Đặc biệt là sự vận động của văn học Việt Nam được thể hiện qua một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…Sự vận động trong sáng tác của họ thể hiện quy l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN CÔNG HOAN
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Vương
Hà Nội – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trần Ngọc Vương Các kết quả và số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ một công trình khoa học nào
Những luận điểm sử dụng của tác giả khác, tác giả luận văn đều có ghi chú rõ ràng nguồn gốc Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực
và nguyên bản của luận văn
Hà Nội,ngày 22 tháng 10 năm2015
Tác giả luận văn
Hà Huy Thích
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Trần Ngọc Vương - người thầy đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Văn học, khoa Sau đại học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả luận văn chân thành biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian qua
Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Hà Huy Thích
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài- Giới hạn nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn 3
3 Lịch sử vấn đề: 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Cấu trúc luận văn 4
PHẦN NỘI DUNG 5
Chương 1: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH VÀ VÙNG VĂN HÓA SƠN NAM 5
1.1 Truyền thống gia đình 5
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Công Hoan 5
1.1.2 Truyền thống gia đình 13
1.2 Vùng văn hóa Sơn Nam Hạ 16
1.2.1 Đặc điểm về địa lý 16
1.2.2 Đặc điểm về văn hóa xã hội 16
1.2.3 Một số tác giả văn học tiêu biểu trấn Sơn Nam có ảnh hưởng đến phong cách sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan 18
Chương 2: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO VÀ VĂN HỌC TÂY ÂU TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG 8 – 1945 25
2.1 Văn hóa truyền thống và văn chương nhà Nho 25
2.1.1 Văn học dân gian 25
2.1.2 Từ cái nhìn của nhà Nho trong văn học Trung đại đến cái nhìn của nhà văn, nhà thơ trào phúng cuối thế kỉ XIX trong tiến trình văn học Việt Nam 26
2.1.3 Sự thay đổi của hệ thống chủ đề, đề tài và hình tượng trung tâm trong văn chương trào phúng 31
Trang 62.2 Sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong sáng tác của Nguyễn
Công Hoan trước cách mạng tháng 8 - 1945 33
2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội 33
2.2.2 Sự ra đời của trào lưu văn học hiện thực phê phán 34
2.2.3 Sự vận động hệ quy chiếu của chủ nghĩa hiện thực phê phán 44
Chương 3: SỰ VẬN ĐỘNG TRONG TƯ TƯỞNG CỦA NHÀ VĂN QUA NHỮNG SÁNG TÁC VĂN HỌC CỦA ÔNG 52
3.1 Những chặng đường sáng tác của Nguyễn Công Hoan 52
3.1.1 Giai đoạn từ 1920 – 1923 53
3.1.2 Giai đoạn từ 1929 – 1935 55
3.1.3 Giai đoạn từ 1936 – 1939 63
3.1.4 Giai đoạn từ 1940 – 1945 66
3.2 Sự vận động về phương diện nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan 68
3.2.1 Lý tưởng thẩm mỹ 68
3.2.2 Hệ thống chủ đề, đề tài 71
3.3 Hình tượng nhân vật 81
3.3.1 Hình tượng nhân vật trào phúng 81
3.3.2 Hình tượng nhân vật điển hình 84
3.4 Hệ thống ngôn ngữ- thể loại 87
3.4.1 Ngôn ngữ 87
3.4.2 Thể loại 90
3.5 Cốt truyện – Tình huống 92
3.5.1 Cốt truyện 92
3.5.2 Tình huống truyện 94
PHẦN KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài- Giới hạn nghiên cứu
Lịch sử phát triển văn học của mỗi quốc gia, dân tộc đều ghi dấu sự vận động
và phát triển của lịch sử quốc gia, dân tộc ấy Từ đó hình thành nên những bản sắc riêng của quốc gia, dân tộc đó Với hàng nghìn năm lịch sử vận động và phát triển, văn học Việt Nam đã thực sự tạo được một dấu ấn riêng, bản sắc riêng về văn học, văn hóa Việt
Văn học Việt Nam có một bề dày truyền thống Từ văn học dân gian đến văn học thành văn đã góp phần không nhỏ trong việc thể hiện, phản ánh tâm tư, tình cảm của con người Việt Nam qua các thời kì lịch sử Đặc biệt là gần mười thế kỉ tồn tại và phát triển của văn học trung đại, Nho giáo giữ vai trò định hướng phát triển văn học Việt Nam Điều ấy thực sự tạo nên một bản sắc rất riêng của Văn học Việt Nam
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX văn học Việt Nam có những bước phát triển mới Đó là bước chuyển từ truyền thống sang hiện đại Một thời đại mới của văn học đã phôi thai từ giai đoạn quá độ, từng bước hòa nhập vào quỹ đạo của văn học thế giới
Sự vận động phát triển của thời đại lịch sử đã đưa văn học Việt Nam chuyển mình sang một hướng mới Đó là sự vận động, chuyển đổi cả nội dung và nghệ thuật phản ánh của văn học Việt Nam Từ những áng văn chương mang đậm màu sắc của văn chương Trung đại chuyển sang hướng hiện đại hóa của văn học Phương Tây
Thực tế của nền văn học sử Việt Nam cho thấy, mối liên hệ từ truyền thống đến hiện đại chưa thực sự được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, khai thác Đặc biệt
là sự vận động của văn học Việt Nam được thể hiện qua một số tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…Sự vận động trong sáng tác của họ thể hiện quy luật đặc thù của văn học Việt Nam
Và nhà văn thể hiện sự vận động chuyển đổi về phong cách sáng tạo nghệ thuật ấn tượng hơn cả là nhà văn Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan là một tác gia lớn trong nền văn học cận đại Việt Nam
Sự nghiệp của ông được tạo dựng bởi hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết
có giá trị trong nền văn học nước nhà
Trang 8Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan mang những nét đặc thù về quan điểm thẩm mỹ nghệ thuật riêng, để lại những dấu ấn riêng về truyền thống của gia đình; giai đoạn lịch sử xã hội ấn tượng cụ thể
Có một số công trình nghiên cứu về những sáng tác của ông, nhưng phần
nhiều chỉ thiên về đọc và bình văn rồi đưa ra kết luận Hay- Dở mà chưa dựng được
một bức tranh toàn cảnh về quy luật tồn tại và vận động phát triển của đối tượng; chưa chỉ ra được những con đường ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành con người nhà văn
Bởi vậy, luận văn của chúng tôi đi sâu và hướng tới sự chuyển đổi loại hình tác giả văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám qua tác giả Nguyễn Công Hoan
Luận văn của chúng tôi được hình thành trực tiếp từ sự gợi ý và hướng dẫn của GS - TS Trần Ngọc Vương, đồng thời với nỗ lực tự thân của người viết Nhưng
do thời gian hạn hẹp và do tính chất, mức độ của luận văn, chúng tôi chỉ đi vào phạm vi chuyên sâu và giới hạn ở một số điểm sau:
(1) Sự ảnh hưởng của truyền thống gia đình và vùng văn hóa Sơn Nam
Đó là sự ảnh hưởng của truyền thống gia đình và vùng văn hóa Trấn Sơn Nam đến phong cách nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan
(2) Sự ảnh hưởng văn học nhà Nho và văn học Tây Âu trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng 8 - 1945
Đó là sự chuyển biến rõ nét về nội dung và phong cách nghệ thuật của nhà văn
từ ảnh hưởng của văn chương nhà nho sang văn chương hiện thực phê phán mang đậm phong cách văn chương phương Tây
(3) Từ những vấn đề trên, chúng tôi đi tới vấn đề cụ thể về tư tưởng và quan điểm nghệ thuật của nhà văn qua những sáng tác của ông Nhằm chứng minh cho nhận định: sự vận động chuyển đổi loại hình tác tác giả văn học qua sáng tác của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng Tám 1945
Tuy nhiên, do thời gian tiếp cận đề tài còn hạn chế, vốn kiến thức được trang
bị nhiều điểm còn chưa thực sự sâu sắc, nên có những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu Luận văn chưa mở rông sang các tác giả cùng thời khác để thấy được sự vận động biến đổi của hệ quy chiếu trong hầu hết các tác giả những năm đầu thế kỉ XX
Trang 92 Mục đích nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
2.1 Mục đích và ý nghĩa lý luận
Đối tượng nghiên cứu là một tác giả lớn, quá trình hình thành, vận động và phát triển phong cách nhà văn Nguyễn Công Hoan Vì vậy, chúng tôi xác định mục đích, tính chất của luận văn là vấn đề nghiên cứu của văn học sử Cụ thể là nghiên cứu sự chuyển biến mang tính quy luật đặc thù của văn học Việt Nam qua ngòi bút nhà văn
2.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Thực hiện được mục tiêu trên, chúng tôi hi vọng luận văn của mình góp phần phục vụ trực tiếp cho việc tìm hiểu và giảng dạy tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan ở cấp độ phân tích, cảm nhận văn học qua thực chứng lịch
sử khách quan
3 Lịch sử vấn đề:
Có khá nhiều nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết cho sáng tác của Nguyễn Công Hoan, và nhiều nhà nghiên cứu coi Nguyễn Công Hoan là một nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực
Trên tạp chí Nam Phong 7 – 1932, Trúc Hà viết phê bình về truyện ngắn
Nguyễn Công Hoan “Một ngọn bút mới” Trong bài viết của mình, Trúc Hà chỉ ra những “lời văn hàm một giọng trào phúng, lại thường hay đệm một vài câu hoặc
một vài chữ có ý khôi hài bông lơn thú vị”…
Trong cuốn “Phương pháp sáng tác ttrong văn học nghệ thuật”, NXB Sự
thật Hà Nội 1962, Hồng Chương chỉ ra: lối tả tỉ mỉ ở các chi tiết là một đặc điểm của phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa của Nguyễn Công Hoan Phan Cự
Đệ trong “Nhà văn Việt Nam 1945 – 1975” (tập 2), NXB Đại Học và Trung học
chuyên nghiệp khẳng định: Nguyễn Công Hoan đã đặt những viên gạch đầu tiên xây đắp nền móng cho văn xuôi hiện thực phê phán Ông là người đầu tiên khẳng định phương pháp hiện thực phê phán trong lĩnh vực truyện ngắn và là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán thời kỳ 1930 – 1945
Trang 10Năm 2002, cuốn Nguyễn Công Hoan, Tác gia – Tác phẩm do nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh biên soạn được xem là cuốn tài liệu tập hợp được những công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về Nguyễn Công Hoan từ trước tới nay
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan đều chưa thật chú ý đến những con đường ảnh hưởng quan trọng tới sự vận động, chuyển đổi loại hình nhà văn Bởi vậy, luận văn của chúng tôi cố gắng làm rõ sự chuyển đổi loại hình tác giả văn học Việt Nam trước cách mạng tháng Tám qua tác giả Nguyễn Công Hoan dưới góc nhìn từ lý thuyết loại hình học tác giả nhà văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp loại hình học tác giả và phương pháp logic - lịch sử là nền tảng cho các phương pháp và thao tác khoa học mà luận văn sử dụng ở cấp khái quát nhất Ngoài ra, trong việc nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của văn học, chúng tôi còn sử dụng phương pháp chuyên sâu như nghiên cứu lịch sử văn hóa và phương pháp loại hình học tác giả
Phương pháp thống kê phân loại, phương pháp so sánh đối chiếu cũng được chúng tôi sử dụng trong quá trình nghiên cứu
5 Cấu trúc luận văn
- Chương 1: Sự ảnh hưởng của truyền thống gia đình và vùng văn hóa Sơn Nam
-Chương 2 Sự ảnh hưởng văn học nhà Nho và văn học Tây Âu trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng 8 - 1945
-Chương 3 Sự vận động trong tư tưởng của nhà văn qua những tác phẩm văn học của ông
Trang 11PHẦN NỘI DUNG Chương 1: SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRUYỀN THỐNG GIA ĐÌNH VÀ VÙNG
VĂN HÓA SƠN NAM 1.1 Truyền thống gia đình
1.1.1 Cuộc đời và sự nghiệp nhà văn Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan- tác giả truyện ngắn xuất sắc, một hiện tượng đặc biệt trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại
Ông sinh ngày mồng 6 tháng 3 năm 1903 trong một gia đình nho học ở làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hưng Yên) Gia đình ông là gia đình nhà nho có nhiều người làm quan với Pháp Cha ông tuy đỗ tú tài nhưng chỉ được nhận chức huấn đạo và ở mãi chức này cho đến khi mất Đồng lương ít ỏi của cha không đủ nuôi đàn con đông, nên Nguyễn Công Hoan từ nhỏ đã được ông bác ruột, một ông quan yếm thế có tinh thần yêu nước đón về nuôi dưỡng và giáo dục Ngay từ những ngày còn nhỏ ông đã tỏ ra là một cậu thiếu niên thông minh, nghịch ngợm và hóm hỉnh Tuy bé nhất trong nhà nhưng ông lại luôn là người đầu trò trong các cuộc chơi Ông thường tự biên soạn những vở chèo, vở tuồng từ những tích cũ, tự lập sân khấu rồi cùng các anh con của bác chơi trò biểu diễn Đề tài những vở kịch do ông nghĩ ra hoàn toàn dựa theo những truyện hàng ngày nghe kể, khi là chơi trong các trại lính lệ, lính cơ nhằm giễu cợt những thói hư tật xấu của kẻ
có quyền và xót thương những người nghèo khờ dại Những buổi biểu diễn này được lính lệ và nhân dân trong vùng đến xem rất đông Cứ tối đến, họ lại kéo nhau
đến tụ tập quanh sân nhà người bác để xem “cậu chủ nhỏ diến trò” và cậu chủ nhỏ
được họ rất yêu quý Năm lên bảy tuổi, Nguyễn Công Hoan được học tiếng Pháp với một thầy ký rượu Ông học tiếng thì ít mà học mánh khóe từ thầy thì nhiều Bài học của ông thường là những bài vè truyền khẩu nửa Tây nửa Ta, những thủ thuật đong và pha rượu lậu cùng những buổi đàn hát Kết quả là sau hai tháng người bác đành phải bắt ông thôi học với thầy ký rượu Chín tuổi, ông được bác gửi lên học ở trường Bưởi (trường Chu Văn An) Trong thời gian học ở trường Bưởi (từ chín đến mười sáu tuổi) ông quen và thân với nhiều nhà văn nhà thơ đương thời, đặc biệt là nhà thơ Tản Đà Ông rất thích thơ Tản Đà, bài thơ nào của Tản Đà ông cũng đọc và
Trang 12thuộc Qua Tản Đà ông còn đọc nhiều và trở nên thích thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tú Mỡ… chính Tản Đà là nấc thang đầu tiên đưa bước Nguyễn Công Hoan vào làng văn học Năm mười bảy tuổi, sau một chuyến bỏ nhà ra Hải Phòng cùng
một anh con bác, trở về ông viết truyện ngắn đầu tay “Quyết chí phiêu lưu” Truyện
ngắn này ông viết chỉ để đùa vui nhưng thật ra đã rõ dáng dấp con người ông và cũng đã báo hiệu những văn phẩm của ông sau này Một chuyện bịa từ cái gốc có thật về chuyện đi bất thành của mình Ông bịa chuyện có thật ấy nhằm mỉa mai và
đả kích chế độ thực dân Năm 1922 ông lại ra Hà Nội học để ôn thi vào trường Nam
Sư phạm và bắt đầu viết truyện dài “Phải gió” Truyện dài này làm cho các bạn
cùng phòng ở với ông không nhịn được cười Kết cục nó bị thu bởi tác giả của nó gây mất trật tự trong khu nội trú Cùng năm, (vào tháng 7) Nguyễn Công Hoan đỗ vào trường Sư phạm Ông vừa học vừa viết văn Những truyện ngắn thời kỳ này của
ông được in trên mục “Truyện thế gian” do Tản Đà thư cục xuất bản Truyện của
ông, giọng văn, câu văn ngắn gọn, giản dị, dí dỏm khác hẳn với lối văn cầu kì, ước
lệ, cổ điển của những tác giả cùng thời Vì vậy truyện ngắn của ông thời kỳ này không gây được tiếng vang, nhưng đã báo cho độc giả thấy được sự xuất hiện của một cây bút mới với lối văn hoàn toàn mới lạ Mặt khác, do ham đọc thơ văn, ông
có con mắt nhìn đời bằng hồn thi sĩ, nên phong cách hiện thực phê phán sắc sảo của ông đậm chất trữ tình
Tốt nghiệp trường Nam Sư phạm năm ông hai mươi ba tuổi Công việc dạy học của ông vô cùng long đong, vất vả Do bị tình nghi có tham gia hoạt động cách mạng nên ông không ở đâu được lâu mà luôn bị thuyên chuyển vùng Từ thị xã Hải Dương ông phải chuyển đến huyện Nam Sách, huyện Kim Môn, thị xã Lào Cai, thành phố Nam Định, rồi ra đảo Trà Cổ Con đường văn nghiệp của ông cũng không kém phần lao đao, trắc trở Ông luôn bị thực dân Pháp theo dõi, ghìm ngòi bút, có
thời kỳ còn bị treo bút Nhiều tiểu thuyết của ông bị cấm lưu hành như (Cái thủ lợn- 1939), nhiều truyện ngắn bị kiểm duyệt, cắt xén hoặc xóa trắng (Êu êu Mê đo; Hồi
còi báo động) Lớn lên trong thời kì những sự kiện chính trị lớn dốn dập xảy ra ở
trong và ngoài nước, lại làm cái nghề luôn bị chèn ép và bản thân bị nghi kị nên giúp ông có cái nhìn đúng về xã hội đương thời Sẵn có thái độ hằn học với kẻ xu
Trang 13nịnh, hằn học với bọn thực dân tàn ác, quan lại tham nhũng, bọn giàu sang gian trá, nên Nguyễn Công Hoan không dễ lùi bước trước mọi khó khăn Truyện ngắn của ông ngày càng điêu luyện về nghệ thuật, sắc sảo về nội dung dần đưa ông tới vị trí hàng đầu trong dòng văn học hiện thực phê phán
Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, theo quy luật chung của sự phát triển, văn học Việt Nam dần chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học hiện đại Thời kì này giữa biết bao nếp nghĩ vay mượn, cách diễn đạt vay mượn, giữa biết bao sự mời gọi quyến rũ tưởng không cưỡng lại được của văn học ngoại lai nhưng Nguyễn Công Hoan đã giữ cho ngòi bút của mình đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa hiện thực Ông trở thành một trong những người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nền móng cho nền văn học hiện thực phê phán ở Việt Nam Đó cũng là thời kì văn học Việt Nam đang ở buổi sơ khai của nền văn xuôi viết bằng chữ Quốc ngữ Giai đoạn này đòi hỏi mỗi người cầm bút phải tự tìm lấy mình, khẳng định mình, khẳng định văn học nước nhà Con đường độc đáo Nguyễn Công Hoan đã chọn và táo bạo
mở đường đi tới một mình: Viết những truyện trong đời sống thực từ những cảnh ngang trái bất công, những sự thối nát sa đọa, những cảnh khổ đau xảy ra hàng ngày trong xã hội thực dân phong kiến lúc bấy giờ Sự nghiệp văn học của ông bắt đầu từ
những năm 1920 với tập truyện ngắn đầu tay: “Kiếp hồng nhan” (xuất bản năm
1923) Truyện viết về những người thuộc tầng lớp dưới được biểu hiện bằng cách nhìn xót thương, từ đó mà giễu cợt kẻ lộng quyền hợm của Tuy tập truyện này
“không có ý nghĩa gì, không có mục đích nào” [23/81] nhưng vẫn gây được sự thán
phục của bạn bè Nó là tập truyện đầu tiên của Việt Nam, gồm toàn truyện sáng tác chứ không phải vừa truyện dịch, vừa truyện soạn như các truyện trước đó Phải tới những năm 1929 – 1033 nhà văn mới thực sự khẳng định mình bởi những trang in
trong mục Xã hội ba đào ký trên An Nam tạo chí do Tản Đà chủ trương Những
truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan trên mục Xã hội ba đào ký được độc giả rất
yêu thích Tên tuổi của nhà văn chuyên viết những “cảnh đi xuống của xã hội” đã nhanh chóng trở nên quen thuộc với bạn đọc Những cuốn tiểu thuyết “Những cảnh
khốn nạn” (1932); “Tắt lửa lòng”(1933); “Lệ dung”(1934); “Tấm lòng vàng”(1934) cũng lần lượt xuất hiện Đặc biệt trong cuốn “Những cảnh khốn
Trang 14nạn”(Tập 1 với 218 trang) viết trong thời gian ông dạy học ở Lào Cai đã báo hiệu
con đường văn chương độc đáo của ông sau này
Tháng 6 năm 1935 khi tập truyện ngắn “Kép Tư Bền” xuất hiện, địa vị của
ông càng được khẳng định Kép Tư bền gồm 15 truyện phần lớn viết về những người khốn khổ đáng thương Ông thông cảm với nỗi dày vò họ và nói lên sự tàn nhẫn của những người xung quanh Trong không khí của những năm 1935- 1936 Kép Tư Bền ra đời rất đúng lúc, nó mở đầu cho trào lưu văn học tả chân xã hội Thời kỳ này độc giả muốn có những trang viết về cảnh lầm than của xã hội để thức tỉnh mọi người Trong tình trạng ấy, tập truyện ngắn Kép Tư Bền ra đời có thể xem
là một cái mốc đánh dấu trong sự nghiệp văn chương của nhà văn Ông viết:“việc
cuốn Kép Tư Bền được hoan nghênh làm tôi rằng tôi có thể viết nổi tiểu thuyết và tôi có thể theo đuổi nghề văn” [23/188] Tập truyện với nghệ thuật độc đáo, mới lạ,
có truyện không có cốt truyện (Cô Kếu gái tân thời), có truyện viết không theo hình thức kể chuyện (Thế là mợ nó đi Tây) đã thu hút được đông đảo bạn đọc trong cả
nước Những tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của Khái Hưng, Nhất Linh… bị lu mờ, thay vào đó là những tác phẩm hiện thực của Nguyễn Công Hoan Năm đó, Kép Tư Bền được đánh giá là tập truyện ngắn hay nhất, được mười tám tờ báo ở Trung, Nam, Bắc viết bài khen ngợi và trở thành đề tài cho một cuộc tranh luận về nghệ thuật Phái nghệ thuật vị dân sinh của Hải Triều đã viết nhiều bài đanh thép để công kích nghệ thuật vị nghệ thuật của Hoài Thanh Khi cuộc tranh luận đang trong độ gay cấn nhất thi Hải triều đọc được Kép Tư Bền Kép Tư Bền trở thành cứu cánh đưa phái nghệ thuật vị dân sinh đi đến thắng lợi Trong một bài bút chiến của Hải
Triều có viết “Cái chủ trương nghệ thuật vị dân sinh của tôi ngày nay đã biểu hiện
bằng những bức tranh rất linh hoạt dưới ngòi bút tài tình của văn sĩ Nguyễn công Hoan” [48] Để khẳng định chủ trương của mình, Hải Triều còn tổ chức buổi gặp
mặt tác giả với bạn đọc và trưng cầu ý kiến độc giả tại nhà sách Hương Giang (Huế) Kết quả của cuộc trưng cầu là tác Phẩm Kép Tư Bền được xếp hàng đầu, tác giả của
nó được bạn đọc hoan nghênh nhất Ông trở thành ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Trang 15Thời kỳ mặt trận Dân chủ (1936- 1939), thực dân Pháp nới lỏng chế độ kiểm duyệt sách báo, ngòi bút của Nguyễn Công Hoan được tung hoành hơn Nhờ ảnh hưởng của Đảng, của sách báo Mác xít, của phong trào quần chúng khắp nơi, những tác phẩm của ông đạt chất lượng cao hơn trước Chúng như những chiếc gai nhọn đối với nhà cầm quyền Thời kỳ ông viết sung sức chưa từng thấy, với hơn 80 truyện ngắn, trong đó có khoảng 30 truyện đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân
Ông đưa vào tác phẩm của mình từ cuộc sống Âu hóa lố lăng “Cô Kếu gái tân thời”, đến tệ quan lại tham nhũng “Công dụng của cái miệng”; “Người thứ ba” Từ cuộc sống vương giả của những kẻ ăn trên ngồi chốc như “Phành phạch”;“Quyền chủ” đến cuộc sống cùng cực của kiếp đi ở “Thằng Quýt”; “Thanh!Dạ” Từ đề tài xã hội
này, ông đã nhanh chóng chuyển sang đề tài chính trị, không những ông tố cáo tệ
tham nhũng, thói dâm ô đểu cáng “Thằng ăn cướp”; “Đồng hào có ma”; “Nạn ô
tô”; “Nạn râu”…mà còn vạch trần những thủ đoạn chính trị lừa bịp và cơ hội của
bọn quan lại triều đình như “Biểu tình”; “Chiến tuyến bình”, những thủ đoạn mua
bán, tranh giành lá phiếu của bọn nghị viên (Trần Thiện – Lê Văn Hà) Đặc biệt ông
đã chĩa mũi nhọn đả kích vào một số chính sách của bọn thực dân Pháp: Từ sự xâm
lấn từng bước khá nguy hiểm của chính quyền thực dân “Người vợ lẽ bạn tôi” đến
những chủ trương cực kỳ vô lý và ngu xuẩn đối với trẻ con không nơi nương tựa
như “Giá ai cho cháu một hào” Từ những thủ đoạn tuyên truyền ầm ĩ cho tên vua
bù nhìn bán nước “Đào kép mới” đến những cuộc vận động cho phong trào thể thao một cách bịp bợm, giả dối của tên thống sứ Chatet “Tinh thần thể dục”
Thời kỳ này ông viết nhiều tiểu thuyết, truyện dài: “Ông chủ”; “Bà
chủ”(1935), “Cô giáo Minh” (1936), “Cô làm công” (1936), “Bước đường cùng”
(1938) và “Cái thủ lợn” (1939) “Bước đường cùng” được được sáng tác trong vòng 16 ngày trước khi tác giả ra “an trí” ở đảo Trà Cổ Tác phẩm viết về tình cảnh
người nông dân vì thất học, u mê, tăm tối nên bị địa chủ dùng thủ đoạn để cướp nhà, cướp ruộng và bị đẩy vào cuộc sống bần cùng Bọn địa chủ thì gian ác, hách dịch, đứa nào cũng dựa vào thế quan, thế Tây để bóc lột nhân dân thậm tệ, nhưng cuối cùng những người nông dân cũng giác ngộ, họ biết đoàn kết chống lại địa chủ Tác phẩm có tính tư tưởng cao, nội dung hiện thực sâu sắc nên vừa ra đời một thời gian
Trang 16ngắn thì bị chính quyền thực dân cấm Rút cuộc 5000 cuốn “Bước đường cùng”
vẫn được tiêu thụ hết Đây cũng là cuốn tiểu thuyết trong đó nhà văn đã xây dựng được những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình theo yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực Đề tài của tiểu thuyết ảnh hưởng nhiều của sách báo đảng Cộng Sản bấy giờ và đã gây được tiếng vang lớn trong kỳ mặt trận Dân chủ
Sang những năm dại chiến thế giới II, Nguyễn Công Hoan mất phương hướng và bế tắc Từ con đường chủ nghĩa hiện thực ông đi chệch hướng sang con đường chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ Vốn chịu ít nhiều tư tưởng phong kiến, ông đã
viết một số tiểu thuyết có khuynh hướng phục cổ, tiêu biểu là “Thanh đạm” (1942) Tác phẩm đề cao Nho giáo, phong tục và sinh hoạt phong kiến cổ xưa “Thanh đạm”
bị lên án gay gắt làm cho Nguyễn Công Hoan trở nên bi quan, chán nản
Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công, nhà văn vui mừng, hồ hởi mặc áo lính, làm công tác văn hóa trong quân đội và dần có cơ hội trở lại viết văn Ông
sáng tác nhiều truyện dài, nhiều tiểu thuyết xã hội như: “Tranh tối tranh sáng”
(1950); “Hỗn canh hỗn cư” (1961); “Đống rác cũ” (1963)…ngoài ra ông còn viết
nghiên cứu về Tản Đà, Nguyễn Khuyến, Tú Xương…viết bài cho phát thanh, tham gia vào việc biên soạn từ điển, ngữ pháp tiếng Việt của viện Ngôn ngữ Đặc biệt,
ông viết được nhiều tập hồi ký chân thực và có giá trị: “Đời viết văn của tôi”; “Nhớ
gì ghi nấy”… “Đời viết văn của tôi” viết năm 1971, cuốn hồi ký này ghi lại các sự
kiện 60 năm văn học nước nhà, từ những bước đầu của ngành báo chí xuất bản Cuốn sách giới thiệu nhiểu nhà văn, nhà nghiên cứu, trong hoàn cảnh nước ta trước đây các ngành bảo tồn, bảo tàng, xã hội học, dân tộc học chưa phát triển thì đây là tài liệu rất tốt cho giúp cho các thế hệ sau dựng lại bức tranh chân thật về một thời
kỳ lịch sử đã qua đồng thời cũng cho họ những chi tiết chính xác về cái xã hội tù túng, quằn quại dưới ách thực dân phong kiến Mặt khác, cuốn hồi ký này để lại cho các nhà văn cũng như các nhà nghiên cứu thế hệ sau nhiều tri thức quý báu về nghề
văn cũng nhưu kinh nghiệm viết văn của ông Cuốn sách được đánh giá là “một
cuốn cẩm nang văn học” đối với “những hậu duệ văn học” [51/30]
Là nhà văn viết khỏe, với trên nửa thế kỉ sáng tác, Nguyễn Công Hoan sáng tác tác trên 200 truyện ngắn, hơn 30 truyện dài và các thể loại khác, ông xứng đáng
Trang 17là một nhà văn lớn, tiêu biểu cho nền văn học hiện thực phê phán Việt Nam Nếu như Ngô Tất Tố tập trung viết về người nông dân, Vũ Trọng Phụng đả kích vào giai cấp Tư sản, thì đóng góp chủ yếu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là xây dựng thành công một phong trào châm biếm, đả kích các kiểu quan lại và địa chủ cường hào ở nông thôn và thành thị
Nguyễn Công Hoan viết nhiều thể loại khác nhau: Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài, ký…nhưng ông sống trong độc giả và khẳng định mình trên văn đàn dân tộc chính là thể loại truyện ngắn Các nhà nghiên cứu Trúc Hà, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Hiếu công nhận: “Cái biệt tài viết tiểu thuyết của Nguyễn Công Hoan
chỉ ở trong truyện ngắn”[13] Nhà văn cũng thừa nhận: “Trong quãng đời hoạt động về văn học trước cách mạng của tôi, tôi đặt nhiều công phu vào viết truyện ngắn [25/207]
Những tập truyện ngắn đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc ta là những truyện ngắn lịch sử đã xuất hiện từ đời Trần, đời Lê Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVI, truyện ngắn dân tộc đã phát triển phong phú và có nhiều kiểu, nhiều màu sắc khác
nhau Với “Thánh Tông di thảo” và “Truền kỳ mạn lục”, những đặc điểm truyền
thống của truyện ngắn Việt Nam đã hình thành trọn vẹn Đến thời kỳ cận đại, những tác phẩm văn xuôi đã chuẩn bị tích cực cho chủ nghĩa hiện thực phê phán ra đời sau những năm 1930 Truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, tiểu thuyết và kịch của Trọng Khiêm, Hồ Biểu Chánh, Vũ Đình Long, Nam Xương…bản thân nó chưa phải là những tác phẩm hiện thực phê phán theo ý nghĩa chính xác, đầy đủ của thuật ngữ đó Trong lĩnh vực truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là người đầu tiên có công khai phá con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực phê phán Đi vào thế giới truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan ta có cảm tưởng như bước vào một khu triển lãm phong phú và nhiều màu vẻ về nhũng cảnh ngộ, những con người đang khóc, đang cười, những niềm vui, nỗi cay đắng buồn đau như là lẽ thường Truyện ngắn của ông sinh động, hấp dẫn với nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc Từ nghệ thuật kết cấu truyện gọn, chặt chẽ đến cách xây dựng tình huống truyện đầy kịch tính đưa đến một kết thúc bất ngờ làm nổi bật tiếng cười giễu cợt Từ nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc đến nghệ thuật sử dụng ngôn từ và giọng điệu giản dị, trong sáng,
Trang 18dễ hiểu Đặc biệt ông rất thành công khi sử dụng thủ pháp trào phúng, gây cười trong truyện ngắn của mình Truyện ngắn của ông được viết dưới nhiều cung bậc
tình cảm Có truyện ông viết ra để gây căm hờn (Sáng, chị phu mỏ), để làm kinh tởm (Gói đồ nữ trang), để gợi lòng thương (Anh Sẩm; Cái vốn để sinh nhai), hoặc
để cười (Samandji) Có những truyện là tấn hài kịch (Ai khôn; Đàn bà là giống yếu; Một tấm gương sáng), bi kịch (Bộ ba Chiếc quan tài), hoặc bi hài lẫn lộn (Thằng ăn
cắp; Hai thằng khốn nạn) Có những truyện xây dựng trên nguyên tắc tượng trưng
(Đào kép mới), lại có những truyện thực ra là sự nhạo lại cái gì xảy ra trong thực tế
(Cụ Chánh Bá mất giày; Báo hiếu) Đề tài thường xuyên thu hút nhà văn là quan hệ
giữa kẻ áp bức và người bị áp bức Phanh phui bất công xã hội là lập trường tư tưởng duy nhất ông chấp nhận
Nhà văn sống hòa mình vào cuộc sống, lấy đề tài sáng tác từ giữa cuộc sống
lố lăng thời bấy giờ, nên tác phẩm của ông thường nhằm nâng cao năng lực nhận thức và khám phá các hiện tượng xã hội phức tạp Xã hội phong kiến nửa thực dân
ở Việt Nam trước 1945 đầy rẫy sự lừa bịp và khôi hài, thế nhưng kẻ thống trị luôn tìm cách để che dấu bộ mặt thật của chúng Cần phải phanh phui những mâu thuẫn
nội tại ấy Một loạt các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan (Đào kép mới; Tinh
thần thể dục; Chính sách thân dân…) đã đáp ứng được yêu cầu đó Những truyện
ngắn này đã vạch ra những mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, giữa nội dung
và hình thức để bật lên tiếng cười đả kích
Cách mạng tháng Tám thành công, khi một loạt các nhà văn phải trăn trở “lột
xác”, “nhận đường” thì Nguyễn Công Hoan tuyệt nhiên không có hiện tượng đó
Bạn đọc có thể đọc có thể đọc một truyện ngắn trong “Kiếp hồng nhan” viết năm
1920 với truyện “Chiếc xe lam” một trong những sáng tác sau cùng khi nhà văn vào
Sài Gòn giải phóng năm 1975 không hề thấy một khoảng cách thời gian Nguyễn Công Hoan không lúc nào cũ, đó là bí quyết của ông Bí quyết ấy bắt nguồn từ chắt lọc ý nghĩ, tư tưởng đời sống xã hội, từ việc sáng tác bằng tiếng nói hàng ngày ở xung quanh của nhà văn Vì vậy, ở Nguyễn Công Hoan tả chân, tả thực kia và Nguyễn Công Hoan hiện thực sau này chỉ là rút kinh nghiệm hay thiếu sót bổ sung
Trang 19Nguyễn Công Hoan chịu ảnh hưởng nền giáo dục phong kiến của người bác, văn học dân gian qua giọng kể của bà, đặc biệt là những truyện tiếu lâm Ông cũng chịu ảnh hưởng nhiều của văn học Pháp, nhất là trong những năm học ở trường Sư phạm, của văn Tản Đà, thơ Tú Xương… và báo chí đương thời Do vậy, truyện ngắn của ông có nhiều nét gần với gần với truyện cười dân gian nhưng văn lại khá mới Với bản tính thích khôi hài, lại sống trong thời buổi nhố nhăng nên truyện của ông thường là những truyện hoạt kê – truyện bật lên những chuỗi cười rơi nước mắt
Nhà nghiên cứu Xô Viết Niculin đã viết:“Chính trong loại truyện ngắn trào phúng
đó, thiên tài xuất sắc của nhà văn được nảy nở hết sức mạnh mẽ”[37/78]
Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, Nguyễn Công Hoan đã đóng góp cho nền văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm vừa đồ sộ, vừa đạt đến một nghệ thuật khá điêu luyện
Đến nay, nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết của ông đã được chuyển thể sang
sân khấu (Tắt lửa lòng), điện ảnh (Lá ngọc cành vàng) và được dịch ra nhiều thứ
tiếng trên thế giới như: Nga, Bungari, Anbani, Đức, Cu ba, Ấn Độ, Pháp, Nhật Bản…vinh dự lớn nhất mà nhà văn đạt được là năm 1996 ông được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1) Ở trong nước, theo thống kê năm 1996 tổng số sách của ông đã xuất bản là 33 cuốn, trong đó có những cuốn 4 tập Ông là một trong những nhà văn Việt Nam có tác phẩm in ở Nhà xuất bản Văn
học nhiều nhất, tổng số đầu sách được in lên tới 25 cuốn Tác phẩm “Bước đường
cùng” của ông được xếp vào hàng những tác phẩm được in nhiều nhất (10 lần) với
con số kỷ lục trong một lần xuất bản (lên tới 20.100 bản năm 1962) Năm 1997 chuẩn bị 95 năm ngày sinh của nhà văn (1903 – 1998), Nhà xuất bản Văn nghệ trẻ
thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời 9 cuốn tiểu thuyết với tên “Tủ sách Nguyễn
Công Hoan” Có nhiều công trình khoa học ở trong nước và quốc tế nghiên cứu về
ông và tác phẩm của ông Nguyễn Công Hoan thực sự trở thành một cây đại thụ trong nền văn học Việt Nam hiện đại
1.1.2 Truyền thống gia đình
Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang,
Trang 20tỉnh Hưng Yên) Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học thất thế Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này Ông có ba người em trai đều tham gia hoạt động cách mạng và giữ cương vị quan trọng là Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương) Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyễn Công Bồng nguyên Phó Tổng Giám đốc Nha Công an và Nguyễn Công Mỹ nguyên Tổng Giám đốc đầu tiên của Nha bình dân học vụ
Truyền thống gia đình với Nguyễn Công Hoan có sự ảnh hưởng sâu sắc tới
sự nghiệp văn chương của nhà văn sau này Có thể nói, tuổi ấu thơ của ông giống
như “kho tài liệu” quý giá cho ông khai thác dần dần về sau “Nếu tờ giấy trắng
được nhuộm màu nào đầu tiên thì cái màu ấy là nền, nó rõ mãi và bền mãi Thì trong đời người ta những điều mắt thấy, tai nghe được và nhớ lâu nhất, tạo cho con người một nền tảng về tư tưởng đối với sự việc, một khả năng làm cái gì sau này”
[25/53] Cách nói đầy hình ảnh chứng minh cho con đường sáng tác của nhà văn, đặc biệt trong những giai đoạn đầu Đó là ảnh hưởng hoàn cảnh gia đình và hoàn cảnh xã hội thời đại Nguyễn Công Hoan
Sinh ra và trưởng thành trong gia đình nhà quan, ông tự hào “về một dòng
dõi mà người ta gọi là thế phiệt Từ xưa đến nay, vào đời nào cũng có người đỗ đại khoa và làm quan to” Lên bốn tuổi, Nguyễn Công Hoan đến ở với bác là Nguyễn
Đạo Quán, đỗ phó bảng và làm đến chức tri phủ Sáu tuổi học chữ Nho và mười tuổi xoay sang học chữ Pháp
Niềm tự hào về dòng dõi phần nào sinh ra “tính tự phụ, tự cao” ở cậu bé
Hoan ngay từ hồi cắp sách đến trường Vốn thông minh, tinh nghịch, lại pha chút tự
cao về truyền thống gia đình, Nguyễn Công Hoan “trở nên một thằng học trò lười
biếng đọc sách, khinh thế ngạo vật, nhưng lại là người biết tự hào dân tộc, biết thù ghét những gì làm tổn thương đến hào khí dân tộc”
Khi thời thế đổi thay, Nho học không còn hợp thời, gia đình Nguyễn Công Hoan rơi vào cảnh lẹt đẹt, nghèo túng Người bất mãn với chế độ mới nhiều nhất là cha ông - Nguyễn Đạo Khang Đêm nào cha cũng kể chuyện quan Ta, quan Tây,
Trang 21chuyện về những ông huyện…Câu chuyện kể thấm đẫm tâm trạng của người cha lỗi thời, bị lép vế, muốn trút hết nỗi hằn học đối với thời cuộc đã khắc vào thói quen
của Nguyễn Công Hoan một nếp “thích biết chuyện quan trường, thích biết chuyện
quanh công đường và trong tư thất” Vì thế ngay từ thuở thiếu thời, trong lập
trường của Nguyễn Công Hoan đã biết “chia ranh giới giữa cái gì là đáng trọng và
cái gì đáng khinh, giữa người đáng thương và kẻ đáng ghét”
Mặt khác, sống trong gia đình quan tri phủ, hàng ngày cậu bé Hoan được
chứng kiến những cảnh trái tai gai mắt “Tôi ngắm anh nho bóp nặn người dân khờ
khạo Tôi lắng nghe thầy lục sự xúc xiểm, dọa nạt người chất phác đến đưa đơn kiện Tôi nhìn thấy nét mặt họ thay đổi ra sao khi họ vừa được tiền của người dân nghèo khó Và tôi còn được nghe thấy sau buổi hầu, họ chế nhạo, chửi sau lưng những người ngốc nghếch tin mà mất tiền cho họ” Quãng đời đó có ảnh hưởng
không nhỏ đến lập trường sáng tác sau này của nhà văn Ông lắng nghe để mà hiểu dần và từ đó biết suy nghĩ, trăn trở trước số phận của những con người thấp cổ bé
họng, biết “Tây là thế nào, quan ta, tổng lý, lính tráng đối với dân đen ra sao?”
Từ hiện thực của cuộc sống gia đình đến những câu chuyện ngoài cổng chòi
và trong sân công đường đã tác động vào thế giới quan nhà văn tạo ra một cái nhìn
bi quan Trong “Đời viết văn của tôi” Nguyễn Công Hoan tổng kết; “Tóm lại cuộc
đời của tôi, sống dưới chế độ phong kiến và đế quốc, với những ảnh hưởng giáo dục của truyền thống gia đình, của nhà trường, của xã hội, với những điều mắt thấy, tai nghe của tôi trong quá trình làm công chức của thực dân, với những phen may mắn,
lo âu, đã tạo cho tôi thành một con người bi quan đối với thời cục, hằn học đối với chế độ, hoài nghi đối với nhân tâm, sinh ra cho tôi cái tính nghịch ngợm, ranh mãnh, khinh thế ngạo vật, làm cho tôi thói quen hay đùa bỡn, hay chế nhạo chua chát” [25/99] Ông đã “ dùng óc để học trong cuốn thiên nhiên xã hội Việt Nam”
viết lên cảnh huống, tâm trạng của những con người sống trong xã hội ấy chứ không phải ở một thế giới nào xa xôi
Cùng với vốn sống được tích lũy trong quãng đời từ 10 đến 20 tuổi, lòng yêu văn học có ở Nguyễn Công Hoan ngay từ hồi còn “nói ngọng” Khi còn nhỏ, ông thuộc những phương ngôn, tục ngữ,ca dao do bà nội truyền lại Lúc đến trường, qua
Trang 22lời giảng của thầy, ông hứng thú đặc biệt với thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Khuyến, trần Tế Xương Ông nói: “được nhập tâm những văn thơ hay, tôi
chịu ảnh hưởng của các bậc tiền nhân không nhỏ”
Những năm đầu thế kỉ XX, khi báo chí xuất hiện, Nguyễn Công Hoan chăm chú theo dõi những mẩu văn, những bài dịch từ sách Hán, sách Pháp, đặc biệt quan
tâm đến mục “Từ phú thi ca”, “Đoản thiên tiểu thuyết” bởi đó là văn sáng tác…
Lòng yêu gia đình, yêu văn học đã giúp ông nhìn cuộc đời không khô khan, trừu
tượng mà là cái nhìn của một tâm hồn thi sĩ “nghĩa là không nhìn bằng đôi mắt bình
thường những việc xảy ra một cách thẳng đuỗn, khô khan, mộc mạc, thật thà mà nhìn bằng óc, bằng tim, vào những khía cạnh tiếng nói, trông thấy cả linh hồn sự việc”
Vốn thông minh, tinh nghịch lại có hiếu hài hước của một tâm hồn yêu văn chương cộng với thái độ bi quan của người bị coi là lỗi thời, tạo cho một cậu bé một
“thói quen hay đùa bỡn, hay chế nhạo chua chát”.Thuở thiếu thời Nguyễn Công Hoan đã say sưa với những màn kịch tự biên, tự diễn Ban đầu chỉ là “những câu nói
nhảm để chế giễu ông thầy bói, thầy cúng phỏng theo truyện tiếu lâm nhằm mục đích gây cười sặc sụa chứ không có nghĩa lí gì”, nhưng về sau, ông “tìm những thói xấu của những người xung quanh để làm đề tài, dựng nên kịch để chế nhạo” [25/66]
Có thể nói, tuổi ấu thơ của Nguyễn Công Hoan đã ấn định một điểm nhìn nghệ thuật, chi phối hầu hết quá trình sáng tác của nhà văn cả trước và sau cách mạng
1.2 Vùng văn hóa Sơn Nam Hạ
Ngày nay của trấn Sơn Nam là các tỉnh Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình và một phần các tỉnh Hưng Yên, Hà Nội (5 huyện phía nam)
1.2.2 Đặc điểm về văn hóa xã hội
Trang 23Trấn Sơn Nam là vùng đất phía Nam Thăng Long, từ thời Lê Sơ đến thời nhà Nguyễn, bao gồm Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình và một phần Hưng Yên, Hà Nội Đó là miền đất của đồng bằng lúa nước chỉ thấp thoáng núi đá vôi ở vùng Sơn Nam Thượng, còn vùng Sơn Nam Hạ hầu như không có núi Văn hóa Sơn Nam cùng với văn hóa Kinh Bắc, văn hóa Xứ Đoài hình thành bản sắc văn hóa Việt truyền thống
Trước hết, có thể nói trấn Sơn Nam là vùng đất phát tích đế vương Những anh hùng để lại dấu ấn lịch sử tiêu biểu nhất trên đất Sơn Nam là Đinh Bộ Lĩnh, Lý Công Uẩn và Trần Hưng Đạo
Trấn Sơn Nam còn là vùng đất văn chương, chữ nghĩa Nhân kiệt Sơn Nam còn phải kể đến những tên tuổi lừng lẫy thời xưa như Lương Thế Vinh, Nguyễn Hiền, Lê Quý Đôn, Ngô Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… vang vọng thời nay như Trần Huy Liệu, Nam Cao, Nguyễn Bính, Nguyễn Công Hoan… Đó không chỉ là đất của đế vương mà còn là đất của chữ nghĩa, văn chương Người có con đường khoa bảng hanh thông nhất nước Việt cũng ở trấn Sơn Nam Đó chính là Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) Thơ Nguyễn Khuyến diễn đạt được hòa khí vời vợi của đất trời, đặc tả được sự mong manh, cô đơn của tâm hồn con người trong không gian chật hẹp, hai mặt của cuộc đời Thơ ông thanh thoát ngôn từ mà trĩu nặng tâm tư, hình tượng gần gũi mà sang trọng, nhạc điệu bay bổng vượt qua niêm luật hà khắc của thơ Đường
Trấn Sơn Nam, bức thủy mặc hữu tình Vùng đất Sơn Nam như bức thủy mặc bát ngát châu thổ đồng bằng, chấm phá mấy hòn độc sơn vừa đủ tạo dáng non nước hữu tình Sơn Nam ôm trọn hạ lưu sông Hồng, sông Trà, sông Đáy… những dòng sông nặng đỏ phù sa, hẹn hò cùng biển cả, sinh nở thêm làng quê, bờ bãi Văn hóa Sơn Nam không có bề dày thời gian như Xứ Đoài, Kinh Bắc nhưng thừa kế và thăng hoa được tất cả tinh hoa, tâm linh hồn Việt Sơn Nam là đất của hát chèo, hát xẩm và rối nước Sơn Nam có những kiến trúc đáng kể như tháp Phổ Minh, chùa Keo, cố đô Hoa Lư, nhà thờ đá Kim Sơn… Sơn Nam có những làng nghề cổ nổi danh thế giới như nghề bạc Đồng Xâm, nghề đúc đồng Lý Nhân… Cảnh quan Sơn Nam không nhiều nhưng lại có những chốn du ngoạn thuộc hàng Nam thiên đệ nhất
Trang 24như Hương Tích, Non Nước, Cúc Phương Non nước hữu tình ấy đương nhiên cũng
là nơi nương náu, giao duyên của những cuộc tình thơ mộng
Nguyễn Công Hoan được sinh thành trong gia đình trâm anh thế phiệt, cộng với truyền thống văn hóa quê hương, một vùng đất đã hội tụ được những truyền thống vô cùng quý báu của vùng đất địa linh nhân kiệt Có lẽ những đặc điểm ấy đã góp phần không nhỏ hình thành một phong cách sáng tác văn học mang đậm phong cách Nguyễn Công Hoan
Hơn nữa, Nguyễn Công Hoan sinh ra và trưởng thành trong hoàn cảnh đất nước chịu cảnh nô lệ, xã hội thực dân nửa phong kiến Chứng kiến những cảnh đời trướng tai gai mắt, Nguyễn Công Hoan đã dành hết bút lực của mình để vạch trần những thói hư tật xấu của xã hội đương thời, phát huy truyền thống yêu nước thương dân của các bậc tiền nhân như Nguyễn Khuyến, Tú Xương…
1.2.3 Một số tác giả văn học tiêu biểu trấn Sơn Nam có ảnh hưởng đến phong cách sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Công Hoan
Thế kỉ XIX, trấn Sơn Nam xuất hiện khá nhiều nhà thơ tên tuổi, để lại một dấu ấn quan trong trong nền văn học nước nhà Tiêu biểu như: Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Kép Trà…
Nguyễn Khuyến , người mở đầu cho dòng văn học trào phúng và Trần Tế Xương là người đưa dòng văn học này đến đỉnh cao Sự tiếp nối mạch nguồn từ Nguyễn Khuyến đến Tú Xương của dòng văn học trào phúng là con đường của sự rạn vỡ từ lí tưởng thẩm mĩ Nho giáo, đến sự khởi đầu của mĩ học hiện thực chủ nghĩa Có thể khẳng định rằng Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương là hai nhà thơ có hứng thú đặc biệt với thơ trào phúng Họ là người đưa thơ trào phúng phát triển thành một dòng nối tiếp không dứt, mở ra giai đoạn mới trong tiến trình phát triển của nền văn học nước nhà, chuyển từ trung đại sang cận hiện đại, cầu nối đi đến văn học hiện đại
1.2.3.1 Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến sinh năm Ất Mùi (1835) ở Hoàng Xá, huyện Ý Yên, Nam Định nhưng ông lớn lên và sống chủ yếu ở làng Yên Đổ, huyện Bình Lục tỉnh Hà
Trang 25Nam Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo nhưng có truyền thống học hành thi cử Ông nội Nguyễn Khuyến là Nguyễn Tông Tích đỗ nho sinh, cha là Nguyễn Tông Khải đỗ liền ba khoa tú tài, nhưng trượt cử nhân Từ nhỏ Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng là người chăm chỉ học hành giỏi giang Năm mười bảy tuổi ông đi thi Hương với cha nhưng không đậu, sau đó cha mất vì nhà nghèo nên ông đã phải thôi học để đi dạy thuê kiếm tiền nuôi mẹ Lúc bấy giờ có ông Nghè là
Vũ Văn Lý, người làng Vĩnh Trụ, huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam thấy ông học giỏi
mà phải bỏ dở giữa chừng nên đã đem về nuôi và cho ăn học tiếp Năm Giáp Tý (1864), Nguyễn Khuyến đi thi Hương đậu giải nguyên trường thi Nam Định Năm sau Nguyễn Khuyến đi thi Hội không đỗ, ông ở lại Huế học trường Quốc Tử Giám để chờ kỳ thi khác Năm Tân Mùi (1871), Nguyễn Khuyến thi hội lần thứ hai, đỗ Hội Nguyên sau đó vào thi đình, đỗ Đình Nguyên Như thế là cả ba lần thi Hương, thi Hội, thi Đình ông đều đỗ đầu nên người ta gọi ông là Tam nguyên Yên Đổ
Nguyễn Khuyến, một nhà Nho, người ẩn dật cuối cùng trong văn học Nho giáo Vốn xuất thân từ dòng dõi Nho gia, lại có hơn ba mươi năm dùi mài kinh sử, từng được bổ nhiệm vị trí tổng đốc Sơn- Hưng- Tuyên, khoảng trên dưới mười năm làm quan hiển hách, đủ đưa ông đến đỉnh cao danh vọng Vậy mà, ông Tam Nguyên hay chữ, một nhà nho hiển đạt lại viết khá nhiều thơ trào phúng, trong khi bậc đại nho luôn ghét kẻ xảo ngôn, ghét cạnh khóe, châm chọc Quá trình lội ngược dòng của cụ Tam Nguyên Yên Đổ được lí giải trong sự vận động nội tại mang tính quy luật của ý thức hệ tư tưởng, của nguyên tắc phản ánh thực tại và sâu xa hơn là từ sự vận động của văn học nhà nho đến văn học hiện thực chủ nghĩa
Bất mãn với chế độ thực dân nửa phong kiến, ông cáo quan về với cảnh điền viên, cư sĩ, Nguyễn Khuyến không đi theo con đường ẩn dật của nhà nho trước thế kỉ XVIII mà rẽ sang ngả đường khác Thời đại của Nguyễn Khuyến khác với thời đại của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, khiến ông không thể yên tâm làm một Đào Tiềm Cuộc xâm lược của chủ nghĩa tư bản Pháp phá vỡ sự yên ổn không chỉ ở thành thị mà lan rộng ra cả những miền quê nghèo hẻo lánh Mảnh đất nghèo Bình Lục, nơi Vườn Bùi chốn cũ không thể giữ được nét bình yên trước làn sóng của chủ nghĩa tư bản Thực tế khiến Nguyễn Khuyến không thể yên tâm làm ẩn sĩ
Trang 26Ông ở ẩn trong trạng thái không bình thường, “ông bực bội nói cái thực và trào
phúng thành ra một nhà thơ của cuộc sống chứ không phải của đạo lí xuất xứ Nguyễn Khuyến là nhà nho, cố sống như thánh hiền Ông đã đưa văn chương nhà nho sang một nẻo khác” (Trần Đình Hượu)
Thơ Nguyễn Khuyến gồm hai mảng trữ tình và trào phúng, gắn chặt với nhau, phản ánh hai con người trong một Nguyễn Khuyến, một nhà nho chính thống
và một nhà nho phi chính thống; một truyền thống, một cách tân Mạch thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến cơ bản vẫn tiếp tục mạch văn chương cảm thán thời thế nhưng đã phá vỡ quy phạm Nguyễn Khuyến đã đưa thơ văn đến với cái đời thường,
cái hàng ngày, và trở thành “nhà thơ nông thôn số một”, “nhà thơ của làng cảnh
Việt nam” (Xuân Diệu)
Trở về đời sống ẩn sĩ không chỉ là cách bảo về lí tưởng, cách hành đạo như nhiều nhà nho xưa, với Nguyễn Khuyến nó mang một ý nghĩa mới Đó là “từ bỏ tư thế của một nhà nho để làm người dân thường” (Trần Nho Thìn) Từ đây Nguyễn Khuyến vừa chính thống, vừa phi chính thống
Điểm cách tân của nhà nho Nguyễn Khuyến còn ở chỗ, bên cạnh nỗi day dứt của kẻ lội ngược dòng:
“Độc đương hàn tuế thùy vi ngâu Bất lạc phương tâm chân khả ái”
(Chọi rét một thân ai là bạn – Chẳng lạt lòng son thật đáng thương)
Ở Nguyễn Khuyến còn có một nỗi buồn mang tính thời đại mà các nhà nho
xưa chưa từng trải nghiệm “lần đầu tiên trong lịch sử nhà nho tự thú về sự vô dụng
của mẫu người mà mình đại diện… nhà thơ tự trách vấn, tự xỉ vả, thậm chí tự mạt sát Ông có ý thức về sự vô dụng, bất lực của kiến thức, của học vấn Nho gia trước các nhiệm vụ lịch sử đang đặt ra rất khẩn thiết”[51/222]
Sách vở ích gì cho buổi ấy
Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già”
(Ngày xuân dặn các con) Dám thẳng thắn nhìn lại vai trò kẻ sĩ trước thế chòng chành của lịch sử, Nguyễn Khuyến nhận ra tính chất vô dụng của cái mình học và theo đuổi Ông đem
Trang 27ra giễu cợt, mạt sát, tự coi mình là ông phỗng đá, điều mà nhà nho xưa chẳng ai dám nói
Có thể nói, đến Nguyễn Khuyến rào cản giữa nhà nho và người nông dân cơ
hồ bị phá vỡ Bức tranh xã hội trong thơ Nguyễn Khuyến mang nhiều mầu sắc, phản ánh cuộc sống, sinh hoạt của người dân vùng chiêm trũng Bình Lục nói riêng, nông thôn đồng bằng Bắc Bộ nói chung Và nụ cười trong thơ Nguyễn Khuyến
cũng thật hóm hỉnh “Trong Nguyễn Khuyến có một Tam Nguyên, một cụ già nông
thôn và một chàng thanh niên nghịch ngợm…cả người thanh niên nghịch ngợm, ông già nông thôn, ông Tam Nguyên hay chữ liên kết lại và theo sự dìu dắt của ông Tam Nguyên hay chữ mới thành Nguyễn Khuyến” (Trần Đình Hượu) Ba con người
trong một Nguyễn Khuyến đã tạo nên đặc sắc hiếm có ở Tam Nguyên Yên Đổ
1.2.3.2 Trần Tế Xương
Trần Tế Xương sinh ra vào ngày 5- 9- 1870 (tức 10- 8- AL) tại số nhà 247 phố Hàng Nâu thành phố Nam Định với tên húy là Trần Duy Uyên Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, đổi thành họ Trần là bởi vào đời Nhà Trần lập công
lớn được phong quốc tính (vua cho đổi theo họ nhà vua)
Ông đi học sớm và cũng sớm nổi tiếng thông minh Cuộc đời ngắn ngủi có
37 năm của ông đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương nhất của đất nước Trước lúc ông ra đời 3 năm thì 6 tỉnh Nam kỳ mất trọn cho Pháp Tú Xương lên 3 thì Bắc Kỳ trong đó có Nam Định bị tấn công lần thứ nhất Tú Xương 12 tuổi, Bắc
Kỳ, Nam Định bị tấn công lần thứ 2 và mất nốt Hiệp ước Harmand 1883 rồi hiệp ước Patenôtre 1884 thừa nhận quyền thống trị của Pháp trên đất Việt Nam các phong trào kháng chiến chống Pháp diễn ra sôi nổi nhưng lần lượt thất bại Tú Xương sinh ra và lớn lên trong bối cảnh sục sôi và bi thương đó
Tú Xương lấy vợ năm 16 tuổi, vợ ông là bà Phạm Thị Mẫn Ông đi thi từ lúc
17 tuổi, đó là khoa Bính Tuất (1886) Nói đến tài làm thơ của Tú Xương, nhiều người đã đặc biệt chú ý đến sự kết hợp hài hòa giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng
và trữ tình, trong đó trữ tình là gốc Với Tú Xương, vẫn chưa thấy chắc chắn có bài thơ chữ Hán nào, chỉ thấy thơ Nôm viết bằng các thể loại cổ điển: thơ luật Đường: thất ngôn bát cú, tứ tuyệt; phú; văn tế; câu đối; hát nói; lục bát Ở thể loại nào Tú
Trang 28Xương cũng tỏ ra là một nghệ sĩ bậc thầy Nguyễn Công Hoan suy tôn Tú Xương là bậc thần thơ thánh chữ
Nếu Nguyễn Khuyến được coi là mở đầu dòng văn học trào phúng, người đầu tiên mở ra con đường phát triển mới trong văn học Việt Nam, thì Trần Tế Xương đưa văn học trào phúng lên đến đỉnh cao, mở ra bước tiếp cận với chủ nghĩa hiện thực phê phán 1930 – 1945
Trần Tế Xương nhập cuộc khi xã hội đã có sự giao tranh giữa cái cũ và cái mới, khi Nam Định đang chuyển dần từ một vùng quê nghèo thành trung tâm khai hóa của thực dân
Khác với Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương thuộc tầng lớp nhà nho đã nhuốm lối sống tư sản đậm nét Ông lận đận cả đời vì cái nghiệp công danh để rồi không ít khi ông sống trong trạng thái ngơ ngơ, ngẩn ngẩn:
“Chẳng phải quan, chẳng phải dân Ngơ ngơ ngẩn ngẩn hóa ra đần”
Trần Tế Xương đứng bên lề của lớp nhà nho hiển đạt Ông khao khát bước trên con đường đã vạch sẵn: học hành, thi cử, đỗ đạt, làm quan Cả cuộc đời lận đận với trường ốc Cả cuộc đời lận đận lều chõng đi thi Rốt cuộc ông đề thất bại Ba mươi bảy năm gắn bó với cuộc đời thì có hơn một nửa lều chõng đi thi Bảy lần thi đều hỏng cả Khoa thi cuối cùng trong cuộc đời Tú Xương là vào năm 1906 (trước khi mất một năm) Cái bằng cử nhân tối thiểu của một nhà nho để có thể thi thố tài năng với thời cuộc tuột khỏi tay ông Ông rên xiết Ông chửi bới chế độ khoa cử Ông lên án chế độ Nho học và nhận ra sự vô học của nền học vấn ấy
Con người Trần Tế Xương đầy mâu thuẫn Ông lên án kịch liệt chế độ khoa
cử nhưng vẫn một lòng một dạ “trung thành” với con đường của nhà nho thuở trước Thực tế chứng minh, con đường nhà nho vạch sẵn là con đường duy nhất buộc lớp thanh niên thủa trước phải phấn đấu Trần Tế Xương mang tâm lí trên cũng là điều
Trang 29tính mâu thuẫn và phức tạp đã đóng dấu ấn rõ rệt lên con người và thơ văn Tú Xương Là nghệ sỹ mẫn cảm với cái mới, đồng thời cũng là nhà nho, con người và thơ văn ông giống như bản lề khép mở giữa truyền thống và hiện đại, giữa cũ và mới Tú Xương đã đưa thơ văn trào phúng lên đỉnh cao, mở ra bước tiếp cận với chủ nghĩa hiện thực
Trần Tế Xương phủ định hoàn toàn địa vị nhà nho của mình, của giai cấp mình Ông lấy mình làm đối tượng trào phúng, đồng nhất tác giả với công chúng bằng cách đẩy mình vào phía khách thể Yếu tố phi ngã không được giữ lại trong thơ Tú Xương Ông tạo ra cái ta đa sắc diện, cái ta ngông nghênh, “bán trời không văn tự” Ông phơi bày bản chất xấu xa của thời đại không cần “giữ miệng” Thẳng thắn, bộc trực là bản chất con người và thơ văn Trần Tế Xương Điều này khác hẳn với nhà nho Nguyễn Khuyến Nếu cụ Tam Nguyên xuất phát từ môi trường nông thôn, từ quan niệm Nho gia, Tú Xương lại lại xuất phát từ môi trường của xã hội thị dân đang trong chiều hướng tư sản hóa Mặt khác, ông không bị ràng buộc bởi chốn quyền môn (Chốn quyền môn luồn cúi mặc ai ai, Ngoài cương tỏa thảnh thơi ai đã biết) nên lời ăn tiếng nói của Tú Xương khác hẳn Nguyễn Khuyến Kín đáo, thâm trầm và sâu lắng là đặc điểm nổi bật trong thơ trào phúng của cụ Tam Nguyên Yên
Đổ Thẳng, sắc là phong cách trào phúng của Tú Xương
Trần Tế Xương đưa thơ văn trào phúng lên đỉnh cao và góp phần không nhỏ vào quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam
Thơ văn Trần Tế Xương góp phần tạo nên bước phát triển của văn học Việt Nam hiện đại Ông là người hé mở cánh cửa để bước vào chủ nghĩa hiện thực phê phán những năm 1930- 1945
Yếu tố thời đại quy định điểm dừng của Trần Tế Xương Ông lấy lập trường của lẽ phải thông thường làm điểm tựa Là người phản ánh xã hội một cách chân thực, song vì chưa được trang bị tri thức khoa học nên khả năng khái quát của Trần
Tế Xương khá hạn chế Mặt khác, vấn đề thể loại thơ cũng phần nào hạn chế khả năng phản ánh trong sáng tác của tú Xương
Với Tú Xương, còn là hiện tượng hiếm trong lịch sử tác gia Việt Nam Bức tranh hiện thực trong thơ Tú Xương là một bức tranh xám xịt, dường như chỉ có rác
Trang 30rưởi, đau buồn, vì hiện thực của xã hội thực dân nửa phong kiến là như vậy Cảm hứng trong thơ Tú Xương hầu như không hướng nhiều về phía phản ánh những cái tốt lành, những cái thuộc về sức sống, về bản lĩnh của dân tộc, của nhân dân, dù có bị
ẩn kín xuống nhưng vẫn không bao giờ mai một trong hoàn cảnh lịch sử tang tóc đó
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Sinh ra và lớn lên trong gia đình nhà quan, ông tự hào “về một dòng dõi mà
người ta gọi là thế phiệt.Từ xưa đến nay, vào đời nào cũng có người đỗ đại khoa và làm quan to” Tuổi ấu thơ, ông thuộc nhiều tục ngữ, ca dao do bà nội truyền lại Khi
đến trường qua lời giảng của thầy, ông hứng thú đặc biệt với thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyễn, Trần Tế Xương… Hơn nữa vùng đất trấn Sơn Nam, một vùng đồng bằng rộng lớn, nơi có một truyền thống văn hóa lâu đời, nơi có nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Khuyến, Tú Xương
Nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của ông , chúng ta thấy truyền thống ấy đã có một tác động không nhỏ trong con đường lập thân và lập nghiệp của Nguyễn Công Hoan Khi đã có nhận thức sâu sác về cuộc sống, Nguyễn Công Hoan không chấp nhận một cuộc sống bình dị của một ông giáo làng an phận với cuộc đời Bằng sự
nỗ lực vươn lên Nguyễn Công Hoan đã xác định con đường đi cho bản thân mình bằng con đường văn nghiệp
Và từ hiện thực cuộc sống gia đình đến những câu chuyện ngoài cổng chòi
và trong sân công đường tác động vào thế giới quan nhà văn, đã góp phần tạo nên phong cách văn chương độc đáo Nguyễn Công Hoan mang đậm dấu ấn văn hóa trấn Sơn Nam
Trang 31Chương 2
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HỌC NHÀ NHO VÀ VĂN HỌC TÂY ÂU TRONG SÁNG TÁC CỦA NGUYỄN CÔNG HOAN TRƯỚC CÁCH MẠNG
THÁNG 8 – 1945 2.1 Văn hóa truyền thống và văn chương nhà Nho
2.1.1 Văn học dân gian
Với bất kỳ một nền văn học nào, một quốc gia, dân tộc nào, văn học dân gian cũng là một công trình sáng tạo để đời Những sáng tạo đó không chỉ có giá trị vùng miền, ý nghĩa địa phương, khu vực, quốc gia Bởi vậy, văn học dân gian có một tầm ảnh hưởng lớn đến quan điểm thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ được tắm mình trong suối nguồn trong trẻo của văn học dân gian
Với đội ngũ sáng tác chủ yếu là nhân dân lao động Cung bậc đầu tiên của tiếng cười hài hước là những câu chuyện cười thuần túy phản ánh tinh thần lạc quan của nhân dân Đó là tiếng cười sảng khoái, vô tư sau một ngày lao động vất vả Cái cười trong nhiều trường hợp mang tính chất sinh lí hơn là tâm lí Cuộc sống sau lũy tre làng tưởng chừng êm ả, vậy mà đâu đó xuất hiện tượng tiếng cười đả kích, châm biếm, ném vào bọn cường hào ác bá Trong xã hội phong kiến, người nông dân là
kẻ yếu thế Cách phản kháng duy nhất của họ là tiếng cười Tiếng cười thành vũ khí
có sức công phá lớn
Tiếng cười trào phúng trong văn học dân gian xuất hiện rải rác ở các thể loại,
từ ca dao, hò, vè, các vai hề trong chèo cho đến những câu chuyện tiếu lâm, truyện cười, cao hơn là truyện trạng
Vũ khí cười luôn chĩa vào thế giới bạo lực, bất bình đẳng trong xã hội, chĩa vào những điều kiện sống còn không xứng đáng với con người
Cái cười trong văn học dân gian là cái cười nông dân, khỏe khoắn, lạc quan Cái cười của những con người bị hạn chế tầm mắt, tuy không thật sâu cay như các nhà Nho, nhưng giá trị của văn học dân gian vẫn được khẳng định
Bất cứ một nền văn học nào cũng chứa đựng một nội lực phát triển Nền văn học viết nói chung và văn học trào phúng nói riêng đã tiếp thu di sản trong mạch nguồn truyền thống để làm nên diện mạo riêng
Trang 322.1.2 Từ cái nhìn của nhà Nho trong văn học Trung đại đến cái nhìn của nhà văn, nhà thơ trào phúng cuối thế kỉ XIX trong tiến trình văn học Việt Nam
2.1.2.1 Vài nét về cái nhìn của nhà Nho trong văn học Trung đại Việt Nam
Gần mười thế kỉ tồn tại của văn học trung đại, Nho giáo giữ vai trò định hướng phát triển, chi phối quan niệm văn học, lí tưởng thẩm mĩ của cả một giai đoạn khá dài trong lịch sử văn học Việt Nam nói riêng và văn học khu vực Đông Á nói chung Lực lượng sáng tác văn học nhà nho là các nho sĩ, người mang trong mình trách nhiệm khai tâm, dẫn đạo cho đám đông quần chúng Họ lấy văn chương
để bảo vệ đạo lí cương thường Vì thế, hơi thở của văn học nhà nho là hơi thở của lòng nhân nghĩa, của chuẩn mực đạo đức xã hội Sức mạnh giáo hóa trở thành nhịp đập của cả giai đoạn dài trong văn học Việt Nam trung đại
Nho giáo không hoàn toàn là một tôn giáo Vì nhà nho có vị trí trung gian đặc biệt giữa chính quyền và nhân dân, nên tùy theo từng tình huống, hoàn cảnh, tùy theo thân phận cá nhân của từng người mà văn chương của họ mà có thể “tôn quân, thân thượng”, thể hiện sự trung thành vô điều kiện với vương chế và giáo lí, nhưng lại có thể là lời cảm thán chua cay, sự bi phẫn thống thiết, hay thậm chí sự tố cáo gay gắt
Với bản chất “ôn nhu, đôn hậu” trong ý thức sống và trước thuật, nhà nho
luôn chủ trương một lối sống ôn hòa Họ viết văn trước hết là để dành cho mình , để bộc lộ tâm sự trước thời thế, sau là để uốn nắn lòng người và di dưỡng tính tình
Thơ là để bộc lộ Tâm, Chí, Đạo “Vì là để bộc lộ tâm chí, thơ trở thành bộ phận lớn
nhất, trữ tình trở thành nét chủ đạo trong văn học Nhưng trữ tình không phải là bộc lộ cái tôi cảm xúc mà bộc bạch cái ta đạo lí, vì nhằm mục đích giáo hóa, văn học có chức năng truyền đạt chứ không có chức năng phát hiện, phản ánh, nhận thức Nó hướng về bắt chước, thể hiện Đạo chứ không cố gắng về mặt tìm tòi, sáng tạo hình thức để mô tả, tái hiện thực tế Đối với thực tế nó thiên về phẩm bình, tìm ý nghĩa đạo lí hơn là băn khoăn tìm hiểu”[4/32,33]
Không thể phủ nhận những đóng góp của văn học nhà nho trong lịch sử văn học dân tộc Họ luôn khuyên răn con người sống có đạo đức, đề cao cái tài, đề cao
sự thông thạo thi, thư, lễ, nhạc, giúp con người biết tiến thoái, ứng đối Tuy nhiên,
Trang 33văn học nhà nho mang trong mình những nhân tố cản trở văn học phát triển theo xu hướng hiện thực
Quan niệm của văn chương nhà Nho quy định hệ thống đề tài, chủ đề và hình
tượng trung tâm văn học Lấy phạm trù tâm, chí, đạo làm trung tâm Văn học nhà
Nho vào mục đích giáo hóa hơn là nhận thức, khám phá và phát hiện cuộc sống Chất triết lí trở thành đặc điểm cơ bản của văn học trung đại Dù là người ẩn dật, người hành đạo hay người tài tử thì trong thơ của họ đều thể hiện khá rõ quan niệm
“thi dĩ ngôn chí” Điều này được minh chứng bằng sự lựa chọn khá cầu kì các đối
tượng của tự nhiên cho phù hợp với phẩm chất cao quý của người quân tử, của đấng trượng phu
Đề tài quen thuộc hầu hết sáng tác của nhà Nho là: cảm hoài, tức sự, ngôn chí…Chủ đề bảo vệ và thực hành Nho giáo được nhà nho quan tâm hàng đầu Hệ
thống chủ đề, đề tài này kéo dài gần mười thế kỉ Và “Nguyễn Đình Chiểu trở thành
một trong những tác giả khép lại một giai đoạn phát triển của văn học sử, tiêu biểu nhất là khép lại của chủ đề bảo vệ và thực hành Nho giáo, sự tự thủ tiêu của cặp đôi trung quân - ái quốc” [56/295]
2.1.2.2 Thuật ngữ trào phúng:có nhiều cách hiểu về thuật ngữ trào phúng
Trào phúng: Lời bóng gió để cười nhạo [1]
Cách hiểu thông thường hơn là: Trào phúng có tác dụng gây cười để châm
biếm, phê phán [43/155]
Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn học, đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước…được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng, những tiêu cực xấu xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội Trào phúng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn với phạm trù mỹ học và cái hài trong các cung bậc hài hước umua, châm biếm Văn học trào phúng bao hàm một lĩnh vực rộng lớn với những cung bậc cái hài khác nhau từ trong truyện cười, truyện tiếu lâm đến tiểu thuyết, từ các vở kịch cho đến những bài thơ trào phúng, châm biếm[17] Đó là khái niệm bao trùm lĩnh vực văn học của
tiếng cười
Trang 34Như vậy, với khái niệm này, trào phúng được hiểu một cách toàn diện và sâu sắc, gắn văn chương trào phúng với phạm trù mỹ học của cái hài
2.1.2.3 Sự ra đời của văn học trào phúng
Trong lịch sử văn học Việt Nam, mầm mống trào phúng có trong sáng tác của các nhà Nho như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, và nhiều nhà Nho trong giai đoạn thế kỉ XVIII – XIX
Ở Nguyễn Trãi có sự thoảng qua nụ cười nghiêm trang mà bất bình với cuộc sống xung quanh:
Đã biết cửa quyền nhiều hiểm hóc Cho hay đường lợi cực quanh co Tuồng ni cóc được bề hơn thiệt Chớ dễ bằng ai đắn với đo (Ngôn chí V)
Mầm mống trào phúng thể hiện rõ hơn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông
ví bọn quan lại bất nhân như những lũ chuột chuyên đục khoét:
Thạc thử hồ bất nhân Thảo thiết tứ âm đọc Nguyên dã hữu cảo miêu Lẫm dữu vô dư túc…
(Tăng thử) (Chuột lớn kia bất nhân Gậm khoét thật thảm khốc Đồng ruộng trơ lúa khô Kho đụn hết gạo thóc)
Phạm vi phê phán của Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn nằm trong khuôn khổ Trung, Hiếu, Tiết, Nghĩa Ông ghét thói đời đen bạc:
“Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười
Có của thường hơn hết mọi lời…
…Người của lấy cân ta thử sức Mới hay rằng của nặng hơn người”(Thơ Nôm – bài 86)
Trang 35Thực tế cho thấy, nhiều người trước đây dám “vượt rào”, tìm mọi khả năng
có thể để biểu hiện cái hài, cái xấu, cố gắng để tiến hành những sự phê phán cục bộ Tuy nhiên phải đợi đến cuối thế kỉ XIX, những mầm mống ấy mới có đủ điều kiện
để đơm hoa kết trái
Văn chương trào phúng gắn chặt với phạm trù mĩ học của cái hài Xung đột trong hài kịch xuất hiện khi niềm tin đã mất
Cuối thế kỉ XIX thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta Triều đình nhà Nguyễn nhanh chóng đầu hàng Hiệp ước Harmand và Patenote (1883 – 1884) đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của triều Nguyễn trước chủ nghĩa tư bản Pháp Xã hội Việt Nam chuyển từ nhà nước phong kiến sang chế độ thực dân phong kiến Cơn quốc nạn khiến nhiều văn nhân, sĩ phu đứng lên theo tiếng gọi Cần Vương tập hợp lực lượng phất cờ khởi nghĩa Phong trào Cần Vương diễn ra rầm rộ kéo dài gần hết thế
kỉ XIX Những sĩ phu yêu nước lần lượt hi sinh Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương rồi nhịn ăn mà chết Khi Pháp đánh ra Hà Nội lần hai, thành vỡ, tướng Hoàng Diệu tuẫn tiết trong thế đơn phương độc mã Phong trào Cần Vương dần tắt Cái chết của Đình nguyên Phan Đình Phùng chấm dứt phong trào đấu tranh theo tiếng gọi của vua Hàm Nghi, ánh lên hình ảnh đẹp cuối cùng về người anh hùng vệ quốc của Nho giáo
Cuộc xâm lược của thực dân Pháp tác động mạnh chưa từng có đến đời sống
xã hội, khiến đội ngũ nhà nho phải nhận thức lại vai trò của kẻ sĩ trong xã hội Họ không thể đem đạo lí của Khổng Mạnh để đấu chọi với tàu đồng, đại bác, súng nhỏ, súng to…
Xã hội biến động, quan lại phân hóa Có kẻ làm tay sai cho giặc Một số khác chịu làm quan cho Pháp nhưng mang tâm lí tùy thời Cũng có người giữ được nhân cách, bất mãn với thời thế nhưng không đủ dũng khí là một Nguyễn Tri Phương hay Phan Đình Phùng Họ từ quan, trở về ẩn dật Nhưng với tấm lòng yêu nước thương dân, họ gửi gắm nỗi niềm vào những áng văn thơ đả kích, châm biếm
2.1.2.4 Vài nét về đặc điểm nghệ thuật thơ văn trào phúng
Sự vận động của lịch sử, xã hội cuối thế kỉ XIX dẫn đến sự vận động trong quan niệm văn học
Trang 36Thơ văn trào phúng ra đời, chối từ phạm trù thẩm mĩ của cái cao thượng trong văn chương trung đại, thơ trào phúng tìm cảm hứng trong đời sống thường nhật Trước cơn tao loạn, nhà nho không thể vùi đầu vào đạo lí thánh hiền Họ buộc phải hướng ngòi bút của mình vào những vấn đề của hiện thực đời sống, hướng đến cái đời thường, cái hàng ngày Đó là cuộc chiến đấu của dân tộc trước cuộc xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc Văn học hướng vào những vấn đề nóng hổi, mang tính thời sự Phê phán, tố cáo trở thành cảm hứng chủ đạo của văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thay dần cảm hứng sử thi của giai đoạn trước, đặc biệt trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu Văn chương trào phúng trở thành giá đỡ cho văn học cách mạng và là bước đệm của chủ nghĩa hiện thực phê phán
Đội ngũ sáng tác của dòng văn học trào phúng cơ bản vẫn là nhà nho mang ý thức hệ phong kiến, song họ đã có quan hệ gần gũi với nhân dân hơn Nếu như
trước đây “trong môi trường xã hội, nhà nho hòa nhi bất đồng với nhân dân, họ có
thái độ quan tâm, cảm thông đối với cuộc sống của người dân nhưng cái nhìn cảm thông chia sẻ của nhà nho vẫn chỉ là cái nhìn từ bề trên, bên ngoài của đấng thiên sứ” [48/220] và nhân cách kiểu nhà nho tồn tại trong sự độc lập cao với xã hội thì
nhà nho cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX sống gắn bó với nhân dân hơn Giữa họ, không ít người xuất thân từ tầng lớp trung lưu và lớp dưới của xã hội, vì thế họ hiểu
và cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của quần chúng Nhà thơ trào phúng đã kéo văn học trở về với cuộc sống đời thường, phản ánh những mâu thuẫn trong xã hội Họ
đứng về phía nhân dân để tố cáo quan lại, tố cáo “tội theo Tây của các cụ lớn” và
chĩa mũi nhọn vào bọn thực dân cướp nước Văn chương trào phúng trở thành công
cụ đấu tranh chính trị Tiếng cười không chỉ dừng lại ở mức khôi hài trong những chuyện vặt vãnh Tiếng cười trở lên gai góc, hiểm ác, đậm chất trí tuệ, đã mổ xẻ, bóc trần sự thật Lịch sử biến thiên, xã hội xô lệch Sự đối lập giữa cái đẹp và cái xấu; giữa cao cả và thấp hèn; giữa cái cũ và cái mới khiến cả nhà nho và nông dân đều bật ra tiếng cười Cái cười của nhà nho giai đoạn này phần nào đồng cảm với cái nhìn của người nông dân
Trong văn học trào phúng, cái cười luôn đòi hỏi sự hưởng ứng của đám đông quần chúng, hơn thế phải có sự giao lưu giữa tác giả và độc giả Đó là cái cười chân
Trang 37chính có sức tác động đến dư luận thời đại, “có vai trò tổ chức dư luận xã hội, tập
trung sự chú ý của dư luận này vào những khuyết điểm, những hiện tượng xã hội tiêu cực” [2/169] Hàng rào ngăn cách giữa tri thức Nho gia và nông dân không còn
nữa Cái cười thành điểm chung để họ cùng chia sẻ
Nhà thơ trào phúng hướng ngòi bút vào hiện thực trước mắt, vào những tên quan bán nước, lên án chế độ quan trường, thậm chí lên án các nhà khoa bảng, tiêu biểu cho tấn hài kịch của hình thái xã hội đã già cỗi, sẵn sàng bán rẻ nhân cách, làm tay sai cho giặc Khí tiết thanh cao của nhà nho bị bả vinh hoa, mồi phú quý làm nhàu nát Kẻ xu thời nịnh thế sẵn sàng quỳ gối, cúi đầu trước tên toàn quyền, nhục nhã hơn, họ lạy cả ông Tây, me đầm
Nhà thơ trào phúng đưa lên sân khấu hài kịch những rác rưởi của xã hội thực
dân nửa phong kiến Họ tiễn đưa “một thế giới lỗi thời bằng tiếng cười vui vẻ”
Cảm xúc khôi hài trong văn chương trào phúng đòi hỏi nhà văn phải có giác quan sắc nhọn, trí tuệ linh hoạt và khả năng nắm bắt nhạy bén những mâu thuẫn mang tính bản chất của thời đại Chỉ ra được tính hài kịch của cuộc sống sẽ tạo được cái cười mang bản chất xã hội Cái cười chân chính có sức mạnh công phá, khiến
cho “Mặt đất rung chuyển và thói xấu bị đạp nhào”
Bước đầu của sự khác biệt giữa văn học nhà Nho và văn chương trào phúng
là sự thay đổi về đề tái, chủ đề, hình tượng trung tâm
2.1.3 Sự thay đổi của hệ thống chủ đề, đề tài và hình tượng trung tâm trong văn chương trào phúng
Đề tài trung tâm chính là mảng hiện thực tập hợp những sự kiện, những hiện tượng, những diễn biến quan trọng nhất của đời sống xã hội, nó thể hiện những nét bản chất của thời kì lịch sử đó Chủ đề được hiểu là vấn đề chủ yếu, vấn đề trung tâm được đặt ra từ toàn bộ hiện thực mà tác phẩm thể hiện
Quan niệm văn học của nhà nho đã quy định hệ thống chủ đề, đề tài và hình tượng trung tâm trong văn học Lấy phạm trù Tâm, Chí, Đạo làm trung tâm, văn học nhà nho hướng vào mục đích giáo hóa hơn là nhận thức, khám phá và thể hiện cuộc sống Chất triết lí trở thành đặc điểm cơ bản của văn học trung đại Đề tài quen thuộc trong hầu hết sáng tác của nhà nho là: Cảm hoài, tức sự, ngôn chí…
Trang 38Tiến trình phát triển của nền văn học viết chứng kiến sự thay đổi của khá nhiều hình tượng trung tâm Thế kỉ XIII – XV xuất hiện những con người hào hứng nhập thế, ca tụng vua sáng, tôi hiền, ca tụng xã hội (đỉnh cao là Nguyễn Trãi) Đó là hình ảnh của nhà nho trung nghĩa, mẫu nhà nho chính thống của Nho gia
Đến thế kỉ XVI – XVII, một số nhà nho ngả sang sắc thái bi quan, do chế độ phong kiến bộc lộ những mặt trái Bên cạnh loại hình nhà nho thứ nhất, còn có tiếng nói của nhà nho ản dật như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Hàng…
Cuối thế kỉ XIX, về cơ bản văn học Việt Nam vẫn chịu sự ước thúc của những quy phạm trong văn học cổ Tuy nhiên, trước những chuyển mình của lịnh sử, trong lòng văn học đã nảy sinh yếu tố dự báo sự ra đời của nền văn học mới, ngoài quỹ đạo của văn chương truyền thống Sự trở lại của hình tượng nhà nho trung nghĩa cuối thế kỉ XIX giống như vệt sáng cuối cùng báo hiệu sự mất giá truyền thống trong văn học cổ, và cũng là điểm sáng đầu tiên đưa văn học tiến vào quỹ đạo chung của thế giới
Hệ thống hình tượng trong văn học trào phúng có hai loại:
Loại thứ nhất được xây dựng từ nguyên mẫu bản thân tác giả Nhân vật “tự
trào” xuất hiện trong sáng tác của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương và một số nhà
nho sau này Họ đem mình ra để cười cợt, chế giễu Nhiều khi nhà thơ trào phúng tự phủ định mình, song thực chất lại là cách để họ khẳng định bản thân Họ là những chủ thể luôn giữ cho mình một thái độ bình thản, điềm nhiên luôn hài lòng và thỏa mãn với mình Cũng có khi ngược lại, nhà thơ trào phúng tự khẳng định mình để phủ định bản thân
“ Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng”
Tác giả trào phúng luôn làm chủ được tiếng cười và “chỉ có thái độ vui tính
vô cùng tự tin của những con người vươn lên khỏi mâu thuẫn trong đó y mắc phải, chứ không phải chỉ chịu đựng và cảm thấy bất hạnh thì mới là hài mà thôi” (Heghen)
Thứ hai là loại nhân vật được lấy từ nguyên mẫu ngoài đời Lọai hình tượng này có khá nhiều trong sáng tác của Trần Tế Xương, Kép Trà…Xây dựng hình
Trang 39tượng văn học lấy nguyên mẫu từ cuộc đời khiến trào phúng dám phá vỡ nguyên tắc của văn học cổ Văn học nhà nho thiên về cảm hứng ca ngợi hơn là phê phán, nếu
có phê phán thì cũng khá trang nghiêm Thơ trào phúng lấy tố cáo, phê phán làm cảm hứng chủ đạo Họ phê phán thẳng thắn, chỉ mặt, vạch tên từng người Sân khấu hài kịch là bọn quan lại đục khoét, phường hãnh tiến trong xã hội mới Tuy chưa đạt đến độ nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình của chủ nghĩa hiện thực, nhưng điều đó bước đầu được tạo nên sự phá cách trong văn học, đặt những viên gạch đầu tiên khởi móng nền văn học mới Nhân vật trong thơ trào phúng của Tú Xương mang dấu ấn thời đại khá rõ nét, mang mầu sắc cá tính, được miêu tả chân xác, cụ thể, ráo riết theo hướng mĩ học hiện thực chủ nghĩa
Cả hai loại hình tượng nhân vật trên đều bộc lộ những sự quẫy đạp, thoát khỏi truyền thống
Như vây, việc phủ định hệ quy chiếu của văn học Nho gia đã mở ra bước phát triển mới của văn học Việt Nam Bản thân sự vận động quan niệm Nho giáo không thể dẫn tới chủ nghĩa hiện thực Do mục đích cao nhất của chủ nghĩa hiện thực là nhận thức và phản ánh cuộc sống trên một quan điểm tiến bộ Nhưng chính
vì sự phá vỡ những quy phạm truyền thống đó mà văn chương trào phúng có vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển của nền văn học Việt Nam, trở thành cầu nối đưa văn học tiếp bước từ truyền thống đến hiện đại
2.2 Sự ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong sáng tác của Nguyễn Công Hoan trước cách mạng tháng 8 - 1945
2.2.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, xã hội Việt Nam có những bước chuyển biến căn bản – từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân phong kiến Cùng với những công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp là sự du nhập của văn hóa phương Tây vào nước ta Sự du nhập ấy có tác động lớn tới nhận thức và tư tưởng của tầng lớp trí thức đương thời
Những năm đầu thế kỉ XX chữ quốc ngữ được đưa vào giảng dạy ở một số cấp học phổ thông Cùng với ảnh hưởng của văn hoá Pháp một số nhà văn, nhà thơ đã
có những cái nhìn mới – bỏ bút lông viết bút sắt
Trang 402.2.2 Sự ra đời của trào lưu văn học hiện thực phê phán
Những năm đầu thế kỉ XX, nền văn học Việt Nam nhanh chóng bước vào quá trình hiện đại hóa Đươi ngòi bút của phong trào Tân Thư và Duy Tân, các nhà nho chí sĩ đã hướng tới cái ngưỡng của sự thay đổi trong quan niệm văn học Họ là
người có “đầy đủ thẩm quyền đọc lên bản án khai tử… đối với thể loại được coi là
điển – phạm – cùng – cực của truyền thống” (Trần Ngọc Vương) Tuy nhiên họ
không thể tiến hành đến cùng công cuộc đổi mới, cách tân văn học do sự quy định của nguồn gốc xuất thân và sức hút trọng lực của văn học truyền thống
Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam được hoàn tất với vai trò của các tri thức Tây học Sự ra đời của các tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam nhiều truyện ngắn trên tạp chí Nam Phong (1917 – 1934) thành tiền thân của chủ nghĩa lãng mạn
và chủ nghĩa hiện thực giai đoạn 1930 – 1945
Những năm 30 của thế kỉ XX, bên cạnh cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp còn diễn ra cuộc đấu tranh không kém phần quyết liệt, đó là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, ý thức hệ, hình thành những quan điểm, những tâm lí thẩm
mĩ và khuynh hướng, trào lưu văn học khác nhau
2.2.2.1 Thuật ngữ “Chủ nghĩa hiện thực”
Chủ nghĩa hiện thực bắt nguồn từ thuật ngữ “Réalisme” Năm 1935, tại Đại hội nhà văn Xô Viết lần I, Gorki gọi văn học thế kỉ XIX là nền văn học hiện thực phê phán
Về “Chủ nghĩa hiện thực” có khá nhiều định nghĩa, trong đó có định nghĩa
của F Enghels được coi là quan trọng hơn cả
Trong bức thư gửi cô M.Hackness, ông nói “Theo ý tôi, đã nói đến chủ nghĩa
hiện thực thì ngoài tính chân thực của các chi tiết, còn đòi hỏi tính chân thực trong việc tái hiện những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình”
Với quan niệm này, PGS Trần Nho Thìn đánh giá “thực tế cho thấy, để vận
dụng được công thức này vào nghiên cứu văn học dân tộc có không ít phức tạp và khó khăn Tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình trong một tác phẩm chỉ có thể định tính chứ không định lượng được…Vậy muốn được công nhận là tính cách