn cuối bậc tiểu học, so với HS ở các lớp đầu tiểu học như lớp

1, 2, 3 thì khả năng sáng tạo của các em trong học tập đã phong phú hơn, pháttriển hơn Hoạt động nhận thức của HS ngày càng được nâng cao thể hiện ởnhiều quá trình khác nhau như tri giác, cảm giác, tư duy, tưởng tượng, chú ý.Đối với HS lớp 5 các quá trình cảm giác, tri giác, chú ý, tượng tượng, tư duy đãphát triển Trong học tập, các em đã mạnh dạn sáng tạo, tìm tòi ra các cách giảikhác nhau cho một bài toán hay sáng tạo ra câu truyện theo ý kể của mình trongcác giờ kể chuyện, sử dụng các từ ngữ hay trình tự miêu tả sáng tạo nhưng vẫnđảm bảo đúng nội dung trong các bài văn miêu tả, vv… Chú ý có chủ định dầnphát triển, các em không chỉ chú đến những cái mới lạ mà còn biết chú ý đểphân tích, tìm hiểu được chi tiết đối tượng Trí tưởng tượng của các em phongphú hơn, không còn bị rập khuôn hay máy móc theo cách hướng dẫn của GV.Các em đã biết tìm tòi để sáng tạo ra những cách làm mới đơn giản hơn, nhanhhơn, những nội dung mới sinh động hơn, gần gũi hơn HS lớp 5 động lực họctập của các em đã rõ ràng hơn, các em học tập không chỉ đơn giản để được thầy

cô, bố mẹ khen mà các em đã biết học tập để khẳng định mình Các em đã biếtsuy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo để tìm ra hướng làm mới nhanh, nội dung hấp dẫn vàquan trọng là khác với các bạn trong lớp Nhờ khả năng tri giác, tư duy, tượngtượng… phát triển hơn nên các em tin tưởng vào khả năng sáng tạo của mình,tin rằng mình sẽ làm được từ đó các em mạnh dạn sáng tạo trong học tập, mạnhdạn thể hiện ý tưởng của mình

Tuy nhiên do đặc điểm nhận thức chưa toàn diện và tư duy chưa thực sự pháttriển nên khả năng sáng tạo của các em HS lứa tuổi lớp 5 còn nhiều hạn chế vìvậy các thầy cô giáo cũng như phụ huynh HS cần chú ý tạo điều kiện, động viên

Trang 24

và tạo niềm tin cho các em để các em có điều kiện để phát huy tính sáng tạo củamình.

3.2.2 Khả năng sáng tạo của HS lớp 5 trong môn học Mĩ thuật

HS lớp 5 là lớp cuối của bậc tiểu học Trí tưởng tượng và trí nhớ trực quan củacác em đã dần dần phát triển, bước đầu hình thành tư duy có phân tích Các emquan sát có chủ định tập trung, nhận thức phong phú đã tạo cơ sở diễn tả đượcnhững gì trẻ thấy và những gì trẻ thích thú Trẻ đã có ý thức hướng về đề tàinhất định và vẽ rất hồn nhiên, sinh động mang tính chất tưởng tượng cao vềnhững ước mơ trong sáng, bay bổng So với HS đầu cấp tiểu học khả năng sángtạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật đã phát triển hơn Về bố cục các em đã có

sự sáng tạo, sắp xếp bố cục chặt chẽ, có mảng chính, mảng phụ, hình vẽ to, nhỏ,trước, sau che khuất nhau nhiều hơn chứ không dàn hàng ngang như lớp 1, 2, 3.Ngoài các chi tiết chính mà giáo viên gợi ý, các em còn có nhiều chi tiết phụphù hợp với nội dung đề tài, sát với thực tế cuộc sống, nội dung tranh phongphú đa dạng Về hình mảng, hình vẽ trong tranh đã phức tạp dần, không cònđơn điệu Về màu sắc các em có nhiều sáng tạo trong việc phối hợp các màu,màu sắc tranh tươi sáng, đặc biệt các em đã mạnh dạn sử dụng các màu đậmnhư đen, nâu Biết pha trộn màu, chồng màu làm cho bài vẽ sáng tạo hơn, sinhđộng hơn Nội dung tranh phong phú, các em vẽ bằng cảm xúc nhiều hơn trítuệ, mang tính hồn nhiên trong sáng, không gò bó về nội dung nhưng vẫn đảmbảo đúng yêu cầu Các em thường vẽ những gì chúng thấy, chúng tư duy vàtưởng tượng nên bài vẽ của các em rất sáng tạo, ngộ nghĩnh và hồn nhiên

3.3 Những biểu hiện về tính sáng tạo của HS lớp 5 trong môn Mĩ thuật

Cho tới giai đoạn lớp 5, các em HS hầu như phát triển về mọi mặt, tạo điều kiệnthuận lợi cho các em học môn Mĩ thuật, thể hiện ở: Cầm bút vẽ đúng, dễ dànghơn, hoạt động của các khớp linh hoạt, thần kinh tương đối vững vàng, giúp choviệc điều khiển nét vẽ, hình vẽ theo ý muốn Các em đã quan sát có chủ định,

Trang 25

tập trung, có ý thức học tập hơn, nhận thức phong phú, tạo cơ sở cho các emdiễn tả được những gì mình thấy và thích thú Nét vẽ đã mạch lạc hơn, rõ rànghơn Hình vẽ nhiều về số lượng, có các chi tiết làm rõ đối tượng, nhiều dáng vẻ

và thực hơn – gần với mẫu, khác với cách diễn tả chung chung ở các độ tuổidưới Màu sắc tươi sáng, đặc biệt là các em đã mạnh dạn dùng các màu đậm:đen, nâu và biết pha màu, chồng màu làm cho bài vẽ đẹp hơn, khác với vẻ rực

rỡ có phần lòe loẹt của các lớp dưới Bố cục bài vẽ chặt chẽ, hình vẽ to, nhỏ,trước, sau che khuất nhau đã xuất hiện, có nhiều chi tiết phù hợp với đối tượng

và đề tài, sát với thực tế cuộc sống hơn

Ngoài những đặc điểm chung theo sự phát triển của lứa tuổi, sự sáng tạo của các

em trong từng bài vẽ thể hiện rõ nét qua:

- Ý tưởng: HS có những bức vẽ thể hiện những ý tưởng mới lạ chưa từng xuất

hiện hoặc thể hiện bằng hình vẽ về các chủ đề đã cho theo một cách độc đáohơn tất cả các bạn khác

- Bố cục: Đôi khi, thoạt nhìn ta có thể thấy bố cục sắp xếp mà các em thể hiện

trong bức vẽ là vô lý Nhưng xét về một góc độ nào đó, chính sự vô lý đó lại làmột sự sắp xếp chứa đựng dụng ý nghệ thuật cao ( Viết sâu hơn và rõ nghĩahơn đoạn này, em viết như trên chính là em đưa ra một luận điểm khoa học về

sự sáng tạo trong sắp xếp bố cục nhưng em chưa giải thích và đưa ra dẫn chứngcho luận điểm đó mà đã kết luận Trong trường hợp về bố cục trẻ thường sắpxếp theo những gì chúng nhìn thấy, cảm thấy và những hình tượng được sắp xếp

đó thường có mối liên hệ hữu cơ trong tư duy thông thường của trẻ VD: Cá,thuyền thì gắn với nước; mây, mặt trăng, mặt trời thì gắn với bầu trời, vv…Những bố cục lạ sẽ xảy ra 2 trường hợp: 1 là như em kết luận (sáng tạo), 2 là

ngây ngô Chú ý tính nghệ thuật trong tác phẩm của trẻ không nên nhắc đến vì

với độ tuổi nhỏ (kể cả tranh thiếu nhi đoạt giải quốc tế) trẻ thường không chú ý

Trang 26

đến tính nghệ thuật chính vì vậy các tác phẩm của trẻ thường trong sáng hồn

nhiên không bị ám ảnh bởi cái gọi là nghệ thuật của người lớn)

- Hình mảng: Thêm vào các chi tiết hoặc lược bớt đi các chi tiết về đặc điểm

của đối tượng so với mẫu, tạo nên cái “hồn” riêng của bức vẽ

- Đường nét: Có những phá cách mới lạ, độc đáo, gây ấn tượng.

- Màu sắc: Ngoài cách sử dụng màu sắc thông thường (đó là tô màu kín bức

tranh) các em hướng tới thể hiện màu sắc theo trạng thái tình cảm, theo cảmcảm xúc, cảm nhận riêng của bản thân, đôi khi còn sử dụng hàng loạt các màu

“kị nhau” trong cùng một hình vẽ, một bức vẽ

4 Nội dung chương trình môn Mĩ thuật lớp 5

4.1 Đặc điểm bộ môn Mĩ thuật lớp 5

- Là một môn học độc lập: Giống như các môn khoa học tự nhiên và khoa học

xã hội khác, môn Mĩ thuật lớp 5 cũng là một môn học độc lập, không dạy kèm,không lồng ghép vào môn nào khác

- Được kết cấu theo hướng đồng tâm: Kiến thức cơ bản được lặp đi lặp lạinhưng nâng cao dần qua các bài tập ở các lớp, các cấp học, vì thế vừa có tính kếthừa, vừa có tính nâng cao

4.2 Nội dung chương trình môn Mĩ thuật lớp 5

So với chương trình cũ thì chương trình mới có sự thay đổi ở các loại bài như :

“Vẽ trang trí” giảm từ 10 tiết còn 9 tiết, “Vẽ tranh” tăng từ 8 tiết lên 9 tiết,

“Tập nặn và tạo dáng tự do” tăng từ 2 tiết lên 4 tiết, riêng phân môn “Vẽ theomẫu” (8 tiết) và “Thường thức mĩ thuật” (4 tiết) giữ nguyên Nội dung của cácloại bài này được sắp xếp đan xen nhau phân bố đều trong 35 tuần của năm học,bao gồm:

Trang 27

- “Vẽ theo mẫu”: Hướng dẫn HS vẽ mẫu có cấu trúc phức tạp, vẽ mẫu có hai đồvật Gồm các bài:

+ Khối hộp và khối cầu

+Mẫu vẽ có dạng hình trụ và hình cầu

+Mẫu vẽ có hai vật mẫu (2 bài)

+ Mẫu vẽ có hai hoặc ba vật mẫu (3 bài)

+ Vẽ tĩnh vật (vẽ màu)

- “Vẽ trang trí”: Hướng dẫn HS vẽ những bài tập sáng tạo về bố cục và họa tiếtmột cách đơn giản Gồm các bài:

+ Màu sắc trong trang trí

+ Vẽ họa tiết trang trí đối xứng qua trục

+ Trang trí đối xứng qua trục

+ Trang trí đường diềm ở đồ vật

+ Trang trí hình chữ nhật

+ Tìm hiểu về kiểu chữ in hoa nét thanh nét đậm

+ Tập kẻ kiểu chữ in hoa nét thanh nét đậm

+Trang trí đầu báo tường

Trang trí cổng trại hoặc lều trại thiếu nhi

- “Vẽ tranh”: Hướng dẫn HS thể hiện cảm nhận của mình qua các bài vẽ vềnhững đề tài: sinh hoạt, lễ hội, phong cảnh hoặc vẽ chân dung, tĩnh vật và vẽ tự

do Gồm các bài:

+ Đề tài Trường em

+ Đề tài An toàn giao thông

+ Đề tài Ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11

+ Đề tài Quân đội

+ Đề tài Ngày Tết, lễ hội và mùa xuân

Trang 28

+ Đề tài tự chọn

+ Đề tài Môi trường

+ Đề tài Ước mơ của em

+ Đề tài Ngày hội

-“Thường thức mĩ thuật”: Hướng dẫn HS tìm hiểu và cảm nhận một số tác phẩmnghệ thuật và một số tranh thiếu nhi trong nước nổi tiếng Gồm các bài:

+ Xem tranh Thiếu nữ bên hoa huệ

+ Giới thiệu sơ lược về điêu khắc cổ Việt Nam

+ Xem tranh Du kích tập bắn

+ Xem tranh Bác Hồ đi công tác

- Một tiết “Tổng kết năm học” với nội dung “Trưng bày các bài vẽ, bài nặn đẹp” Nội dung chương trình này là phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm nhận thức, tư duycủa các em

4.3 Việc thực hiện giảng dạy nội dung chương trình Mĩ thuật lớp 5 của trường Tiểu học Tiên Dương-Đông Anh-Hà Nội

- Trường tiểu học Tiên Dương là một trường chuẩn quốc gia đang thực hiệnchuẩn giai đoạn 2 nên cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có các phòng chức năngnhư: phòng giáo dục Mĩ Thuật, phòng Tin học, phòng Truyền thống, phòng giáodục Âm nhạc, nhà đa năng Bởi vậy, việc giảng dạy nói chung và môn Mĩ thuậtnói riêng có thuận lợi hơn

Trang 29

- Cũng như các môn học khác, môn Mĩ thuật cũng là một môn học được chútrọng trong tất cả các khối lớp ở trường tiểu học Tiên Dương Đối với khối lớp

5, mỗi tuần các em có một giờ (khoảng 35 – 40 phút) học Mĩ thuật trên lớp Mộtnăm các em được học đầy đủ 35 đơn vị bài phân bố trong 35 tuần học.Tronggiờ học này, các em được làm quen, tìm hiểu và thực hành vẽ dưới nhiều hìnhthức : có thể nặn hình khối trong tiết học “tập nặn và tạo dáng”, có thể vẽ tranh(tự do hoặc theo đề tài) trong tiết học “Vẽ tranh”, vẽ trang trí trong tiết học “Vẽtrang trí”, hoặc tìm hiểu về các kiến thức có liên quan đến hội họa trong tiết học

“Thường thức mĩ thuật”

Em chú ý viết lại số thứ tự các mục và trong mục 4 nhỏ em nên giới thiệu qua về hình thức dạy mĩ thuật trong chương trình mĩ thuật nói chung và trường tiểu học em nghiên cứu nói riêng Em chỉ viết qua một ít thôi nhé, lồng ghép vào trong mục trên chứ không tách

ra thành mục riêng mục đích là hướng trọng tâm vào để tài và dẫn cho chương 2 VD: Tiên Dương là một trường chuẩn quốc gia đang thực hiện

chuẩn giai đoạn 2 nên cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có các phòng chức năngnhư: phòng giáo dục Mĩ Thuật, phòng Tin học, phòng Truyền thống, phòng giáodục Âm nhạc, nhà đa năng Bởi vậy, việc giảng dạy nói chung và môn Mĩ thuật

nói riêng có thuận lợi hơn Tuy nhiên thực tế các HTDHMT vẫn giống các môn học khác chưa có sự đổi mới phù hợp loại bài và tận dụng ưu thế của phòng học chuyên biệt (hoặc đây là điều kiện tốt để giáo viên phát huy, đổi mới HTDHMT đem lại kết quả khả quan cho môn học vv…)

Trang 30

CHƯƠNG II: CÁC HTTCDH NHẰM PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CHO HS LỚP 5 TRONG MÔN MĨ THUẬT TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC TIÊN DƯƠNG- ĐÔNG ANH- HÀ NỘI

1 Các HTTCD

1.1 Khái niệm về HTTCDH

HTTCDH là tổ chức quá trình hoạt động dạy học của GV và hoạt động học tậpcủa HS theo một trật tự và chế độ nhất định nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạyhọc

1.2 Một số đặc điểm của HTTCDH ở tiểu học

Bài - lớp luôn là HTTCDH cơ bản và được sử dụng khá phổ biến trong

trường học ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Đây là HTTCDHđược tiến hành theo những đơn vị kiến thức nhất định được gọi là “bài” trongSGK, được tổ chức trong lớp học với toàn thể HS HTTCDH này có ưu điểm làtạo điều kiện cho GV có thể áp dụng các phương pháp dạy học để truyền đạtđến đại đa số HS trong lớp học một lượng kiến thức tương đối hệ thống trongkhoảng thời gian ngắn

Tuy nhiên HTTCDH này có nhược điểm là GV khó áp dụng các phương phápdạy học mà trong đó các em HS được hoạt động và tích cực chủ động khám phákiến thức Vì vậy, các em thường tiếp thu kiến thức một cách thụ động, kiếnthức thu được không bền vững và khó hình thành kĩ năng, hành vi cho HS.Ngoài ra việc học tập trong bốn bức tường ngăn cách với môi trường bên ngoàilàm cho nội dung học tập ít gắn liền với thực tế, hạn chế cơ hội quan sát các sựvật, hiện tượng trong môi trường tự nhiên và xã hội bao quanh Hơn nữa việcdạy học với toàn lớp HS làm cho GV khó hướng dẫn, bồi dưỡng cho các em khágiỏi hay giúp đỡ các em có nhận thức chậm hơn, vv…

Trang 31

Để khắc phục nhược điểm nêu trên của HTTCDH bài – lớp, các HTTCDHmới được hình thành trên cơ sở cải tiến những khía cạnh làm hạn chế hiệu quảdạy học của HTTCDH này.

1.3 Các HTTCDH môn Mĩ thuật ở tiểu học

1.3.1 HTTCDH theo địa điểm

1.3.1.1 Dạy học trong lớp

1.3.1.1.1 Tổ chức dạy học chung, học sinh làm việc theo cá nhân

Nhiều mục quá, phần này em có thể bỏ tên HTTCDH theo địa điểm vì đây là

cách phân loại tên gọi HTTCDHMT còn khi viết nội dung thì nó nằm ở hình

thức Dạy học trong lớp, dạy ngoài lớp,…

Dạy học cả lớp là HTTCDH mà đối tượng tiếp nhận kiến thức là toàn bộ HStrong lớp học Theo HTTCDH này, hoạt động trong giờ học chủ yếu là GV, HSlàm việc ít và tiếp thu kiến thức một cách thụ động

HTTCDH này giúp GV có điều kiện cung cấp lượng thông tin nhiều hơn, đốitượng tiếp nhận thông tin là HS cũng lớn hơn Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi

để GV truyền thụ thông tin một cách hệ thống, lô gíc

HS làm việc theo cá nhân trên nguyên tắc bình đẳng để mỗi HS có thể pháttriển theo năng lực và sở trường của mình Tuy nhiên, hiệu quả không mongmuốn của phương pháp này đó chính là sự tiếp thu hoàn toàn thụ động của HS,không phát huy được hoạt động tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh và có thểgây tâm lý nhàm chán, mệt mỏi cho người học

1.3.1.1.2 Tổ chức dạy theo nhóm, học sinh học theo nhóm

Dạy học theo nhóm là HTTCDH hợp tác, qua đó HS được tổ chức để chia sẻnhững hiểu biết của mình và đối chiếu sự hiểu biết của mình với bạn học.HTTCDH này khai thác được trí tuệ của tập thể HS, đồng thời HS được rènluyện thông qua hoạt động tập thể

Trang 32

Dạy học theo nhóm cho phép HS có nhiều cơ hội khám phá và truyền đạtthông tin theo ý tưởng sáng tạo của bản thân; tạo điều kiện cho việc thu nhậnthông tin của HS có cơ sở và độ tin cậy cao; phát triển kĩ năng giao tiếp, hợp tác

và phối hợp làm việc với bạn khác; đồng thời, giúp GV có điều kiện tập trungquan sát, theo dõi hoạt động của từng HS, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các emtrong khi tiến hành hoạt động nhóm

Khi tiến hành hình thức dạy học này GV cần có sự bao quát lớp hết sức chặtchẽ, cần chọn được nội dung hoạt động nhóm phù hợp, chia nhóm HS phù hợp

và hoạt động theo nguyên tắc và yêu cầu cần thiết

1.3.1.2 Dạy học ngoài lớp học

1.3.1.2.1 Dạy học ngoài thiên nhiên

Dạy học ngoài thiên nhiên là HTTCDH sinh động, gây hứng thú cho HS.Thông qua việc quan sát thiên nhiên, HS thêm yêu quý, có ý thức bảo vệ thiênnhiên, bảo vệ môi trường sống Các bài học ngoài thiên nhiên giúp HS đượcquan sát trực tiếp các đối tượng học tập mà không có loại đồ dùng dạy học, hoặclời miêu tả nào của GV có thể sánh được về mặt trực quan, từ đó hình thành chocác em biểu tượng cụ thể, sinh động về thế giới tự nhiên-xã hội xung quanh Khi tiến hành tổ chức hình thức dạy học này GV cần có sự tìm hiểu kĩ lưỡng

về địa điểm quan sát (gần trường, phù hợp với nội dung bài học, đảm bảo antoàn cho HS, vv…), chuẩn bị kế hoạch tiến hành chu đáo và có các biện pháp sưphạm dự phòng cần thiết ( trời quá nắng, mưa, vv…)

Trang 33

tượng trong môi trường tự nhiên – xã hội phức tạp, đa dạng và phong phú hơnnhiều so với những điều đã được học ở trên lớp, từ đó mở rộng tầm nhìn, vốnhiểu biết của HS, gây hứng thú học tập.

Để tiến hành hình thức tổ chức này đạt hiệu quả GV cần tìm hiểu trước địađiểm, chọn thời gian và thời tiết thích hợp cho việc đi lại của HS được thuậnlợi; quy định về kỉ luật, an toàn trên đường đi; phổ biến trước nhiệm vụ học tậpcho HS; dự kiến tình huống và giải pháp sư phạm cần thiết

1.3.2 HTTCDH tích hợp

1.3.2.1 HTTCDH tích hợp các môn học

Tất cả các môn học trong chương trình học đều có một mục đích chung làhướng tới sự toàn diện trong quá trình phát triển và nhận thức của HS Hệ thốngcác môn học theo từng bậc học không phải được sắp xếp một cách ngẫu nhiên,tùy hứng mà đã có sự nghiên cứu để phù hợp và đáp ứng được nhu cầu học tậpcũng như nhận thức của các em Vì vậy, tất cả các môn học trong chương trìnhhọc đều có mối liên quan mật thiết đến nhau Kiến thức của môn học này sẽ lànguồn tài liệu cho môn học kia, học môn học này sẽ khơi nguồn hứng thú tíchcực để học môn học kia và ngược lại Chính vì vậy, khi dạy học các môn họcnói chung và dạy học môn Mĩ thuật nói riêng, GV không chỉ chăm chăm truyềnđạt kiến thức cũng như tư tưởng của bộ môn, mà bên cạnh đó có sự liên hệ giúpcác em liên tưởng và vận dụng các kiến thức trong các lĩnh vực khác để giảiquyết nhiệm vụ của vấn đề đưa ra

1.3.2.2 HTTCDH tích hợp các hình thức

Cũng như các phương pháp dạy học, việc phân biệt một cách rõ ràng từngHTTCDH chỉ tồn tại trên lý thuyết, còn trong thực tiễn dạy học các HTTCDHđược GV sử dụng đan xen vào nhau HTTCDH này sẽ hỗ trợ cho HTTCDH kiatạo nên hiệu quả của tiết dạy vì mỗi HTTCDH có những ưu điểm và hạn chế

Trang 34

riêng Việc phối hợp nhiều HTTCDH trên một tiết học đã và đang được GVthực hiện tốt trong thực tiễn các trường tiểu học.

1.3.2.3 HTTCDH thông qua trò chơi

Đối với HS tiểu học, học tập là hoạt động chủ đạo, tuy nhiên vui chơi vẫnchiếm vị trí lớn trong đời sống của các em Theo tinh thần đổi mới phương phápdạy học ở tiểu học, trò chơi được xem là HTTCDH được khuyến khích sử dụngnhằm gây hứng thú học tập, giảm căng thẳng cho HS, góp phần nâng cao hiệuquả của tiết học Trò chơi học tập có tác dụng phát huy tính tích cực, phát triểnnhanh trí, tinh thần tập thể, tính tự lực và sáng tạo của HS

Sử dụng trò chơi học tập cần phải phù hợp với yêu cầu, nội dung của bài học,phải phục vụ thiết thực cho bài học; phải phù hợp với dặc điểm tâm sinh lý củaHS; phải gây được hứng thú cho HS; không tốn kém về thời gian và có luật chơiđơn giản

1.3.2.4 HTTCDH kết hợp đồ dùng trực quan hoặc ứng dụng CNTT

Hiện nay, dạy học kết hợp đồ dùng trực quan là hình thức khá phổ biến trongtất cả các trường tiểu học ở tất cả các môn học và đặc biệt trong môn học Mĩthuật Sử dụng tốt hình thức này sẽ tạo ra khả năng nắm bắt kiến thức nhanhnhạy, chính xác cho các em thông qua mô hình, vật thật hay vật biểu trưng vềđối tượng nội dung bài học Ngoài ra, kết hợp ứng dụng CNTT khi dạy học môn

Mĩ thuật là một hình thức sử dụng “khôn ngoan” của GV để đưa HS đến vớinhững điều mới lạ, tạo hứng thú đặc biệt cho các em thông qua hệ thống cáchình ảnh, các đoạn phim, các đoạn video phục vụ cho nội dung bài học

1.3.3 HTTCDH theo từng loại bài

Môn Mĩ thuật là môn học nghệ thuật, muốn sáng tạo nghệ thuật thì cần cókhông gian nghệ thuật Song, trên thực tế dạy học mĩ thuật hiện nay ở tiểu học,

GV mới chủ yếu tổ chức dạy theo các phân môn và dạy một cách thụ động ở

Trang 35

trong lớp học, không gian học mĩ thuật được bố trí như những môn học kháckhông tạo được môi trường sáng tạo cho HS

1.3.3.1 HTTCDH loại bài Vẽ theo mẫu

+ Thay đổi không gian thực hành cho HS: GV không tổ chức cho HS ngồi vẽgiống như sự bố trí của các môn học khác mà thay đổi để phù hợp với tính chấtmột giờ học mĩ thuật thực sự

1.3.3.2 HTTCDH loại bài Vẽ trang trí

GV có thể sử dụng linh hoạt các HTTCDH như:

+ Tổ chức tham quan, tổ chức trò chơi học tập: Các HTTCDH này là một trongnhững hình thức dạy học tích cực thu được kết quả cao trong việc giúp HS pháthuy khả năng sáng tạo của bản thân

+ Tổ chức trang trí theo từng loại bài: Đây là hoạt động GV tổ chức hướng dẫn

HS thực hiện bài vẽ phù hợp với vùng miền, với các đặc điểm, đặc trưng vănhóa tại nơi sinh sống

+ Cho HS tiếp xúc thực tiễn: Đó chính là việc GV lấy các mẫu họa tiết có sẵntrong thực tế cho HS quan sát để phục vụ cho nội dung bài học và đảm bảo yêucầu sát thực cũng như sự đa dạng phong phú trong việc giúp HS lựa chọn kiểuhọa tiết và sự cách điệu hay sáng tạo họa tiết nhờ vào quan sát thực tiễn

1.3.3.3 HTTCDH loại bài Vẽ tranh

Một số HTTCDH được sử dụng đa dạng như:

+ GV hướng dẫn HS tìm hiểu, quan sát thực tế: Tổ chức cho HS tham quantrong điều kiện có môi trường học tập thuận tiện

Trang 36

+ Ứng dụng CNTT khi thực hiện giờ học trong lớp: Cho HS xem các clip, quansát hình, tranh mẫu… phục vụ cho nội dung bài học giúp khơi nguồn sáng tạo

và trí tưởng tượng của các em

+ Tổ chức cho HS vẽ tranh ngoài thiên nhiên: Đây là một hình thức mà tất cảcác HS đều hứng thú và mong muốn được tham gia khi thực hiện loại bài Vẽtranh

+ Tổ chức hội thảo theo lớp theo từng chủ đề của bài học

1.3.3.4 HTTCDH loại bài Tập nặn, xé dán

+ GV tổ chức cho HS hoạt động nặn theo nhóm nhằm tạo sự sôi nổi, tinh thần

làm việc đoàn kết, hợp tác giữa từng cá nhân với tập thể

+ Tổ chức trò chơi học tập thông qua hình thức tổ chức các cuộc thi nhỏ nhằmtạo nên tinh thần hăng hái và hứng thú sáng tạo cho HS như: Thi xem nhóm nàohoàn thành sản phẩm nhanh nhất, nhóm nào có sản phẩm đẹp nhất, nhóm nàođạt kỉ lục về số lượng sản phẩm, vv…

1.3.3.5 HTTCDH loại bài Thường thức mĩ thuật

+ Tổ chức cho HS đi tham quan: GV tổ chức cho HS tham quan bảo tàng, triểnlãm tranh giúp kéo gần khoảng cách lý thuyết – thực tiễn và không gây nhàmchán cho các em khi học một loại bài mang tính chất “khô khan”

+ Tổ chức cho HS xem tranh: Thông qua hoạt động xem tranh, HS có thể nắmđược sự đa dạng trong cách thể hiện từng phong cách của từng tác giả được giớithiệu

1.4 Một số vấn đề đổi mới HTTCDH ở tiểu học (em nên viết rõ là HTTCDH Mĩ thuật vì phạm vi của đề tài là đổi mới hình thức dạy môn Mĩ

thuật ở lớp 5 ) ở phần 2 em thu nhỏ phạm vi lại thành 2 Các HTTCDH

Trang 37

trong môn Mĩ thuật lớp 5 trường tiểu học Tiên Dương … theo các phương pháp truyền thống ở từng loại bài)

1.4.1 Cơ sở của việc đổi mới HTTCDH

- Xuất phát từ đặc điểm thời đại:

Do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệcùng với đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, nhà trường phảitrang bị cho HS những kiến thức cơ bản, hiện đại, cập nhật với những thành tựumới mẻ của khoa học công nghệ, gần gũi với đời sống và phù hợp với trình độnhận thức của HS tiểu học Do vậy, bằng những cách làm của những con đường

cũ sẽ không đáp ứng nhanh nhạy và kịp thời yêu cầu của thời đại, đổi mới hìnhthức tổ chức dạy học là

- Xuất phát từ nội dung dạy học tiểu học:

Nội dung dạy học đã hiện đại hóa: Tính hệ thống ngày càng cao; mức độ ngàycàng sâu rộng Nên bằng những hình thức tổ chức cũ, cách làm cũ chúng takhông thể giúp HS nắm vững nội dung tri thức hiệu quả

- Xuất phát từ thực trạng của việc sử dụng các HTTCDH ở tiểu học:

Ở các trường tiểu học hiện nay, mặc dù nhiều GV đã có ý thức về việc đổimới HTTCDH, tuy nhiên việc đổi mới còn chậm và chưa thực sự mang lại hiệuquả cao Với các HTTCDH mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sángtạo của HS như: HTTCDH ngoài thiên nhiên, HTTCDH bằng việc tổ chức tròchơi, đi tham qua chưa được sử dụng nhiều và đôi khi việc sử dụng cácHTTCDH này của GV cũng chưa đạt kết quả cao Giờ học còn mang tính chất

gò bó, khô khan

1.4.2 Quan niệm về đổi mới HTTCDH

Hiện nay, có rất nhiều quan niệm về đổi mới HTTCDH, tuy nhiên tất cả cácquan niệm đều tựu chung:

Trang 38

- Đổi mới HTTCDH ở trường phổ thông nói chung và ở trường tiểu học nóiriêng không phải là việc loại bỏ đi các HTTCDH truyền thống mà phải vậndụng các hình thức tổ chức đó để tổ chức cho HS hoạt động học tập theo kiểumới ( hoạt động các nhân, theo nhóm….) tạo điều kiện cho từng HS được thamgia giải quyết vấn đề.

- Yêu cầu đặt ra của đổi mới HTTCDH theo hướng tích cực đó là không chỉgiúp HS có con đường thuận lợi đi tới lĩnh hội tri thức mà phải là những hoạtđộng tạo môi trường cho HS tích cực học tập Các hình thức tổ chức đưa ra vừaphải phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lý đạo đức, nhận thức có thực của HSvừa phải có sức huy động tập thể cùng làm việc, tạo mối liên hệ giữa cá nhânvới cá nhân, cá nhân với tập thể, cộng đồng nhằm nâng cao tính tích cực học tậpcủa HS

- HTTCDH tích cực bao giờ cũng nổi lên đặc điểm quan trọng: Trẻ đóng vai làngười “diễn viên” chính, còn GV chỉ đóng vai trò là “đạo diễn” tổ chức vàhướng dẫn HS hoạt động Với việc sử dụng tốt các HTTCDH tích cực sẽ tạomôi trường và hứng thú học tập cho HS: HS được chơi mà học, hành để học vàhọc bằng hành động của chính mình

- Trong chương trình tiểu học, đổi mới HTTCDH được thể hiện một cách cụthể:

+ Tạo cách học mới, giúp HS biết cách và thúc đẩy nhu cầu tự học của bản thân.Trong chương trình tiểu học, các HTTCDH tích cực như dạy học cá nhân, dạyhọc theo nhóm…ngày càng được sử dụng môt cách bài bản nhằm phát triểnnăng lực theo tốc độ, khả năng học tập của từng HS và để tận dụng môi trườnggiáo dục một cách hiệu quả nhất

+ Coi trọng và khuyến khích dạy học trên cơ sở hoạt động tích cực, chủ động,sáng tạo của HS, giúp HS có thể tự phát hiện và tự giải quyết các vấn đề của bàihọc HS được trực tiếp tham gia các hoạt động vừa hướng tới việc phát triểnnăng lực các nhân vừa hướng tới khả năng có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức vàbiết cách vẫn dụng chúng với sự hỗ trợ hợp lý của GV và môi trường giáo dục

Trang 39

+ Có sử dụng kết hợp khéo léo giữa các HTTCDH truyền thống với các hìnhthức theo hướng đổi mới để phát huy tối đa các mặt mạnh của từng hình thức vàcủa sự phối hợp các HTTCDH nhằm giúp HS chủ động trên con đường chinhphục tri thức.

1.4.3 Ưu điểm của đổi mới HTTCDH theo hướng tích cực

Các ưu thế của các HTTCDH theo hướng đổi mới ta có thể thấy trong bảng so sánh dướiđây:

HTTCDH theo hướng đổi mới HTTCDH truyền thống

*Hình thức:

- Nhiều bài học được tiến hành trong

phòng thí nghiệm, ngoài trời, vườn thực

nghiệm, cơ sở sản xuất, vv…

-Bài học được bố trí theo hướng HS mặt

đối mặt thuận lợi cho việc thảo luận từng

chủ đề

*Mục đích - tác dụng:

- Tập trung vào hoạt động của HS (phát

huy hoạt động cá nhân hoặc theo nhóm

- GV huy động vốn kiến thức của HS để

xây dựng bài HS tự lấy ví dụ cho vấn đề

- Bài học được tiến hành trongtiết học, điểm thu hút HS là GV

- HS thụ động lắng nghe lời củathầy và ghi chép lời thầy giảng

- GV huy động vốn kiến thức củamình để xây dựng bài GV đưa ra

Trang 40

- GV khuyến khích HS tự nêu ý kiến cá

nhân về vấn đề học tập, nêu thắc mắc

trong khi GV giảng và đưa ra những lời

nhận xét, bổ sung tham gia góp ý kiến câu

trả lời của bạn trong quá trình học tập

- Giao tiếp trò – trò nổi lên

- HS tự đánh giá về kết quả học tập của

mình, có sự đánh giá lẫn nhau về mức độ

đạt được mục tiêu của từng phần, kết hợp

với đánh giá của GV

ví dụ mẫu cho vấn đề

- GV hạn chế HS nêu ý kiến cánhân về vấn đề học tập, hạn chế

HS nêu thắc mắc và không cầnquá nhiều ý kiến tranh luận chomột câu hỏi trong quá trình giảnggiải

- Giao tiếp trò – trò bị hạn chế

- GV là người độc nhất có quyềnđánh giá kết quả học tập của HS.Chỉ tiêu đánh giá thường chú ýđến khả năng ghi nhớ và tái hiệncác thông tin GV đã cung cấp

1.4.4 Một số HTTCDH tích cực

HTTCDH tích cực là hệ thống các HTTCDH nhằm đáp ứng được các yêu cầu

cơ bản của mục tiêu giáo dục tổng quát, có khả năng tham gia vào việc tổ chứcquá trình dạy học thành một quá trình tự học, quá trình hợp tác các nhân và xãhội hóa việc học tập Mỗi HTTCDH đều có đặc trưng riêng Do đó, trong quátrình giảng dạy phải biết khai thác và ứng dụng những mặt mạnh, hạn chế, khắcphục những điểm yếu của chúng Hệ thống các hình thức tổ chức đó là sự tíchhợp và kết hợp của nhiều hình thức, trong đó có một số hình thức tổ chức điểnhình, gần gũi như: HTTCDH thông qua tham quan, trò chơi học tập, dạy họcngoài thiên nhiên, dạy học theo nhóm

2 Các HTTCDH trong môn Mĩ thuật lớp 5 theo các phương pháp truyền thống ở từng loại bài ( Đọc phần sửa bên trên – thu gọn phạm vi tập trung vào đề tài)

2.1 Trong loại bài Vẽ theo mẫu

Ngày đăng: 05/04/2016, 07:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng có mang theo bức tranh vẽ về ước mơ - đổi mới hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy tính sáng tạo của học sinh lớp 5 trong môn học mĩ thuật tại trường tiểu học tiên dương   đông anh   hà nội
Bảng c ó mang theo bức tranh vẽ về ước mơ (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w