Tuy nhiên, kinh nghiệm sống còn ít ỏi, suy nghĩ chưa đủ chín chắn để các em có thể trở thành người lớn, dẫn đến việc các em còn có những ứngphó không lành mạnh trước những áp lực tiêu cự
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Xã hội ngày càng phát triển, con người càng phải hoàn thiện, một conngười hoàn thiện về nhân cách là con người không chỉ có tài mà cần phải cóđức
Nhân cách của con người muốn được xây dựng và phát triển cần phảiđược bắt đầu ngay từ khi mới sinh ra và đặc biệt là trong giai đoạn ngồi trênghế nhà trường Có thể nói, việc xây dựng, hình thành và phát triển các phẩmchất đạo đức và tri thức cho thế hệ trẻ là một trong những nhiệm vụ quantrọng và cấp thiết, đây cũng là một trong những nhiệm vụ mà nhà trường nóiriêng và ngành giáo dục nói chung cần phải thực hiện Giáo dục đạo đức màđặc biệt là giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là một vấn đề rất quan trọngtrong xã hội ngày nay
Để hoàn thành được đề tài này, em xin chân thành cảm ơn các thầy (cô)giáo khối lớp 4, 5 ở trường Tiểu học Xuân Hòa, Tiểu học Đồng Xuân đã tạođiều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, và đặc biệt là sự định hướngtrong khoa học và sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn –Thạc sĩ – Giảng viên chính Nguyễn Thị Xuân Lan trong suốt quá trình tôithực hiện khóa luận này
Đây là bước đầu tiên tôi làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nênkhông tránh khỏi sự thiếu sót Tôi mong sẽ nhận được sự góp ý của các thầy
cô và toàn thể bạn đọc để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Đinh Thị Liên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài “ Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểuhọc thông qua môn Khoa học lớp 4, 5” là kết quả nghiên cứu của riêng tôidưới sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Xuân Lan không trùng với kếtquả nghiên cứu nào khác
Các số liệu, kết quả thu thập được trong khóa luận trong khóa luận là :Trung thực, rõ rang, chính xác, chưa từng được công bố trong bất kỳ mộtcông trình nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Sinh viên
Đinh Thị Liên
Trang 3CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG SỐNG VÀ GIÁO DỤC KĨ
NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.
1.1 Một số vấn đề về kĩ năng sống
1.1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống
Thuật ngữ kĩ năng sống bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổthông Việt Nam từ những năm 1996 – 1996 Từ đó đến nay, nhiều cơ quan, tổchức quốc tế đã tiến hành giáo dục kĩ năng sống gắn với giáo dục những vấn
đề xã hội khác
Vậy kĩ năng sống là gì?
Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng sống:
- Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc(UNESCO): Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chứcnăng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày – đó là những kĩ năng cơ bảnnhư : kĩ năng đọc, viết, làm tính,…
- Theo tổ chức Y tế Thế giới ( WHO): Kĩ năng sống là những kĩ năngthiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh Đó lànhững kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụngtrong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với ngườikhác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống
hàng ngày [15]
- Theo thuyết hành vi: Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội liênquan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vilàm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu
và thách thức của cuộc sống [4]
Con người cần có những kĩ năng nhất định để sống (tồn tại và pháttriển) khi xem xét nó trong mối quan hệ : Con người với chính bản thân mình;
Trang 4Con người với tự nhiên và Con người với các mối quan hệ xã hội Dù nhìn từgóc độ nào, các kĩ năng sống đều nhằm giúp chủ thể học chuyển dịch kiếnthức từ những điều đã biết, đã nghĩ, đã học được trong sách vở,…kể cả nhữngthái độ, tư tưởng, tình cảm mới chỉ có được dưới dạng tiềm năng trong mỗi cáthể, trở thành những hành động trong thực tế theo cách làm hiệu quả, mangtính chất xây dựng, nhằm giúp mỗi người có thể phát triển hài hòa, góp phầnxây dựng xã hội lành mạnh, phát triển bền vững Kĩ năng sống không phảinăng lực cá nhân bất biến trong mọi thời đại mà cá nhân đó sống, bởi vậy kĩnăng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính dân tộc – quốc gia, vừamang tính xã hội – toàn cầu.
- Các quan niệm khác: Tương đồng với quan niệm của Tổ chức Y tế thếgiới (WHO), còn có quan niệm kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hộiliên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng được thể hiện rabằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, các
thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống [12]
Như vậy, có nhiều cách tiếp cận về kĩ năng sống Dựa vào các góc độ,các tiêu chí xem xét khác nhau có thể hình thành các khái niệm khác nhau về
kĩ năng sống
1.1.2 Phân loại kĩ năng sống
Cách phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
WHO phân chia kĩ năng sống thành 3 nhóm lớn:
- Nhóm kĩ năng nhận thức: Tự nhận thức, đặt mục tiêu xác định giá trị,
óc tư duy, sáng tạo, ra quyết định giải quyết vấn đề…
- Nhóm kĩ năng cảm xúc: Có trách nhiệm về cảm xúc của mình, kiềmchế và kiểm soát được cảm xúc, tự giám sát, tự điều khiển, tự điều chỉnh cảmxúc của bản thân
Trang 5-Nhóm kĩ năng xã hội: Giao tiếp, cảm thông, hợp tác, chia sẻ, gây thiệncảm, nhận ra thiện cảm của người khác.
Cách phân loại của Tổ chức Qũy nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
Tổ chức UNICEF chia kĩ năng sống thành 3 nhóm kĩ năng cơ bản:
-Nhóm kĩ năng nhận thức và sống với người khác
-Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình
-Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả
Cách phân loại của UNESCO
UNESCO cho rằng có thể chia kĩ năng sống thành 2 nhóm kĩ năng lớn:
Nhóm 1: Bao gồm các kĩ năng sống được thể hiện trong các lĩnh vực chung
như: Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng cảm xúc, kĩ năng xã hội
Nhóm 2: Gồm cac kĩ năng sống được thể hiện trong các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội như:
- Các vấn đề về vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng
- Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc lá,
…
- Các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản
- Các vấn đề về thiên nhiên, môi trường, rủi ro, bạo lực…
-Các vấn đề về gia đình, cộng đồng…
-Hòa bình và giải quyết xung đột
-Giáo dục công dân
-Bảo vệ thiên nhiên và môi trường
-Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ
Những cách phân loại nên trên đã đưa ra bảng danh mục các kĩ năngsống có giá trị trong nghiên cứu phát triển lí luận về kĩ năng sống và chỉ cótính chất tương đối Trên thực tế, các kĩ năng sống có mối quan hệ mật thiết
Trang 6với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống cụ thể, con người cần phải sửdụng rất nhiều kĩ năng khác nhau Ví dụ: Khi cần quyết định một vấn đề nào
đó, cá nhân phải sử dụng những kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tưduy phê phán, kĩ năng tư duy sang tạo và kĩ năng kiên định,…
Kết quả nghiên cứu về kĩ năng sống của nhiều tác giả đã khẳng định:
dù phân loại theo hình thức nào thì có một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kĩ năng tự nhận thức; kĩ năng ra quyết định; kĩ năng đặt mục tiêu,…
[11]
1.2 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
1.2.1 Sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Thế kỉ XXI là thế kỉ của sự phát triển kinh tế xã hội, của khoa học kĩthuật ở trình độ cao, do đó tri thức và giáo dục được đưa lên hàng đầu Yêucầu của xã hội đối với con người ngày càng cao Con người trong xã hội hiệnđại không chỉ phải học để có tri thức, học để có giá trị đạo đức, thẩm mĩ, nhânvăn đúng đắn, mà phải học để có những kĩ năng sống nhất định
Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiệnđại Chính vì vậy, cần thiết giáo dục kĩ năng sống cho con người để họ có thểthích ứng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội và cũng cần được quantâm và chú trọng ở mọi cấp học Nó có quan hệ mật thiết đối với sự phát triểntoàn diện của con người,cụ thể là :
-Trong quan hệ với bản thân: Giáo dục kĩ năng sống giúp con ngườibiến những kiến thức thành hành động cụ thể để thích ứng với cuộcsống,vững vàng trước khó khăn, thử thách, làm chủ cuộc sống của bản thân
Trang 7-Trong quan hệ với gia đình: Giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh biếtquý trọng ông bà, hiếu thảo với cha mẹ, quan tâm chăm sóc người thân khi
ốm đau, động viên, an ủi khi gia quyến có chuyện chẳng lành…
-Trong quan hệ với xã hội giáo dục kĩ năng sống góp phần thúc đẩynhững hành vi mang tính xã hội tích cực, giúp con người biết cách ứng xửđúng đắn với bản thân, với cộng đồng, với môi trường tự nhiên xung quanh
Do đó, góp phần giảm bớt các vấn đề về sức khỏe, về tệ nạn xã hội, đồng thờigiải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhu cầu với quyền lợi của con người, củacông dân
Sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại trên tất cả các lĩnh vực
đã có tác động to lớn đến cuộc sống của mỗi gia đình theo cả hai chiều tíchcực và tiêu cực, điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của họcsinh lứa tuổi tiểu học nói riêng, ở mọi bậc học nói chung Một số gia đình mải
mê với công việc mà bỏ bê, sao nhãng tới việc quan tâm, chăm sóc con cáikhiến trẻ bị thiếu hụt về tinh thần; một số khác lại thiếu sự hiểu biết, chia sẻvới nhau giữa bố mẹ và con cái buộc chúng phải tìm đến với bạn bè mà chúngcho rằng có thể tìm thấy lời khuyên; hoặc có một số gia đình do hoàn cảnhkhó khăn, nên trẻ phải lang thang kiếm sống Tỉ lệ li hôn gia tăng, bạo lực giađình, bố mẹ vướng vào các tệ nạn xã hội ngày càng phổ biến… đã khiếnnhiều trẻ bị bỏ rơi và bị khủng hoảng tinh thần
Lứa tuổi học sinh tiểu học bao gồm trẻ em có độ tuổi 6-7 tuổi đến
11-12 tuổi Mỗi học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên với một nhân cáchđang hình thành, đang phát triển Mỗi em đều có những đặc điểm chung củalứa tuổi tiểu học nhưng cũng có những đặc điểm riêng, từ cá tính, từ tâm lí, trítuệ, thể chất… cho đến những nhu cầu khả năng tiềm ẩn Nhà trường cần cóchiến lược khơi dậy và phát triển đầy đủ khả năng đó Theo chương trình mới,giáo viên tập trung vào dạy cách học, học sinh học cách học, cách nhận biết
Trang 8nhu cầu và học phương pháp tự học Giáo viên coi trọng và khuyến khích họcsinh học tập tích cực, chủ đông, sáng tạo, tự phát hiện và giải quyết vấn đềcủa bài học Học sinh, do đó có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức: trước hết biếtvận dụng kiến thức vào việc giải bài tập trên lớp, sau đó vận dụng sáng tạovào việc giải quyết một cách hợp lí các tình huống diễn ra trong đời sống củabản thân, gia đình và cộng đồng theo cách riêng của mình.
Ở lứa tuổi này, hành vi của các em dễ có tính tự phát, tính cách của các
em thường biểu hiện thất thường, bướng bỉnh Phần lớn các em có nhiềuphẩm chất tốt như vị tha, ham hiểu biết, hiếu học, hồn nhiên, chân thật… các
em sống hồn nhiên, cả tin trong các mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa, vớingười lớn, đặc biệt với thầy cô giáo Đến cuối bậc học các em dần chuyểnsang lứa tuổi vị thành niên, vì thế tính cách có sự thay đổi lớn như có xuhướng tò mò, thích khám phá những điều mới lạ, thích được khẳng địnhmình, thích làm người lớn, nhu cầu giao lưu với bạn bè cùng lứa tuổi pháttriển cao Tuy nhiên, kinh nghiệm sống còn ít ỏi, suy nghĩ chưa đủ chín chắn
để các em có thể trở thành người lớn, dẫn đến việc các em còn có những ứngphó không lành mạnh trước những áp lực tiêu cực hay trước sự lôi kéo từ bạn
bè chưa ngoan, từ một số người xấu trong cộng đồng như: xa vào các tệ nạ xahội, sớm bị lợi dụng tình dục hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật mộtcách vô thức…
Đối với sự phát triển của học sinh tiểu học, những ảnh hưởng tiêu cựccủa nền kinh tế thị trường, của sự bùng nổ thông tin đã dẫn đến sự du nhậpcủa lối sóng thực dụng, buông thả đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến các
em Do đó, nếu không được trang bị các kĩ năng sống cần thiết để có lối sốnglành mạnh, niềm tin, bản lĩnh sống vững vàng thì các em có thể bị mắc vàonhững cạm bẫy của lối sống tiêu cực, điều đó dễ làm cho các em trở nên căngthẳng, bi quan, tự ti, mặc cảm và hành động theo cảm tính của bản thân
Trang 9Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống có vai trò rất quan trọng đối với lứatuổi học sinh tiểu học, nhằm giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đốivới bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phó tích cực Trước sức
ép của cuộc sống và sự lôi kéo thiếu lành mạnh của bạn bè cùng trang lứa màcác em biết ứng xử phù hợp trong các tình huống của cuộc sống Nó giúp tăngcường khả năng tâm lí xã hội của các em, giúp các em sống khỏe mạnh về thểchất, tinh thần và xã hội Nó sẽ góp phần tạo ra nền tảng cho cả tiến trình pháttriển về sau của các em
1.2.2 Quan niệm giáo dục kĩ năng sống
Kĩ năng sống bao gồm ba khái niệm kĩ năng cơ bản như sau: kĩ năngnền tảng, kĩ năng tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp ứng xử Trong mỗi nhóm
kĩ năng nêu trên lại gồm nhiều kĩ năng khác, ví dụ như kĩ năng nhận thức, kĩnăng đương đầu với cảm xúc, kĩ năng xử lí tình huống, kĩ năng tương tác, kĩnăng làm việc theo nhóm, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đạt mục tiêu, kĩ năngkiên định…
Giáo dục kĩ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi củangười học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cựcchuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiệu quả đểnâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và góp phần phát triển bền vữngcho xã hội
Đồng thời giáo dục kĩ năng sống cần được thực hiện thống nhất trongnhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện (theo các lĩnh vực văn hóa xã hội,theo các loại hình hoạt động của con người, theo cả bốn trụ cột trong giáo dụcthế kỉ XXI : học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người, học
để tự khẳng định mình) thông qua quá trình dạy học và giáo dục vừa hướngtới mục tiêu hình thành khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt quanhững thử thách của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ,
Trang 10hành động, phát triển toàn diện các chỉ số thông minh và các lĩnh vực trí tuệxúc cảm, trí tuệ xã hội.
Theo quan niệm mới trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môitrường sống, đồng thời cũng là tiền đề cho sự tương tác ấy Trong khi tươngtác với môi trường sống, đòi hỏi con người có tương tác với môi trường xãhội Việc cùng sống và hoạt động trong cộng đồng với nhiều người khác đòihỏi phải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, sự chuẩn đoán phù hợp về hànhđộng của người khác để từ đó tổ chức, đặt kế hoạch và ra quyết định về hànhđộng của bản thân Những yêu cầu này đòi hỏi con người phải có một thành
tố trí tuệ khác nữa ngoài trí thông minh (IQ) và trí sáng tạo (CQ), đó là trí tuệ
xã hội (Social Int) Trí tuệ xã hội là dạng trí tuệ được định nghĩa là năng lựchoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có sự tương tác với người khác Nódiễn ra trong hoạt động cùng với người khác, với mục đích, tâm lý và tính xãhội nhất định
Từ những phân tích về kĩ năng sống và mục tiêu của giáo dục kĩ năng
sống, có thể rút ra quan niệm về giáo dục kĩ năng sống như sau: “Giáo dục kĩ
năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên
cơ sở giúp người học có cả kiến thức, thái độ, kĩ năng thích hợp”.
1.2.3 Các nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống
1.2.3.1 Các nguyên tắc thay đổi hành vi
Giáo dục kĩ năng sống có thể vận dụng các nguyên tắc thay đổi hành vi,
vì giáo dục kĩ năng sống chủ yếu hướng vào thay đổi hành vi, thói quen tiêucực của người học
Thay đổi hành vi luôn là một việc khó Viện Hàn lâm khoa học Mĩ (NAS) đãnghiên cứu và giới thiệu mô hình bảy nguyên tắc thay đổi hành vi của con
người như sau: [11]
Trang 11-Cung cấp thông tin là điểm khởi đầu tất yếu của bất cứ sự cố gắngmong muốn thay đổi hành vi nào Thông tin cần dễ hiểu và phù hợp với ngườihọc Đối tượng mà chúng ta muốn họ thay đổi hành vi.
-Tập trung vào những thông điệp tích cực, hình thành, duy trì và củng
cố những hành vi lành mạnh và hướng tới cuộc sống tốt hơn cho mọi ngườitrong cộng đồng Hạn chế sử dụng những thông điệp mang tính đe dọa đểđộng viên sự thay đổi hành vi
-Giáo dục theo quy mô nhỏ và cần độ lâu dài về thời gian để động viênngười tham gia chấp nhận những hành vi mới, để dạy mô hình các kĩ năngcần thiết nhằm đạt được những hành vi đó, để tiếp tục củng cố những kĩ năngmới cho đến khi người tham gia cảm thấy có thể thực hiện được những hành
vi lành mạnh
-Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn: Mỗi cánhân thường thích chấp nhận những hành vi mới nếu họ được lựa chọn nótrong số những phương án có thể trên cơ sở tự phân tích, phê phán và tìm raphương án phù hợp với mình Cho nên phương pháp giáo dục kĩ năng sốngvần hướng tới phát triển kĩ năng tư duy phê phán giúp người tham gia họcđược rất nhiều lựa chọn khi giải quyết những tình huống khó khăn
-Tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi hành vi: Vì sự thay đổi sẽ
dễ dàng hơn nếu môi trường cũng khuyến khích sự thay đổi đó đối với cánhân, nên các chương trình giáo dục kĩ năng sống cần chú trọng cộng tác vớicộng đồng một cách toàn diện để tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi
-Tăng cường sử dụng giáo dục đồng đẳng: Người mang ảnh hưởng cóthể làm thúc đẩy những thay đổi, nên phương pháp đồng đẳng có thể được bổsung vào các chương trình giáo dục kĩ năng sống để tạo cơ sở thuận lợi cho sựthay đổi, cũng như chấp nhận hành vi mẫu của người khác Tập huấn cho
Trang 12người có tác động ảnh hưởng để họ có thể đóng vai trò mẫu trong nhóm củamình có thể tăng đáng kể tác động của chương trình.
-Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ, vì sự tái phạm có thể xảy ra, do đócần phải xây dựng theo con đường duy trì những hành vi lành mạnh và giúpngười tham gia đi theo đúng hành lang của những hành vi tích cực sau khi họ
đã tái phạm
1.2.3.2 Các nguyên tắc quan trọng đối với giáo dục kĩ năng sống
- Tổ chức các hoạt động cho người học để phản ánh tư tưởng trên suynghĩ và phân tích các trải nghiệm trong cuộc sống của họ
-Khuyến khích người học thay đổi giá trị, thái độ và cách ứng xử cũ để
chấp nhận những giá trị, thái độ, cách ứng xử mới
-Đặt tầm quan trọng vào giải quyết vấn đề, không chỉ là ghi nhớ những
thông điệp hoặc các kĩ năng
-Cung cấp cơ hội cho người ọc tóm tắt/ tổng kết việc học của mình, giáo
viên không tóm tắt thay họ
-Người học vận dụng kĩ năng và kiến thức mới vào tình huống thực của
cuộc sống
-Tổ chức các hoạt động học tập dựa trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau giữangười dạy và người học
1.2.4 Các con đường giáo dục kĩ năng sống
1.2.4.1 Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trước hết trong quá
trình giáo dục ở nhà trường.
Năng lực tâm lí xã hội là một quá trình học tập được thực hiện thôngqua truyền thống, văn hóa, gia đình, cộng đồng Qúa trình học để có khả năngtâm lĩ xã hội được thực hiện cả trong nhà trường cũng như thông qua cáckênh nguồn khác nhau Tuy nhiên tốc độ phát triển kinh tế xã hội đã làm chocon người ngày càng biệt lập và mang tính cá nhân Gia đình trở nên nhỏ hơn
Trang 13và con người ít có cơ hội để học khả năng tâm lí xã hội qua truyền thống vàvăn hóa cộng đồng hơn trước đây Mọi người đều thiếu khả năng tâm lí xã hội
và phát triển Vì vậy cần tăng cường năng lực tâm lí xã hội cho người họcngay trong đời sống nhà trường thông qua giáo dục kĩ năng sống
Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng kĩ năng sống cần được thực hiệntrong quá trình giáo dục ở nhà trường phổ thông
Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng kĩ năng sống cần được dạy trongchương trình của nhà trường hơn là nhiệm vụ biệt lập tách khỏi chương trình
bình thường của nhà trường.[3]
Dạy kĩ năng sống còn cần phải được chứa đựng trong tất cả các mônkhoa học thông qua nhấn mạnh mối quan hệ giữa học tập và các hoạt độngsống hằng ngày Đồng thời cần coi việc dạy kĩ năng xã hội với tư cách là mộtkhía cạnh của kĩ năng sống
1.2.4.2 Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua việc tiếp cận 4
trụ cột trong giáo dục
Hội nghị giáo dục thế giới đã làm sáng tỏ một quan điểm rằng: Giáodục muốn bồi dưỡng năng khiếu và tiềm năng của cá nhân, phát triển cá tínhcủa người học giúp cải thiện cuộc sống của họ và làm thay đổi xã hội thì cầnphải chú trọng đến việc nắm được các kĩ năng Bên cạnh các kĩ năng thựchành, kĩ năng thể chất, chúng ta còn cần thêm các kĩ năng sống – những kĩnăng làm cho con người có thể học và sử dụng kiến thức để phát triển khảnăng phân tích và phán đoán giúp làm chủ được cảm xúc, cuộc sống và có
quan hệ phù hợp với người khác.[12.tr40]
Chương trình hành động Dakar đã tuyên bố rằng: Tất cả thế hệ trẻ vànhững người lớn có quyền được hưởng một nền giáo dục đảm bảo cho người
học “ học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người, học để tự
khẳng định mình” Bốn trụ cột này chính là một cách tiếp cận kĩ năng sống
Trang 14dựa trên sự kết hợp giữa khả năng tâm lí xã hội (học để biết, học để chungsống với mọi người, học để tự khẳng định mình) với các kĩ năng thực hành, kĩ
năng tâm vận động (học để làm).[11]
Do đó cần xác định rõ nội dung các vấn đề cần giáo dục theo cách tiếpcận bốn trụ cột giáo dục thế kỉ XXI, nghĩa là cần xác định rõ những yêu cầu
cụ thể như những chỉ báo trong từng nội dung “học để biết”, “học để chung
sống với mọi người”, “học để tự khẳng định mình”, “học để làm” là gì để
định hướng hoạt động, đồng thời là cơ sở để đánh giá kết quả giáo dục kĩnăng sống
1.2.4.3 Học kĩ năng sống thông qua đào tạo chuyên biệt dưới hình thức hoạt động ngoài giờ lên lớp
Mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống là nhằm giúp người học thay đổicách ứng xử của mình theo hướng tích cực, hiệu quả Chỉ có cách học dựatrên tự khám phá bản thân hoặc tự lĩnh hội thì mới giúp con người thay đổicăn bản hành vi của mình Bản chất của nó chính là sự trải nghiệm
Hoạt động ngoài giờ lên lớp có ưu thế là điều kiện thời gian thoải máihơn giờ lên lớp, nên vận dụng giáo dục trải nghiệm thuận lợi hơn Chính vìvậy, khi thiết kế nội dung và tổ chức giáo dục kĩ năng sống qua hoạt độngngoài giờ lên lớp cần quan tâm khai thác kiến thức, kinh nghiệm và kĩ năng
Trang 15-Các kĩ thuật quan trọng bao gồm: Động não, phân loại, thảo luận, phảnhồi, những câu hỏi đóng mở Vai trò của giáo viên là lập kế hoạch, bắt đầu,hỏi và ghi nhận Vai trò của người học là chia sẻ, trao đổi và phân tích kiếnthức của họ bằng cách trả lời các câu hỏi quá trình và ghi nhận thông tin.
Bước 2 : Kết nối
-Mục tiêu: Giới thiệu những thông tin và kĩ năng mới bằng cách xâydựng cầu nối để gắn kết kinh nghiệm trước đó của người học (cái đã biết) vàcái chưa biết (thông tin mới) Kết nối kinh nghiệm của người học và chủ đềbài học
Tiến trình: Giáo viên giới thiệu mục tiêu của bài học và liên hệ vớinhững kiến thức thu thập được chia sẻ trong bước khám phá Giáo viên sau đó
tổ chức giới thiệu những thông tin mới và kiểm tra sự nắm bắt thông tin mới
và kiểm tra sự nắm bắt thông tin mới, cung cấp ví dụ bổ sung (nếu cần) đểngười học có thể hiểu được
-Các kĩ thuật dạy học quan trọng bao gồm: Chia nhóm, trình bày củangười học, thảo luận nhóm, sử dụng các thông tin dạy học, sử dụng mẫu đóngvai…
Giáo viên giả định vai trò của nhà giáo dục, còn người học đóng vai tròcủa người tiếp cận và phản hồi quan điểm của mình, hỏi và trình bày thôngtin
Bước 3: Thực hành
-Mục tiêu: Tạo cơ hội cho người học thực hành sử dụng những kiếnthức và kĩ năng mới trong ngữ cảnh đầy đủ ý nghĩa Giáo viên đưa ra nhữnghướng dẫn để người học tránh được những cách thực hiện không đúng dochưa hiểu
-Tiến trình: Giáo viên giới thiệu hoạt động, mà để thực hiện nó ngườihọc phải sử dụng những thông tin hoặc những kĩ năng mới Người học làm
Trang 16việc theo nhóm, theo cặp hoặc cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ Giáo viêngiám sát công việc và cung cấp những thông tin phản hồi ngay Giáo viên hỏicác câu hỏi để giúp người học phản ánh họ học như thế nào.
-Các kĩ thuật dạy học quan trọng: Kĩ thuật rất đa dạng dựa trên các hoạtđộng, bao gồm các trò chơi ngắn, viết sáng kiến, mô phỏng, câu hỏi, trò chơi
và làm việc theo nhóm Vai trò của giáo viên là đưa ra các hướng dẫn, làngười tạo điều kiện và giúp đỡ Người học đóng vai trò của người hoạt động
để giúp đánh giá kết quả học tập
-Kĩ thuật dạy học quan trọng: Bao gồm phương pháp học tập hợp tác,trình bày nhóm hoặc cá nhân và hoạt động nhóm Giáo viên đóng vai trò hỗtrợ và đánh giá, người học đóng vai trò người lập kế hoạch, người sáng tạo,thành viên nhóm, người giải quyết vấn đề, người trình bày và người đánh giá
Giáo dục kĩ năng sống là làm thay đổi thói quen theo hướng tích cực,
để có thói quen được thay đổi một cách bền vững thì nhà trường không chỉcần giáo dục kĩ năng sống qua bài học, hoạt động ngoài giờ lên lớp mà còncần phải phối hợp với cộng đồng để tổ chức các hoạt động học tập thông quaviệc giải quyết vấn đề của cộng đồng
1.2.4.4 Thông qua dịch vụ tham vấn
Trang 17Đó là một quá trình trợ giúp trong đó người cán bộ được đào tạo vềchuyên môn sử dụng các kĩ năng để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống,xác định và triển khai những giải pháp khả thi trong giới hạn cho phép đểvượt qua những khó khăn mình gặp phải.
Nhà giáo dục dù có thành công trong việc học sinh nhận ra cách họgiáo dục để thay đổi hành vi thì vẫn cần phải thử thách niềm tin và những suynghĩ không lành mạnh để phát triển một triết lí sống, niềm tin mới hiệu quả.Chính triết lí và niềm tin đó là điểm tựa và chi phối cho những thái độ vàhành vi tích cực mang tính xây dựng làm cho họ có kĩ năng sống
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kĩ năng sống
Để đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục kĩnăng sống nói riêng cần phải xem xét đến các yếu tố sau:
1.2.5.1 Tương tác giữa người dạy và người học
Nhìn chung, trung tâm của mọi việc trong giáo dục là tương tác giữangười dạy và người học Điều đó có nghĩa là chất lượng được tạo ra trong quá
trình tương tác này (13)
1.2.5.2 Nội dung chương trình và tài liệu dạy học
Nội dung giáo dục cần phù hợp với kinh nghiệm, nhu cầu của cả họcsinh nam và nữ, cũng như nhu cầu của xã hội Các chương trình kĩ năng sống
về bất cứ chủ đề nào được coi là hiệu quả thì cần phải đưa ra mô hình thựchành về kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng giải quyết vấn đề / ra quyết định(học để biết), các kĩ năng để kiểm soát bản thân, đương đầu với những cú sốc
và tình cảm (học để tự khẳng định) và các kĩ năng giao tiếp liên nhân cách(học để chung sống với mọi người) cũng như các kĩ năng thực hành (học đểlàm) để thực hiện những hành vi mong muốn
Chương trình và tài liệu dạy/ học là những thành tố cốt lõi của giáodục, là một phần bổ trợ cho người giáo viên giỏi và người học muốn tìm tòi
Trang 18Do đó, điều quan trọng đối với người biên soạn chương trình là phải tính đến
cả người dạy và người học khi xây dựng tài liệu sử dụng cách tiếp cận kĩ năngsống, gắn kết trực tiếp các ví dụ, hình ảnh minh họa với các kinh nghiệm vàhứng thú của cả học sinh nam và nữ Ngoài các tài liệu thông thường như:tranh ảnh, tạp chí, sách,…vẫn cần những phương tiện dạy học như đĩa (CD –Rom) và các đa phương tiện biểu đạt khác (các chương trình vô tuyến vàtruyền thanh học sinh)
1.2.5.3 Qúa trình và môi trường học tập
Môi trường học tập cần phải lành mạnh, an toàn và có khả năng bảo vệ.Tiếp cận kĩ năng sống là cách tiếp cận dựa trên cá nhân và khả năng hànhđộng của người đó Để cách tiếp cận đó có hiệu quả cần phải coi trọng môitrường giáo dục không chỉ trong nhà trường mà còn ở gia đình và cộng đồng.Cần phải kết hợp đào tạo kĩ năng sống với các điều kiện bổ sung như chínhsách phát triển một môi trường tâm lí xã hội thuận lợi và gắn với các dịch vụcủa cộng đồng
1.2.6 Nhà trường với vấn đề giáo dục kĩ năng sống
“Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”.
(Điều lệ trường tiểu học, Điều 2, Chương 1)
Nhà trường phải thực hiện chức năng kép vừa dạy chữ vừa dạy làmngười cho các em, nghĩa là vừa trang bị cho các em có kiến thức để hòa nhập,
để tiếp tục học lên đồng thời vừa hình thành nhân cách, đạo đức cho các em
để các em có thể sống và phát triển được trong xã hội luôn biến động nhưhiện nay
Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường tiểu học không được biên soạnthành một môn học độc lập hay một lĩnh vực học tập cụ thể mà được tiếp cậnthông qua việc thể hiện những nét đổi mới trong chương trình tiểu học hiện
Trang 19nay và qua việc tích hợp trong một số môn học có tiềm năng như : môn Đạođức, môn Tự nhiên và Xã hội (ở các lớp 1,2,3), môn Khoa học (ở các lớp 4,5)
và trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp
Môn Đạo đức, trên cơ sở hướng tới mục tiêu cao nhất là hình thành chohọc sinh tiểu học những kĩ năng và hành vi đúng đắn lien quan đến các chuẩnmực đạo đức thì hầu hết các bài học đạo đức ở tiểu học cũng đã chứa đựngnhững nội dung về giáo dục kĩ năng sống Thêm vào đó để hình thành cáchành vi và chuẩn mực đạo đức cho học sinh thì các phương pháp học tập chủđộng như: động não, sắm vai, thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống, rènluyện, cũng thường xuyên được sử dụng khi dạy môn học này, đều góp phầnlàm cho việc giáo dục kĩ năng sống trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn
Môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1,2,3), mô Khoa học (lớp 4,5) cũng lànhững môn học có chú trọng nhiều đến giáo dục kĩ năng sống Trong đó, kĩnăng sống chủ yếu được giáo dục qua chủ để “Con người và sức khỏe” (lớp1,2,3,4,5) và chủ đề “Xã hội” (lớp 1,2,3)
Những kĩ năng sống cụ thể được tích hợp qua các môn học : Đạo đức,
Tự nhiên và Xã hội, Khoa học , đó là:
1.2.6.1 Kĩ năng giao tiếp
Hiểu được các quy tắc giao tiếp chung như: chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi,nói lời yêu cầu, đề nghị, biết cách ứng xử phù hợp, bày tỏ sự cảm thông, chia
sẻ, giúp đỡ…với một số đối tượng gần gũi, quen thuộc với các em như: thầy
cô giáo, bạn bè, người thân trong gia đình, hoặc đối với những đối tượng đặcbiệt như phụ nữ có thai, người già, người có hoàn cảnh khó khăn, người nướcngoài, người bị nhiễm HIV/AIDS…
1.2.6.2 Kĩ năng tự nhận thức
Tự nhìn nhận, đánh giá bản thân để xác định được mặt mạnh, mặt yếucủa mình; nhận biết được sự thay đổi về tâm lí và sinh lí của bản thân khi
Trang 20bước vào tuổi vị thành niên để có thái độ, hành vi đúng đắn như: không hoảnghốt, lo sợ khi có sự thay đổi về sinh lí, có ý thức giữ vệ sinh ở tuổi dậy thì, cólối sống lành mạnh về thể chất và tinh thần: hiểu rõ vị trí của mình trong cácmối quan hệ ở nhà, ở trường, ngoài xã hội thông qua các hoạt động giao tiếphằng ngày với thầy cô giáo, bạn bè, người thân và những người xung quanh.
1.2.6.4 Kĩ năng kiên định và kĩ năng từ chối
Kiên quyết giữ vững lập trường và nói lời từ chối trước những lời mờimọc sử dụng chất gây nghiện; rủ rê tham gia vào các hoạt động tiêu cực củangười xấu hoặc sự lôi kéo chơi bời, bỏ học của bạn bè chưa ngoan, kiên quyếtkhông tham gia vào việc làm, hành vi mang tính tiêu cực
1.2.6.5 Kĩ năng ứng phó với tình huống căng thẳng
Học tập, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí phù hợp để có tâm trạng thoải mái,lành mạnh để tránh gặp những tình huống căng thẳng không cần thiết Đồngthời xác định rõ những mối quan hệ giữa bản thân với các đối tượng xungquanh để có thể chia sẻ, tâm sự, tìm kiếm sự giúp đỡ của người đáng tin cậy
và tìm ra các giải pháp tối ưu khi gặp các tình huống căng thẳng trong cuộcsống
1.2.6.6 Kĩ năng ra quyết định
Có khả năng quyết định đúng nên và không nên làm gì để bảo vệ sứckhỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; để bảo vệ môi trường; để phòngtránh bị xâm hại
Trang 21CHƯƠNG 2: GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG QUA MÔN KHOA HỌC LỚP 4,5
2.1 Mục tiêu chương trình môn Khoa học lớp 4,5
Sau khi học xong môn Khoa học ở Tiểu học, học sinh cần đạt được:
2.1.1 Một số kiến thức cơ bản, ban đầu và thiết thực
- Sự trao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng và sự sinh sản, sự lớn lên của cơthể người Cách phòng tránh một số bệnh thông thường và bệnh truyềnnhiễm
- Sự trao đổi chất, sinh sản của thực vật và động vật
- Đặc điểm và ứng dụng của một số chất, một số vật liệu và nguồn nănglượng thường gặp trong đời sống và sản xuất
- Nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập; biết tìm thông tin
để giải đáp; biết diễn đạt những hiểu biết bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ,
…
- Phân tích, so sánh, rút ra những dấu hiệu chung và riêng của một số
sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên
Trang 22- Yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu đất nước, cái đẹp Có ý thức vàhành động bảo vệ môi trường xung quanh.
2.2 Những điểm mới trong cấu trúc nội dung chương trình môn Khoa học lớp 4,5
Cấu trúc môn Khoa học lớp 4,5 gồm 3 chủ đề: Con người và sức khỏe,Vật chất và năng lượng, Thực vật và động vật Riêng lớp 5 có thêm chủ đề:Môi trường và tài nguyên thiên nhiên Một số điểm mới chủ yếu về nội dungtừng chủ đề như sau:
2.2.1 Chủ đề về con người và sức khỏe
Kế thừa và phát triển các nội dung sau: Sự trao đổi chất của cơ thểngười với môi trường, sự sinh sản, sự lớn lên và phát triển của cơ thể người.Các mạch nội dung mới như: Vệ sinh, dinh dưỡng, phòng bệnh an toàn trongcuộc sống
2.2.2 Chủ đề về vật chất và năng lượng
Kế thừa và phát triển các nội dung: nước, không khí, một số kim loại vàhợp kim của sắt, đồng, nhôm,…; một số dạng năng lượng: âm thanh, ánhsang, nhiệt, Mặt trời, gió, nước, năng lượng điện; một số phản ứng hóa học.Các nội dung mới như: tre, mây, song; gốm xây dựng; chất dẻo, tơ, sợi
2.2.3 Chủ đề thực vật và động vật
Tiếp tục kế thừa và mở rộng kiến thức về: sự trao đổi chất và sự sinhsản của thực vật và động vật Các nội dung mới: quan hệ thức ăn và chuỗithức ăn trong tự nhiên
2.2.4 Chủ đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên
Các nội dung sau được nhắc lại và mở rộng thêm: Vai trò của môitrường đối với con người; tác động của con người đối với môi trường tựnhiên; một số ví dụ về môi trường và tài nguyên thiên nhiên; một số biệnpháp bảo vệ môi trường
Trang 232.3 Ý nghĩa thực tiễn của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua môn Khoa học lớp 4,5
Môn Khoa học lớp 4,5 được dạy 2 tiết trên một tuần.Đây là môn họctổng hợp với hệ thống các kiến thức phong phú về sinh học, vật lí và hóa học,nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học sơ đẳng về các hiệntượng và sự vật gần gũi trong tự nhiên, bao gồm cả con người và các hoạtđộng vào thế giới tự nhiên Qua môn học này, bước đầu hình thành cho các
em một số kĩ năng quan sát, dự đoán và vận dụng kiến thức khoa học vàocuộc sống; đồng thời góp phần hình thành cho các em một số thói quen, hành
vi có lợi cho sức khỏe cá nhân, gia đình, cộng đồng Những kiến thức, kĩnăng, phương pháp học môn Khoa học là cơ sở để các em học tiếp môn Sinhhọc, Vật lí, Hoá học ở cấp trung học cơ sở
Ngoài việc cung cấp các kiến thức cơ bản về các các môn học đượclồng ghép trong môn Khoa học, học sinh còn được hình thành các kĩ năng cơbản của cuộc sống gia đình, cộng đồng như: biết một số chất dinh dưỡng (chấtbột, chất đạm, chất béo, chất khoáng, vitamin,…) có trong thức ăn và nhu cầucác chất dinh dưỡng của cơ thể; ăn uống khi ốm đau; bết phòng một số bệnh
do thiếu hoặc thừa chất dinh dưỡng; phòng một số bệnh lây qua đường tiêuhóa; phòng đuối nước; cách chăm sóc người thân trong gia đình khi bị ốmđau: cách dùng thuốc an toàn, đi ngủ phải mắc màn; biết cần phải làm gì để cả
mẹ và bé đều khỏe khi mẹ mang thai; biết giữ vệ sinh các nhân ở tuổi dậy thì;biết nói “Không!” đối với các chất gây nghiện như rượu, thuốc lá; biết nguyênnhân cơ bản của một số bệnh thông thường để phòng tránh như: sốt rét, viêmnão, viêm gan A; phòng tránh và có thái độ thích hợp đối với người nhiễmHIV/AIDS; biết cách giữ an toàn: khi đi ra ngoài phố, khi tiếp xúc với sôngnước, khi sử dụng điện, trong ăn uống hàng ngày; biết sử dụng hợp lí, bảo vệ
Trang 24nguồn nước…; biết ứng xử thân thiện với môi trường, với mọi người trongcộng đồng…
Từ thực tế cho thấy, những em được giáo dục chu đáo, có vốn kiếnthức khoa học, kĩ năng sống ngay từ khi ngồi trên ghế trường tiểu học thìthường phát triển toàn diện, khỏe mạnh cả về thể chất và tinh thần
2.4 Chương trình môn Khoa học lớp 4,5 với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học.
2.4.1 Chương trình môn Khoa học lớp 4 với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Trong chương trình môn Khoa học lớp 4 có những bài học lồng ghép kĩnăng sống theo từng chủ đề sau:
Bảng 1: Tên các bài học có nội dung tích hợp kĩ năng sống vào môn Khoa
học lớp 4
Chủ đề 1: Con người
và sức khỏe
Chủ đề 2: Vật chất và năng lượng
Chủ đề 3: Thực vật và động vật
Bài 9: Sử dụng hợp lí
các chất béo và muối ăn
Bài 27: Một số cách làmsạch nước
Bài 66: Chuỗi thức ăntrong tự nhiên
Bài 10: Ăn nhiều rau và
bệnh lây qua đường tiêu
Bài 55- 56: Ôn tập: Vậtchất và năng lượng
Trang 25Con người và sức khỏe
2.4.2 Chương trình môn Khoa học lớp 5 với việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Bảng 2: Tên các bài học có nội dung tích hợp kĩ năng sống vào môn Khoa
học lớp 5
Chủ đề 1: Con người và
sức khỏe
Chủ đề 2: Vật chất vànăng lượng
Bài 68: Một số biệnpháp bảo vệ môi trườngBài 8: Vệ sinh ở tuổi dậy
thì
Bài 42 – 43: Sử dụngnăng lượng điện
Bài 9 – 10: Thực hành:
Nói “Không!” đối với
các chất gây nghiện
Bài 49 – 50: Ôn tập: Vậtchất và năng lượng
Trang 26nạn giao thông đường bộ
2.5 Các phương pháp thường sử dụng trong quá trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua môn Khoa học lớp 4,5
2.5.1.Phương pháp Động não:
2.5.1.1.Các mục tiêu chủ yếu:
-Nhằm khuyến khích học sinh đưa ra nhiều ý kiến bổ ích về bất kì vấn
đề hay chủ điểm đang học
-Tạo động cơ để học sinh phát triển các kĩ năng trong việc giải quyếtcác vấn đề đòi hỏi sự sáng tạo
Trang 27-Giáo viên nhận xét,kết luận khi học sinh đã thảo luận.Bằng việc hạn chếnhững chê trách , đánh giá hay phán xét quá sớm,giáo viên đã khích lệ được
sự sáng tạo của học sinh
2.5.1.3.Yêu cầu sư phạm:
-Giáo viên cần nhạy bén, khéo léo lái ý kiến vào chủ đề mình đã đưa ra
2.5.2.2.Các bước tiến hành:
-Xác định mục đích quan sát(Để làm gì? Tại sao phải quan sát?)
Lựa chọn đối tượng quan sát(Sự vật, hiện tượng gì?Ở đâu? )
-Tổ chức cho học sinh quan sát(Chia mấy nhóm?Đứng, ngồi như thếnào?Trong lớp hay ngoài lớp?)
-Hướng dẫn cách quan sát(từ tổng thể đến bộ phận;từ chung đếnriêng;từ ngoài vào trong);cách huy động các giác quan tham gia(khi nào thìdùng mắt hoặc mũi ,tay , lưỡi) nhằm đạt được mục tiêu cần quan sát
2.5.2.3.Yêu cầu sư phạm:
Trang 28-Không phải mọi kiến thức hay kĩ năng đều được rút ra từ quan sát,nêngiáo viên cần xác dịnh rõ mục tiêu kiến thức,kĩ năng nào cho học sinh cần đạttrong bài học,thông báo cho học sinh trước khi quna sát.
-Lường trước những nguy hiểm,bất trắc có thể xảy ra khi học sinh quan
-Nâng cao khả năng tự nhận thức
-Tôn trọng những quan điểm khác
-Tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề khác
-Nâng cao kĩ năng nói
2.5.3.2:Các bước tiến hành
-Giáo viên trình bày cảnh đóng vai
-Hỏi xem học sinh nào xung phong đóng vai không ( khuyến khích đểhọc sinh tự nhận vai phù hợp)
-Những học sinh diễn vai của mình theo bối cảnh được hướng dẫn
- Phân tích vai diễn
2.5.3.3.Yêu cầu sư phạm:
-Tình huống và các vai diễn phải xác định rõ ràng,có thời gian hạnđịnh
-Phải nhạy cảm với quan điểm khác
-Khi cần,phê phán tích cực và phân tích vai diễn(Bạn có thể có giảipháp nào hiệu quả hơn không?Bạn rút ra được bài học gì?)
Trang 292.5.4.Phương pháp Hợp tác theo nhóm nhỏ
Cả lớp được chia thành nhiều nhóm nhỏ, học tập theo kiểu hợptác.Từng nhóm nhỏ tập hợp lại với nhau để bản bạc,trao đổi thân mật về mộtchủ đề cụ thể các ý kiến,kinh nghiệm, ý tưởng được đưa ra và thảo luận
2.5.4.1.Các mục tiêu chủ yếu:
-Khám phá, tìm ra những điều mới
-Mở rộng suy nghĩ và hiểu biết
-Phát triển kĩ năng nói, giao tiếp
-Khai thác các phát hiện mới giữa giáo viên – học sinh, học sinh- họcsinh
2.5.4.2.Các bước tiến hành:
- Chia nhóm theo mục tiêu cần thảo luận, cử nhóm trưởng
- Giao thời gian, nhiệm vụ làm việc theo từng nhóm ,chi tiết rõ ràng , cặn
kẽ đến từng cá nhân trong nhóm trước khi bắt đầu làm việc
- Đến từng nhóm cùng tham gia làm việc với học sinh trong nhữngkhoảng thời gian hợp lí
- Từng nhóm trưởng lần lượt trình bày các ý kiến chung của nhóm.Cácnhóm khác nghe, bổ sung
- Câu hỏi đóng vai trò chủ yếu trong quá trình thảo luận.Có ba kĩ năngcần lưu ý trong quá trình đặt câu hỏi
+ Chuẩn bị các câu hỏi thảo luận nhóm: Đặt các câu hỏi rõ ràng,chính xác ,hợp lí dựa trên thông tin mình muốn biết về một vấn đề cụ thể;mang tínhthách thức nhằm kích thích tư duy
+ Xử lí các câu trả lời do đại diện của các nhóm trình bày:Khích lệ các câutrả lời đúng;khuyến khích nỗ lực của học sinh; của nhóm bất kể ý kiến đưa rađúng hay sai, giảm đến mức thấp nhất sự chê trách đối với những câu trả lờisai hoặc chưa hoàn chỉnh