1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế giới phi lí trong tiểu thuyết đi tìm nhân vật và thiên thảm sám hối của tạ duy anh

127 804 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đề tài này, tác giả luận văn sẽ có cái nhìn khách quan và khoa học về những đóng góp của Tạ Duy Anh nói riêng và các nhà văn nói chung trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết Vi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THANH HUYỀN

THẾ GIỚI PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT

“ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI”

CỦA TẠ DUY ANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THANH HUYỀN

THẾ GIỚI PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT

“ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI”

CỦA TẠ DUY ANH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trương Đăng Dung

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi, do

PGS.TS Trương Đăng Dung trực tiếp hướng dẫn Kết quả thu được là hoàn toàn

trung thực và chưa được công bố trong công trình nào khác

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Tác giả luận văn

Đỗ Thanh Huyền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và bày tỏ lòng biết ơn sâu

sắc tới PGS TS Trương Đăng Dung, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ

bảo tận tình, động viên tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Văn học, Tổ bộ môn Văn học Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy,tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên chúng tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người thân đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Luận văn được hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ phía thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 12 năm 2015

Tác giả luận văn

Đỗ Thanh Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

PHẦN NỘI DUNG 14

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ PHI LÍ TRONG TRIẾT HỌC VÀ VĂN HỌC 15

1.1 Phi lí trong triết học 15

1.2 Phi lí trong văn học 18

1.3 Vài nét về yếu tố phi lí trong văn học Việt Nam sau đổi mới 22

Chương 2: CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI PHI LÍ QUA TIỂU THUYẾT “ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI” CỦA TẠ DUY ANH 33 2.1 Con người lưu đày 33

2.2 Con người hoài nghi 45

2.3 Con người dấn thân 57

2.4 Con người cô đơn 64

Chương 3: NGHỆ THUẬT MÔ TẢ CÁI PHI LÍ TRONG TIỂU THUYẾT “ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI” CỦA TẠ DUY ANH 75

3.1 Thời gian phi lí 75

3.2 Không gian phi lí 84

3.3 Nhân vật vắng mặt và nhân vật kí hiệu 89

3.4 Ngôn ngữ, giọng điệu nhiều sắc thái 94

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ở phương Tây, chủ nghĩa hiện sinh đã xuất hiện như một trào lưu tư tưởng chính trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lí của triết học thời kì hiện đại Từ trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh là vấn đề nhân vị, các triết gia đã phát triển thành những phạm trù cụ thể như: phi lí, buồn nôn, hư vô, tự do, lo âu, tha nhân hay nổi loạn, dấn thân, địa ngục Jean-Paul Sartre cùng một số các tác giả khác ở Paris sau giải phóng đã có những tác phẩm thành công, đáng ghi nhận Các tác phẩm của họ chú trọng vào các chủ đề như "nỗi sợ, sự buồn chán, sự lạc lõng trong xã hội, sự phi

lí, tự do, cam kết, và hư vô" như là nền tảng của sự hiện sinh con người Con người

tự do lựa chọn cách sống, thái độ sống của mình, nghĩa là con người có ý thức để trở thành hiện sinh; và do đó mà con người luôn đau khổ, dằn vặt, lo âu trong cuộc kiếm tìm và lựa chọn tự do

Trong số các phạm trù đó, vấn đề phi lí là một trong những vấn đề cơ bản, dần dần trở thành khái niệm chủ chốt của chủ nghĩa hiện sinh “Vấn đề phi lí đã xuất hiện từ F.Rabelai đến các nhà văn lãng mạn như L.Caroll, J.Wift…và một số nhà văn hiện đại khác như là một đối tượng của sáng tác văn học Nhiều người gọi là biện pháp huyễn tưởng phi lí” [24, tr 222] Họ đã xây nên một thế giới huyễn tưởng riêng biệt với những nhân vật hài kịch làm đối tượng châm biếm và hài hước, qua

đó rút ra bài học cho thế giới thực tại Vào những năm đầu của thế kỉ XX, ở châu

Âu rộ lên phong trào văn học phi lí với các tên tuổi nổi tiếng trong lịch sử văn học toàn nhân loại như: Fr.Kafka, Alb.Camus, Eug.Ionesco, S.Beckett… Cao trào đó diễn ra vào khoảng giữa thế kỉ XX Về cơn bản, phong trào văn học phi lí đã chấm dứt sự tồn tại vào cuối những năm 60, nhưng dư âm của nó thì vẫn còn kéo dài cho đến tận ngày nay Không thể phủ nhận một điều rằng, văn học phi lí là một mảng văn học có giá trị Và có thể nói rằng, tìm hiểu về văn học phi lí là tìm hiểu về một đóng góp đáng ghi nhận cho lịch sử văn học nhân loại

1.2 Tại Việt Nam, văn học phương Tây đã in dấu ấn lên nền văn học từ khá lâu và góp phần không nhỏ vào sự phát triển của văn học nước nhà Có thể dễ dàng nhận thấy rằng mọi nỗ lực đổi mới, cách tân của tiểu thuyết chủ yếu là học theo “lối viết”

Trang 7

của phương Tây nói chung, văn học hiện sinh nói riêng Và gần đây người ta

thường nói một cách ngắn gọn là viết theo lối “hậu hiện đại”

Trên văn đàn tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 đã xuất hiện khá nhiều tên tuổi tài năng với một lối viết phá cách, mang đậm dấu ấn của “hậu hiện đại” phương Tây như: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Bảo Ninh, Dương Hướng, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh… Trong số đó, nhà văn Tạ Duy Anh là một cây bút khá nổi với nhiều tập truyện dài và tiểu thuyết, hàng chục truyện ngắn, truyện thiếu nhi, hàng trăm bài tản văn trên các báo Có thể nói, ông là một trong số ít những nhà văn Việt Nam có những tác phẩm mang đậm tính phi lí, chịu ảnh hưởng nhiều của văn học phương Tây Vấn đề này được thể hiện rõ nét nhất qua hai tập

tiểu thuyết nổi tiếng, đánh dấu tên tuổi của ông là Đi tìm nhân vật và Thiên thần

sám hối Với một lối viết mới lạ, phá cách, ông đã góp phần vào việc cách tân và

hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam hiện đại Nghiên cứu đề tài Thế giới phi lí trong

tiểu thuyết “Đi tìm nhân vật” và “Thiên thần sám hối” của Tạ Duy Anh, người viết

mong muốn được tìm hiểu, đào sâu một vấn đề từng là thành tựu của văn học thế giới Qua đó sẽ thấy được những ảnh hưởng của văn học phương Tây đến Việt Nam như thế nào, nó biến đổi ra sao, có thành công và hạn chế gì Từ việc nghiên cứu một số tác phẩm của một tác giả đại diện, chúng ta sẽ có những cái nhìn đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về toàn cảnh của một giai đoạn văn học

1.3 Bên cạnh đó, nghiên cứu đề tài Thế giới phi lí trong tiểu thuyết “Đi tìm nhân

vật” và “Thiên thần sám hối”của Tạ Duy Anh là việc làm có ý nghĩa thiết thực Qua

đề tài này, tác giả luận văn sẽ có cái nhìn khách quan và khoa học về những đóng góp của Tạ Duy Anh nói riêng và các nhà văn nói chung trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Những triết lí, quan niệm mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm cũng là những bài học quý giá, thiết thực về cuộc sống của con người nói chung Ta bắt gặp đâu đó một số nhân vật, sự kiện trong tác phẩm như hiện hữu ngay ở ngoài đời thực Những vấn đề ông đề cập đến trong tác phẩm luôn

có giá trị ở mọi thời đại

Trang 8

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Văn học phi lí là một thành tựu của thế giới và đã được khá nhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên, việc đi sâu nghiên cứu vấn đề phi lí trong các tác phẩm văn học Việt Nam thì chưa có nhiều công trình Đặc biệt, các bải phê bình, nghiên cứu về Tạ Duy Anh rất ít, chủ yếu là trên các báo mạng Qua khảo sát bước đầu, chúng tôi thấy các ý kiến mới dừng lại trên tinh thần nghiên cứu tổng quan hoặc bàn luận tản mạn trong một vài tác phẩm đơn lẻ Vì vậy, người viết đã chọn lọc và tiếp thu những ý kiến được xem là xác đáng, cụ thể nhất và có tính gợi

mở để tác giả luận văn triển khai đề tài nghiên cứu

2.1 Những nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh, văn học phi lí nói chung

Chủ nghĩa hiện sinh khởi nguồn từ phương Tây và người được coi là thủy tổ của nó là S Kierkegaard (Đan Mạch, 1813-1855) Xuất phát điểm của Kierkegaard

là cá nhân cụ thể, quan tâm nhiều đến niềm tin và đam mê Ảnh hưởng của Kierkegaard khá lớn đối với các triết gia hàng đầu của triết học hiện sinh, đến nỗi

người ta cho rằng Hữu thể và Hư vô của J Sartre ngoài việc có sử dụng chút ít vật liệu từ Hữu thể và Thời gian của Heidegger thì triết luận này của Sartre còn được

“gợi hứng” khá nhiều từ những quan điểm của S Kierkegaard Có ý kiến cho rằng quan niệm văn chương của Kafka có chịu ảnh hưởng của Kierkegaard khi khẳng định bản chất của sự sinh tồn chính là nỗi bất an Một số tác phẩm có giá trị của ông

như: The Concept of Irony with Continual Reference to Socrates; Either – Or, The

Sickness Unto Death; The Book on Adler …

F Nietzche (Đức, 1884-1900) cũng được các nhà nghiên cứu coi là một trong những vị tiền bối của triết học hiện sinh Ông và Kierkergaard có ý kiến gần nhau đó là đều coi con người là một thế giới huyền bí, sâu thẳm Lo âu là biểu hiện của cái phi lí của cuộc sống Tuy nhiên, Kierkegaard với quan điểm luôn giữ vững niềm tin nơi Thiên chúa Còn Nietzche bắt nguồn từ những tư tưởng đi ngược với truyền thống Hy Lạp do Socrater, Platon và Aristotle để lại

Đầu thế kỉ XX, triết học hiện sinh nổi lên một trường phái đó là “hiện tượng học” của E.Husserl Có thể nói, tư tưởng của Kierkergaard về con người kết hợp với hiện tượng học của E.Husserl như một phương pháp luận Suốt nửa đầu thế kỉ XX,

Trang 9

M Heidegger, Jaspers, G Marcel phát triển nó lên thành những lí thuyết phức tạp,

hoàn chỉnh hơn Đặc biệt là công trình Hữu thể và thời gian ra đời năm 1927 có thể

coi là tác phẩm quan trọng nhất của Heidegger Ông quan tâm đến tính thời gian vì thời gian làm nên ý nghĩa của tồn tại, cho thấy sự hiện hữu của con người Có thể thấy rằng: Heidegger còn có đóng góp lớn cho triết học ngôn ngữ thế giới khi khám

phá ra những bản chất mới của ngôn ngữ Trong công trình Trên đường đến với

ngôn ngữ, ông gọi “ngôn ngữ là ngôi nhà hữu thể”

Đến giữa thế kỉ XX, J.P Sartre xuất hiện với tác phẩm Buồn nôn năm 1938

và rất nhiều tác phẩm khác về hiện sinh đã gây chấn động trong xã hội Từ đây, triết học hiện sinh đã trở thành một trào lưu tư tưởng chính thống, trở thành lối sống của một số thế hệ thanh niên Quan điểm triết học (hiện sinh vô thần) của Sartre được hình thành trong quá trình đấu tranh chống “chủ nghĩa duy tâm đại học” như là một thứ triết học tách rời đời sống Tuy nhiên, sự tác động quyết định đến tư tưởng triết học của ông là hiện tượng học của E Husserl và bản thể học của M Heidegger

Năm 1943 ra đời tác phẩm triết học cơ bản nhất của Sartre, Hữu thể và vô thể Sau

đó là những tác phẩm khác nhau như Tưởng tượng (1940), Chủ nghĩa hiện sinh là

chủ nghĩa nhân đạo (1946), Situations (10 tập, 1947-1976), Phê bình lí tính biện chứng (1960), v.v Phổ biến hơn cả là văn xuôi triết lí của ông như Buồn nôn

(1938), Những con đường của tự do (bộ ba, 1945-1949), các vở kịch Ruồi (1943),

Chết không mồ (1946), Gái điếm mà lễ độ (1946), Những bàn tay bẩn (1948), Quỷ

phát hiện ra trong tác phẩm cái được mặc khải bằng cuộc phiêu lưu đặc biệt của một con người bị thúc đẩy bởi lo âu của mình mà trở thành nhà văn, ông cố gắng sát nhập chủ nghĩa Marx và phân tâm học thành một thứ nhân loại học có thể giải thích

con người trong tính toàn vẹn của nó

Có thể thấy rằng, chủ nghĩa hiện sinh đã được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trên thế giới Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi xin đi sâu vào một số công trình về chủ nghĩa hiện sinh của một số tác giả tại Việt Nam

Một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về vấn đề triết học hiện sinh ở Việt Nam đó chính là Trần Thái Đỉnh Ông đã có những nghiên cứu tỉ mỉ, dễ hiểu

Trang 10

và khá đầy đủ trong cuốn Triết học hiện sinh Ở cuốn sách này, tác giả đã tỏ rõ quan

điểm của mình là: "Triết học hiện sinh có thể nguy hiểm và xấu nữa Nhưng nguy hiểm ở chỗ nào và xấu ở chỗ nào? Bao lâu chúng ta chưa nói một cách đúng đắn và đích xác, thanh thiếu niên vẫn chưa nghe lời chúng ta, và mối nguy hiểm vẫn cứ còn mãi ( ) thuyết hiện sinh có chứa đựng rất nhiều mầm mống tốt trộn lẫn với mầm mống xấu: chính vì những vẻ tốt đẹp kia đã quyến rũ thanh thiếu niên, nhưng vì họ chưa đủ tinh tường để phân biệt, cho nên họ nuốt luôn cả những chất độc pha trộn nơi đó" [39, tr.15- 16] Bởi vậy, Trần Thái Đỉnh chủ trương "phân biệt rõ ràng" trong mọi sự khen chê, để triết hiện sinh được hiểu đúng, đánh giá đúng Ông đã làm rõ nguồn gốc của triết học hiện sinh và dừng lại ở sáu phạm trù hiện sinh chính

yếu là: buồn nôn, phóng thể, ưu tư, tự quyết, vươn lên, độc đáo

- Ở phạm trù Buồn nôn, Trần Thái Đỉnh đã cho rằng “con người ta còn sống

như những sinh vật Và sống như sinh vật là một buồn nôn cho triết gia hiện sinh đã

ý thức sâu xa về nhân vị con người” [39, tr 36] Ông cũng trích ra một đoạn trong tác phẩm Buồn nôn của J.P.Sartre để làm rõ hơn phạm trù này: “Thôi tôi cứ làm như này An-ny là xong Tôi cứ sống thừa ra Ăn, ngủ Ăn, ngủ Sống từ từ êm êm như những cây kia, như những vũng nước này, hoặc như cái ghế bọc vải đỏ của toa xe lửa nọ” [39, tr 21]

- Cuộc đời mỗi người đều mang vẻ tầm thường, buồn nôn, cuộc đời đó là

một phóng thể Có nghĩa là con người hóa thành cái khác hành động, chỉ vì người ta

bảo mình làm hay nghĩ mình phải làm như thế Trần Thái Đỉnh nghiên cứu và chia

ra hai loại là phóng thể duy tâm và phóng thể duy vật Phóng thể duy tâm là con người chỉ tưởng tượng và mơ ước, thụ động theo những mẫu người “lí tưởng” Phóng thể duy vật là con người hành động vô ý thức như một cái máy, chủ yếu sống yên phận trong gia đình, trong nhóm, đoàn thể

- Vì cuộc đời là một phóng thể nên cần thiết con người phải tỉnh ngộ , ý thức

về giá trị cao quý và nhân vị của mình Do đó sinh ra ưu tư “Ưu tư là trạng thái xao

xuyến, băn khoăn về tương lai chưa rõ” [39, tr 42] Đó là vẻ đặc sắc của một cuộc hiện sinh đã tự ý thức rằng phải làm mọi cách để thoát ra, dứt ra khỏi cảnh sống thừa, sống như những sinh vật đang tồn tại, những con người phóng thể

Trang 11

- Với tinh thần không bao giờ cam chịu nằm lỳ một chỗ như sinh vật, con

người phải có ý thức vươn lên Đề tài này phát sinh dưới ngòi bút của Kierkegaar

bởi “con người phải vươn lên khỏi gia đoạn hiếu mĩ để đạt tới giai đoạn đạo đức, rồi lại phải vươn lên khỏi trình độ đạo đức để tiến lên giai đoạn tôn giáo” Thánh Augustin, một trong những cụ tổ triết hiện sinh viết “không tiến là lùi rồi”[39, tr 47] Vươn lên là lẽ sống của hiện sinh trung thực Vươn lên là vượt lên chính mình, chiến thắng chính mình

- Trong quá trình vươn lên, con người sẽ trải qua rất nhiều thử thách và đòi

hỏi ta phải sáng suốt để quyết định, tự quyết mọi việc về cuộc đời mình Tự quyết là

tự chọn mình, đi liền với ý niệm dấn thân Có thể nói rằng tôi tự quyết là tôi “dám”

là tôi, tôi dám hành động theo sự lựa chọn của tôi Chính trong hành động tự quyết, triết hiện sinh chứng tỏ hiện sinh là giá trị sống, không phải giá trị tư tưởng “Liều”

là một danh từ hiện sinh Trong cái “liều” này thì tôi mới tỏ ra là chủ thể, không phải là người hành động thiếu suy nghĩ

- Tất cả hành động của chúng ta phải tự ta thực hiện, không thể ỷ lại vào bất

kì ai bởi mỗi người là một độc đáo Theo Trần Thái Đỉnh, đây là điểm quan trọng

nhất, đặc sắc nhất trong số các phạm trù của triết học hiện sinh “Khi nào tôi đảm nhiệm lấy cô đơn đó là lúc tôi dám làm người có nhân vị độc đáo Khi đó, tôi sẽ dám phát huy tất cả những khả năng riêng biệt của tôi theo những đường lối chỉ tôi có” [39, tr 49]

Đánh giá về công trình này, Thụy Khuê đã nhận định: “Cuốn Triết học hiện

sinh của Trần Thái Đỉnh là một trong những cuốn sách mở cửa cho chúng ta vào

nền tư tưởng chủ yếu của thế kỷ XX, vào sự tìm hiểu con người”

Với những ý kiến phê phán khá gay gắt, tác giả Đỗ Đức Hiểu trong tác phẩm

Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa đã tỏ rõ những quan điểm đáng lưu ý trong

công trình này Đúng như tên gọi của cuốn sách, ông đã chỉ ra những mặt tiêu cực của chủ nghĩa hiện sinh khi nó du nhập vào đô thị miền Nam Ông đã nhận định: “Ở các thành thị miền Nam Việt Nam, những năm bị quân Mĩ xâm lược, văn học hiện sinh chủ nghĩa đã được nhập cảng Tuy nhiên, nội dung của nó là trụy lạc và chém giết, là thuyết phi luân và đi lính ngụy; nội dung là rời bỏ tính siêu hình và tự biện,

Trang 12

tính trừu tượng và hư vô của văn học hiện sinh chủ nghĩa phương Tây”[50, tr 19] Ông chỉ ra rằng: “Tự do của nó không phải là thứ “bị tự do” phi lí và siêu nghiệm như Xactơrơ hay Ionexco mà là tự do làm “gái bụi đời” và cầm súng Mĩ”[50, tr.19] Nhà nghiên cứu tỏ rõ quan điểm phê phán của mình qua một loạt những dẫn chứng, phân tích tỉ mỉ những mặt trái của chủ nghĩa hiện sinh khi “nhập cảng‟ vào miền Nam Việt Nam

Cùng quan điểm với tác giả Đỗ Đức Hiểu, tác giả Hoàng Trinh cũng đề cập

đến vấn đề này trong cuốn Phương Tây, văn học và con người Tác giả cho rằng

những lối ăn chơi sa đọa nhất, từ Mĩ và các nước khác đưa sang đã làm “hư hỏng” nhiều người và các thứ văn học nghệ thuật được văn hóa suy đồi phương Tây sau đại chiến tiếp tục, cũng đã ngấm ngầm phát huy những ảnh hưởng tai hại của chúng đối với đời sống tinh thần của một số người ở các đô thị Nói về vấn đề phi lí, tác giả nhận định: “Trong khi tìm hiểu thuyết phi lí, chúng ta đã thấy được phần nào những nguyên nhân chính trị, xã hội và triết học của chủ nghĩa hoài nghi và tinh

thần hủy báng con người trong văn học hiện đại”[122, tr 150] Có thể thấy rằng, tác

giả Hoàng Trinh và Đỗ Đức Hiểu đã có những lời lẽ khá gay gắt, thể hiện cái nhìn phiến diện về chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam Bài nghiên cứu còn khá sơ lược và được tiếp cận từ góc nhìn “phê phán triết học tư sản hiện đại” Điều đó đã ảnh hưởng phần nào đến kết quả nghiên cứu Tựu chung lại, những hạn chế đó xuất phát

từ giới hạn lịch sử và thời đại

Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến các nhà nghiên cứu như: Lê Tôn Nghiêm

với các cuốn sách: Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương; Đâu là

căn nguyên tư tưởng hay con đường triết lí từ Kant đến Heidegger; Những vấn đề triết học hiện đại; Lê Thành Trị với chuyên khảo Hiện tượng luận về hiện sinh, Triết học tổng quát; Nghiêm Xuân Hồng với Nguyên tử, hiện sinh và hư vô, Bùi

Giáng với Tư tưởng hiện đại Rồi các nhà nghiên cứu Tam Ích, Vũ Đình Lưu, Thế

Phong, Nguyễn Trọng văn, Đặng Phùng Quân, Huỳnh Phan Anh, Trần Xuân Kiêm, Trần Công Tiến, Nguyễn Quốc Trụ cũng đóng góp nhiều công trình, bài viết về triết học hiện sinh, khiến cho triết học hiện sinh trở thành trào lưu tư tưởng được quan tâm nhất trong giai đoạn này

Trang 13

Đi sâu vào phạm trù phi lí, một trong số những nhà nghiên cứu hàng đầu về

vấn đề này ở Việt Nam đó chính là tác giả Nguyễn Văn Dân Với chuyên luận Văn

học phi lí, tác giả đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn toàn cảnh về văn học phi lí với

tư cách là một hiện tượng thống nhất Tác giả đã chỉ rõ văn học phi lí là một phản ứng của thời đại lịch sử Ông cho rằng: Trong cái xã hội phi nhân hóa do tác động của cuộc khủng hoảng tinh thần ấy, các nhà trí thức đã nhận thấy một điều phi lí là trong khi sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng đang ngày càng làm cho con người dễ dàng giao tiếp với nhau bao nhiêu, thì các nối quan hệ đạo lí – nhân văn lại càng bị gián đoạn bấy nhiêu Cuốn chuyên luận đã phân tích rất kĩ sự thống nhất của hai mặt đối lập là Kafka và Camus – hai tác giả tiêu biểu với những tác phẩm mang đậm cái phi lí Chúng tôi nhận thấy rằng, tác giả đã có những đánh giá sâu sắc về đóng góp của văn học phi lí cho lịch sử văn học nhân loại ở các mặt: nhận thức, tư tưởng đạo lí – nhân văn, thủ pháp nghệ thuật Đây có thể nói là một công trình vô cùng công phu, đòi hỏi rất nhiều nỗ lực của tác giả cũng như một số nhà nghiên cứu khác cùng tham gia

Trong công trình Nghiên cứu văn học, lí luận và ứng dụng, Nguyễn Văn Dân tiếp tục đề cập đến vấn đề văn học phi lí với các tiêu đề: Kafka với cuộc chiến

chống phi lí, Văn học phi lí – một đóng góp đáng đáng ghi nhận cho lịch sử văn học nhân loại, Dấu ấn phương Tây trong văn học Việt Nam hiện đại

Có thể thấy rằng, Fr.Kafka là người có đóng góp vô cùng to lớn trong mảng văn học phi lí của thế giới Cùng với ông là Alb Camus, Beckett… Thế giới nghệ thuật của Fr Kafka đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan điểm sáng tác, nghiên cứu

khoa học cũng như quan điểm sống của nhiều nhà văn Việt Nam Trong bài viết Thế

giới nghệ thuật Franz Kafka, nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung đã dành nhiều sự

quan tâm tới những băn khoăn của Kafka về số phận con người trước thiết chế quyền lực phi lí: “Các tác phẩm của Franz Kafka là sự lí giải những ấn tượng nghiệt ngã về thế giới phi lí, về sự tha hóa của con người trong vòng vây của những thiết chế quyền lực vô hình” [26, tr 255]

Trong cuốn Lí luận văn học, nhóm tác giả đã phân tích lịch sử của chủ nghĩa hiện sinh, đại diện là Camus với tác phẩm Người xa lạ Camus cho rằng cuộc sống

Trang 14

và con người đều phi lí: “Sự phi lí gắn bó con người và thế giới lại một cách chặt chẽ đến nỗi chỉ có lòng căm thù mới có thể liên hiệp được những con người lại với nhau” Từ đó, theo ông, “nghệ thuật vừa là sự khước từ vừa là sự chấp nhận”

“Khước từ” bởi vì cuộc đời là phi lí, nhưng để chống lại nó thì cần có sự phi lí của chính mình, nghĩa là một sự “chấp nhận” từ bên trong [103, tr 311]

Ngoài ra, vấn đề phi lí còn được đề cập đến trong các công trình, bài viết

như: Giáo trình Văn học phương Tây (Nhiều tác giả);Trần Thi Ngọc Chi (2007),

Nhân vật trong kịch phi lí, Luận văn Thạc sĩ văn học, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí

Minh; Về văn học phương Tây hiện đại (Phạm Văn Sĩ); Ảo hóa với phi lí (Nguyễn Dương Côn, Nxb Hội nhà văn); Tiểu luận về triết học phi lí (Camus, Tạp chí văn

học nước ngoài, số 2/2002)…

2.2 Những nghiên cứu đề cập đến Tạ Duy Anh và tác phẩm của ông

Trong khi nghiên cứu Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, Nguyễn Thị Bình đã

xem Tạ Duy Anh là một trong những nhà văn có đóng góp tích cực cho cao trào đổi

mới văn xuôi Cuốn sách Phi lí, hậu hiện đại và trò chơi là tập hợp ba luận văn thạc

sĩ được đánh giá cao khi nghiên cứu về trường hợp Tạ Duy Anh do nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình viết lời tựa: “Các tác giả trẻ Cao Tố Nga, Đoàn Thanh Liêm và Phạm Thị Bình đã chọn những cách tiếp cận khác nhau về tiểu thuyết của Tạ Duy Anh, nhằm ghi nhận một ngòi bút tâm huyết, giàu khát vọng cách tân, quan trọng hơn, qua đó nắm bắt những vấn đề có ý nghĩa lý luận và văn học sử đặt ra từ sự chuyển động phong phú, phức tạp của văn học đương đại nước ta” [85, tr.6]

Trong bài viết Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới, tác giả

Bích Thu cũng ghi nhận những thành công của các tác giả đang trên đường thể nghiệm sáng tạo trong cách nhìn và lối viết như Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài… Tác giả đã có những đánh giá sắc bén về thực trạng tiểu thuyết từng thời kì và dành nhiều lời khen tặng cho đội ngũ nhà văn thời

kì đổi mới: “Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới đã đứng trước nhu cầu đổi mới

tư duy tiểu thuyết Điều này chứng tỏ sự nghiêm khắc trong sáng tạo và tâm huyết với thể loại của các tiểu thuyết gia đương đại”

Trang 15

Trong bài viết Vài đặc điểm của văn xuôi hiện đại Việt Nam, tác giả Đỗ

Ngọc Thạch đã có những nghiên cứu về tác phẩm của Tạ Duy Anh và đã đánh giá

về cuốn Đi tìm nhân vật rất sâu sắc: “…Tạ Duy Anh đã sử dụng khá linh hoạt các

thủ pháp nghệ thuật của chủ nghĩa hiện sinh trong tác phẩm (như thủ pháp dòng ý thức và có chương xuất hiện lời thoại kiểu kịch phi lí…) Có thể nói, văn xuôi Việt

Nam từ sau cao trào đổi mới (1986), Đi tìm nhân vật chịu ảnh hưởng của văn học

hiện sinh, văn học phi lí rất sâu đậm Cái thế giới mà tác giả đã dẫn dụ người đọc vào là một thế giới cực kì phi lí, trong đó là những con người cá nhân với nỗi cô đơn, lạc loài, bị bỏ rơi, là nỗi ám ảnh về sự vong bản và tha hóa một cách nghiệt ngã” [111 ] Nhận định trên đã chỉ ra một cách cụ thể những biểu hiện của tư tưởng

hiện sinh trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm Đi tìm nhân vật, đặc biệt là các thủ

pháp nghệ thuật mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa hiện sinh

Đặt câu hỏi Có hay không những dấu ấn hậu hiện đại trong văn học Việt Nam

sau 1986, nhà nghiên cứu Phùng Gia Thế khẳng định: “Văn chương Tạ Duy Anh là

nỗi khắc khoải đi tìm một giá trị thực sự nhân bản trên cái cuộc sống đổ nát, điêu tàn, là sự loay hoay lí giải những nỗi đày đọa con người từ tiền kiếp”[110] Tác giả

đã chỉ ra những dấu ấn đậm nét của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam sau 1986, đặc biệt là trường hợp của Tạ Duy Anh

Bên cạnh đó, tác giả Đoàn Ánh Dương trong bài viết Lối viết tiểu thuyết Việt

Nam trong bối cảnh hội nhập: trường hợp Tạ Duy Anh cho rằng: “Đi tìm nhân vật

là tiểu thuyết chịu ảnh hưởng của văn học phi lí phương Tây sâu đậm nhất Rất ít khi, vấn đề con người cá nhân và sự thức nhận về cá nhân lại được tiểu thuyết thể hiện một cách trọn vẹn đến vậy, nỗi ám ảnh về sự vong bản và tha hóa lại sâu sắc đến mức nghiệt ngã đến thế” [34, 86] Đây có thể coi là một nhận định rất sắc sảo khi nói đến “ảnh hưởng của văn học phi lí phương Tây” vào tác phẩm của Tạ Duy

Anh mà Đi tìm nhân vật là một tiểu thuyết chịu ảnh hưởng sâu đậm nhất

Tác giả Đinh Văn Điệp trong luận văn Thạc sĩ Nhân vật mang tâm thức hiện

sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương đã nhận định: “Nhà văn

muốn cụ thể hóa sự ngự trị của cái phi lí thông qua tâm lí hoài nghi và diễn tả một trạng thái sinh tồn nào đó của nhân vật, để nói nhận ra một sự thật rằng: “luôn phải

Trang 16

sống trong những tình huống không xuất phát từ những lựa chọn của mình”[38, tr 64] Ở luận văn này, tác giả đã đi sâu làm rõ đặc điểm nhân vật mang tâm thức hiện sinh và nghệ thuật xây dựng nhân vật mang tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu xoay quanh các tác phẩm của

Tạ Duy Anh như: Vũ Thị Thanh Hải (2009), Yếu tố nghịch dị trong tiểu thuyết của

Tạ Duy Anh, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đại học Sư phạm Hà Nội; Vũ Lê Lan

Hương (2006), Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tạ Duy Anh, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Nguyễn Thị Hồng Giang (2003); Tạ

Duy Anh và việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết, Khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ

văn – ĐHSP Hà Nội; Đào Thị Dần (2008), Nhân vật dị biệt trong sáng tác của Tạ

Duy Anh và Nguyễn Bình Phương, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội

Bên cạnh đó, vấn đề này còn được bàn đến trong một số bài báo như: Tạ Duy

Anh – gương mặt nổi bật trên văn đàn (Nguyễn Trường, Tạp chí Văn học và Tuổi

trẻ); Tạ Duy Anh giữa lằn ranh thiện ác (Việt Hoài, bài đăng trên Vietbao.vn)…

Như vậy, có thể thấy rằng, Tạ Duy Anh đã nhận được sự quan tâm khá nhiều từ giới nghiên cứu và dư luận nói chung Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên chỉ đề cập đến một phần nào đó của văn học phi lí hoặc một khía cạnh trong nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tạ Duy Anh Trong tình hình hạn chế về thời gian và tư liệu nên việc tổng thuật không được đầy đủ như mong muốn Tuy nhiên, người viết cũng đã cố gắng khái quát, phác họa những nét chính của vấn đề Bên cạnh những ý kiến có tính chất gợi ý từ thực tế sáng tác của Tạ Duy Anh, còn

có sự hỗ trợ của các công trình nghiên cứu về triết học và văn học phi lí trên thế giới được dịch và giới thiệu ở Việt Nam cũng như những công trình nghiên cứu về thực

tế sáng tác của văn chương đương đại nước nhà Đó là điểm tựa vững chắc, tiếp thêm niềm tin cho tác giả luận văn thực hiện đề tài này

3 Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Phạm vi tư liệu

Trang 17

Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi đi vào khảo sát thế giới phi lí trong hai tiểu thuyết của Tạ Duy Anh:

- Đi tìm nhân vật, Nxb Đồng Nai, 2008

- Thiên thần sám hối, Nxb Hội nhà văn, 2006

Ngoài ra, chúng tôi cũng liên hệ đến một số tác phẩm khác của Tạ Duy Anh và một số tác giả trong và ngoài nước có tác phẩm liên quan đến đề tài của luận văn

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Tìm hiểu về khái niệm phi lí, vấn đề phi lí trong triết học và trong văn học, làm rõ lịch sử của vấn đề này

- Nghiên cứu con người trong thế giới phi lí được thể hiện trong hai tiểu thuyết của Tạ Duy Anh

- Tìm hiểu nghệ thuật mô tả cái phi lí trong hai tiểu thuyết của Tạ Duy Anh trên một số phương diện

4 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu Thế giới phi lí trong tiểu thuyết “Thiên thần sám hối” và “Đi tìm

nhân vật” của Tạ Duy Anh, chúng tôi muốn chỉ ra những dấu ấn của chủ nghĩa hiện

sinh, của vấn đề phi lí đến sáng tác của tác giả này

Thừa hưởng và phát huy những thành tựu trước đó, chúng tôi chỉ ra sự đa dạng

về đặc điểm của con người trong thế giới phi lí và làm rõ những đặc trưng về nghệ thuật mô tả cái phi lí qua ngòi bút của Tạ Duy Anh

Ngoài ra, luận văn cũng góp phần khẳng định cá tính sáng tạo và đóng góp của

Tạ Duy Anh trong công cuộc đổi mới văn học Và ở một góc độ nhất định, chúng tôi cũng làm sáng rõ hơn những vấn đề đổi mới của thể loại tiểu thuyết nói riêng và văn học đương đại nói chung

5 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai nghiên cứu, chúng tôi dự định sử dụng hệ thống phương pháp gồm một số phương pháp sau:

5.1 Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Tiếp cận hệ thống trong chủ đề về chủ nghĩa hiện sinh, vấn đề phi lí

Trang 18

- Phương pháp tiếp cận liên ngành (triết học, văn học, xã hội học…)

- Phương pháp tiếp cận theo hướng thi pháp học

5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

* Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Thu thập, đọc tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu (các công trình khoa học, luận án, luận văn, tạp chí, bài báo… liên quan đến chủ nghĩa hiện sinh, văn học phi

lí, đến Tạ Duy Anh và các tác giả văn xuôi đương đại)

- Phân tích, so sánh, hệ thống hóa lí thuyết để xác định cơ sở lí luận và quan điểm

về vấn đề nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Nghiên cứu lịch sử triết học hiện sinh, vấn đề

phi lí trong triết học và văn học để có cái nhìn bao quát vấn đề

* Phương pháp xử lí thông tin: Dựa trên những tài liệu, thông tin thu thập được,

chúng tôi sẽ chọn lọc những thông tin cần thiết, có độ tin cậy cao liên quan đến đề tài nghiên cứu, phân tích kĩ vấn đề phi lí ở hai tiểu thuyết theo cách nhìn mới

* Ngoài ra, người viết còn sử dụng các thao tác khác như: khảo sát – so sánh, thống

kê, phân tích, bình giảng

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba vấn đề chính:

Chương 1: Khái lược về vấn đề phi lí trong triết học và văn học

Chương 2: Con người trong thế giới phi lí qua tiểu thuyết “Đi tìm nhân vật” và

“Thiên thần sám hối” của Tạ Duy Anh

Chương 3: Nghệ thuật mô tả cái phi lí trong tiểu thuyết “Đi tìm nhân vật” và

“Thiên thần sám hối” của Tạ Duy Anh

Trang 19

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ VẤN ĐỀ PHI LÍ TRONG TRIẾT HỌC

VÀ VĂN HỌC Cái phi lí là gì và nguồn gốc của nó như thế nào? Trong phần này, chúng tôi sẽ

đi vào trình bày khái quát về vấn đề phi lí trong triết học và văn học Qua đó, người viết sẽ liên hệ, làm rõ quá trình xuất hiện của “cái phi lí” trong văn học Việt Nam cũng như sự xuất hiện của cây bút Tạ Duy Anh

1.1 Phi lí trong triết học

1.1.1 Thời kì cổ đại

Có thể nói, triết học là khoa học của mọi khoa học Chính vì lẽ đó, chúng tôi muốn làm rõ lịch sử của vấn đề phi lí qua các thời đại, khởi nguồn là phi lí trong

triết học Trong chuyên luận Văn học phi lí của Nguyễn Văn Dân có viết: “Khái

niệm phi lí đã xuất hiện từ thời cổ đại Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại như Zenon

và Aristote đã áp dụng phương pháp ngụy biện cho suy lí logic (tức là phương pháp lập luận dựa vào giả thiết phi lí) Trong lịch sử, Zenon đã đưa ra bài toán rất nghịch lí: Asin – dũng sĩ trong thần thoại Hi Lạp có tài chạy nhanh nhất nhưng vẫn không đuổi kịp được một con rùa Phương pháp này chứng minh cho thấy những kết quả sai lầm của một giả thiết để bác bỏ giả thiết đó Hình học Euclide (thế kỉ III trước CN) cũng thường xuyên sử dụng phương pháp ngụy biện để chứng minh các định luật hình học” [39, tr 14] Nhìn chung, thời kì này, khái niệm về cái phi lí đã xuất hiện nhưng chưa được đưa ra một cách rõ ràng, cụ thể

1.1.2 Thời kì trung đại

Đến thời trung đại, nhà bác học La Mã Tertullianus (155-1626) đã dùng phương pháp suy luận phi lí để chứng minh cho chân lí của một sự đánh giá bằng cách chỉ ra tính chất sai lầm của mặt trái sự đánh giá đó Ông đã có một câu nói rất nổi tiếng: “Tôi tin vì nó phi lí” Vào thế kỉ XVI, nhà triết học người Anh Fr.Bacon dùng phương pháp suy luận phi lí để chứng minh cho chân lí bằng cách chỉ ra tính chất sai lầm ở phía phản chân lí

thuyết về “các âm thanh vô nghĩa” cũng đã giải thích sự phi lí thông qua sự rối loạn

Trang 20

trật tự logic ngôn ngữ học Ông cho rằng những từ trái nghĩa đứng cạnh nhau thì chỉ làm thành một âm thanh đơn thuần chứ không phải là một khái niệm có nghĩa, ví dụ như cách nói “một vật thể vô thể” Trên phương diện logic học thì người ta quan niệm những gì tồn tại trái với quy tắc logic đều bị coi là “phi lí” Có một định nghĩa thứ hai mang tính chất khái quát hơn và nó vượt ra ngoài địa hạt của logic học khi

nó cho rằng “tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lí trí, không thể lí giải được bằng tư duy, thì đều được coi là phi lí Như vậy, cái phi lí là cái phản lí tính” [39, tr 15] Định nghĩa này dã được nền triết học phương Tây hiện đại phát triển thành chủ nghĩa phi lí tính từ cuối thế kỉ XVIII và kéo dài suốt hơn một thế kỉ

1.1.3 Từ cuối thế kỉ XVIII đến thế kỉ XX

Vào cuối thế kỉ XVIII, chủ nghĩa phi lí tính hiện đại đã xuất hiện làm cơ sở triết học cho văn học phi lí và kéo dài cho đến tận thế kỉ XX Georgy Lukacs cho rằng chủ nghĩa này nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội, chính trị và tư tưởng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX Đặc điểm của chủ nghĩa phi lí tính là sự mất lòng tin vào khả năng tư duy, đi đến chỗ dùng ý chí thay cho lí trí (chủ nghĩa duy ý chí), dùng trực giác thay cho tư duy (chủ nghĩa trực giác như: chủ nghĩa của Bergson, Croce… Một số người cho rằng cái phi lí tính là nguồn gốc của hoạt động

lí tính, của tư duy, nhưng nó không được tư duy biết đến Những người khác cho rằng chủ nghĩa phi lí tính xuất hiện khi lí trí tỏ ra bất lực trong việc thâm nhập vào bản chất sâu kín cuối cùng của sự việc

Nhiều nhà văn, nhà tiểu luận văn học hoặc nhà thơ ở thế kỉ XX cũng đã tuyên bố

sự phá sản của lí trí Họ đã có xu hướng muốn lật đổ lâu đài của lí trí thuần túy để chỉ đề cập đến cuộc sống sinh động của xã hội, của con người Có lẽ đây là một phản ứng chống lại những quan niệm cực đoan khô cứng của chủ nghĩa duy lí Phi lí là một khía cạnh của chủ nghĩa hiện sinh, nói cách khác, một bước phát

triển đặc biệt của khái niệm triết học về cái phi lí là giai đoạn chủ nghĩa hiện sinh

(với các nhà hiện sinh nổi tiếng như Kierkegaard, Heidegger và Jasper) Cả ba người đều chống lại lí tính, chống lại Descartes, bởi họ cho rằng chủ nghĩa duy lí Descartes chỉ nhằm vào con người trừu tượng chứ không xác định được con người

Trang 21

cụ thể, con người cá nhân Heidegger phê phán cái tư duy trong câu “Tôi nghi ngờ

là tôi tư duy, tôi tư duy là tôi tồn tại” là không thể nắm bắt được sự hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh là “khuynh hướng triết học hình thành trước đại chiến I ở Nga với Sextop (Chestov, 1866 – 1938), Be đyaep (Berdiaeff, 1866 – 1948), sau đại chiến I

ở Đức với M.Heidegger (1889 – 1976), K Jasper (1883 – 1969), M Buber (1878 – 1965), trong thời kì đại chiến II ở Pháp với J – P Sartre (1905 – 1980), M.Merleau – Ponty (1908-1961), A.Camus (1913-1960), sau đó phổ biến ở các nước khác tại chấu Âu và Hoa Kì”

Chủ nghĩa hiện sinh đã tạo ra giữa lí tính và thực tại một hố sâu ngăn cách khó có thể vượt qua - sự phi lí Và trong cái vực sâu này có sự ngự trị của cái phi lí Kierkegaard nói đến “cái nghịch lí” của nhận thức và của tồn tại Ở Heidegger thì ngự trị khái niệm về „sự bất an”, còn các nhà hiện sinh chủ nghĩa người Pháp thì có cảm giác đậm nét về cái phi lí Về sau, trong quan niệm của hai nhà đại diện chủ chốt của chủ nghĩa hiện sinh Pháp thế kỉ XX là J.-P Sartre (1950-1980) với các tác

phẩm triết học chính: Bản thể và hư vô, Phê phán lí tính biện chứng và A.Camus với tập tiểu luận triết học: Huyền thoại Sisyphe thì cái phi lí trở thành khái niệm chủ

chốt của chủ nghĩa hiện sinh

Trong các tác phẩm triết học và văn học của mình, Sartre không chỉ quan niệm cái phi lí xuất hiện do có sự bất đồng giữa lí tính với thực tại nhân bản, mà ông còn tuyên bố chính cái thực tại nhân bản là một thực tại phi lí, một thực tại của vật tự nó Đến Camus thì tư tưởng về cái phi lí đã trở thành nỗi ám ảnh trong suốt cuộc đời của ông, nó làm thành đề tài trọng tâm của các tiểu luận triết học và thấm

đậm trong mọi tác phẩm văn học của ông Trong cuốn Phê phán văn học hiện sinh

chủ nghĩa, tác giả Đỗ Đức Hiểu đã chỉ rõ: “triết học hiện sinh về cơ bản là triết học

phi lí hay triết học của cái phi lí…” [50, tr 18]

Như vậy, cái phi lí trong triết học là một khái niệm triết học có lịch sử phát triển lâu dài và có những chuyển biến qua từng thời kì Từ thời Hy Lạp cổ đại với Aristote, Zenon, qua thế kỉ XVI với Bacon (Anh), đến thế kỉ XX đã tạo mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển và hoàn thiện ý thức, quan niệm về cái phi lí Và khi cái phi lí đã đạt đến đỉnh điểm của mình cùng với nhà triết học kiêm nhà văn Camus thì

Trang 22

sau ông hầu như không còn nhà triết học nào bàn đến nó nữa, mà chỉ được thể hiện trong sáng tác của các nhà văn Có nhiều nhà văn không phải là nhà triết học nhưng cũng thể hiện cái phi lí trong tác phẩm của mình và làm thành nguồn cảm hứng triết học cho các nhà triết học khác Tuy nhiên, khái niệm phi lí trong triết học và trong văn học không phải là khái niệm một chiều mà luôn tương tác, bổ sung cho nhau Các nhà văn thường xem xét cái phi lí ở hai khía cạnh: cái không hợp lí, trái logic trong đời sống và nhận thức bi đát về thân phận con người

1.2 Phi lí trong văn học

Cái phi lí trong văn học không phải là một sự sao chép máy móc cái phi lí trong triết học Triết học cho rằng cái phi lí là con đẻ của tính bất khả tri của lí tính trong khi các nhà văn vẫn cố gắng nhận thức cái phi lí, lí trí vẫn nhận thức được và có kết quả là cái phi lí phản lí tính “Khái niệm cái phi lí trong văn học được dùng để chỉ loại hình văn học phi lí có nhiệm vụ nhận thức và mô tả cái hiện thực vô nghĩa, phi logic, phi lí tính, trái với năng lực nhận thức của con người” [39, tr 23] Khác với chủ nghĩa phi lí tính trong triết học là khẳng định sự bất khả tri của lí trí trước sự bất hợp lí của thực tại và chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức, thì văn học phi lí là một thứ triết học hành động của các nhà trí thức phương Tây Các nhà văn phi lí không chỉ

mô tả cái phi lí, mà quan trọng hơn là họ còn hành động chống lại cái phi lí đó Và hành động chống lại cái phi lí chính là một phản ứng của thời đại lịch sử

Nhà nghiên cứu người Rumani Nicolae Balota, một chuyên gia về văn học phi lí đã cho rằng nguồn gốc của văn học phi lí hiện đại là tất cả những sáng tác từ văn học dân gian đến văn học thành văn qua các thời đại, có sử dụng các thủ pháp châm biếm, hài hước, nghịch dị, chiêm bao một cách ngược đời, vô nghĩa, vô lí

Trong dân gian Việt Nam đã có những bài ca dao, đồng dao mô tả những chuyện phi lí, ngược đời như:

Bao giờ cho đến tháng ba,

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng

Hùm nằm cho lợn liếm lông,

Một chục quả hồng nuốt lão tám mươi

Nắm xôi nuốt trẻ lên mười

Trang 23

Con gà nậm rượu nuốt người lao đao

Rồi bài:

Trời mưa cho mối bắt gà,

Thòng đong cân cấn đuổi cò lao xao

Hay câu thơ ca ngợi lãnh chúa La Palice (1470-1525) khá ngây ngô: "Mưởi lăm phút trước khi chết/ Ngài còn sống ở trên đời " Trước khi “chết” thì điều hiển nhiên là con người phải ở trạng thái “sống” rồi Ở đây, sự thật đã rất rõ ràng nhưng câu thơ đã kể lại là một sự thừa thãi, vô nghĩa lí Ngoài ra, một loạt các sáng tác phiêu lưu hoang tưởng, huyễn tưởng chiêm bao, huyễn tưởng nghịch dị như của

Alfred Jarry (1873-1907): Ubu làm vua, Ubu bị xiềng và Ubu bị cắm sừng đều được

xếp vào dạng tiền sinh của văn học phi lí Soi chiếu vào trong tác phẩm văn học thì tất cả các tác phẩm có khung cảnh cốt truyện trái với tư duy lí trí thông thường là sáng tác phi lí Về sau này, Balotac còn xếp cả phong trào văn học đa đa vào hàng ngũ của văn học phi lí đích thực.Tuy nhiên, khi đặt trong một hệ logic khác một cách có chủ đích thì đó không phải là sáng tác phi lí mà là sáng tác huyền thoại hoặc huyễn tưởng Theo tác giả Nguyễn Văn Dân thì quan điểm trên quá rộng, thiên về thủ pháp nghệ thuật hơn là vào quan điểm nghệ thuật về thế giới, nhân sinh Ông đã phân tích rất kĩ lưỡng và chỉ ra các tác phẩm kể trên khác với văn học phi lí về quan điểm nghệ thuật chứ không phải về thủ pháp nghệ thuật

Đặc điểm nghệ thuật của văn học phi lí chính là những tác phẩm văn học phản ánh những sự việc, hiện tượng trái với logic nhân văn tiến bộ của loài người

Và theo logic này, người mở đường là Franz Kafka, nhà văn Tiệp Khắc gốc Do Thái viết tiếng Đức Có thể nói, lúc này văn học phi lí mới thực sự ra đời Xét về căn nguyên xã hội của văn học phi lí thì nó là kết quả của chủ nghĩa phi lí tính triết học và cũng là kết quả của cuộc khủng hoảng của thực tế xã hội thế kỉ XX

Tuy nhiên, trước Kafka, Dostoevski đã đụng chạm đến cái phi lí thông qua nhân vật Ivan Karamazov: “Thế giới được dựa trên những điều phi lí, và không biết

chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lí đó” (Anh em nhà Karamazov)

Đây chỉ là một nhận xét mang tính chất cảnh báo chứ bản thân nhà văn không đi sâu khai thác vấn đề này Ông là nhà văn đầu tiên nói tới cái phi lí nhưng không phải

Trang 24

nhà văn đầu tiên của văn học phi lí vì ông không lấy nó làm đối tượng trung tâm, làm nguyên tắc thẩm mĩ Đành rằng, xét nội dung những tác phẩm của Dostoevski, chúng ta có thể nhận thấy ông có đầy đủ hoàn cảnh để sản sinh ra những cái phi lí

như: mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm (Tội ác và trừng phạt), giữa lòng nhân từ và thói xấu xa (Những kẻ tủi nhục và những kẻ bị hà hiếp), giữa cái thiện và cái ác (Thằng ngốc)… Chính Camus sau này đã coi Dostoevski cùng với Kafka là những

thần tượng của ông

Franz Kafka sinh năm 1883 tại Praha và mất năm 1917 do bị bệnh lao phổi Ông là người mở đầu cho văn học phi lí và đã để lại cho nền văn học nhân loại những tác phẩm bất hủ Với ba cuốn tiểu thuyết: Nước Mỹ, Vụ án, Lâu đài, cùng với một số truyện ngắn, ông đã làm một cuộc cách tân lớn trong nghệ thuật văn xuôi Cái mới mà Kafka mang đến trong bối cảnh văn học đương thời chính là ông

đã khai phá một mảng đề tài khó xử lí: cái phi lí của cuộc đời “Ở Kafka, cái phi lí

là một đối tượng nhận thức khách quan Nó không phải đơn thuần chỉ là một hiện tượng xã hội mà nó còn có liên quan và thậm chí chi phối vận mệnh của con người

mà muốn tồn tại, con người phải luôn luôn đấu tranh để loại trừ nó” [39, tr 42] Khám phá “lâu đài” là khám phá xã hội, là khám phá cái phi lí, nhân vật K khao khát nhưng đã thất bại vì càng đi càng không thể đến được với lâu đài Josep K

trong Vụ án bỗng nhiên bị bắt, bị xử tử mà không rõ lí do gì…Tất cả nỗi bất an ấy là

cái phi lí mà con người suốt đời không sao hóa giải nổi

Sau Kafka, Camus tiếp tục khai thác cái phi lí ở bình diện chủ quan của nó

Người ta luôn nhớ đến ông với những tác phẩm vào hàng kiệt tác như Kẻ xa lạ (1942), Dịch hạch (1947) Các tác phẩm của Camus là sự thể hiện, sự hình tượng

hóa tư tưởng triết học của ông Camus từng viết: “Từ cái phi lí tôi rút ra ba kết luận: nổi loạn, tự do và ham mê” Tuy nhiên, đến Camus, con người đã tỏ ra hiểu rõ hơn

về tình trạng sống phi lí, có thể nhìn thẳng vào cái phi lí Có thể nói, Kafka và Camus có những điểm tương quan về quan niệm phi lí và có những điểm khác nhau

cơ bản, đó là: “Kafka đại diện cho cái phi lí khách quan, còn Camus đại diện cho cái phi lí chủ quan” [39, tr 55] Hai mặt khác nhau đó bổ sung cho nhau như là một sự thống nhất của hai mặt đối lập và làm cho văn xuôi phi lí trở nên gần như trọn vẹn

Trang 25

Sau Camus, các nhà văn chuyển sang một địa hạt khác đó là địa hạt kịch nói Đây là giai đoạn của kịch phi lí và có thể coi là giai đoạn kịch phát của văn học phi

lí Sự xuất hiện chính thức của kịch phi lí có lẽ được đánh dấu bằng vở kịch Nữ ca

sĩ hói đầu của Ionesco Kịch phi lí chỉ tồn tại trong khoảng mười năm nhưng đã có tác động mạnh mẽ và sâu rộng Nguồn gốc cơ bản của nó là tư tưởng triết học về sự

phi lí và văn xuôi phi lí Nữ ca sĩ hói đầu là vở kịch điển hình cho việc diễn đạt sự phá hủy ngôn ngữ Những chiếc ghế là điển hình cho sự diễn đạt hiện tượng vật thể hóa, cho tâm trạng trống rỗng và bất lực của con người Đợi Godot của Beckett là

một huyền thoại phi không gian, phi thời gian… Sau đó, Beckket còn viết nhiều vở

khác như: Tất cả những người ngã xuống (1956), Tàn cuộc (1957), Những ngày vui

(1961)… Tất cả đều thể hiện tính bi – hài của cuộc sống

Văn học phi lí có những biểu hiện nghệ thuật khác nhau tùy theo từng thời điểm lịch sử, từng thể loại văn học Khi đi vào sáng tác cụ thể, các khía cạnh của cái phi lí lại được nhà văn xử lí ở những mức độ khác nhau để phục vụ cho một ý đồ, tư tưởng nghệ thuật nhất định Cái phi lí trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Kafka và của Camus được thể hiện ở cả nội dung tác phẩm, còn cái phi lí trong kịch phi lí của Beckett hay của Ionesco thì được thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật

So với các loại hình nghệ thuật tiên phong khác thì văn học phi lí có chung một đặc điểm đó là thái độ phủ định những ước lệ truyền thống

Có thể thấy rằng, văn học phi lí giúp chúng ta nhận thức rõ về sự tồn tại của cái phi lí Từ đó, người đọc hiểu được thái độ của nhà văn trước cái phi lí Các tác phẩm thuộc dòng văn học này đã đem đến cho người đọc vô số cách cảm, cách hiểu khác nhau Và điều đó đã tạo ra sự dân chủ trong quan hệ nhà văn – công chúng

Ngoài nguồn triết học và văn học thì còn một nguồn thứ ba tạo ra loại hình

văn học phi lí đó chính là nguồn lịch sử xã hội cụ thể Chủ nghĩa tư bản thế kỉ XIX

bên cạnh những mặt tích cực còn có mặt tiêu cực là làm tha hóa con người đến mức tối đa Sự thất bại của công xã Paris càng làm trầm trọng thêm các mâu thuẫn xã hội

và đẩy các nhà trí thức đi đến chỗ bi quan, tiêu cực Ở xã hội phương Tây hiện đại

có hai yếu tố lịch sử - xã hội quyết định đến văn học phi lí: đó là hiện tượng tha hoá

và hiện tượng vật thể hoá Có một sự thật mà giới tri thức cho rằng rất phi lí là trong

Trang 26

khi sự phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng đang ngày càng làm cho con người dễ dàng giao tiếp với nhau bao nhiêu thì các mối quan hệ đạo lí, nhân văn lại càng bị gián đoạn, đứt gãy bấy nhiêu Nói về điều này, nhà văn Thuỵ Sĩ Durrenmatt đã nhận xét : “bộ phận không hợp nhất được với tổng thể, cá nhân không hợp nhất với tập thể, con người không hợp nhất được với nhân loại” [39, tr.30]

Tóm lại, khái niệm phi lí nói chung đã xuất hiện từ thời xa xưa nhưng khái niệm phi lí hiện đại mới chỉ xuất hiện từ nửa đầu thế kỉ XIX với chủ nghĩa phi lí tính và sau đó là với chủ nghĩa hiện sinh Nó chỉ được thể hiện thành một loại hình văn học rõ rệt từ đầu thế kỉ XX với người mở đường là Kafka Có thể thấy rằng, văn học phi lí là kết quả, là con đẻ của cuộc khủng hoảng nhiều mặt của thế kỉ XX

1.3 Vài nét về yếu tố phi lí trong văn học Việt Nam sau đổi mới

1.3.1 Sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam

giới thiệu trên các báo, tạp chí như: Đại học, Sáng tạo, Văn hóa Á châu, Bách

khoa…Lúc này, chính quyền Ngô Đình Diệm đang thống trị ở xã hội miền Nam

Văn học chỉ mới phôi thai, chưa tác động đến những suy tư về thân phận con người Tháng 1 năm 1963, cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm do Dương Văn Minh dẫn đầu đã làm sụp đổ nhiều ảo tưởng, tác động mạnh đến giới trí thức miền Nam kéo theo sự tan rã của chủ nghĩa duy linh – nhân vị Trong xã hội đã nảy sinh những trạng thái hoang mang, lo âu, chán nản và tuyệt vọng Hơn nữa, từ những năm 1965 trở đi, chiến tranh khốc liệt với sự đổ bộ của quân Mĩ và các nước chư hầu đã tạo nên một không khí căng thẳng, chết chóc khiến con người luôn lo âu, bất an Và đây chính là thời điểm, điều kiện tốt nhất để chủ nghĩa hiện sinh phát triển Trong một chừng mực nào đó, nó được chính quyền Sài Gòn đương thời sử dụng như một công

cụ tư tưởng lấp vào khoảng trống của chủ nghĩa duy linh – nhân vị để “ổn định xã

Trang 27

hội” và phục vụ cho âm mưu xây dựng nền văn hóa thực dân mới ở miền Nam Chính vì thế, hàng loạt các tác phẩm của các nhà văn hiện sinh ở nước ngoài được

dịch và giới thiệu ở Việt Nam như: Văn chương là gì? (Sartre – bản dịch của Nguyễn Văn Tạo), Bức tường ( Sartre, bản dịch của Lê Thanh Hoàng Dân); Giao

cảm (A Camus – bản dịch của Bùi Giáng), Dịch hạch (A Camus – bản dịch của Võ

Đăng Dung)…

Quan niệm cuộc đời là hư vô, phi lí, là những chuỗi ngày cô đơn, các nhân vật của chủ nghĩa hiện sinh đã chống lại số phận, chống trả lại cái phi lí, dù kết quả nhận lại là bất lực Không chỉ ở văn xuôi mà cả trong thơ, những phạm trù của chủ nghĩa hiện sinh cũng thể hiện khá rõ nét qua các tác phẩm của các nhà thơ miền Nam như Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Đình Trầm Ca, Du Tử Lê, Nhã Ca, Bùi Giáng… Hãy đọc và cảm nhận những nỗi niềm mang đậm chất hiện sinh trong thơ

của Nguyên Sa: “Anh cúi mặt hôn lên lòng đất/ Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn

trùng/ Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không/ Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh”

(Lúc chết) Nỗi cô đơn ngập tràn trong thơ Nhã Ca “Tôi làm con gái/ Bao nhiêu tuổi

đời/ Bấy lần thơ dại/ Buồn không ai hay”(Bài Nhã ca thứ nhất) …

Phê bình văn học về hiện sinh cũng phát triển mạnh mẽ Hầu như tất cả các phạm trù: hư vô, lo âu, buồn nôn, phi lí… đều được các nhà phê bình xem như một

hệ giá trị để ứng dụng vào phê bình văn học Ám ảnh của Truyện Kiều cũng là sự

phi lí của “cõi người ta”: “Không phải khi gặp gia biến Thúy Kiều mới sống bi thảm, trước đó đầu tiên chọn phím đàn, nàng đã chọn cung bạc mệnh, vì cuộc đời một cách tiên thiên, là một thảm kịch Sự hiện hữu đã phi lí từ khi hai tinh trùng gặp nhau, và nếu chúng không gặp nhau, thì lại càng phi lí hơn nữa Nỗi đoạn trường thật sự không chấm dứt sau mười lăm năm lưu lạc; Thúy Kiều ý thức sâu sắc điều

đó nên không tái hợp với chàng Kim, vì đổi một phi lí cô đơn lấy một phi lí lứa đôi chỉ làm việc chồng một thảm kịch này lên thảm kịch khác…” [14, tr 145-146) Sau hiệp định Giơnevơ, miền Bắc tiếp tục đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội Giai đoạn 1945-1975, miền Bắc luôn giữ nhiệm vụ là hậu phương vững chắc, chi viện cho miền Nam cả sức người, sức của Lúc này, chủ nghĩa Mac- Lenin và tư tưởng

Hồ Chí Minh đã được truyền bá rộng khắp trong cả nước Điều này đã tạo nên ảnh

Trang 28

hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị và chi phối hoàn toàn đời sống sáng tác và

lí luận, phê bình văn học

Giai đoạn này, chúng tôi nhận thấy giữa các tác giả có sự gặp gỡ ở tư tưởng cho rằng sự có mặt của chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam là “nọc độc văn hóa nô dịch”

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Phê phán văn học hiện

sinh chủ nghĩa của Đỗ Đức Hiểu (Nxb văn học, 1978), Mấy trào lưu triết học hiện đại của Phạm Minh Lăng (Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp)…

Tác giả Đỗ Đức Hiểu đã nhận định chủ nghĩa hiện sinh “đã bị thực dân hóa và là một bộ phận của văn hóa thực dân mới” Ông và tác giả Hoàng Trinh đều có cùng quan điểm cho rằng “nội dung của nó là trụy lạc và chém giết, là thuyết phi luân và

đi lính ngụy” và “để xông vào một cuộc sống tàn nhẫn, nó khước từ lịch sử truyền thống dân tộc; nó phản kháng, không phải chế độ thực dân mới và chế độ nô lệ tay sai của đế quốc Mĩ, mà phản kháng người yêu nuớc” Với ông, “văn học gọi là hiện sinh chủ nghĩa ở thành thị miền Nam mang tính xã hội rõ rệt và cụ thể, và nó gắn chặt với cuộc sống thực của nó, với xã hội đã sinh ra nó, không mơ hồ, không trừu tượng, không siêu nghiệm, không thần bí – nói rõ hơn, nó đắm mình trong chủ nghĩa thực dân mới, trong cuộc xâm lược bạo ngược của đế quốc Mĩ” [50; tr 19-20]

Tác giả Phạm Văn Sĩ nhận xét: “Thơ văn hiện sinh chủ nghĩa ở Sài Gòn trước đây đã rơi vào chủ nghĩa hình thức văn học với những màu sắc lòe loẹt hơn trước…Văn chương hiện sinh rêu rao về một cuộc sống không hoài bão, không lí tưởng, một cuộc sống lửng lơ, vơ vất chẳng có gì chung với cuộc sống đấu tranh của con người xã hội, tức là nó tạo điều kiện để người ta đi vào chủ nghĩa thực dân mới…” Tuy nhiên, ông cũng có những nhận định rất khách quan: “Văn chương hiện sinh với những khái niệm về chủ thể, về tự do mà nó láy đi láy lại cũng lắm khi gợi cho nhiều người ý thức về bản thân, làm cho người ta tự nhận ra mình trong tình thế cụ thể, bị chà đạp, bị o ép dưới chế độ Mĩ ngụy, làm người ta thức tỉnh, muốn tìm lối thoát” [101, tr 366-367]

Trang 29

Về cơ bản, văn học hiện sinh giai đoạn này chưa thể hiện ra bên ngoài nhiều, chủ yếu là các bài nghiên cứu, phê phán ảnh hưởng của nó đến đời sống văn học đô thị miền Nam giai đoạn trước Những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác văn học giai đoạn này hầu như không xuất hiện do đời sống sáng tác chủ yếu băng theo quán tính của văn học thời chiến Tất cả những biểu hiện cách tân, đổi mới văn học vẫn chỉ là những “dự cảm”

Đây là thời kì đất nước có sự thay đổi to lớn sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI

Chúng ta thường gọi là thời kì đổi mới

Trong đời sống sáng tác, khi chiến tranh kết thúc, văn học nước ta vẫn trượt theo quán tính cũ Nhiều nhà văn thời kì này đã nhận thức ra việc đổi mới văn học là vô cùng cần thiết Có thể thấy, lúc này là thời kì trạng thái sử thi tan rã, con người phải đối mặt với những vấn đề thế sự, nhân sinh và cả những chuyện rất riêng Điều này đặt ra yêu cầu phải đổi mới văn học theo tinh thần thời đại Một số tác giả đã bước đầu đề cập đến chủ nghĩa hiện sinh và coi đó là đặc điểm của văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 như Trần Trọng Đăng Đàn, Trần Hữu Tá, Trường Lưu Nhiều nhà nghiên cứu bên cạnh việc chỉ ra hạn chế còn khẳng định sự đóng góp của chủ nghĩa hiện sinh trong đời sống sáng tác văn học đô thị miền Nam 1954 – 1975 Trong số đó có ba công trình tiêu biểu:

- Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học

đô thị miền Nam trước năm 1954 – 1975 của Nguyễn Phúc

- Thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954 – 1975 của

Nguyễn Thị Việt Nga

- Lí luận – phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954 – 1975 của Trần Hoài

Anh

Những đặc điểm và thành tựu mà tiểu thuyết sau 1986 đạt được là kết quả của quá trình vận động mang tính nội tại, một sự biến đổi về “chất” thông qua những đổi mới về “lượng” Ban đầu cái mới thường “gây hấn” với truyền thống, nhưng khi đạt đến một độ chín nào đó, nó sẽ tự “hòa giải” với truyền thống” [260] Hơn ba thập kỉ vừa qua, tiểu thuyết nói riêng và văn xuôi nói chung không phải không bộc

Trang 30

lộ những ngộ nhận, những thể nghiệm lạc hướng, nhưng không thể phủ nhận một điều rằng tiểu thuyết hiện đại có một diện mạo mới mẻ, trẻ trung và hết sức sôi động Có thể thấy, Lê Lựu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng là lớp “ca sĩ” đã dũng cảm “vặn cổ bài ca dao của chính mình” để trở thành những cây bút tiên phong của văn học đổi mới Thế hệ Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh…đã đưa tiến trình đến chỗ cao trào, tạo ra bước ngoặt trong nền văn học nước nhà

Có thể thấy rằng, sự hiện diện của triết học và văn học hiện sinh trong đời sống lí luận phê bình từ sau năm 1975 đến nay đã có sự chuyển biến đáng kể tâm lí tiếp nhận Nếu như giai đoạn 1975-1986, các tác giả chủ yếu dừng lại ở quan điểm phê phán do lập trường chính trị thì từ năm 1986 đến nay, nhiều ý kiến đã tỏ ra khách quan hơn Các nhà nghiên cứu cũng nhận ra những đóng góp nhất định của triết học hiện sinh vào lịch sử văn học dân tộc

1.3.2 Tạ Duy Anh và vấn đề phi lí trong văn học Việt Nam đương đại

đương đại

Văn học hiện sinh không ngừng tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi về bản thể: “Con người, anh là ai?”, “Tôi là ai?” Đề cao nhân vị, về cơ bản, tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI truy tìm ý nghĩa của tồn tại trong mỗi một khoảnh khắc hiện hữu

Nguyễn Minh Châu có lẽ là một trong số những nhà văn đã mở đường trong việc nói đến những dự cảm lo âu, những trăn trở, suy tư về số phận con người trong tác phẩm của mình Từ sau năm 1986 đến nay, thân phận con người đã trở thành vấn đề trung tâm trong văn học

Ngay từ năm 1982, sự xuất hiện truyện ngắn Bức tranh đã đánh dấu bước

ngoặt lớn trên hành trình sáng tạo của Nguyễn Minh Châu Cùng với một loạt

truyện trong tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê, ông đã khẳng

định hướng tiếp cận đời sống trong các tác phẩm của mình “từ góc độ đạo đức – thế

sự, dùng thước đo nhân bản để soi ngắm con người” Ông nhận xét “Hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang mơ ước” Từ cái nhìn nhiều chiều, biên độ hiện thực đã được phát hiện

Trang 31

Vì vậy, bên cạnh những mặt tiêu cực, những mặt trái, những cái xấu, cái phi lí cũng

được phát hiện Phiên chợ Giát là một tác phẩm phảng phất hơi hướng Biến dạng

của Kafka Điều đó được thể hiện qua chi tiết lão Khúng mơ mình biến thành con bò: “chính lão bị đánh bằng búa tạ, chính lão là con bò! Lão tự nhìn mình trong một cái thân hình nửa bò, nửa người, máu me đầm đìa” Con bò và lão đều cam chịu, nhẫn nhục trước cuộc đời phi lí

Tiếp sau đó, một loạt các nhà văn cũng hướng về những vấn đề này với

những góc độ khác nhau: Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong

vườn; Nguyễn Khải với Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người, Nguyễn Mạnh

Tuấn với Đứng trước biển, Cù lao Tràm… Những truyện “giả cổ tích”, “giả Liêu

trai” của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh là sự khẳng định mối quan hệ tự do giữa nhà văn với hiện thực Các nhà văn gặp gỡ nhau

ở ý thức mô tả một kiểu nhân vật lạc lõng, cô đơn giữa một thế giới phi lí (Tiếng

người của Phan Việt; Giữa dòng chảy lạc của Nguyễn Danh Lam, Dạt vòm của

Phan Hồn Nhiên, Sông của Nguyễn Ngọc Tư ) Con người khước từ/đánh mất sự

hiện hữu để dấn thân vào hành trình truy tìm bản thể Con người lạc lõng, hoài nghi

sự hiện hữu của chính mình

Bên cạnh những hiện thực “kiểm chứng được”, xuất hiện hiện thực của ảo giác, của tâm linh, hiện thực được tạo ra bằng trí tưởng tượng của người viết trong

“cuộc chơi” với người đọc Cái kì ảo, cái nghịch dị lúc này đã xuất hiện đậm đặc ở

Giọt máu, Sói trả thù (Nguyễn Huy Thiệp), Người sông Mê (Châu Diên), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài)…và nhiều tác phẩm của

Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương… Nạn dịch của Nguyễn Huy Thiệp ít nhiều gợi cho người đọc liên tưởng đến Dịch hạch của Camus Điểm tương đồng nữa đó

là giọng văn “vô âm sắc” trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp dường

như phảng phất chất Camus, môtip biến dạng trong Con thú lớn nhất, các thủ pháp

huyền thoại hóa, nghịch dị… đều gợi nhắc đến văn học phi lí

Trong số đó, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài là một tác phẩm đáng lưu ý và

mang đậm văn hóa phương Tây Bản thân tác phẩm đã là một khối văn bản nhiều chiều, nhiều tầng lớp Nó vừa là một sân khấu kịch khổng lồ với các nhân vật truyền

Trang 32

thống của sân khấu phương Tây: nhà thờ, thằng lùn, nguời đẹp…vừa là một bài thơ văn xuôi dài Nhân vật Hoài không thuộc tầng lớp nào, không thuộc đoàn thể nào,

đi một mình…Quang lùn phục vụ đắc lực cho xã hội ấy…Tương đồng về hình dáng nhưng lại khác về cách sống, Hoài tự đình trưởng Hoài chỉ sinh sau chị một phút nhưng lại là hai con người hoàn toàn khác nhau Thiện Minh đã nhận định: “Phạm Thị Hoài nhìn người Việt Nam bằng con mắt Do Thái và viết văn bằng cái tiếng của Kafka” Diễn giải nhận xét này cho thấy ông đã phê phán Phạm Thị Hoài không có tấm lòng với dân tộc, là người lạ trong cộng đồng đương đại của chúng ta Tuy nhiên, với những gì bà đã làm, bà đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ, ngợi ca của số đông dư luận Không phủ nhận một điều rằng, Phạm Thị Hoài chịu ảnh hưởng không nhỏ của văn học phương Tây Có lẽ vì thế mà một số nhà phê bình chỉ trích

bà là một tài năng sa vào “chủ nghĩa hiện sinh”, “chủ nghĩa siêu thực”…

Bên cạnh đó, Bảo Ninh với tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh cũng đã đưa ra

những đột phá mới của riêng mình Xây dựng một tình huống giả định về một tự sự hai lần hư cấu, đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên và duy nhất của nhà văn cựu chiến binh Kiên về tuổi thơ, tuổi trẻ Cuốn tiểu thuyết được sáng tạo trong những cơn dằn vặt tinh thần, không bao giờ được hoàn thành Ngày Kiên rời bỏ khu phố, cuốn tiểu thuyết chỉ là một đống bản thảo Đến lượt mình, cuốn sách lại được trần thuật lại khiến nó mang dáng dấp của tiểu thuyết dòng tâm tưởng, tiểu thuyết trong tiểu thuyết, tiểu thuyết về tiểu thuyết Và điều đó đã tạo ra một thách thức lớn đối với việc đọc của công chúng Tác phẩm không có xung đột giữa người với người, không phân chia cốt truyện mạch lạc, hồi ức bị cắt vụn và phân tán trong các phần của văn bản “một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời” Không những thế, tác phẩm còn có tính chất gây shock của những chất liệu cấu thành tiểu thuyết: sự bạo hành tràn ngập, cái chết của cha, dượng Kiên… với những ẩn ức về tình dục, mở ra chiều kích không gian trong cuộc đời của nhân vật chính

Nguyễn Bình Phương xây dựng một thế giới lạc lõng, tù túng Ở đó, con người hoàn toàn bất lực trước sự phi lí của cuộc sống Hình ảnh những con người

tha hóa xuất hiện trong các tác phẩm: Người đi vắng, Thoạt kì thủy, Ngồi… Điều

Trang 33

đặc biệt trong tác phẩm của nhà văn là ông đã miêu tả thành công những ám ảnh vô thức xuất hiện trong trạng thái điên loạn của các nhân vật

Tác giả Đỗ Ngọc Thạch trong bài viết Vài đặc điểm của văn xuôi hiện đại

Việt Nam đã chỉ ra sự xuất hiện những luận đề triết học hiện sinh trong sáng tác của

một số tác giả văn xuôi Việt Nam sau 1975 như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh…Ông đã đi đến nhận xét: “Nhà văn hậu hiện đại Việt Nam phải chăng đang “làm lại” một thứ chủ nghĩa hư vô, phi lí như văn học hiện sinh, văn học phi lí của J.P.Sartre, A.Camus?” [111]

Có thể nói, chủ nghĩa hiện sinh hay vấn đề phi lí không còn là một vấn đề lạ trong văn học Việt Nam đương đại Tuy nhiên, nó chỉ được biểu hiện một cách vô thức trong sáng tác của người cầm bút Và Tạ Duy Anh đã xuất hiện như một nhà văn ảnh hưởng lớn của chủ nghĩa hiện sinh phương Tây Cái phi lí được biểu hiện

rất rõ trong nhiều tác phẩm của ông, đặc biệt là ở hai tiểu thuyết Thiên thần sám hối

và Đi tìm nhân vật

Trong dòng chảy mạnh mẽ ấy, Tạ Duy Anh nổi lên là một nhà văn luôn trăn trở, bày tỏ mối quan hoài của mình trước cuộc sống con người Theo quan điểm của ông, cái ác chính là sự phi lí nhất và chi phối mạnh mẽ đến sự tồn tại của con người trong xã hội hiện đại

Tạ Duy Anh tên thật là Tạ Viết Đãng Ông sinh ngày 09/09/1959 tại làng Đồng Trưa (tên chữ là Cổ Điền, sau đổi thành An Hiền), xã Hoàng Diệu, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)

Sau khi tốt nghiệp trường trung cấp thí nghiệm đất đá, ông về làm cán bộ giám sát bê-tông các công trình ngầm tại nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, trung sĩ bộ binh ở Lào Cai Sau đó, Tạ Duy Anh theo học trường Viết văn Nguyễn Du khóa IV (1989 – 1992) và hoàn thành xuất sắc khoá học ở trường với vị trí thủ khoa Ông được giữ lại trường công tác, là giảng viên Bộ môn Sáng tác tới năm 2000 Hiện ông là biên tập viên tại nhà xuất bản Hội nhà văn Tạ Duy Anh trở thành hội viên Hội nhà văn từ năm 1993

Trang 34

Tạ Duy Anh đã in khoảng hai mươi cuốn sách: Bước qua lời nguyền, Lãng

du, Ba đào kí tục biên (tập truyện); Ngẫu hứng sáng trưa chiều tối (tản văn) và các

tiểu thuyết: Lão Khổ, Thiên thần sám hối, Đi tìm nhân vật, Giã biệt bóng tối, Sinh

ra để chết… cùng nhiều tập sách cho thiếu nhi trong đó có truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi được đưa vào giảng dạy chính thức trong trường phổ thông

Các giải thưởng ông đạt được cho đến nay là: Giải truyện ngắn nông thôn báo Văn nghệ, báo Nông nghiệp và Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức, Giải C cuộc

thi truyện ngắn năm 1989-1990 của tạp chí Văn nghệ Quân đội với tác phẩm Xưa

kia chị đẹp nhất làng, Giải thưởng truyện ngắn trong cuộc thi viết Tương lai vẫy gọi

của báo Thiếu niên Tiền phong, Hai giải thưởng của Nhà xuất bản Kim Đồng cho

hai tập truyện: Quả trứng vàng và Vó ngựa trở về, Giải thưởng Văn học Thủ đô

2012 cho tập truyện ngắn Lãng du…

Ngoài bút danh Tạ Duy Anh, nhà văn còn sáng tác dưới các tên khác như Lão Tạ, Chu Quý, Quý Anh, Bình Tâm Tạ Duy Anh đến với văn chương như một định mệnh Ông tâm sự: “Tôi không được chuẩn bị mảy may để trở thành nhà văn Trừ cụ nội bốn đời của tôi có ít chữ nghĩa nhưng lánh tục, còn lại tôi không được thừa hưởng truyền thống văn chương như mọi người thường hỏi tôi về điều đó Thậm chí, tôi còn thừa hưởng cái không ai muốn: ấy là sự thất học” [2, tr 152] Dù như vậy, ông vẫn đến với nghiệp văn chương một cách tự nhiên, hết mình Chia sẻ

về con đường nghệ thuật của mình, Tạ Duy Anh nói bằng tiếng lòng của người chịu

ơn quê hương xứ sở: “May thay tôi đã là một nhà văn và tôi muốn sống trong lòng đất nước này ngay cả khi bão táp mưa sa Tôi chấp nhận một cuộc sống khổ cực, vất vả” [54, tr 20]

Năm 1980, khi tham gia lớp thực tập chuyên nghiệp giám sát bê tông, Tạ

Duy Anh đã cho ra đời truyện ngắn Để hiểu một con người và được đăng ở báo Lao động Đến năm 1982, 1983; ông tiếp tục sáng tác các truyện: Viết ở công trường,

Nắng, Sông Đà Tiếp đó là truyện ngắn Lũ vịt trời viết năm 1989

Nhắc đến tên tuổi của Tạ Duy Anh, có lẽ độc giả sẽ nhớ ngay đến Bước qua

lời nguyền Truyện ngắn này đã làm nổi danh tác giả ngay khi được đăng trên báo

Văn Nghệ, tháng 11 năm 1989 “Tác phẩm xác định một ngòi bút hiện thực sắc sảo,

Trang 35

can đảm nhìn lại quá khứ đớn đau của mình, của một thế hệ lớn lên trong hai lớp hận thù: hận thù dòng họ và hận thù giai cấp”[70]

Hai năm sau đó, “lão Tạ” viết tiểu thuyết Khúc dạo đầu với tinh thần của cái

tôi nghệ sĩ trẻ trung và tràn đầy nhiệt huyết Tuy nhiên, bước ngoặt trong sáng tác

Tạ Duy Anh phải kể đến Lão Khổ Với lối kết cấu phân mảnh – lắp ghép nhiều

“truyện ngắn” trong một “tiểu thuyết”, Tạ Duy Anh mong muốn “vươn tới tầm của một tiểu thuyết hiện đại theo lí thuyết của M Bakhtin!” [6, tr 55] Tuy vậy, theo

đánh giá của giới nghiên cứu thì Lão Khổ mang dáng dấp của những truyện ngắn

trước đó và chưa làm được gì nhiều để thực sự “bước qua lời nguyền” năm xưa

Phải đến gần chục năm sau, tiểu thuyết tiếp theo của Tạ Duy Anh mới ra mắt bạn đọc Nhưng sự “giãn cách” ấy đã không phụ sự đón đợi của độc giả Ngay khi

vừa xuất bản được mười ngày, Đi tìm nhân vật đã bị thu hồi và hiện nay chỉ được in

và bình phẩm ở nước ngoài “Hấp dẫn nhưng khó đọc bởi lối viết mới lạ và mật độ dày đặc biểu trưng làm nên tính đa nghĩa của tác phẩm” [6, tr 58] Ám ảnh người đọc là bức tranh hiện thực ngột ngạt của quyền lực, cái chết, sự đồi bại… Câu chuyện bắt đầu bằng cuộc tìm kiếm của “tôi” về nguyên nhân cậu bé đánh giầy ở phố G bị đâm chết Đặt ra vấn đề về sự hoài nghi, tha hóa, về sự hòa tan cá tính: “Đi tìm nhân vật rung lên tiếng chuông cảnh báo về sự phi lí của cuộc sống khi cơ sở tồn tại

của nó là con người cá nhân, cá tính bị đánh đồng” [6, tr 61] Có thể nhận thấy ở Đi

tìm nhân vật dấu hiệu của văn học phi lí, của thủ pháp dòng ý thức, của chủ nghĩa hiện

sinh… Tư duy tiểu thuyết mới mẻ ấy đặt người đọc vào sự hoài nghi với những lối mòn cách viết, cách đọc xưa nay Theo lời tác giả tâm sự thì đây là cuốn tiểu thuyết

mà ông suy nghĩ nhiều nhất “Xã hội được mô tả trong tác phẩm chỉ tiếp tục đẻ ra tai họa khi tinh thần của nó bị suy nhược, cạn kiệt trong nỗi sợ triền miên Tuy vậy, nhiều chỗ tôi có cảm giác mọi thứ tuột khỏi tay mình để vượt ra ngoài và đành phải nhờ đến độc giả” [2, tr 181]

Thiên thần sám hối tiếp tục là một sản phẩm của chặng “phi lí” trong sáng

tác của Tạ Duy Anh Hiện thực phê phán từ Lão Khổ chuyển sang hiện thực huyền

ảo, phi lí trong Đi tìm nhân vật và Thiên thần sám hối Nhà văn tâm sự, hầu hết

những chi tiết trong tác phẩm được lấy từ những câu chuyện ông đã trực tiếp lắng

Trang 36

nghe khi ở trong bệnh viện với vợ trong ba ngày chờ sinh Câu chuyện của một bào thai chỉ còn ba ngày trong bụng mẹ đặt ra vấn đề hết sức đời thường nhưng vô cùng nan giải: ứng xử của con người trước lạc khoái và giọt máu tạo thành từ những cuộc hoan lạc ấy Tên tác phẩm chỉ bật ra khi nhân vật tử tù và nhân vật thiên thần xuất hiện Và đó cũng là một bất ngờ với chính tác giả Sự phi lí nằm trong logic đời sống mà nhà văn cảm nhận được hàng ngày Và vì thế, ông thể hiện nó như không

có gì phi lí cả Theo lời tâm sự của nhà văn: “Tôi không ý thức về những gì tôi viết

ra lại mang màu sắc phi lí” [2, tr 132] Tạ Duy Anh tiếp nhận lí thuyết phương Tây

để tìm lối viết và tự làm mới mình “Kết quả của hành trình ấy là lối viết phi lí vừa như một ảnh hưởng, vừa như một cộng hưởng với đời sống Việt Nam bấy giờ” [6,

tr 65]

Giã biệt bóng tối ra đời bốn năm sau lại là nỗi trăn trở về lối viết Cuốn tiểu

thuyết nhận được nhiều luồng ý kiến khen chê trái ngược Sự gắng công trong việc thay đổi cấu trúc văn bản thể loại tiểu thuyết cũng góp phần đặt ra vấn đề lối thoát cho nền văn học nói chung

Tiểu kết chương 1: Vấn đề phi lí là một trong những phạm trù chính của

triết học hiện sinh “Tạ Duy Anh đi từ lãng mạn, qua hiện thực đến phi lí, từ lối viết

mang màu sắc cổ điển đến lối viết hiện đại” [6, tr 67] Cốt lõi của sự vận động ấy

chính là khát vọng Bước qua lời nguyền và Giã biệt bóng tối, là quan niệm viết tiểu

thuyết như một cách tự làm mới mình, là mong muốn hướng thiện thông qua sự tri nhận về một thế giới tiềm ẩn tha hóa, biến dạng Nhận định về Tạ Duy Anh, người khen ngợi hết lời cũng nhiều mà người tỏ ra không đồng tình cũng không ít Nhiều

người sau khi đọc xong Lão Khổ, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Giã biệt

bóng tối… đều khó lòng tưởng tượng được một Tạ Duy Anh trong sáng, vui tươi

trong những sáng tác viết cho thiếu nhi Tuy vậy, không thể phủ nhận rằng, Tạ Duy Anh là một cây bút thu hút nhiều quan tâm của độc giả cũng như của giới nghiên

cứu phê bình chuyên và không chuyên Với Đi tìm nhân vật và Thiên thần sám hối,

ông đã khẳng định được vị trí của mình trong giới văn nghệ sĩ Chúng ta luôn nhớ đến “lão Tạ” rất mộc mạc, chân thành với những trang văn khiến người ta phải trăn trở và suy ngẫm

Trang 37

Chương 2: CON NGƯỜI TRONG THẾ GIỚI PHI LÍ QUA TIỂU THUYẾT

“ĐI TÌM NHÂN VẬT” VÀ “THIÊN THẦN SÁM HỐI” CỦA TẠ DUY ANH

2.1 Con người lưu đày

Triết học hiện sinh dành nhiều sự quan tâm đến thân phận của con người lưu đày Heidegger gọi thân phận làm người là một sự ruồng bỏ, Marcel xem con người như một lữ hành đã hình thành ngay trên quãng đường phải đi Trong văn học phương Tây, nhân vật Promete bị xiềng là hình ảnh con người bị tước đoạt tự do, bị lưu đày mà không sao thoát ra được Lời của thần Zeus như một thông báo về số phận con người: “Trong tất cả những sinh vật biết thở, biết bò trong lòng mẹ Trái

Đất thì loài người là sinh vật khốn khổ hơn cả” (Iliat)

“Con người lưu đày” là con người bị tồn tại không theo ý mình, bị đày ải ngoài ý muốn của mình Ở nơi đó, họ có mặt như một sự ép buộc Dù bản thân họ không muốn nhưng vẫn phải „lưu” lại đó, vẫn phải làm việc đó Cõi lưu đày ở đây chính là tha giới – nơi mà con người đang tồn tại Ở đây, con người trở thành những tha nhân, buộc phải chấp nhận cái phi lí Tạ Duy Anh quan niệm về kiếp sống như một chuyến lưu đày Các nhân vật trong tiểu thuyết của ông không chỉ bị lưu đày trong thế giới của chính mình, lưu đày trong chính tổ ấm của mình mà còn bị lưu đày trong mối quan hệ với tha nhân

2.1.1 Lưu đày trong thế giới của chính mình

Mỗi người đều có thế giới nội tâm của riêng mình Trong thế giới ấy, chỉ có

họ mới biết được tình cảnh, tâm trạng thực sự của mình Họ có thể thể hiện ra bên ngoài rằng họ đang rất vui, nhưng họ có vui thật hay không thì phải khám phá thế giới nội tâm bên trong Và chính những đau khổ, băn khoăn, dằn vặt mà họ đang phải đối mặt chính là sự lưu đày trong thế giới của chính mình

Trong văn học phương Tây, chúng ta biết đến nhà văn F.Kafka cũng đã từng

có một thời gian bị lưu đày trong chính thế giới của riêng mình Ông vốn có năng khiếu văn chương từ nhỏ Tuy nhiên, vì để vừa lòng cha, ông đã từ bỏ ước mơ của mình để đi làm nhân viên bảo hiểm Ban ngày ông là một người con ngoan, đi làm đúng giờ với công việc ấy, ban đêm ông lại quằn quại đau khổ, vật lộn với khát vọng văn chương Và đã có lúc “ông đã muốn đi khỏi thế giới này” Có lẽ vì bản

Trang 38

thân đã trải qua cảm giác đó nên ông đã xây dựng rất thành công những nhân vật mang tâm thức lưu đày trong tác phẩm của mình Đó là K, là J.K, là Samsa

Trong tiểu thuyết Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, “tôi” có những giây phút

vật vã trong những suy nghĩ, trăn trở về chính bản thân mình Trong thế giới của

“tôi‟, “đêm nào cũng dài hun hút, đen ngòm và đầy cạm bẫy” Vì không muốn cuộc sống quá tẻ nhạt, anh ta đã tự nghĩ ra hành động vo tròn giấy báo và ném xuống dưới đất như một cách để giải tỏa Cái hành động tưởng như ngớ ngẩn, vô nghĩa ấy lại rất có ý nghĩa với một người đang cô đơn Cảm giác lúc nào cũng tưởng tượng ra

có một con thú bất ngờ nhảy ra xé mình thành trăm mảnh là một sự ám ảnh, tổn thương rất lớn về mặt tinh thần của “tôi” Căn nhà ấy không phải là nơi yên bình, không phải là nơi mà “tôi” mong muốn trở về mà nó như một nhà tù giam lỏng, một không gian lưu đày.Trong thế giới của “tôi” dường như không có sự yên ổn Mọi thứ đều luôn trong trạng thái hỗn loạn, căng thẳng, mệt mỏi và đau khổ “Tôi” nhận

ra ngoài sức mạnh công lí còn có mãnh lực của bóng tối sẽ “ấn bẹp con người xuống, dồn đuổi họ tới chân tưởng trước khi hủy diệt” Trạng thái bất an ấy của

“tôi” cũng chính là của những con người đang sống trong xã hội đầy phi lí với những tai họa luôn rình rập, những nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào

Ngay chính cuộc “mây mưa” với ả cave cũng là một sự lưu đày khốn khổ của „tôi” Hành động quan hệ nam nữ phải là sự tự nguyện, phải có sự thăng hoa của cảm xúc Ấy vậy mà nhân vật “tôi” bị rơi vào tình cảnh vừa không tự nguyện, vừa không có cảm xúc, cũng chẳng có nhu cầu cao như người anh mình “Tôi” bị ép buộc phải ở trên giường với cô ta trong tình trạng bị “cưỡng bức” mà không chống trả nổi Tuy nhiên, ngược về quá khứ, độc giả có thể thấy được chính ả cũng là một thân phận bị lưu đày Cuộc đời ả cave có rất nhiều điểm giống như mụ Cúc “Tú Bà” Dù rất quyền uy, nhưng sâu thẳm trong mụ vẫn luôn đau đớn về quá khứ khi

mụ bị lừa, bị cưỡng bức Cuộc đời của những cô gái đó là một hành trình lưu đày không có bến dừng Một khi đã vào nghề là họ bị cuốn vào một vòng xoáy Ở đây, con người buộc phải từ giã quá khứ, đứng giữa hiện tại, đối diện với tương lai bấp bênh, mơ hồ, chỉ biết chạy theo một con đường đã bị mặc định sẵn

Trang 39

Mỗi nhân vật của Tạ Duy Anh là những số phận bị lưu đày theo những cách khác nhau Nhân vật người cha của “tôi” bị oan mà vẫn phải chịu để người ta “trói một cách dễ dàng rồi dắt đi như dắt trâu” Sau cuộc lưu đày tại nhà giam, trải qua những cuộc xét hỏi, cha trở về như một người bị “hút kiệt sinh lực” Cái phi lí ở đây rất đậm chất Kafka Những thiết chế, tòa án, quyền lực vô hình đã không cho phép người cha thanh minh, không cho phép con người lên tiếng mà chỉ ra lệnh cho họ phải làm theo Trong tâm hồn ông đang có đầy rẫy những câu hỏi mà không có câu trả lời Ông cảm nhận được nỗi cô đơn trong không gian, trong thời gian mà thấy bất an, hoang mang, lo sợ Người vô tội vẫn phải vào tù, người có tội vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật Điều phi lí vẫn tồn tại như sự tất yếu của cuộc sống Câu hỏi

“Đã thấy ai về chưa?” như một ám ảnh đối với người đọc Con người đã nỗ lực tìm kiếm và tạo lập các mối quan hệ nhưng vẫn bất lực trước số phận nghiệt ngã Ta

cũng bắt gặp hình ảnh người cha trong truyện ngắn Luân hồi, Ngôi nhà của cha tôi

của Tạ Duy Anh luôn phấp phỏng một nỗi lo âu vô cớ Chính họ đã tự lưu đày trong thế giới của chính mình Đọc tác phẩm của Tạ Duy Anh, chúng ta có thể thấy được nhân vật người cha được nhắc đến rất nhiều cả trong tiểu thuyết và truyện ngắn Người cha đã trở thành nỗi ám ảnh xuyên suốt các tác phẩm của ông bởi một điều: người cha ấy bước ra từ hiện thực

Tiến sĩ N ở một vị trí mà nhiều người mơ ước Tuy nhiên, ông đã khép mình trong một thế giới riêng mà chính vợ của ông cũng không hề hay biết Thói quen ngủ dậy vào bốn giờ sáng, vào phòng làm việc và ngồi xuống đã đẩy ông vào một trạng thái đau đớn với những gì đã xảy ra trong quá khứ Cuộc sống danh giá với đầy đủ vật chất vẫn không khiến con người thoát ra được mặc cảm tội lỗi Ông luôn phấp phỏng lo âu “sợ bị ai đó phát hiện ra nguồn gốc” Việc ông không đi tìm người anh em song sinh với mình, việc ông từ chối nhận anh em để giữ “danh dự” cho bản thân đã khiến ông sống trong ám ảnh: “Đêm nào tôi cũng mơ thấy cha tôi, sợi dây vẫn lòng thòng ở cổ” và tiếp tục đối mặt với nỗi sợ hãi Thế giới của tiến sĩ N là những cuộc lưu đày mỗi khi tỉnh dậy, ở một mình trong phòng và đối mặt với tòa án lương tâm Một mặt, ông muốn giữ danh dự cho bản thân, cho gia đình bố mẹ nuôi Mặt khác, ông lại dằn vặt đau khổ khi đã lừa dối tất cả mọi người, đã tàn nhẫn,

Trang 40

dửng dưng, vô tình với người anh em ruột của mình Phần “Con” và phần “Người” lúc này đang giao chiến với nhau và không phân được thắng bại Để rồi đến khi mọi thứ tắc nghẽn, không có lối thoát, ông đã tìm đến cái chết như một sự giải thoát Xót

xa hơn, ông còn kéo theo cả vợ ông, một nạn nhân bị chết oan ức bởi bà đã vô tình

“đứng chen vào giữa”

Ở tác phẩm Thiên thần sám hối, những nhân vật trong bệnh viện đã sống một

cuộc sống lưu đày không mong muốn Câu chuyện của chị sản phụ đã khiến mẹ nhận ra cả chị và chồng chị đều đang sống trong một thế giới lưu đày Họ lấy nhau không có tình yêu đã là một cuộc lưu đày rồi: “Ngày nào anh ấy cũng đem về cho

em cả một xấp tiền mới… Mẹ em, do làm ăn, sợ anh ta bức hại, quyết ép em lấy anh

ta chứ chúng em có yêu đương gì nhau đâu”[2, tr 23] Để rồi sau khi lấy nhau, cả

vợ và chồng lại tiếp tục những chuyến lưu đày không có bến dừng Người chồng đã trót trở thành kẻ giết người nên anh ta luôn phải sống trong sợ hãi, dằn vặt, hoảng loạn Anh tìm đến rượu như một cách để quên đi tội ác của mình Thế nhưng sự thật vẫn là sự thật, anh ta ăn không ngon, ngủ không yên, tránh xa bất cứ chỗ nào đông người “Khi ngủ, anh thường ôm ghì lấy em như không chịu nổi phải đối mặt với bóng tối Tỉnh dậy anh ấy luôn thảng thốt hỏi “Tôi đang ở đâu?” rồi thở trút ra” Lúc này, trong tâm trí của một kẻ giết người là một nỗi sợ hãi vây quanh “Có hôm anh ấy rên ư ử như người bị trói, bị hành hạ rồi bất ngờ gào hú”[2, tr 26-27] Ám ảnh tội ác đã khiến con người không làm chủ được bản thân Để rồi từ tội ác của anh, cả vợ anh và con anh cũng phải gánh chịu Người vợ thương xuyên mơ thấy ác mộng, ả cave – người bị chồng cô giết đã cướp đi sinh mạng của đứa con trong bụng cô Và rồi ba lần liên tiếp, cái thai trong bụng cô bị chết lưu Ám ảnh về tội ác của chồng, chấn thương về mặt tinh thần đã khiến cô không thể giữ được đứa con trong bụng mình Hiện thực nghiệt ngã đã xảy ra trước mắt, con người phải đối mặt

và chấp nhận hậu quả đau đớn

Cô phóng viên tên Giang trong một câu chuyện ở bệnh viện cũng đã sống lưu đày từ khi cô cầm được tờ giấy xác nhận vào biên chế của ông Tổng biên tập Cái giá cô phải trả là cô phải hiến thân cho lão Và rồi cuộc lưu đày cứ thế tiếp diễn khi cô có thai và không biết đó là của chồng cô hay của “papa Hữu” Cô đã sống

Ngày đăng: 04/04/2016, 21:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Samuel Beckett (2002), Đợi Godot, trích trong chuyên luận Văn học phi lí, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 459-562 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đợi Godot
Tác giả: Samuel Beckett
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
20. Albe Camus (2002), Người xa lạ, trích trong chuyên luận Văn học phi lí, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người xa lạ", trích trong chuyên luận "Văn học phi lí
Tác giả: Albe Camus
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
21. Albe Camus (2002), Dịch hạch, trích trong chuyên luận Văn học phi lí, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 263-354 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch hạch
Tác giả: Albe Camus
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
22. Albe Camus (2002), Huyền thoại Sisyphe, trích trong chuyên luận Văn học phi lí, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr. 229-261 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền thoại Sisyphe
Tác giả: Albe Camus
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
23. Nguyễn Văn Dân (2002), Văn học phi lí, chuyên luận, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phi lí
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2002
24. Nguyễn Văn Dân (1999), Nghiên cứu văn học - lí luận và ứng dụng, Nxb Giáo dục 25. Đào Thị Dần (2008), Nhân vật dị biệt trong sáng tác của Tạ Duy Anh và NguyễnBình Phương, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học - lí luận và ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
26. Trương Đăng Dung (1998), Thế giới nghệ thuật của Fran Kafka, in trong công trình Từ văn bản đến tác phẩm văn học, tr. 246-260 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới nghệ thuật của Fran Kafka
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Năm: 1998
27. Trương Đăng Dung (2014), Những kỉ niệm tưởng tượng, Nxb Văn học, Hà Nội 28. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa họcxã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kỉ niệm tưởng tượng
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2014
29. Trương Đăng Dung (dịch) (1999),Trên đường đến với ngôn ngữ của M.Heidegger, Văn học nước ngoài (số 1), tr. 115-157 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường đến với ngôn ngữ của M.Heidegger
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Văn học nước ngoài
Năm: 1999
30. Trương Đăng Dung (dịch), Tác phẩm văn học R.Ingarden,Văn học nước ngoài (số 5), tr. 155-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học R.Ingarden
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Văn học nước ngoài
31. Trương Đăng Dung (2011), Khoa học văn học hiện đại hậu hiện đại, Nghiên cứu văn học (số 8), tr. 12-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Năm: 2011
32. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Chủ nghĩa hiện sinh – Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện sinh – Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh
Năm: 2006
33. Đoàn Ánh Dương (2013), Không gian văn học đương đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội 34. Đoàn Ánh Dương (2009), Lối viết tiểu thuyết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập(qua trường hợp Tạ Duy Anh), Nghiên cứu văn học (số 7), tr. 85-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn học đương đại
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2013
35. Trần Thiện Đạo (2001), Từ chủ nghĩa hiện sinh đến thuyết cấu trúc, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ chủ nghĩa hiện sinh đến thuyết cấu trúc
Tác giả: Trần Thiện Đạo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
36. Nguyễn Đăng Điệp (1996), M Bakhin và lí thuyết về giọng điệu đa thanh trong tiểu thuyết, Văn học nước ngoài (số 1), tr. 156-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M Bakhin và lí thuyết về giọng điệu đa thanh trong tiểu thuyết
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Văn học nước ngoài
Năm: 1996
37. Nguyễn Đăng Điệp (2007), “Kĩ thuật dòng ý thức” trong sách Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sự học – Một số vấn đề lí luận và lịch sử
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2007
38. Đinh Văn Điệp (2014), Nhân vật mang tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân vật mang tâm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Tạ Duy Anh và Nguyễn Bình Phương
Tác giả: Đinh Văn Điệp
Năm: 2014
39. Trần Thái Đỉnh (2012), Triết học hiện sinh (tái bản), Nxb Văn học – Công ty sách Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học hiện sinh (tái bản)
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2012
40. Hà Minh Đức (chủ biên) (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
41. Hà Văn Đức (1996), 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (viết chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (viết chung)
Tác giả: Hà Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w