1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lễ hội chọi trâu xã hải lựu huyện sông lô tỉnh vĩnh phúc

79 861 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiênnhìn một cách tổng thể, khái quát thì các lễ hội truyền thống Việt Nam cũngmang những đặc điểm chung cơ bản như; đều hướng đến một đối tượng suytôn; hình thức tổ chức một lễ hội

Trang 1

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Trải qua hơn bốn nghìn năm lịch sử, cũng như nhiều quốc gia khác trênthế giới, Việt Nam có một nền văn hóa mang bản sắc riêng, chính những nétriêng đó đã làm nên cốt cách, hình hài của bản sắc văn hóa dân tộc

Văn hóa như một dòng chảy xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước,hợp lưu bởi nhiều giá trị, yếu tố cấu thành Đi sâu vào tìm hiểu cấu trúc nềnvăn hóa Việt Nam, ta thấy yếu tố làm cho nền văn hóa có tính “truyền thống”thể hiện được các giá trị về đời sống tinh thần, nét đẹp trong đời sống sinhhoạt văn hóa dân gian qua mỗi vùng miền, đó chính là “ Các lễ hội truyềnthống”

Theo những thống kê của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian tính đếnnăm 2009 cả nước ta có 7.966 lễ hội Trong đó lễ hội truyền thống có trên 500

lễ hội được trải dài trên khắp mọi miền đất nước trong mỗi làng quê ViệtNam

Mỗi một lễ hội truyền thống lại mang một nét văn hóa, đặc trưng riêngcho mỗi làng quê, thể hiện sự phong phú, đa dạng về màu sắc văn hóa cũngnhư những sinh hoạt tín ngưỡng trong đời sống của người dân Tuy nhiênnhìn một cách tổng thể, khái quát thì các lễ hội truyền thống Việt Nam cũngmang những đặc điểm chung cơ bản như; đều hướng đến một đối tượng suytôn; hình thức tổ chức một lễ hội truyền thống bao gồm hai phần “Lễ và Hội”;

là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng thể hiện sự đoàn kết của người dân( mộtnét đẹp trong truyền thống của dân tộc) Do vậy giữ gìn, phát huy và pháttriển các lễ hội truyền thống là một mục tiêu quan trọng trong chủ trương pháttriển kinh tế gắn liền với phát triển và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thốngcủa Đảng và Nhà nước ta

Trong xu thế vận động và phát triển của xã hội ngày nay Tốc độ độ đôthị hóa, cuộc sống hiện đại đã mang lại cho con người sự tiện nghi, đầy đủ vềvật chất Song mặt trái của nó lại làm cho con người đánh mất đi nét đẹp,

Trang 2

những giá trị truyền thống được lưu giữ bấy lâu, khiến con người quên đinguồn cội, quên đi quá khứ, quay lưng lại với những giá trị truyền thống tốtđẹp mà ông cha ta đã gây dựng Chính vì lí do đó việc khảo cứu, bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hóa trong đó có các lễ hội truyền thống là một việclàm cần thiết và quan trọng trong quá trình xây dựng phát triển đất nước.

Lễ hội chọi trâu xã hải lựu huyện sông lô tỉnh vĩnh phúc là một trong “ 25 lễhội truyền thống đắc sắc nhất của Việt Nam” còn tồn tại Lễ hội được diễn rahàng năm tại xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc, lễ hội mang nhiềugiá trị trong văn hóa của người dân vùng đồng bằng và Trung Du Bắc Bộ.Bản thân Tôi sinh ra và lớn lên trên chính mảnh đất quê hương Hải Lựu, nơihàng năm vẫn diễn ra lễ hội Chọi trâu đặc sắc:

“Dù ai đi đâu về đâu Tháng giêng mười bảy chọi trâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng giêng mười bảy thì về chọi trâu”

Từ những quan sát, kiểm chứng và nhận thức được những giá trị vănhóa của lễ hội cần được bảo tồn và phát huy Mặt khác từ chuyên ngành đượchọc tập và nghiên cứu bản thân Tôi cũng nhận ra rằng ngoài việc bảo tồn vàphát triển lễ hội thì việc khai thác các điều kiện, lợi thế từ lễ hội để phát triển

các hoạt động du lịch là một việc làm có ý nghĩa thực tiễn Đề tài: “Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc” không chỉ giúp cho

việc bảo tồn, phát triển lễ hội mà còn quảng bá, tuyên truyền hình ảnh, giá trịcủa lễ hội, đề suất các giải pháp có ý nghĩa thực tiễn để khai thác các tiềmnăng lễ hội để phục vụ các hoạt động du lịch mang lại nguồn lợi đóng góp chođịa phương xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng và cho hoạtđộng du lịch của cả nước nói chung

2 Lịch sử nghiên cứu

Có rất các tác phẩm, tài liệu, công trình viết về lễ hội chọi trâu xã HảiLựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc:

Trang 3

Vũ Thế Bình (2009), Non Nước Việt Nam, Nhà xuất bảnTổng Cục Du

Lịch trung tâm Thông Tin Du Lịch-Hà Nội

“Tạp chí văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc”, số 12/2010,

chuyên đề Du Lịch

“Tạp chí văn hóa thể thao và du lịch Vĩnh Phúc”, số 3-10/2009,

chuyên đề huyện Sông Lô.

Nguyễn Khắc Xương (2011), Tín ngưỡng lúa nước vùng đất tổ Nhà

xuất bản Thời Đại

Hà Văn Thư (2008), Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu, Công Ty in Ba

Nhất

Mỗi một công trình, tác phẩm viết về lễ hội chọi trâu xã Hải Lưụ huyệnSông Lô tỉnh Vĩnh Phúc được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau Do đó đểnghiên cứu toàn diện, sâu sắc theo nghĩa tuyệt đối, trên mọi khía cạnh thìdường như chưa có công trình nào đạt được Do vậy, đề tài khóa luận tiếp tụcnghiên cứu lễ hội dựa trên sự kế thừa, tiếp thu thành tựu của khoa học đitrước và cũng như để hoàn thiện, phát triển, giải quyết những vấn đề của cácnghiên cứu trước còn bỏ ngỏ

Tên của đề tài khóa luận chưa từng được xuất hiện hay công bố

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu cụ thể: Nghiên cứu các giá trị văn hóa truyềnthống của lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc và pháttriển các tiềm năng du lịch từ lễ hội, góp phần bảo tồn, giữ gìn, phát huy bảnsắc văn hóa đồng thời phát triển các hoạt động du lịch

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu

huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc và những tiềm năng phát triển du lịch

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu lễ hội từ khi xuất hiện (thế kỉ II) đến nay Phạm vi không gian:

Trang 4

Không gian phần lễ: Được diễn ra tại Đình Trên, Đình Kiêng (lễ hộichọi trâu diễn ra trước năm 1947), Đài tưởng niệm, Đền thờ Hùng Vương (tạiPhú Thọ)

Không gian diễn ra phần hội: Sân Đình Trên, Kiêng, bến Ảnh (xưa),sân Uỷ Ban xã trên gò Mả Đàm (ngày nay)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Những cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài

Hiện trạng của lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh VĩnhPhúc và các tiềm năng phát triển du lịch

Các giải pháp bảo tồn, phát huy và phát triển du lịch của lễ hội chọi trâu xãHải lựu huyện Sông lô tỉnh Vĩnh Phúc

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin

Nghiên cứu Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúcqua việc thu thập các tài liệu có sẵn từ trước Sách, báo, các văn bản, tạp chí,website, internet và các nguồn tư liệu từ địa phương cung cấp có liên quanđến lễ hội

6 2 Phương pháp khảo sát thực địa.

Là phương pháp nghiên cứu giúp chúng ta tiếp cận vấn đề một cách chủđộng, trực quan, đánh giá một cách xác thực đề có cái nhìn toàn diện về đốitượng nghiên cứu Cụ thể trong đề tài này, phương pháp được vận dụng, thamgia trực tiếp lễ hội để có những kết quả xác thực, đúng đắn, có giá trị thựctiễn

Các hoạt động khi tiến hành phương pháp: Quan sát, mô tả, quay phim,chụp ảnh, ghi âm, ghi chép

6.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu.

Nhằm so sánh lễ hội với các lễ hội chọi trâu diễn ra ở những khu vựckhác để thấy được những nét đặc trưng, riêng biệt và tiêu biểu của lễ hội : Lễ

Trang 5

hội chọi trâu ở Đồ sơn ( Hải Phòng), chọi trâu ở Phù Ninh ( Phú Thọ), lễ ởHàm Yên( Tuyên Quang).

6.4 Phương pháp phỏng vấn, hỏi ý kiến trực tiếp.

Là phương pháp đưa ra những câu hỏi liên quan đến nội dung, đốitượng nghiên cứu của đề tài, với người dân ở địa phương, khách tham quan lễhội, cơ quan tổ chức quản lý lễ hội để thu thập thông tin

Tiến hành phỏng vấn trực tiếp người dân bản địa, đặc biệt là các bậchương lão, cao tuổi trong làng, đế có nguồn thông tin, chính xác, phong phú

và đầy đủ về lễ hội

6.5 Phương pháp mô tả

Mô tả các hoạt động của lễ hội: “Hoạt động Lễ, hoạt động Hội”, cáchoạt động trước và sau lễ hội

6.6 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Gồm hệ thống cơ sở các khái niệm, lí thuyết liên quan đến đề tài nghiêncứu (khái niệm lễ hội, lễ hội truyền thống, khái niệm du lịch, tiềm năng dulịch)

7 Đóng góp của khóa luận

7.1 Đóng góp về mặt lý luận.Đề tài đã cung cấp và làm rõ được hệ

thống kiến thức lý thuyết về giá trị văn hóa, bản sắc đặc trưng mang tínhvùng miền của lễ hội từ đó nêu ra được hiện trạng và định hướng phát triểncho lễ hội

7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Cung cấp được những thông tin, kiến thức phong phú về lễ hội, lễ hộitruyền thống chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc đáp ứngnhu cầu tìm tòi, khám phá của những người quan tâm đến lễ hội

Từ những đề xuất, giải pháp cụ thể có ý nghĩa áp dụng thực tiễn đề tài sẽ là cơ

sở cho việc hoạch định công tác giữ gìn, bảo tồn và khai thác phát triển lễ hộiphục vụ cho các hoạt động du lịch, quảng bá hình ảnh địa phương

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, lời cảm ơn, lời cam đoan…phầnnội dung khóa luận gồm 3 chương:

Trang 6

Chương1: Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu lễ hội.

Chương2: Hiện trạng phát triển và khai thác các tiềm năng du lịch của

lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông lô tỉnh Vĩnh Phúc

Chương3: Các giải pháp bảo tồn, phát huy và phát triển du lịch của lễhội chọi trâu xã Hải lựu huyện Sông lô tỉnh Vĩnh Phúc

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU LỄ HỘI 1.1 Khái quát về lễ hội

Lễ hội là một trong những bộ phận cấu thành nên nền văn hóa của mộtquốc gia, dân tộc Nó được xem là hiện tượng văn hóa tổng hợp, quy tụ mọisinh hoạt văn hóa vật chất, tinh thần đã được sàng lọc, duy trì và liên tục được

bổ sung theo thời gian Mục đích chính của lễ hội là nhằm thỏa mãn nhu cầutâm linh, tín ngưỡng, vật chất của con người

Lễ hội và lễ hội truyền thống Việt Nam là nét văn hóa đặc sắc, tiêu biểutrong cấu trúc thượng tầng nền văn hóa Theo các số thống kê năm 2009 về lễhội Việt Nam của các nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian cả nước ta có 7.966 lễhội trong đó các lễ hội dân gian, lễ hội truyền thống chiếm đến 500 lễ hội trảidài trên khắp mọi miền, khắp các làng quê Việt Nam, mỗi lễ hội mang mộtmàu sắc, đặc trưng văn hóa riêng của vùng miền tạo nên sự đa dạng phongphú cho lễ hội nói riêng và nền văn hóa dân gian nói chung

Như vậy, lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính tổng hợp cácyếu tố tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linhthiêng và đời thường trong mối quan hệ giữa con người với thần linh, conngười với con người và con người với tự nhiên Lễ hội cũng là một bộ phận

Trang 7

của nền văn hóa dân gian được sáng tạo và bảo tồn, lưu truyền lâu đời tronglòng xã hội từ xưa đến nay.

Lễ hội và lễ hội truyền thống ở Việt Nam giữ một vai trò và vị trí quantrọng không chỉ trong xã hội truyền thống xưa mà đối với xã hội hiện đại lễhội là một bộ phận của thượng tầng văn hóa luôn được đặt song hành với quátrình phát triển kinh tế, hội nhập thế giới (trong Đại Hội lần thứ V của Đảng

về Xây dựng và phát triển kinh tế đi đôi với phát triển nền văn hóa tiến tiến

- những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các

vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thi hình thnahên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người.Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa

Trang 8

phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vật chất

và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí Lễ hội cũng là dịp con người được giải toả, dãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che để vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống tiến tới hi vọng một ngày mai tươi sáng hơn”.

Theo giáo trình: “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của PGS.TS Lê Thông và Nguyễn Minh Tuệ ( Nhà xuất bản Giáo Dục-1998) định nghĩa về lễ hội: “Lễ

hội là loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc là dịp để con người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại; sự ngưỡng mộ tổ tiên, nguồn cội; ôn lại truyền thống hay để giải quyết những nỗi lo âu, những khao khát, ước mơ mà cuộc sống thực tại chưa giải quyết được”.

Theo định nghĩa trong cuốn “Hỏi đáp về văn hóa Việt Nam” của nhiềutác giả

(Nhà xuất bản VHDT tạp chí Văn Học Nghệ Thuật-HN 1998), mang cho

chúng ta một cách nhìn mới về lễ hội: “Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nhân dân diễn ra trong trong những chiều dài không gian, thời gian nhất định, làm rõ nhưng nghi thức về nông nghiệp được sùng bái, để tỏ rõ những ước vọng, để vui chơi trong tinh thần cộng mệnh và cộng cảm”.

Trang 9

Lễ hội thực chất là một nét sinh hoạt văn hóa tinh thần của con người,gắn với con người như một điều tất yếu Lễ hội đáp ứng những nhu cầu tinhthần, tâm linh không thể thiếu của con người như trở về với tự nhiên, cộinguồn, là môi trường để người dân thể hiện sức mạnh cố kết cộng đồng Nó

mang giá trị bảo tồn văn hóa và truyền thống, là “bảo tàng sống” về văn hóa

truyền thống của dân tộc

1.1.1.2 Cấu trúc của lễ hội

Mỗi lễ hội là một nét văn hóa mang tính đặc trưng cho vùng miền tuynhiên các lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống dân gian nói riêng đều cóchung những đặc điểm: tính thiêng liêng của lễ hội; sự tôn sùng một đốitượng, nhân vật lịch sử, đều hướng về cội nguồn; sự giải thiêng trong tâmthức; nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng Đặc biệt các lẽ hội đều có cấu trúcchung gồm hai phần

• Phần nghi lễ

• Phần hội

Phần nghi lễ: Trong một lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng,

phần nghi lễ thường diễn ra trước phần hội (Tuy nhiên cũng có một vài lễ hộiphần lễ diễn ra sau phần hôi hay một vài lễ hội phần lễ diễn ra song song cungphần hội)

Phần lễ là toàn bộ các nghi thức tưởng niệm, các hoạt động thờ tế đểghi nhớ một sự kiện lịch sử, một nhân vật anh hùng có công với cộng đồng,đất nước hay các hình tượng được suy tôn (thần tự nhiên, thần nôngnghiệp ) Niềm tin là yếu tố cơ bản để tồn tại một lễ hội Nghi lễ là yếu tốnền móng vững chắc tạo nên tính thiêng liêng, tính giá trị trong một lễ hội dângian truyền thống

Theo định nghĩa của Lê Văn Kỳ trong cuốn “Cơ cấu và việc tổ chức lễ hội ” (Chương IV trong sách Lễ hội cổ truyền- Viện Văn hóa dân gian, nhiều

tác giả, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, VN, 1992). “Lễ trong lễ hội là một

Trang 10

hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của dân làng đốivới các thần linh, lực lượng siêu nhiên nói chung, với thần thánh, ThànhHoàng nói riêng Đồng thời lễ cũng phản ánh những nguyện vọng, ước mơchính đáng của con người trước cuộc sống đầy rẫy những khó khăn mà bảnthân họ chưa có khả năng cải tạo”.

Theo một định nghĩa khác của trang:

“vssr.org.vn/index.php?option=com”, “Lễ là các hành vi (cúng, vái,

lạy, tụng, niệm, cầu khẩn, rước, v.v) đã được cộng đồng quy ước theo một quy cách chặt chẽ nhằm thể hiện lòng tin, sự tôn kính của con người đối với đấng mà họ sùng bái”.

Theo giáo trình “Văn Hóa Du Lịch” của TS Trần Diễm Thúy: “Lễ là

một hệ thống các nghi thức, hành vi, động tác có định ước, có quy tắc chặt chẽ, ổn định được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong đời sống sinh hoạt văn hóa của nhân dân Trong đó các hành vi thể hiện sự tôn kính của một tập thể cộng đồng người đối với một lực lượng siêu nhiên tồn tại trong tâm linh của họ”.

Như vậy qua các định nghĩa về Lễ trong lễ hội ta thấy đây là một phầnquan trọng trong lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng, là yếu tốhạt nhân tạo nên sự linh thiêng, giá trị thẩm mĩ về nét đẹp văn hóa truyềnthống.( ví dụ như nghi lễ trong lễ hội Đền Hùng đóng vai trò quan trọng là sựtưởng niệm , ghi nhớ công ơn của các vị Vua Hùng với sự nghiệp xây dựngnhà nước đầu tiên của dân tộc vừa qua nghi lễ trong tín ngưỡng thờ cúng

Hùng Vương đã được UNESCO công nhận là một di sản văn hóa phi vật thể

ngày mùng 6 tháng 12 năm 2012 )

Phần Hội : Nếu như phần nghi lễ là sự tưởng niệm, thiêng liêng mang

nhiều yếu tố thiên về tinh thần thì phần hội lại thể hiện sự sôi nổi, ồn ào, thiên

về các yếu tố vật chất, là những sinh hoạt văn hóa cộng đồng mang tính vuichơi, giải trí trong phần hội không bị rằng buộc bởi các lễ nghi, tôn giáo,

Trang 11

đẳng cấp và tuổi tác mọi người cùng bình đẳng tham gia các hoạt động, cáctrò chơi, trò diễn dân gian Như vậy:

“ Hội được cấu thành bởi những hình thức sinh hoạt vui chơi, những trò bách hí, không gian, thời gian, cảnh quan môi trường, tâm lí hội và hành động hội, di tích lịch sử, danh thắng ”( ví dụ như phần hội trong lễ hội chọi

trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc, hội chính là sự thi đấu trnhtài của các “ Ông Cầu” ngoài ra thì hội còn có các trò chơi dân gian như: Cờtướng, chọi Gà, )

1.1.1.3 Quan hệ giữa phần lễ và phần hội trong lễ hội

Hai phần “Lễ và Hội” là hai cấu trúc cơ bản của một lễ hội Cả phần lễ

và phần hội đều giữ vai trò quan trọng và không thể thiếu

Giữa Lễ và Hội tồn tại một mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ không tách rời.Phần nghi lễ là hạt nhân thường là yếu tố quy định các hoạt động của phầnhội, ngược lại phần hội là hoạt động mô tả, diễn xướng các nghi thức trongphần lễ Cũng có nhiều trường hợp, nhiều lễ hội có phần lễ và phần hội táchbiệt, hoặc phần nghi lễ mờ nhạt (chọi Gà, đấu vật), hay phần nghi lễ tiềm ẩntrong phần hội

Ngày nay trong một lễ hội phần hội được thể hiện rõ và mang tính chấttrọng tâm hơn phần lễ( do nhiều yếu tố khách quan tác động: sự thương mạihóa, đa dạng hóa các hoạt động hội nhằm mục đích du lịch, kinh tế ) Tuynhiên mối quan hệ giữa lễ và hội trong lễ hội vần là “ Sự uyển chuyển, hòahợp giữa yếu tố tĩnh và động, linh thiêng và gần gũi ” tạo nên một hệ thốnghành động phức hợp nhưng vẫn hài hòa

1.1.2 Lễ hội truyền thống

1.1.2.1 Khái niệm lễ hội truyền thống

Theo Nhà nghiên cứu sử học “GS Nguyễn Khắc Thuần”: “Lễ hội

truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa đóng vai trò hết sức quan trọng

Trang 12

đối với nhân dân Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống

“Uống nước nhớ nguồn” Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người Lễ hội cũng thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc Lễ hội còn

là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư”

Lễ hội truyền thống là một bộ phận thuộc lễ hội nói chung, mang các

đặc điểm riêng biệt đó là “thời gian hình thành và tính lưu truyền qua các thế hệ ” thể hiện một truyền thống, một nét đẹp trong văn hóa tín ngưỡng của

dân tộc mang tính giáo dục cao Yếu tố cơ bản của lễ hội truyền thống đó là

tinh “cộng đồng”

1.1.2.2 Ý nghĩa của lễ hội truyền thống trong lịch sử

Lễ hội truyền thống là yếu tố mang nhiều ý nghĩa, giá trị quan trọng.Trong xã hội xưa, lễ hội truyền thống gắn bó với người dân là những sinhhoạt văn hóa trong đời sống của họ Hầu hết các lễ hội trong xã hội xưa đềuthể hiện hững sinh hoạt trong đời sống tinh thần, trong sản xuất nông nghiệp,tín ngưỡng dân gian, truyền nối từ thế hệ này qua thế hệ khác

Các lễ hội chủ yếu được tổ chức vào mùa xuân, mùa thu và sau mùa thuhoạch của người dân

Trong lịch sử, đất nước ta trải qua nhiều biến cố, thăng trầm, lễ hộinhiều khi phải gián đoạn Nhưng khi đất nước hòa bình, nhân dân lại khôiphục và tổ chức lại các lễ hội truyền thống, điều đó chứng tỏ rằng, các lễ hộitruyền thống luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đời sốngtinh thần của mỗi người dân Việt Nam Giáo dục con người ghi nhớ công ơn,

Trang 13

lưu giữ những giá trị truyền thống, động viên, khích lệ tinh thần đoàn kết, đấutranh của thế hệ các anh hùng, của cha anh đi trước

Lưu giữ và phát triển các lễ hội trong lịch sử cũng mang một ý nghĩaquan trọng đó là cơ sở, nguồn cội để các thế hệ tương lai nối tiếp, phát triển

và ngày nay các lễ hội truyền thống trở thành nét văn hóa truyền thống đặctrưng, phong phú và giàu bản sắc cho nền văn hóa Việt Nam, không chỉ làniềm tự hào mà các lễ hội truyền thống còn là một “ Nguồn tài nguyên du lịchnhân văn” đóng góp cho sự phát triển của ngành Du lịch nói riêng và cho nềnkinh tế của cả nước nói chung trong tương lai lâu dài

1.1.2.3 Ý nghĩa của lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại

Lễ hội truyền thống không chỉ mang ý nghĩa trong xã hội xưa, thể hiệnnhững giá trị cho nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc mà lễ hội trong

xã hội hiện đại cũng thể hiện và mang nhiều ý nghĩa, giá trị to lớn cho sự hộinhập và phát triển của dân tộc, đất nước

Khi đất nước bước vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các lễ hội truyềnthống vẫn tồn tại, phát triển và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinhthần của mỗi người dân, mỗi cộng đồng, dân tộc Thể hiện nét đẹp văn hóađặc trưng cho vùng miền, địa phương Bên cạnh đó, với sự hội nhập, gắnmục tiêu phát triển kinh tế tế với văn hóa, nâng cao kinh tế phải đi đôi vớibảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, trong các chủ trương,đường lối phát triển của Đảng, Nhà nước

Mặt khác, các lễ hội truyền thống là một tài nguyên du lịch nhân văn

Do vậy khai thác các tiềm năng của lễ hội để phục vụ và phát triển du lịch làmột công việc vừa giúp giữ gìn, bảo tồn và phát huy, phát triển các lễ hộitruyền thống trong xã hội hiện đại

Lễ hội truyền thống tồn tại và ngày càng được phát triển trong xã hộihiện đại, mang những ý nghĩa không thể phủ nhận, không chỉ về tinh thần mà

Trang 14

còn cả các giá trị đóng góp về vật chất, xuất phát từ chính những “giá trị” của

lễ hội truyền thống

Lễ hội trong xã hội hiện đại giúp cho con người gần nhau hơn, đoànkết, gắn bó sau những bộn bề lo toan của cuộc sống Đây cũng là một trongnhững truyền thống tốt đẹp của ông cha

Thông qua các lễ hội, lễ hội truyền thống cũng tạo cho con người trong xã hộihiện đại niềm lạc quan, yêu đời, yêu chân lý, trọng cái thiện và làm cho tâmhồn, nhân cách mỗi con người như được sưởi ấm tính nhân đạo, nhân văn đểrồi thấm sâu vào cuộc sống đời thường đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa tinhthần, tâm linh về giao lưu, làm cho đời sống có ý nghĩa hơn, tốt đẹp hơn.Chiều sâu văn hóa tinh thần của các lễ hội truyền thống là giá trị bảo lưu cộinguồn, là thứ “vũ khí tư tưởng sắc bén” cho mọi thời đại của mỗi dân tộc Do

đó, lễ hội truyền thống trong lịch sử hay trong xã hội hiện đại đều góp phầngiáo dục truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc cho mọi thế hệ, làm lànhmạnh, phong phú đời sống tinh thần và cũng để nhằm góp phần thực hiện

“xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được đề

ra trong Nghị quyết lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)

1.2 Khái quát về du lịch

1.2.1 Khái niệm du lịch

Du lịch là một hoạt động được xuất hiện và có lịch sử lâu đời Trên thếgiới, trong thời kì cổ đại với các nền văn hóa lớn như: Ai Cập, Hy Lạp đã xuấthện hình thức đi du lịch tuy đó chỉ là hoạt động mang tính tự phát, đó chỉ làcác cuộc hành hương về các thánh địa, đất thánh, đền chùa, các nhà thờ Kitôgiáo, các cuộc du ngoạn của vua chúa và quý tộc Đến khoảng thế kỉ XVII,thời kì phục hưng ở các nước châu Âu, kinh tế-xã hội phát triển, các lĩnh vựcnhư thông tin, giao thông vận tải theo đó phát triển nhanh chóng, điều đó càngthúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ Đến thời kì hiện đại cùng với sự bùng nổ

Trang 15

của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, sự ra đời của các phương tiện giaothông mới, du lịch có điều kiện để phát triển mạnh, con người có thể đi từ nơinày đến nơi khác trong thời gian ngắn Sống trong không gian “bê tông, máytính”, làm cho con người căng thẳng, mệt mỏi từ đó dẫn tới sự nảy sinh cácnhu cầu trở về với thiên nhiên, về với cội nguồn văn hóa dân tộc hay chỉ đơngiản là để nghỉ ngơi sau những thời gian lao động mệt nhọc Do đó du lịch đãdần trở thành hoạt động quen thuộc trong đời sống con người và càng pháttriển phong phú về tổ chức cũng như các loại hình du lịch.

Theo định nghĩa của tổ chức Du lịch Thế giới ( World Tourist

Organization), một tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc, định nghĩa: “ Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn Trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm (phải trên 24h ), ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình, không mang mục đích kinh tế.”

Định nghĩa trong Từ điển Bách khoa về du lịch (Viện hàn lâm): “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là một công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch”.

Ở nước ta, khái niệm du lịch được nêu trong pháp lệnh du lịch như sau:

“ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.

1.2.2 Khái niệm tiềm năng du lịch

Trang 16

Theo triết tự thì “Tiềm năng” có nghĩa là năng lực, sức mạnh, thế mạnh

tiềm tàng, ẩn nấp chưa được khai thác (Năng: trong chữ năng lực, khả năng, tiềm năng chỉ thế mạnh Còn Tiềm có nghĩa là: ẩn, kín, khuất nấp).

Như vậy theo triết tự từ như trên thì tiềm năng du lịch được định nghĩa là:

“Các điều kiện, thế mạnh về du lịch chưa được con người khai thác và sử dụng ở hiện tại nhưng có thể được khai thác và sử dụng cho sự phát triển của

du lịch trong tương lai”.

Đất nước ta được đánh giá là quốc gia có nhiều tiềm năng du lịch chưađược khai thác và sử dụng cho sự phát triển của nghành du lịch.Các thế mạnh

về tự nhiên

(sông núi ao hồ biển cả, động thực vật phong phú, địa hình đa dạng và

có sự phân hóa, trải dài từ Bắc vào Nam ), con người, văn hóa, truyềnthống đều là các tiềm năng cho sự phát triển đa dạng các loại hình du lịch.Hiện nay, với những chính sách mở cửa, giao lưu và hội nhập Đảng và Nhànước luôn quan tâm chú trọng đến sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần cho người dân Sự phát triển và tăng trọng về doanh thu từngành du lịch trong những năm vừa qua đã chứng tỏ ngành du lịch đang dầntrở thành ngành kinh tế mũi nhọn và khai thác các tiềm năng du lịch đang trở

thành nội lực, yếu tố quyết định cho sự phát triển đó.

1.2.3 Khái niệm hoạt động du lịch

Theo các nhà du lịch Trung Quốc định nghĩa: “ Hoạt động du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại, phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian

du lịch làm điều kiện”.

Theo “Luật du lịch” Việt Nam được ghi trong giáo trình “Văn hóa du lịch”của TS Trần Diễm Thúy thì hoạt động du lịch là: “là hoạt động của

Trang 17

mọi thành viên, Cá nhân, tổ chức có liên quan đến du lịch” (Luật du lịch năm 2005)

Như vậy qua các định nghĩa, khái niệm nêu trên, ta thấy hoạt động dulịch là hoạt động vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế, vừa có đặc điểm, ýnghĩa của các ngành văn hóa – xã hội

1.2.4 Phát triển du lịch gắn với lễ hội

Lễ hội là một kho tàng văn hóa, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôngiáo, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ, nơi phản ánh tâm thức con ngườiViệt Nam một cách trung thực Nhìn chung, lễ hội dân tộc Việt Nam gồm hai

bộ phận: lễ hội truyền thống cung đình và lễ hội truyền thống dân gian Với lễhội dân gian, đây là nơi lưu trữ nhiều tín ngưỡng dân gian, được biểu hiệndưới nhiều dạng như thờ cúng thần hoàng, thờ mẫu, thờ cúng tổ tiên, thờ cúng

tổ nghề Ngoài ra, các tín ngưỡng dân gian còn tiềm ẩn các trò diễn như tínngưỡng thờ thần mặt trời, mặt trăng, thần nước Sự tiềm ẩn đó khiến chúng takhó nhận diện các tín ngưỡng cổ xưa ấy Cùng với tín ngưỡng, nhiều lễ hộicòn gắn với phật giáo, thiên chúa giáo Lễ hội cung đình gắn liền với văn hóacung đình của các triều đại phong kiến mà đỉnh cao và sự phong phú là các lễhội cung đình triều Nguyễn như lễ tế Nam Giao, tế Xã tắc, Truyền lô…

Lễ hội truyền thống còn lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hóa văn nghệ đặc sắc.Nơi mở hội nhiều khi là những danh lam thắng cảnh, một môi trường giàutính văn hóa và chính địa điểm mở hội đáp ứng các tiêu chuẩn của một điểm

du lịch

Với ngành Du lịch, lễ hội là một sản phẩm văn hóa đặc biệt Ngành Dulịch càng phát triển, càng gắn kết với lễ hội truyền thống Tự thân ngành dulịch trong bước đường phát triển của mình đã tìm đến lễ hội như một “sảnphẩm văn hóa đặc biệt” Đưa khách du lịch đến với các lễ hội truyền thống lànhằm để giới thiệu đất nước, con người Việt Nam hôm qua, hôm nay là giới

Trang 18

thiệu các giá trị về văn hóa, tín ngưỡng của lễ hội, tính dân tộc và tính phổquát của lễ hội Vì thế ngành Du lịch đứng trước một khó khăn, đồng thờicũng là một yêu cầu phải khai thác di sản văn hóa này sao cho khoa học, đúngvới các đặc trưng của lễ hội nói chung và lễ hội truyền thống nói riêng.

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ KHAI THÁC CÁC TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA LỄ HỘI CHỌI TRÂU XÃ HẢI LỰU

HUYỆN SÔNG LÔ TỈNH VĨNH PHÚC 2.1 Khái quát về lễ hội chọi trâu

Từ xưa đến nay hình ảnh “Con trâu là đầu cơ nghiệp” luôn được biếtđến và gắn liền với nông nghiệp với người nông dân:

“Trâu ơi ta bảo trâu này Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta Cấy cày ấy nghiệp nông gia

Ta đây trâu đấy ai mà quản công Bao giờ cây lúa còn bông

Thời còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn”

Con trâu trở lên gần gũi thân quen, là người bạn không thể thiếu củangười nông dân, nông thôn Việt Nam Lễ hội chọi trâu ra đời là một hìnhthức, tín ngưỡng sinh hoạt văn hóa là một trong những lễ hội truyền thống dângian cổ truyền còn tồn tại và mang nhiều giá trị, gắn liền với truyền thốngnông nghiệp, tinh thần thượng võ, tình đoàn kết chống lại thủy quái bảo vệxóm làng, cộng đồng của dân tộc

Lễ hội chọi trâu có ở nhiều nơi: Lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn( Hải Phòng),

lễ hội chọi trâu ở Phù Ninh (Phú Thọ), chọi trâu ở Hàm Yên( Tuyên Quang)

Trang 19

và lễ hội chọi trâu ở xã Hải Lựu, huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc Ở mỗi vùngmiền lễ hội chọi trâu lại mang một ý nghĩa, một giá trị, đối tượng suy tôn,hình thức tổ chức và nguồn gốc ra đời khác nhau Để có thể thấy được sựkhác biệt về ý nghĩa về tín ngưỡng và văn hóa của các lễ hội chọi trâu ở mỗinơi, mỗi vùng miền ta cùng đi so sánh lễ hội chọi trâu ở hai vùng tiêu biểu làĐồng bằng trung du với lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu huyện Sông Lô tỉnh VĩnhPhúc và lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn Hải Phòng ở vùng biển:

Lô, Vĩnh Phúc được hìnhthành gắn với truyền thuyết

về vị tướng Lữ Gia, người

đã có công đánh giặc, bảo vệxóm làng, sau mỗi trận chiếnthắng kẻ thù tướng quân đều

tổ chức chọi trâu, sau đó giếtthịt khao quân và để khích lệtinh thần quân sĩ Về saunhân dân Hải Lựu ghi nhớcông ơn của thừa tướng đãtôn ông thành thành hoànglàng và tiếp tục lễ hội truyềnthống cho đến tận ngày nay

Theo nhiều giai thoại còn lưutruyền trong dân gian thì lễhội chọi trâu ở Đồ Sơn HảiPhòng được kể rằng: “Xưabiển Đồ sơn thường có thủyquái quấy nhiễu Để bảo vệcuộc sống yên bình, nhân dân

đã lập đàn cúng bái cầu thầngiúp đỡ Hôm sau một thủyquái đầu rồng, mình trâukhổng lồ bị chết nổi lên, trên

cổ có một dấu chân chim Từ

đó dân làng cho rằng chínhthần đã giúp dân diệt họa,mua trâu về mổ nhằm lễ tạ vàgọi thần là “Điểm Tước” Từ

đó thần Điểm Tước trở thành

Trang 20

thành hoàng làng, cứ hàngnăm nhân dân Đồ Sơn lại tổchức cho các cặp trâu chọinhau trước khi mổ thịt tế thần.

• Từ thế kỉ II đến năm1947

• Từ năm 1947 đến năm2002

• Từ năm 2002 đến nay

Trải qua nhiều giai đoạnthăng trầm Đến năm 1989 lễhội chọi trâu Đồ Sơn đượckhôi phục, phát triển và đếnnăm 2000 chính thức đượccông nhận là một trong 15 lễhội lớn trong phạm vi cảnước

Thời gian tổ

chức

Lễ hội diễn ra vào hai ngày

16 và 17 tháng giêng âm lịchhàng năm:

“Dù ai đi đâu về đâu Tháng giêng 17 chọi trâu thì về

Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng giêng 17 thì về chọi trâu”

Lễ hội được diễn ra vào ngày

9 tháng 8 âm lịch hàng năm:

“Dù ai buôn đâu bán đâu Mồng chín tháng tám chọi trâu thì về”

Đối tượng suy

Tưởng nhớ công ơn đánhgiặc cứu dân của Thừa

Ghi nhớ công ơn của ThầnĐiểm Tước diệt thủy quái bảo

Trang 21

tôn tướng Lữ Gia vệ xóm làng.

Ý nghĩa

Lễ hội thể hiện tinh thầnthượng võ và truyền thốnguống nước nhớ nguồn củadân tộc( nét sinh hoạt vănhóa của cư dân đồng bằngBắc bộ)

Lễ hội thể hiện truyền thốnguống nước nhớ nguồn, tưởngnhớ công ơn thành hoànglàng, và nét đẹp trong sinhhoạt văn hóa của cư dân vùngbiển

Quan niệm và

cách lựa chọn

trâu chọi

Các ông cầu do một tập thểnuôi chung (một dòng họ,một làng, một giáp, mộthội )

Các trâu được lựa chọn rất

kĩ và phải theo các tiêuchuẩn “các số đo” ngực,bụng, độ rộng (mở) củasừng, màu lông, mắt, cânnặng, đọ tuổi Cụ thê mộtông cầu chuẩn phải có độtuổi từ 8 đến 11 tuổi, damốc, môi trê, mắt lồi hoe,lông đen tuyền, móng khép,chân to, đuôi chấm kheo,sừng bạc hướng tiền, cânnặng > 220kg

Lựa chọn ra các ông cầuđúng tiêu chuẩn, thể hiệntinh thần cũng như quanniệm của cư dân nông

Theo người dân nơi đây, cáctrâu được chọn để chọi phải

có màu đen tuyền vì theotruyền thuyết thì màu đentượng trưng cho nước, vai vàhông trâu phải có khoáy lànhững hình ảnh tượng trưngcho bầu trời, sấm sét và tinh

tú, sừng trâu cong là biểutượng của trăng lưỡi liềm.Lựa chọn trâu chọi cũng biểuhiện nhận thức của cư dânvùng biển về sự tương tácgiữa mặt trăng và thủy triềuliên quan đến sự ra vào củacác con thuyền đánh cá vàthuyền đi xa Hình hai contrâu chọi nhau như phản ánh

sự vận động của con nước

Trang 22

nghiệp vùng đồng bằng Bắc

bộ, vơi hi vọng trâu ở độtuổi trưởng thành, có sứckhỏe, cường tráng sẽ manglại vụ mùa thắng lợi, và cácmiếng đánh của các ông cầucũng thể hiện tinh thầnthượng võ của dân tộc

Qua sự so sánh một vài đặc điểm đặc trưng giữa hai lễ hội chọi trâu ĐồSơn và lễ hội chọi trâu Hải Lựu đã cho ta thấy tuy cùng một tên gọi, cùng mộthình thức tổ chức, nhưng ở hai vùng miền hai khu vực khác nhau mỗi lễ hộilại có những nét khác biệt Sự khác biệt đó cũng biểu hiện sự đa dạng, phongphú về văn hóa, tín ngưỡng của dân gian mỗi vùng miền nét đặc trưng giữavăn hóa vùng đồng bằng và vùng biển

2.1.1 Khái quát về huyện Sông Lô

Sông Lô là một huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập từngày mùng 1 tháng 4 năm 2009 Là một huyện mới được tách ra từ huyện LậpThạch cũ, huyện Sông Lô có phía Đông giáp huyện Lập Thạch, phía Tây giáphuyện Phù Ninh của tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp huyện Sơn Dương tỉnhTuyên Quang Tuy là một huyện mới được thành lập nhưng huyện Sông Lô làmột trong những cái nôi của nền văn minh Sông Hồng Đây là vùng đất cổ vớinhiều di tích lịch sử gắn liền với quá trình phát triển của dân tộc Việt: Di chỉ

Gò Đồn, Gò Trâm Dài thuộc nền văn hóa Sơn Vi cách ngày nay gần 2 vạnnăm; Di chỉ Gò Đặng, Gò Hội thuộc văn hóa Phùng Nguyên, cách ngày naykhoảng 3.500 năm, chùa tháp Bình Sơn xây dựng bằng gạch nung từ thế kỉ

Trang 23

XII ( Dưới thời Lí-Trần), trải bao thăng trầm vẫn sừng sững một màu đỏ hồng

kì vĩ

Sông Lô còn là huyện còn mang đậm nhiều giá trị văn hóa dân giantruyền thống, là vùng quê thanh bình “đất lành chim đậu” Trong hai cuộckháng chiến của dân tộc, Sông Lô là mảnh đất của kháng chiến với nhiều các

di tích lịch sử còn ghi đậm trong tên đất, tên làng, tên núi, tên sông: Hồ ĐiểnTriệt, ghềnh Khoan Bộ, Núi Sáng Dòng Lô giang hiền hòa mang trong mìnhnhững chiến công lừng lẫy Hàng ngàn tấn đạn dược, vũ khí, hàng vạn lượt bộđội, pháo binh đã qua dòng sông Lô, qua Bến đò Then chuyển lên chiến khuViệt Bắc, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “ chấn động địa cầu”.Trải qua hàng nghìn năm xây dựng và bảo vệ đất nước cùng với tỉnh VĩnhPhúc nói riêng và cả nước nói chung huyện Sông Lô luôn mang trong mìnhtinh thần thượng võ, truyền thống yêu nước của dân tộc, tạo nên nét đẹp trongsinh hoạt văn hóa, trong đời sống con người nơi đây, thành một truyền thống

được tiếp nối và lưu truyền từ đời này qua đời khác

“Dạo xem phong cảnh giữa giang sơn Sông Lô, núi Sáng rạng nước non Bình Sơn tháp bút lưu thiên cổ Điển Triệt hồ trong nhớ Lý Bôn Bách Bung sống động Hoàng Hoa Thám Lửa vàng Tam Đảo tỏ lòng son

Tả tướng Lê triều trung ái quốc Nước xanh giữa thủy rũ nguồn cơn ”

Là huyện mới thành lập, với khí thế mới, Đảng bộ và nhân dân Sông

Lô luôn phấn đấu xây dựng huyện ngày càng giàu đẹp văn minh, đóng gópvào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Huyện Sông Lô gồm 17 xã, thị trấn, vẫn còn đó những tên gọi xa xưa:

Kẻ Then, Kẻ Thiều, Kẻ Bạch, Kẻ Lạn, Kẻ Sáng tại Gò Đồn xã Hải Lựu, GòTrâm Dài xã Đôn Nhân, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những công cụthuộc thời kỳ văn hóa Sơn Vi Đó là thời kì con người nguyên thủy săn bắt,

Trang 24

hái lượm dựa vào công cụ được ghè đẽo từ đá cách ngày nay khoảng 2 vạn 3nghìn năm Điều đó chứng tỏ những người Việt cổ thời tiền sử, cộng đồng thịtộc mẫu hệ nguyên thủy đã có mặt khai phá và xây dựng nền văn minh ởmảnh đất Sông Lô từ rất xa xưa Đất Sông Lô là đất địa linh, núi cao, sôngsâu Từ xa xưa nhân dân Sông Lô đã quần tụ đông đúc “sầm uất bến Then”.Đến giữa thế kỉ XIX nhóm dân tộc Cao Lan di cư đến lập nghiệp ở xã QuangYên Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX có nhóm dân tộc Dao đến lập bản naythuộc thôn Thành Công, xã Lãng Công tụ hội thành 3 nhóm dân tộc : Kinh,Dao, Cao Lan với bản sắc văn hóa, phong tục tập quán riêng cùng bên nhauxây dựng quê hương Sồng Lô giàu đẹp.

Đất địa linh sinh nhân kiệt, huyện Sông Lô có tới 5 tiến sĩ nho học Đó

là Khổng Cư Lỗ, xã Cao Phong thi đỗ Đệ tam giáp đồng, tiến sĩ Khoan Tânsửu đời vua Lê Thánh Tông Đó là ông trạng Triệu Nghi Phù, thôn Nam Giáp,

xã Đức Bác, Tiến sỹ Lê Đĩnh Chi, xã Nhạo Sơn, Tiến sỹ Hà Sỹ Vọng thônSơn Cầu, xã Như Thụy, Tiến sỹ Hà Nhiệm Đại là anh em ruột của Tiến sỹ Hà

Sỹ Vọng Ngày nay con em Sông Lô, nhiều người đỗ đạt học hàm, học vị cao,nắm giữ cương vị qusan trọng ở các bộ nghành, tỉnh, huyện Từ thời Lý-Trầnhuyện Sông Lô đã có những công trình văn hóa nổi tiếng, trải bao thăng trầmcủa lịch sử vẫn còn đó giá trị văn hóa vật thể chói lọi của tháp Bình Sơn.Cùng thời tháp Bình Sơn là cây Tháp Xanh đại danh lam Kim Tôn xã ĐồngQuế nay xây dựng Thiền Viện Trúc Lâm Tuệ Đức trên nền chùa cổ Kim Tôn.Còn đó những giá trị văn hóa phi vật thể, đó là hát Trống quân Đức Bác mangsắc thái của huyện Sông Lô nói riêng và của tỉnh Vĩnh Phúc nói chung

Về lễ hội trên địa bàn huyện Sông Lô có các lễ hội: Rước cây bông xãĐồng Thịnh có từ thời Hùng Vương, cầu cho mùa màng tốt tươi, nhân dân noấm; Lễ hội Trống quân Đức Bác; Lễ hội Chọi Trâu xã Hải Lựu có từ thế kỉ IIgắn với thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu chống giặc Hán; Người Cao Lan với lễhội xuống đồng, có điệu át Sịnh ca tình tứ cuat trai, gái giao duyên; Người

Trang 25

Dao với tết Nhảy thâu đêm suốt sáng Trên Hồ Điển Triệt nơi ngày xưa luyệnthủy quân của Lý Nam Đế dậy vang tiếng hò reo cổ vũ lễ hội Bơi Chải Mùa

lễ hội cũng là mùa các làng quê thi nhau làm những món ẩm thực độc đáodâng lên Thành Hoàng, các vị Phúc Thần và mời nhau, mời khách thưởngthức: Bánh Tẻ Tứ Yên trong suốt mà dẻo thơm, dai giòn khồng đâu có được,Bánh nẳng Nhân Đạo-Tứ Yên, mắm tỏi Đức Bác, cá Thính Sông Lô, xôi vò,xôi xéo

Nhân dân và Đảng bộ huyện Sông Lô luôn phấn đấu và quyết tâm xâydựng quê hương giàu đẹp, phát triển trong xu thế hội nhập của đất nước nóichung và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, khai thác và sử dụng mọi lợi thế vàtiềm năng của quê hương

2.1.2 Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu, huyện Sông, Lô tỉnh Vĩnh Phúc.

2.1.2.1 Khái quát về xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc

Hải Lựu là xã miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của huyện Sông Lô PhíaBắc giáp xã Bạch Lưu và Quang Yên, phía Đông giáp xã Lãng Công và xãNhân Đạo, phía Nam giáp xã Đôn Nhân, phía Tây có dòng Sông Lô làm ranhgiới tự nhiên với xã Phù Ninh huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ Tổng diện tích

tự nhiên là 1023,38ha, dân số là 6400 người( theo số liệu thống kê năm 2008)

Xã Hải Lựu trước thuộc huyện Lập Thạch( Lập Thạch có tên từ đời vua TrầnThiếu Đế (1398-1400), đến thời Lê thuộc phủ Tam Đới trấn Sơn Tây; Năm

1899 thuộc tỉnh Vĩnh Yên và nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc)

Vùng đất Hải Lựu ngày nay gồm đất của hai làng Bạch Lưu Hạ (tênnôm gọi là Kẻ Nội) và Hải Lựu (Kẻ Kảy)

Đầu thế kỉ XX thuộc tổng Bạch Lưu huyện Lập Thạch (tổng Bạch Lưugồm 5làng: Bạch Lưu Hạ, Bạch Lưu Thượng, Hải Lựu, QuangViễn,YênThiết) Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, thành lập xã Hải Lựu gồmhai làng Bạch Lưu Hạ và Hải Lựu cho đến tận ngày nay Phía Đông Bắc xãHải Lựu được chắn bởi dãy núi Thét, một nhánh ngang của địa hình núi Sáng

Trang 26

(thuộc sơn hệ Tam Đảo) Nơi đây do kiến tạo địa chất mà thành phần cơ bản

là vùng sa thạch tập trung tạo thành vỉa đá được bố trí theo lớp, rất thuận tiệncho việc khai thác nguyên liệu, chế tác vật dụng phục vụ đời sống con người.Phía Tây là dòng Sông Lô ranh giới tự nhiên với huyện Phù Ninh (PT), làđường giao thông chính phục vụ việc lưu thông, trao đổi, đồng thời đây cũng

là nguồn sống chính của cư dân nông nghiệp gắn liền với nghế săn bắt, đánh

Cuộc sống định cư lâu, dân cư ổn định và hình thành nên làng, chạ, còndựa vào các địa thế tự nhiên để tạo lập cộng đồng dân cư, đó là vùng ven sôngthuận tiện cho giao thông và nguồn nước, làng cư trú trên các gò đồi cao đểtránh ngập lụt, thú dữ dần hình thành làng Bạch Lưu, Hải Lựu Cùng vớixây dựng đời sống, bảo vệ quê hương, người dân Hải Lựu qua hàng nghìnnăm đã hình thành nên truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc quê hương

Từ thế kỉ XVII, dân làng đã dựng được ngôi đình làng thờ Thành Hoàng làng

là đình Bác Cổ, nhân dân quen gọi là đình Trên (nơi diễn ra các nghi thức Lễtrong lễ hội chọi trâu trước năm 1947)

Hải Lựu ngày nay là vùng đất có tiềm năng lâu dài về phát triển kinh tế,thương mại, du lịch, dịch vụ Với chủ trương phát triển kinh tế hàng hóanhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và thực hiện chính sách mởcửa hội nhập kinh tế quốc tế Hải Lựu không ngừng vận động chính sự pháttriển kinh tế đã phá vỡ tập quán sinh sống theo mô hình khép kín của làngBạch Lưu hạ xưa, đưa quê hương ngày càng đổi mới

Trang 27

Trong tiểu vùng văn hóa huyện Lập Thạch được giới hạn bởi tuyến sông Lô,sông Đáy và núi Sáng thuộc hệ sơn mạch phía tây nam dãy núi Tam Đảo, cònbảo lưu khá nguyên vẹn nhiều nghi lễ, tập tục dân gian tối cổ mang tính điểnhình Trong đó, hội Chọi Trâu Bạch Lưu Hạ được xem là một cổ tục độc đáo,đắc sắc và hầu như không có tính tiếp biến phổ quát, chỉ riêng ở một làng xã.Thậm chí các tiểu vùng văn hóa trong khu vực cũng không có cổ tục này Độcđáo, nguyên gốc và tối cổ có thể xem là nét đặc trưng của trò Chọi Trâu BạchLưu Hạ- Hải Lựu ngày nay.

Lịch sử hình thành lễ hội

Hội Chọi trâu Hải Lựu cũng như các cổ tục sát sinh hiến tế trong vùngbản chất là lễ hiến sinh, tục giết “Bò nước” cầu mưa- nghi lễ phổ biến của của

cư dân vùng nông nghiệp lúa nước Lấy trục không gian là núi Hùng, Hải Lưu

và các vùng dân cư bên tả là thuộc khu vực bên Đông (núi Tam Đảo), bênTây là núi Ba Vì Lời kinh trong quẻ Kí Tế nói: “Đông lân sát ngưu, Tây lânthược tế”- Bên Đông phải giết bò nước (trâu) để tế lễ, bên Tây tế lễ đơn giảnhơn Tuy nhiên, chỉ có Bạch Lưu Hạ- Hải Lựu mới có cổ tục chọi trâu- cũng

là sát sinh- sát ngưu hiến tế, song đấu xong mới “ sát ”

Theo những ghi chép trong thư tịch cổ và các bản Ngọc phả đời Lê

Trung Hưng, mục Phong tục sách Đại Nam nhất thống chí đời Nguyễn và gần nhất là Địa chí tỉnh Vĩnh Yên, rất thống nhất với truyền thuyết dân gian,

hội Chọi trâu Hải Lựu theo truyền thuyết dân gian còn lưu truyền có từ thế kỉII- trước Công nguyên, nghĩa là cách ngày nay khoảng 2200 năm, đầu thờiBắc thuộc Cổ tục này gắn với sự kiện nhà Triệu (năm 111 trước Côngnguyên) Khi đó, tướng Lộ Bác Đức đem quân xâm lược nước Nam Việt củaTriệu Ai Vương Thừa tướng Lữ Gia quê gốc xứ Nghệ An, một tướng tài củatriều đình đã rút khỏi kinh đô Phiên Ngung (Thuộc Quảng Đông Trung Quốcngày nay), về đóng ở núi Long Động-Lập Thạch, chống lại quân Hán của LộBác Đức trong hơn 10 năm (từ 124-111 trước Công nguyên) Suốt thời gian

Trang 28

đó ông cùng các thổ hào và nhân dân đánh cho quân nhà Hán thất điên bátđảo, trong đó, lớn nhất là trận đánh trên sông Lô năm 111- trước Côngnguyên.

Ông được Lạc tướng Hồng Bảo, cháu 4 đời của Hùng Duệ Vương gảhai người con gái làm vợ Sau khi ông mất được dân làng tôn làm Thànhhoàng làng thờ ở làng Bạch Lưu Hạ, quanh vùng có trên 20 đền, đình thờ ông

ở các xã Bạch Lưu, Hải Lựu, Quang Yên, Liễn Hòa, Lãng Công, Liễn Sơn,Đôn Nhân, Liễn Hòa-huyện Lập Thạch, xã Đồng Tĩnh- huyện Tam Dương, xãThượng Trưng- huyện Vĩnh Tường Đến đời vua Lê Thánh Tông phong tặng

cho ông là: “Áp quốc bảo thiên chiêu, ứng chí dũng Đại vương”.

Để động viên tinh thần binh sĩ và nhân dân khi thắng trận, thừa tướng

Lữ Gia cho mổ trâu khao thưởng quân sĩ và dân làng ăn mừng chiến thắng.Ông mở ra trò đấu Ngưu để mua vui cho dân làng cùng quân sĩ, từ đó dần trởthành một cổ tục truyền thống của địa phương

Lịch sử lễ hội chọi trâu và vị Thừa tướng Lữ Gia cũng đã được viết

bằng thơ, những dòng thơ của chính những người dân xứ Hải:

“Thuở nước ta Việt thường quốc hiệu Dưới triều vua nhà Triệu Minh Vương.

Có quan tể tướng ngoan cường, Dấy quân chống Hán Bắc phương xông vào.

Quan tể tướng tài cao trí giỏi, Nguyễn Triều Lệ húy gọi Lữ Gia.

Tạm rút khỏi thành Đại La, Đến vùng núi Thét định là hôi quân Chọn nơi đây làm căn cứ địa

Dân khắp nơi ứng nghĩa hợp binh Làng Yên Thiết đóng bản doanh, Các đồn lẻ đóng xung quanh làng gần

Ba làng Lạn trường quân luyện tập Làng Khoan Bộ chu cấp quân nhu.

Kích lòng yêu nước căm thù, Chọi trâu Hải Lựu tế cờ xuất quân.

Ngày hai tám cuối năm áp tết, Quân quân thề giết hết ngoại sâm.

Trang 29

Khắp vùng núi Thét ầm ầm, Quân reo, ngựa hí rầm rầm trẩy đi.

Kéo về miền Việt Trì- Bạch Hạc Đánh một trận tan tác Hán quân.

Tin vui loan khắp toàn dân, Reo hòa cổ vũ xa gần hân hoan.

Hát khúc ca khởi hoàn thắng lợi Lại trở về Hải Lựu tụ quân

Tạ trời đất, tạ sơn thần Bình công xét thưởng quan quân xứng phần Cũng xét thưởng công dân góp của

Quân yêu cầu góp đủ lượng cân.

Tháng giêng mười bảy đầu xuân Chọi trâu lại mở khao quân hội mừng.

Toàn dân khắp một vùng núi Thét Kéo về đây kéo tiệp chung vui

Từ đó truyền lại đời đời Tôn thờ chính khí tướng người Lữ Gia.

Một tể tướng tài ba tuấn kiệt

Võ công lớn sở Việt Nam ghi

Ở đâu xa cũng nhứ về Nhớ nguồn, nhớ cội, nhớ quê, nhớ làng”.

Về hội chọi trâu, cũng tồn tại một truyền thuyết dân gian kể lại rằng:

“Vào một buổi sáng sớm mờ sương, ở đầu làng người ta thấy hai con châutrắng chọi nhau, không phân thắng bại, sau đó cả hai đều nhảy xuống dòngsông Lô và biến mất Nơi diễn ra hai con trâu trắng chọi nhau, sau gọi là Bến

Ảnh, tên làng gọi là “Bạch Ngưu” (nghĩa là trâu trắng) Bến Ảnh hiện nay

vẫn còn dấu vết Rồi vì kiêng húy tên của thần nên gọi chệch đi là Bạch Lưu.Bạch Lưu theo nghĩa Hán thì chữ “Lưu” biểu sự tốt đẹp, lâu bền còn có nghĩa

là “Ngọc” Bạch Lưu còn có nghĩa là “Ngọc Trắng” Có lẽ truyền thuyết cũng

là một minh chứng cho làng Bạch Lưu Hạ là nơi có nguồn gốc lịch sử của lễhội chọi trâu

Sự phát triển của lễ hội

“Dù ai đi dâu về đâu Tháng giêng mười bảy chọi trâu thì về

Trang 30

Dù ai buôn bán trăm nghề Tháng giêng mười bảy thì về chọi trâu”

Đây là câu ca truyền miệng mà mỗi người con “ xứ Hải ” đều

thuộc lòng, và để nhắc nhở nhau, dù có đi xa quê hương thì cứ mỗi độ tết đếnxuân về, lại trở về quê hương, xum họp cùng gia đình và để chờ đợi đến ngàyhội làng

Có lịch sử hình thành từ lâu đời, lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu có lịch sửphát triển chia làm 3 giai đoạn:

Từ khi hình thành thế kỉ II trước công nguyên đến năm 1947 thì ngừng.Đây là giai đoạn hình thành và phát triển lâu dài của lễ hội

Giai đoạn hai tính từ năm 1947 đến năm 2002, đây là giai đoạn gián đoạn, dochiến tranh chống Pháp 1947 diễn ra ác liệt hoàn cảnh đó khiến lễ hội chọitrâu phải tạm dừng một thời gian

Bước vào thời kì đổi mới đất nước, đi đôi với việc phát triển kinh tế làphát triển văn hóa Sau một giai đoạn gián đoạn vì chiến tranh, tứi năm 2001,

do chủ trương của Đảng và Nhà nước cho phép tu tạo lại các đền chùa, khôiphục các lễ hội truyền thống, lễ hội chọi trâu truyền thống được khôi phục lạivào năm 2002 đến nay, sau hơn 50 năm bị gián đoạn, để góp phần vào việcbảo tồn và phát triển một di sản văn hóa phi vật thể của cha ông để lại

Qua từng giai đoạn phát triển thăng trầm, lễ hội ngày càng được pháttriển quy mô và hoành tráng, nhờ sự quan tâm chỉ đạo xây dựng, đầu tư pháttriển của Tỉnh Vĩnh Phúc và của huyện Lập Thạch ( cũ), huyện Sông Lô( mới)

Lễ hội Chọi Trâu ở vào mỗi giai đoạn lại có sự tổ chức, và các hoạtđộng trong lễ hội không giống nhau, theo thời gian thì các hoạt động ngàymột phong phú, đa dạng hơn

Trong lịch sử, lễ hội Chọi Trâu làng Bạch Lưu Hạ trước đây được tổchức hàng năm vào ngày 17 tháng giêng âm lịch Số trâu đưa vào chọi là 16con, tổ chức thành hai đợt: Đợt một, tổ chức chọi vào ngày 28 tháng chạp

Trang 31

năm trước với số trâu là 10 con; Đợt hai tổ chức chọi vào ngày 17 tháng giêngnăm sau là ngày chính hội với số trâu là 6 con.

Địa điểm diễn ra lễ hội ngày đó là tại sân đình Kiêng ở cuối làng, nơi

có bãi đất rộng và bằng phẳng Đất này do ông Từ (là người coi giữ đình)quản lý, trông coi, đây cũng là nơi hàng năm diễn ra lễ “Hạ điền” cầu chomưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt cho dân làng

Chuẩn bị đến ngày hội, lệ làng quy định mỗi nhân đinh (con trai trongmỗi hộ gia đình) phải đóng 10 cọc gỗ hoặc tre (gọi là cọc thạc) để làm ràochắn sân chọi trâu, dảm bảo an toàn cho người xem hội Mỗi cọc dài khoảng4m, đường kính 4-5cm, các cọc được chôn sâu từ 40-50cm khoảng cách vừaphải, liên kết giữa các cọc với nhau được buộc bằng hai hàng “ sáo” trên vàdưới, phía ngoài có cọc chống để rào được vững chắc Chu vi của hàng ràođược trừ ra hai lối cho trâu vào xới chọi được gọi là “cửa Ngâu” Nhân dânđứng xem phía bên ngoài cọc chắn Về sau (khoảng năm 1943-1944), tườngrào được xây dựng bằng gạch, vữa vôi cát, mật mía và giấy bản Do biến cốlịch sử, đặc biệt là do chiến tranh phá hủy, đến nay sân và ngôi đình Kiêngđều không còn nữa

Phần lễ và hội trong hội chọ trâu xưa được đan xen nhau và trải dài từtháng 8 âm lịch năm trước đến tháng giêng năm sau

Trước tiên là lễ “Trình trâu” Người nuôi trâu phải sắm sửa lẽ vật gồm:Một ván xôi, con gà trống thiến, trầu cau, rượu, nước để cùng với “Bốn bàncác cụ” đưa lễ vật và trâu ra đình Trên để làm lễ trình Đức thánh, từ đây trở đi

trâu được gọi là “Ông cầu” nghĩa là cầu trận, cầu an, cầu mưa hay gọi là

“Trâu Cà Thờ” Đến trước ngày Chọi trâu diễn ra, làng tổ chức rước kiệu từ

đình Trên xuống đình Kiêng Người nuôi dắt trâu ra đình Trên làm lễ thánh.Khi làm lễ, người dắt trâu dùng ngoắc móc vào vòng để nâng mũi trâu lên, hạmũi trâu xuống bốn lần ( 4 lễ), rồi sau đó đưa trâu về nhà cho ăn bánh

Trang 32

( thường là bánh trưng), thịt, rượu rồi mới đưa ra đình Kiêng để chuẩn bịvào sới chọi.

Để chuẩn bị tổ chức hội là một quá trình khá công phu từ khi phân bổnuôi trâu, chăm sóc cho đến khi đưa trâu ra sới chọi

Việc tổ chức nuôi trâu giao cho các giáp đảm nhiệm, vì có sự chênhlệch về nhân đinh, giữa các giáp nên số trâu chọi từng giáp được giao nuôikhác nhau Giáp Đông và giáp Nam có số nhân đinh nhiều nên mỗi giáp nuôi

6 con, giáp Bắc và giáp Tây mỗi giáp nuôi 2 con

Mỗi giáp lại căn cứ vào ngày giờ sinh, của các nhân đinh trong giáp màphân bổ nuôi trâu theo thứ tự, ai sinh trước nuôi trâu trước, sinh sau nuôi trâusau Trường hợp đặc biệt, gia đình quá khó khăn thì được phép cho tạm thờihoãn, song phải bị hạ tuổi (coi là ít tuổi hơn là người nuôi trâu thay lượtmình) Vì số nhân đinh giữa các giáp khác nhau nên tuổi đến lượt nuôi trâucũng khác nhau Ở giáp Đông có số đinh nhiều nhất nên phải từ 30-40 tuổimới đến lượt nuôi trâu; giáp Nam 9-10 tuổi, còn giáp Tây và giáp Bắc ít đinhnên 4 người nuôi chung một trâu nhưng phải nuôi hai lần

Việc mua trâu chọi, người nuôi trâu phải lo toàn bộ Về tiêu chuẩn trâu,làng quy định rất đơn giản Trâu kể tuổi nhưng phải là trâu cà, lông đen tuyền,không trắng lưỡi, sừng hướng tiền, mắt nhô nom tựa ốc loa, móng khép, chân

to, đuôi chấm khoeo

Để giám sát việc nuôi trâu, các giáp cử ra 16 cụ gọi là “Bốn bàn cáccụ” Cách thức cử căn cứ vào tuổi đời, ai nhiều tuổi hơn thì cử trước, bốn bàncác cụ này được giữ ổn định, chỉ khi nào có cụ nào khuyết thì mới tiến hành

cử bổ sung cho đủ số lượng ban đầu

Thời gian nuôi trâu chọi bắt đầu tính từ tháng tám âm lịch trở đi, trước

đó vẫn dùng để kéo cày (nhưng ngày nay trâu chọi thì không phải kéo cày)Tháng chín âm lịch làm lễ trình trâu, người nuôi trâu có thể tự mình nuôi, nếukhông có điều kiện thì phải thuê người ở để chuyên lo chăm sóc trâu Dù trựctiếp hay thuê mướn, người nuôi trâu phải tuân thủ theo quy định: Trâu phải

Trang 33

nuôi hãm trong chuồng, dùng dây thừng bện bằng tre cật vòng qua hai sừngtrâu, hai đầu sừng được cố định vào văng chuồng, chạc sẹo cũng được go chặtvào văng để cố định vào văng chuồng, chạc sẹo cũng được go chặt vào văng

để mõm trâu hếch lên tiện cho việc bón thức ăn Chuồng phải thường xuyênquét dọn sạch sẽ, mỗi ngày hai lần đưa trâu ra sông tắm

Tháng 11 tổ chức lễ xem trâu “Bốn bàn các cụ” của hàng giáp trực

tiếp đến các nhà nuôi trâu để đo trâu (lấy dây đo vòng bụng của trâu) Gia chủ

bố trí bữa ăn tại nhà cho bốn bàn các cụ, cùng với các con cháu trong nhà (cỗchỉ ngồi 4 người)

Trước khi đưa trâu đến bãi chọi, người nuôi trâu phải tắm rửa cho trâuthật sạch sẽ Trâu được đánh vòng bằng thừng tre ở mũi để thay sẹo Ngườilàm nhiệm vụ dắt trâu mặc lễ phục gồm áo dài, thắt lưng đai mũi cạnh Yêucầu tiêu chuẩn phải trong sạch, ngoài ra còn có vài người đi hộ tống Mỗingười cầm một cái ngoặc dài bằng tre chắc chắn để ngoắc vào vòng ở mũi củatrâu, điều khiển trâu

Khi đưa trâu đến bãi chọi, ai có trâu người đó giữ, có khi phải dùng vải

để bịt mắt để trâu không nhìn thấy nhau

Sau khi ông xã Đoàn phát loa tuyên bố: “Đông –Tây- Nam -Bắc ai cótrâu vào chọi” thì trông, kèn, cồng chiêng, thanh la, tù và nổi lên rộn ràngcùng tiếng hò reo của khán giả làm rộn vang cả vùng trời Xung quanh sân bãi

và trước cửa đình, cờ ngũ sắc bay phấp phới làm cho không khí của lễ hộicàng thêm sôi động

Theo thể lệ quy định, đầu tiên là trâu của giáp Đông chọi với trâu củagiáp Tây, trâu nào thắng thì ở lại trong sân chọi với trâu của giáp Bắc Cuốihội, trâu được , trâu thua đều đem mổ thịt làm lễ tế thần và lấy thịt chia chodân làng

Mỗi trâu khi thịt xong được phân phối như sau: Đầu trâu ( Sỏ ) và Nầm

đe, ra đình Kiêng để “ tế khao quân”, khi tế xong đem trả cho hàng giáp cái

Sỏ, còn cái Nầm thì trả cho nha nuôi trâu

Trang 34

Tràng hoa (tính từ điểm cắt Sỏ lui xuống ba ngón tay) để cho Lý trưởng vàbốn vị xã chia nhau.

Thịt bắp (từ gối trở lên) đem chia đều cho “bôn bàn các cụ” của giápThịt và xương đem cân trả cho giáp 3 cân (mỗi cân khoảng đọ một thúng cái)phần thịt của hàng giáp được chia đều cho các nhân đinh trong giáp

Phần còn lại nhà chủ được hưởng

Lễ hội chọi trâu xưa không có giải thưởng Người đến xem hội khôngphải đóng một khoản lệ phí nào, dù là khách thập phương, khách lạ đi vớingười quen đến nhà chủ thì nhà chủ tiếp đón như nhau về ăn cũng như chỗ

nghỉ miễn phí và cứ như thế được duy trì cho đến khi kết thúc lễ hội

2.1.2.2 Các hoạt động chính của lễ hội

Lễ hội Chọi Trâu trải qua quá trình phát triển, ngày nay lễ hội được tổchức một cách quy mô và được đầu tư xây dựng Từ các giai đoạn chuẩn bị,chọn trâu, nuôi dưỡng, chăm sóc, quy định số lượng trâu, người được nuôitrâu Có nhiều thay đổi và khác nhiều so với lễ hội chọi trâu giai đoạn trướcnăm 1947

Các hoạt động chính được tổ chức trong lễ hội Chọi trâu được chia làm

ba giai đoạn: “Các hoạt động trước lễ hội; Các hoạt động trong lễ hội; Các hoạt động sau lễ hội”.

Các hoạt động trước lễ hội

Các hoạt động trước lễ hội bao gồm các hoạt động: Bốc thăm để chọn

tổ, nhóm nuôi trâu; Các nhóm được chọn tổ chức mua trâu, họp bàn và chọngia đình nuôi trâu; Qúa trình nuôi, chăm sóc trâu; Các hoạt động huẩn bịtrước ngày thi đấu

Xã Hải Lựu có 19 thôn dân cư, việc phân bổ nuôi trâu giao cho mỗithôn nuôi một con, các tổ chức: Hội nông dân, hội Cựu chiến binh, HTX dịch

vụ điện, các doanh nghiệp đăng kí tham gia Ở mỗi thôn cũng thành lập Banchỉ đạo Lễ hội cấp thôn, Bí thư chi bộ làm trưởng ban chỉ đạo, trưởng thônlàm trưởng Ban tổ chức Lễ hội

Trang 35

Trưởng thôn có nhiệm vụ, triệu tập nhân dân trong thôn, phổ biến tiêu

chuẩn, quy cách trâu chọi sau đó dùng hình thức “ gắp phiếu”, nhóm hộ nào

gắp được phiếu nuôi trâu thì nhóm hộ đó phải lo toàn bộ kinh phí, cùng nhaugóp tiền mua trâu và chăm sóc trâu

Tổ (nhóm) được phiếu nuôi trâu sẽ họp và bầu ra một tổ trưởng đạidiện cho nhóm, người này có nhiệm vụ tổ chức họp bàn các hộ trong nhómgom tiền mua trâu, và bầu chọn ra một hộ gia đình nuôi và chăm sóc trâu ( giađình được chọn nuôi và chăm sóc trâu chọi phải là gia đình Văn hóa, cácthành viên trong gia đình phải đoàn kết, yêu thương nhau, đặc biệt là gia đình

đó phải có người lớn tuổi- Là người có kinh nghiệm chọn trâu,chăm sóc cũngnhư huấn luyện trâu tốt nhất)

Từ tháng 6 đến tháng 8 âm lịch, các hộ bắt đầu tiến hành đi tìm và muatrâu ở khắp các tỉnh thành khu vực phía Bắc, đến tháng 9 thi hầu hết các tổ,nhóm, hội đều mua được trâu theo đúng các tiêu chuẩn và quy định của Ban

tổ chức Sau đó Ban tổ chức Lễ hội (xưa là “Bốn bàn các cụ”) của xã sẽ đikiểm tra số lượng, cũng như các tiêu chuẩn mà các chủ trâu có đảm bảo vàđầy đủ không?Nếu các trâu đạt điều kiện sẽ được ghi vò danh sách, còn cáctrâu không đạt sẽ bị loại và tìm mua trâu khác thay thế

Sau khi kiểm tra, các trâu đạt tiêu chuẩn được giao về cho hộ gia đìnhđược phân công nuôi và chăm sóc trâu

Giai đoạn nuôi, chăm sóc và huấn luyện trâu cùng nhiều tỉ mỉ và côngphu Tôi cũng có dịp phỏng vấn chú Nguyễn Tiến Thuận (thôn Làng Len- mộtngười có nhiều năm đảm nhiệm việc nuôi trâu về cách chăm sóc, nuôi dưỡng

và huấn luyện trâu chọi), chú cho biết: “Nuôi trâu chọi vất vả hơn gấp nhiềulần so với trâu cày hay trâu thịt Mỗi trâu chọi đều được ở trong một ngôichuồng riêng, chuồng đó phải đảm bảo cho trâu không bị lạnh vào mùa Đông,chuồng luôn được dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ để tránh những mầm bệnh chotrâu, mỗi ngày trâu đều được tắm hai lần Về thức ăn cho trâu phải đảm bảo

Trang 36

đầy đủ về số lượng cũng như chất lượng thức ăn (Các loại ngũ cốc như Sắn,Ngô, khoai, cám Gạo, các loại cỏ như: Cỏ Mật, cỏ Voi, lá Mía trâu luônđược ăn no và ăn nhiều lần trong ngày (có khi đêm cũng phải dậy 3 đến 4 lần

để cho trâu ăn, uống, đi vệ sinh) Trâu chọi rất đặc biệt, chú Thuận tiết lộ: “Cho ăn đêm quen, nhiều khi Chú quên, trâu đến giờ ăn đêm cứ mài sừng vàovăng chuồng, như gọi người dậy cho ăn ”

Trong quá trình nuôi dưỡng, các chủ trâu cũng không bao giờ quên một

công việc quan trọng đó là: “huấn luyện”, tập cho trâu những miếng đánh, và

cho trâu làm quen với không khí cờ hoa, trống chiêng của lễ hội đặc biệt làquen với lời người chủ Các buổi chiều chủ trâu dắt trâu trâu đi tắm và tìmnhững bãi đất cao để cho trâu húc luyện sừng, gần đến ngày hội, chủ trâuthường cùng với một đoàn trong nhóm tổ chức dắt trâu ra sới chọi để làmquen với sân bãi và khi đi sẽ có trống chiêng, đánh phía trước cùng với cờrước, điều này làm cho các trâu không bị hoảng hốt khi vào sân chọi ngày hội

Trước ngày hội diễn ra, ngày 15 tháng giêng âm lịch, các trâu đều đượcdẫn ra Vọng đài tưởng niệm, ( đình Kiêng ngày xưa) để làm lễ Trình trâu lầnhai, làm lễ tế Thành hoàng làng

Các hoạt động trong lễ hội

Cũng giống như hầu hết các lễ hội truyền thống khác, trong lễ hội Chọi

trâu cũng gồm hai hoạt động chính đó là hoạt động “Lễ và Hội” Theo đó cả

hai phần lễ và hội thường được đan xen nhau và trải dài từ tháng tám âm lịchnăm trước đến tháng giêng năm sau

 Hoạt động lễ

Hoạt động lễ trong hội Chọi trâu thể hiện tâm linh của con người với

thần thánh, ngày nay phần nghi lễ được tiến hành ở “Vọng đài tưởng niệm tâm linh”, nơi thờ Thành hoàng làng Nghi lễ gồm: “Lễ trình trâu, lễ rước và

lễ dâng hương”.

Lễ trình trâu được bắt đầu từ tháng chín âm lịch năm trước, khi các chủ

trâu mua trâu về và có lễ tấu trình trâu để kính báo với thần thánh, cho trâu

Trang 37

tham gia vào lễ hội Cũng từ sau lễ trình trâu, các trâu mới chính thức được

gọi là “Ông cầu” có nghĩa là cầu trận, cầu an, cầu thần, cầu mưa hay còn

gọi là trâu cà thờ Đến mùa xuân năm sau, trước ngày khai mạc lễ hội lại tổchức lễ trình trâu một lần cuối, các chủ trâu có thể cho các ông cầu uống một

ít rượu sau khi làm lễ thánh, đây gọi là nghi thức “nhận lộc thánh” Lần trìnhtrâu cuối cùng được diễn ra vào ngày 15 tháng giêng âm lịch, theo sự hướngdẫn của Ban tổ chức lễ hội để các trâu không được chạm trán nhau Theo quyđịnh tất cả các ông cầu đều phải đến làm lễ tại vọng đài tâm linh Văn khấnThành hoàng làng thường do chủ tế viết và đọc tại Đài tưởng niệm, sau khivăn tế kết thúc ông cầu phải lễ 4 lễ Chủ trâu một tay nắm thừng sát mũi trâu,một tay để giữa hai gốc sừng, nâng đầu trâu lên, hạ đầu trâu xuống 4 lần.Cũng trong ngày 15 tháng giêng xã cử một đoàn cán bộ lên dâng hương tạiĐền Hùng và đền Mẫu Âu Cơ để kính cáo nhớ về cội nguồn nhân có lễ hộichọi trâu và cử một đoàn cán bộ địa phương đại diện nhân dân, dâng lễ tại

Am Khánh tự, xã Hải Lựu Lễ vật gồm có hương, hoa quả, kim ngân vàngmã

Lễ rước được tổ chức vào sáng ngày mười sáu tháng giêng, trước khi

khai mạc hội Đội hình rước gồm có đội múa Lân, đội rước cờ hồng kỳ, rướcKiệu lễ vật và không thể thiếu một ông cầu đại diện cho ông cầu ở các nhóm,các thôn

Cuối cùng là nghi lễ dâng hương, đội hình đoàn rước đứng trang

nghiêm, người dẫn xướng tuyên bố: “Lễ dâng hương bắt đầu” hai ông đồngchủ lễ vào lễ và thắp hương Người dẫn xướng hô: Bái, tất cả mọi người chắptay, cúi đầu vái; Hưng, tất cả mọi người lại ngẩng đầu lên, cứ như vậy cho hết

4 lần, sau đó người chủ tế đọc chúc văn, tiếp đó lần lượt các cụ bô lão lêndâng hương ở vọng đài Cuối cùng là “Ông cầu” vào làm lễ

Sau nghi lễ tại vọng đài tưởng niệm, Ông cầu đại diện được chủ trâudắt vào xới chọi để làm “ Nghi thức chà ”, Ban tổ chức và khán giả thập

Trang 38

phương ở 4 phía khán đài và đến đây chính thức kết thúc toàn bộ phần nghilễ.

Chiêng trống nổi lên rộn vang cả một vùng trời, thúc dục, cùng vớitiếng reo hò, cổ vũ của khán giả, các ông cầu thi đấu hết sức mình, với lốiđánh riêng, mỗi trận đấu các ông cầu lại mang lại những màn đánh đẹp cống

hiến cho người xem Nét đặc biệt và mang giá trị văn hóa, tinh thần “ Thượng

võ ” của dân tộc Việt Nam đó là: Các ông cầu không bao giờ tấn công đối phương từ phía sau lưng, mạng sườn, mà luôn dùng miếng đánh: “ mặt đối mặt, bổ đao, dùng sừng và sức khỏe để thi đấu với đối phương ” Khi hai ông

cầu thi đấu, chủ trâu không được phép lại gần, trọng tài là người quết định, vàđiều khiển trận đấu, khi một trong hai ông cầu bỏ chạy, bị đối phương đánhbại, thì lúc ấy trọng tài ra hiệu chủ trâu có ông cầu thua trận phải bắt trâu lại

Cứ như vậy, các cặp sẽ thi đấu theo vòng tròn loại trực tiếp, các ông cầu thắngtrận (thường có 3 cặp), được thi đấu vòng trung kết và bán kết vào ngày 17.Sau khi đã chọn được các ông cầu thắng trung cuộc Ban tổ chức trao một giảinhất, một giải nhì, một giải ba cho đại diện các chủ trâu ở mỗi thôn, xóm,nhóm dân cư

Các hoạt động sau lễ hội

Sau các hoạt động chính trong lễ hội, các ông cầu dù thắng trung cuộc,hay các ông cầu thua trận đều được giết thịt sau hội, đây cũng là nét văn hóa

Trang 39

truyền thống được lưu giữ từ khi lễ hội xuất hiện ( để tế thần trong nghi thứcnông nghiệp, hay để khao quân sĩ khi thắng trận )

Thịt trâu chọi được mổ và do nhóm, thôn, nuôi trâu bán cho du kháchthập phương về với lễ hội, (Điểm khác so với lễ hội xưa, thịt trâu mổ ra vàđược chia theo khẩu phần, các Chức sắc trong làng, xã, các cụ cao tuổi, cácđinh trong mỗi giáp và cho chủ nuôi trâu, thịt trâu chọi xưa không được bán).Tùy vào từng ông cầu mà giá thịt trâu khác nhau, Ông cầu đạt giải nhất thì thịtbán với giá cao nhất (có thể gấp 4,5 lần so với các ông cầu còn lại ), trungbình thì giá một cân thịt trâu chọi dao động trong khoảng từ 500 đên 800nghìn/1kg Mùa lễ hội năm 2013 vừa qua, giá thịt trâu chọi tương đối cao Cụthể trâu đạt giải nhất có giá là 2,5triệu/1kg, các trâu đạt giải nhì và ba thì giá

rẻ hơn trung bình từ 1,5đến 2 triệu/1kg Những ông cầu không đạt giải thì giátrung bình từ 500 đến 700 nghìn/1kg Du khách thập phương, người dân trongvùng và các vùng xung quanh đến với lễ hội, khi ra về không ai quên muamột ít thịt trâu chọi để làm lộc đầu năm, có nhiều du khách mua làm quà cho

gia đình, bạn bè người thân, ai cũng hi vọng ăn thịt Ông cầu sẽ “được may mắn sức khỏe cho cả một năm, đặc biệt là Cầu gì được đó”.

2.1.2.3 Ý nghĩa của lễ hội

Lễ hội chọi trâu ở mỗi vùng miền khác nhau, lại mang những giá trị, ýnghĩa khác nhau Lễ hội chọi trâu xã Hải Lựu, huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúcmang một giá trị văn hóa truyền thống lâu đời Lễ hội là một di sản văn hóa

phi vật thể, vừa mang bản sắc văn hóa đặc trưng vùng nông ghiệp lúa nước, vừa thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam từ ngàn xưa để lại Sự

giữ gìn, phát triển lễ hội không những thể hiện được sự tiếp nối và kế thừabản sắc văn hóa truyền thống của người dân nơi đây, mà còn khẳng định,những giá trị văn hóa nguồn cội sẽ luôn được gìn giữ, và phát triển xong hànhcũng với sự phát triển của nền kinh tế, của xã hội, đặc biệt là khai thác các giátrị văn hóa, lễ hội truyền thống để phục vụ, phát triển du lịch trong xu thế phát

Ngày đăng: 05/04/2016, 07:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   thức   tổ chức - Lễ hội chọi trâu xã hải lựu huyện sông lô tỉnh vĩnh phúc
nh thức tổ chức (Trang 20)
Hình ảnh về huyện Sông Lô và lễ hội chọi trâu Hải Lựu. - Lễ hội chọi trâu xã hải lựu huyện sông lô tỉnh vĩnh phúc
nh ảnh về huyện Sông Lô và lễ hội chọi trâu Hải Lựu (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w