1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong việc xây dựng văn hóa kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

18 2,5K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 153 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Đảng ta luôn coi trọng yếu tố văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên. Văn hóa vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và là mục tiêu của chúng ta. Văn hóa đóng vai trò điều tiết tinh thần, góp phần đắc lực vào việc khai thác những nhân tố tích cực hạn chế nhân tố tiêu cực của mối quan hệ hàng hóa –tiền tệ trong xã hội, văn hóa giữ vai trò góp phần hình thành một con đường phát triển phù hợp với đặc điểm của dân tộc và xu hướng phát triển của thế giới. Gần đây các học giả quốc tế nghiên cứu hơn về các yếu tố thành công của các nước có nền công nghiệp mới trong phát triển trong khu vực Đông ÁĐông Nam Á .Sự thành công và năng động đó được xác nhận là sự bắt nguồn từ các yếu tố văn hóa truyền thống, trong đó tính cộng đồng, tính ý thức dân tộc thể hiện rất cao trong quan hệ kinh doanh: sự ham học hỏi, sáng tạo, tính nghiêm túc, kỉ luật cao trong công việc đã được nhấn mạnh và được coi là những nhân tố thúc đẩy quá trình tăng kinh tế bền vững, cân đối của những nước này. Và đặc biệt trong nền kinh tế thị trường kinh tế XHCN ở Việt Nam với rất nhiều các quan hệ kinh tế đan xen nhau bên cạnh mặt tích cực, đã xuất hiện mặt tiêu cực làm nảy sinh các hành vi kinh doanh thiếu đạo đứcphi văn hóa, chạy theo lợi nhuận ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh, đến các giá trị kinh doanh nền tảng của kinh tế thị trườnglàm cho các giá trị đó bị đảo lộn,đe dọa đến sư bất ổn cho hoạt động kinh tế,chính vì tính cấp thiết của sự xuống cấp thang giá trị đó. Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là mục tiêu,vừa là thách thức lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong xu hướng gia nhập WTO và toàn cầu hóa hiện nay. Thách thức lớn nhất là nguy cơ tụt hậu, là hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh thấp.Hơn lúc nào hết chúng ta cần nhận thức rõ những hạn chế, bất cập trong văn hóa kinh doanh Việt Nam,từ đó tìm ra hướng đi cho các doanh nghiệp,doanh nhân văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến đạm đà bẳn sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam tiến tới tương lai.

Trang 1

Lời mở đầu

Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Đảng ta luôn coi trọng yếu tố văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Văn hóa vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và là mục tiêu của chúng ta Văn hóa đóng vai trò điều tiết tinh thần, góp phần đắc lực vào việc khai thác những nhân tố tích cực hạn chế nhân tố tiêu cực của mối quan hệ hàng hóa –tiền tệ trong xã hội, văn hóa giữ vai trò góp phần hình thành một con đường phát triển phù hợp với đặc điểm của dân tộc và xu hướng phát triển của thế giới Gần đây các học giả quốc tế nghiên cứu hơn về các yếu tố thành công của các nước có nền công nghiệp mới trong phát triển trong khu vực Đông Á-Đông Nam Á Sự thành công và năng động đó được xác nhận là sự bắt nguồn từ các yếu tố văn hóa truyền thống, trong đó tính cộng đồng, tính ý thức dân tộc thể hiện rất cao trong quan hệ kinh doanh: sự ham học hỏi, sáng tạo, tính nghiêm túc, kỉ luật cao trong công việc đã được nhấn mạnh và được coi là những nhân tố thúc đẩy quá trình tăng kinh tế bền vững, cân đối của những nước này Và đặc biệt trong nền kinh tế thị trường kinh tế XHCN ở Việt Nam với rất nhiều các quan hệ kinh tế đan xen nhau bên cạnh mặt tích cực, đã xuất hiện mặt tiêu cực làm nảy sinh các hành vi kinh doanh thiếu đạo đức-phi văn hóa, chạy theo lợi nhuận ảnh hưởng đến văn hóa kinh doanh, đến các giá trị kinh doanh nền tảng của kinh tế thị trường-làm cho các giá trị đó bị đảo lộn,đe dọa đến sư bất ổn cho hoạt động kinh tế,chính vì tính cấp thiết của sự xuống cấp thang giá trị đó Xây dựng văn hóa kinh doanh vừa là mục tiêu,vừa là thách thức lớn đối với hầu hết các doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam trong xu hướng gia nhập WTO và toàn cầu hóa hiện nay Thách thức lớn nhất là nguy cơ tụt hậu, là hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh thấp.Hơn lúc nào hết chúng ta cần nhận thức rõ những hạn chế, bất cập trong văn hóa kinh doanh Việt Nam,từ

đó tìm ra hướng đi cho các doanh nghiệp,doanh nhân văn hóa kinh doanh Việt Nam tiên tiến đạm đà bẳn sắc dân tộc, làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam tiến tới tương lai

Trang 2

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Văn hóa và nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.

1.1.Văn hóa.

- Theo nghĩa rộng: Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con

người lao động và sáng tạo ra

- Theo nghĩa hẹp: văn hóa là đời sống tinh thần, hệ các giá trị,truyền thống,lối sống

của xã hội.văn hóa là bản sắc,là năng lực sáng tạo của một dân tộc.là cái phân biệt cái này với cái khác

- Edouard Heriiot cho rằng: “Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả, là

cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả”

- C.Mác thì coi văn hóa là toàn bộ những thành quả được tạo ra nhờ hoạt động lao

động sáng tạo của con người - hoạt động sản xuất vật chất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực của con người

- Trong tiếng Việt, văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức (trình

độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa), còn theo nghĩa chuyên biệt thì văn hóa dùng để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn, văn hóa Óc Eo, …); theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm vật chất cho đến những giá trị tinh thần …

- Hồ Chí Minh: từng nói :“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hà”.ng ngày như ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa

- Theo UNESCO: “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tinh cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội … Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”

Văn hóa là nguồn lực nội sinh của con người, là kiểu sống và bảng giá trị của các tổ chức, cộng đồng người, trung tâm là các giá trị chân-thiện-mỹ

Nói tóm lại, chúng ta có thể hiểu: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh

thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và họat động thực tiễn trong quá trình

lịch sử của mình; biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất

định”

1.2 Nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước.Văn hóa là đời sống tinh

Trang 3

thần của xã hội,là hệ các giá trị, truyền thống,lối sống; là năng lực sáng tạo ,là bản sắc của một dân tộc,là cái phân biệt dân tộc này với dân tộc khác tạo nên nét riêng biệt

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa, đạo lý, là đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản

dị trong lối sống…Bản sắc dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc độc đáo

Có thể nói bản sắc của một dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc về sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán so với bản thân mình trong quá trình phát triển Sức mạnh và sức sáng tạo này có mối liên hệ gốc rễ, lâu dài và bền vững với môi trường xã hội - tự nhiên và với quá trình lịch sử mà dân tộc ta đã tồn tại

Bản sắc dân tộc là sức sống bên trong của dân tộc, là quá trình dân tộc thường xuyên

tự ý thức, tự khám phá, tự vượt qua chính bản thân mình, biết cạnh tranh và hợp tác để tồn tại và phát triển

Bản sắc dân tộc thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: cách tư duy, cách sống, cách dựng nước, giữ nước, cách sáng tạo trong văn hóa, khoa học, văn học nghệ thuật…, nhưng được thể hiện sâu sắc nhất là trong hệ giá trị của dân tộc, nó là cốt lõi của nền văn hóa Hệ giá trị là những gì nhân dân quan tâm, là niềm tin mà nhân dân cho là thiêng liêng, bất khả xâm phạm Khi được chuyển thành các chuẩn mực xã hội, nó định hướng cho sự lựa chọn trong hành động của cá nhân và cộng đồng Vì vậy, nó là cơ sở tinh thần cho sự ổn định xã hội và sự vững vàng của chế độ Hệ giá trị có tính ổn định rất lớn và

có tính bền vững tương đối, có sức mạnh gắn bó mọi thành viên trong cộng đồng Trong sự tiến bộ và phát triển của xã hội, các giá trị này thường không biến mất mà hóa thân vào các giá trị của thời sau, theo quy luật kế thừa và tái tạo

Bản sắc dân tộc phát triển theo sự phát triển của thể chế kinh tế, thể chế xã hội và thể chế chính trị của các quốc gia Nó cũng phát triển theo quá trình hội nhập kinh tế thế giới, quá trình giao lưu văn hóa với các quốc gia khác và sự tiếp nhận tích cực văn hóa, văn minh nhân loại Vì vậy, chúng ta chủ trương xây dựng và hoàn thiện các giá nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế

Bản sắc dân tộc và tính chất tiên tiến của nền văn hóa phải được thấm đượm trong mọi hoạt động xây dựng, sáng tạo vật chất, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo…, sao cho trong mọi lĩnh vực hoạt động chúng ta có cách tư duy độc lập, có cách làm vừa hiện đại vừa mang sắc thái Việt Nam Đi vào kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phải tiếp thu những tinh hoa nhân loại, song phải luôn luôn phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc

Trang 4

Để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chúng ta chủ trương vừa bảo vệ bản sắc dân tộc, vừa mở rộng giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại Bảo vệ bản sắc dân tộc, gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác để bắt kịp sự phát triển của thời đại Chủ động tham gia hội nhập và giao lưu văn hóa với các quốc gia để xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam đương đại Xây dựng Việt Nam thành một địa chỉ giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống những cái lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán và lề thói cũ

1.3 Quan niệm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

Tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng - khoá VIII (1998), lần đầu tiên đưa ra quan niệm nền văn hóa Việt Nam có đặc trưng tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc thay cho quan niệm nền văn hóa Việt Nam có nội dung XHCN, có tính dân tộc, có tính Đảng

và tính nhân dân được nêu ra trước đây Đại hội VII chủ trương xây dựng nền văn hóa mới, tạo đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân đạo, dân chủ, tiến bộ; hướng tới chân thiện mĩ; khẳng định tiếp tục tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực

tư tưởng và văn hóa, làm cho thế giới quan Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần và xã hội Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình

độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mĩ ngày càng cao Chống tư tưởng văn hóa phản tiến

bộ, trái với truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị cao quý của loài người, trái với phương hướng đi lên XHCN Xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu

-VỀ TÍNH TIÊN TIẾN:

Nền văn hóa hiện nay có những đặc điểm chủ yếu như: yêu nước, tiến bộ, độc lập dân

tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (là nội dung cốt lõi), vì con người (hạnh phúc tự do, phát triển phong phú, toàn diện trong quan hệ hài hòa giữa con người và cộng đồng, xã hội với thiên nhiên), mở rộng giao lưu, tiếp thu văn minh văn hóa thế giới; quá trình xây dựng nền văn hóa hiện nay cũng là quá trình thực hiên chiến lược con người, đây là khâu trung tâm trong sự nghiệp xây dựng nền tảng tinh thần Cốt lõi của tính tiên tiến là độc lập dân tộc và CNXH theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tính tiên tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng mà còn phải được thể hiện trong cách thức biểu hiện, chuyển tải nội dung

-VỀ BẢN SẮC DÂN TỘC:

Những giá trị văn hóa truyền thống bền vững của cộng đồng và dân tộc Việt Nam

được vun đắp qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, đó là: lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; đó là lòng nhân ái, khoan dung, trọng tình nghĩa đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính độc đáo, vớinhững đặc

Trang 5

trưng, sắc thái, thể hiện cốt cách dân tộc Việt Như vậy, để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trước hết cần nắm chắc những quan điểm cơ bản chỉ đạo quá trình phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước và những nội dung

cơ bản của Nghị quyết Trung Ương 5- khóa VIII của Đảng Những quan điểm đó là:

+ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội

+ Nền văn hóa mà chúng ta đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc + Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất và đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam

+Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng

+Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài

Bản sắc dân tộc và tính tiên tiến của nền văn hóa phải được thấm đượm trong mọi hoạt động xây dựng, sáng tạo vật chất, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, giáodục, đào tạo sao cho trong mọi lĩnh vực chúng ta có tư duy độc lập, co cách làm vừa hiện đại, vừa mang sắcthái Việt Nam Đi vào kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phải tiếp thu những tinh hoa của nhân loại song phải luôn phát huy những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc

Xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản săc dân tộc được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau:

- Xây dựng con người Việt theo hướng chân, thiện mĩ

- Xây dựng môi trường văn hóa đẹp

- Phát triển sự nghiệp văn hóa nghệ thuật

- Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

- Phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ

- Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số

1.2 Văn hoá kinh doanh và nền văn hóa kinh doanh

1.2.1 Văn hóa kinh doanh

Là việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh của chủ thể, là cái

văn hoá mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh doanh, hình thành nên những

kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ

Việc sử dụng các nhân tố văn hoá vào hoạt động kinh doanh sẽ đem lại cho kinh doanh và chủ thể kinh doanh một sử mạng cao cả Đó là sứ mệnh phát triển con người, đem lại sự giàu có, hạnh phúc cho mọi người, sự phồn vinh và vững mạnh của đất nước, sự vẻ vang của dân tộc Nhận thức được sứ mệnh ấy con người sẽ hay say lao động, không ngại khó khăn gian khổ, thậm chí hy sinh cả lợi ích riêng của mình đóng góp vào lợi ích chung vì

xã hội Do đó, văn hoá trong kinh doanh là bộ phận cấu thành của nền văn hoá dân tộc, phản

Trang 6

ánh trình độ của con người trong lĩnh vực kinh doanh Bản chất của văn hoá trong kinh doanh đó là làm cho cái lợi gắn chặt chẽ với cái đúng cái tốt, cái đẹp Cái lợi đó tuân theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp Ngược lại cái đúng, cái tốt, cái đẹp là cơ sở bền vững cho hoạt động sinh ra cái lợi Văn hoá kinh doanh cuả các nhà kinh doanh, của doanh nghiệp được nhận biết qua hai phương diện chính:

- Một là: các nhân tố văn hoá (hệ giá trị, triết lý sống, tâm lý) được vận dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra các sản phẩm hàng hoá về dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng có văn hoá Đó chính là kiểu kinh doanh có văn hoá, kiểu kinh doanh phù hợp với nét đẹp của văn hoá dân tộc

- Hai là: cái giá trị, sản phẩm văn hoá như hệ giá trị, triết lý, tập tục riêng, nghệ thuật kinhdoanh mà chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình hoạt động và làm nghề kinh doanh của họ, có tác dụng cổ vũ biểu dương đối với kiểu kinh doanh có văn hoá mà họ đang theo đuổi Đó chính là lối sống có văn hoá của các chủ thể kinh doanh

Đề cao cái lợi của hoạt động kinh doanh gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái đẹp, nhằm thoả mãn có chất lượng nhu cầu và thị hiếu của đời sống xã hội, mỗi xã hội cần định hình ra thành các truyền thống văn hoá kinh doanh trong nền văn hoá chung của dân tộc

1.2.2 Nền văn hóa kinh doanh

Xây dựng nền văn hóa kinh doanh là một việc làm có tính thực tế mà mục tiêu cụ thể

là cho toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, tức yếu tố đống vai trò quyết định đối với nền sản xuất của đất nước trở nên ngày càng có tính văn hóa cao thể hiện trên cả ba mặt:

Văn hóa doanh nhân: văn hóa thể hiện hết ở đội ngũ những con người tham gia sản xuất kinh doanh chủ yếu thể hiện ở trình độ khoa học kĩ thuật, công nghệ và vốn tri thức tổng hợp, pử kinh nghiệm thực tiễn và kĩ năng, phương pháp tác ngiệp, ở năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh và sự nhạy bén với thị trường, ở đạo đức nghề nghiệp và phẩm hạnh làm người, ở ý thức công dân và sự giác ngộ về chính trị- xã hội…

Văn hóa doanh nghiệp: văn hóa tập trung và tỏa sáng trong các thiết chế, các đơn vị tổ

chức sản xuất kinh doanh thể hiện qua những biểu trưng chung thuộc về hình thức cung các yếu tố tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp, qua năng lực, phẩm chất, trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra chất lượng sản phẩm va những thành tích, truyền thống, qua phong cách giao tiếp, ứng xử thống nhất của toàn đơn vị trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh…

Văn hóa thương trường: Văn hóa thể hiện trong cơ cấu tổ chức, hệ thống pháp chế,

các chính sách chế độ, trong mọi hinh thức hoạt động liên quan quá trình sản xuất kinh doanh, gồm cả sự cạnh tranh… tất cả nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi tốt đẹp…

II Xây dựng và phát triển nền văn hóa kinh doanh ở nước ta hiện nay.

2.1.Thực trạng nền văn hóa kinh doanh ở nước ta

Trang 7

2.2.1 Đặc điểm của văn hóa kinh doanh trong từng giai đoạn

*Văn hóa cổ truyền Việt Nam

Trong suốt lịch sử phát triển của nước ta, hoạt động kinh tế phổ biến là sản xuất nông nghiệp tự cung, tự cấp Trong thời kỳ phong kiến, tư tưởng "trọng nông ức thương" rất phổ biến, chính vì vậy mà rất ít người giỏi về kinh doanh Lương Văn Can, một nhà cách mạng, đồng thời là một người thầy lỗi lạc trong giới doanh thương Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, khi phân tích nguyên nhân không phát triển của thương mại nói riêng và của kinh tế Việt Nam nói chung, đã đưa ra 10 điểm Đó là:

-Người mình không có thương phẩm, tức là sản xuất kém, ít hàng hoá có uy tín;

-Không có thương hội, tức là không biết liên kết với nhau trong kinh doanh;

-Không có tín thực, tức là không biết giữ chữ tín;

-Không có kiên tâm, ít theo đuổi một việc gì đến cùng;

-Không có nghị lực, dễ làm khó bỏ;

-Không biết trọng nghề, do chỉ chú trọng vào nghề nông, bỏ qua việc tìm hiểu và nâng cao các nghề khác;

-Không có thương học, tức là không có kiến thức về kinh doanh;

-Kém đường giao thiệp, do xã hội Việt Nam luôn đóng cửa với thế giới bên ngoài nên

hễ ra ngoài là dễ bị lạc lõng, không hoà nhập được;

-Không biết tiết kiệm, người Việt Nam tuy nghèo nhưng không biết tận dụng những thứ mình có, thường hoang phí;

-Khinh nội hoá với tâm lý chung là sính hàng ngoại

*Văn hóa kinh doanh Việt Nam trước thời kỳ đổi mới

Dưới thời Pháp thuộc: sự giao lưu với văn hoá Pháp đã để lại một dấu ấn sâu đậm cho

VHKD Việt Nam Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, kinh doanh trở thành một ngành độc lập, không phụ thuộc vào nông nghiệp Thời kỳ này đã xuất hiện một tầng lớp tư sản dân tộc, giành lại được độc quyền thương mại từ tay tư sản nước ngoài và bắt đầu gây dựng lòng

tự hào được làm nhà kinh doanh

Giai đoạn 1954-1986: trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam bị phân chia thành hai

miền:

 Miền Bắc được giải phóng khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp, tiến lên xây dựng CNXH: VHKD miền Bắc mang đặc tính của VHKD XHCN, coi trọng công bằng xã hội nhưng không coi trọng hiệu quả, tiêm nhiễm bệnh chủ quan, duy ý chí, cơ chế quản lý cồng kềnh, mang nặng tính quan liêu, coi rẻ kinh doanh và thương nhân

 Miền Nam bị chiếm đóng, thay đổi theo chế độ thực dân mới của Mỹ: ở miền Nam, qua giao lưu với văn hoá Mỹ, VHKD nơi đây tiếp thu được một số kiến thức, yếu tố cần thiết cho kinh tế thị trường như cơ sở hạ tầng, công nghệ, kiến thức kinh doanh hiện đại, tác phong làm việc công nghiệp… nhưng cũng tiêm nhiễm tâm lý vọng

Trang 8

ngoại khá nặng nề, nhất là tôn sùng những gì của Mỹ, cùng một số thói xấu khác như chủ nghĩa thực dụng, lối sống gấp, thích hưởng thụ, xa rời bản sắc dân tộc

Sau năm 1975: đất nước thống nhất, hai miền Nam, Bắc cùng bước vào con đường

xây dựng CNXH, hai nền VHKD dần hoà hợp với nhau, trở thành một nền VHKD thống nhất trong toàn quốc nhưng vẫn bảo tồn một số khác biệt giữa hai miền Nền VHKD này tuy có bổ sung cho VHKD cổ truyền một số ưu điểm như: coi trọng công bằng xã hội, nâng cao vị thế cho phụ nữ, có tinh thần vượt khó vươn lên… nhưng lại làm tăng lên một số yếu

tố tiêu cực cho kinh doanh như: tâm lý coi rẻ nghề buôn nói chung và kinh doanh nói riêng, tính chủ quan duy ý chí, cơ chế tổ chức quan liêu, thiếu hiệu quả, tính cứng nhắc, kém năng động với thị trường

Từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được chấp nhận mở ra cho các doanh nghiệp nước ta những điều kiện mới có ý nghĩa quyết định để từng bước để hình thành văn hóa doanh nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế,

xã hội ở nước ta Văn hóa doanh nghiệp thể hiện trên hai mặt: mục đích kinh doanh và phương pháp quản trị kinh doanh Trong đó, mục đích kinh doanh là quyết định toàn bộ hoạt động của mỗi doanh nghiệp

- Về mục đích kinh doanh:

+ Đạt hiệu quả và lợi ích cao cho cá nhân, cộng đồng

+ Có tính nhân văn đối với con người trong xã hội

- Về phương pháp quản trị kinh doanh:

+ Tuân thủ pháp luật quốc gia, quốc tế, đảm bảo tính minh bạch, công khai trong sản xuất, kinh doanh

+ Quan tâm, tuân theo các nguyên lý quản lý khoa học và phải biết dựa vào khoa học mà tổ chức bộ máy quản lý, thực hiện các phương pháp kinh doanh

+ Biết áp dụng các công nghệ tiên tiến trong điều hành sản xuất, kinh doanh

+ Chú trọng sử dụng hợp lý các vị trí làm việc của đội ngũ cán bộ, NLĐ

*Văn hóa kinh doanh Việt Nam thời kỳ đổi mới

Thời kỳ đổi mới đã mang lại một luồng sinh khí mới cho hoạt động kinh doanh và đã làm thay đổi cơ bản VHKD Việt Nam Trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới hiện nay, văn hóa kinh doanh Việt Nam có 4 đặc điểm nổi bật:

- Tính tập thể: quan điểm tiêu chuẩn đạo đức của doanh nghiệp là do toàn thành viên doanh nghiệp tích lũy lâu dài cùng nhau hoàn thành

- Tính quy phạm: văn hóa kinh doanh có công năng điều chỉnh kết hợp

- Tính độc đáo: doanh nghiệp đều cố gắng xây dựng văn hóa kinh doanh độc đáo trên cơ sở văn hóa của vùng đất mà doanh nghiệp đang tồn tại Văn hóa kinh doanh phải đảm bảo tính thống nhất trong nội bộ từng doanh nghiệp, nhưng giữa các doanh nghiệp khác nhau cần phải tạo nên tính độc đáo của mình

- Tính thực tiễn: chỉ có thông qua thực tiễn, các quy định của văn hóa kinh doanh mới được kiểm chứng để hoạn thiện hơn nữa

Trang 9

2.2.2 Những thành tựu và hạn chế trong công cuộc xây dựng văn hóa kinh doanh hiện nay

2.2.2.1 Thành tựu các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được

Đảng ta đã quyết định từ bỏ mô hình tập trung bao cấp, chuyển sang phát triển nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đó là mô hình kinh tế tổng quát của thời

kỳ quá độ, với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh, bình đẳng, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn liền với phát triển kinh tế tri thức và bảo

vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, coi trọng phát triển các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo có tính nền tảng và các ngành công nghiệp có lợi thế; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng miền; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời, tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa Xây dựng nền kinh tế độ lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế

Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước quá trình hội nhập toàn diện tạo ra những vấn

đề lo ngại cho nền kinh tế Việt Nam Mà vấn đề được các doanh nghiệp hiện nay, đấy chính

là sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam không thể thắng được các doanh nghiệp nước ngoài, dù có lợi thế sân nhà Trong những năm vẫn đây, doanh nghiệp đã quan tâm xây dựng văn hóa kinh doanh của mình Và văn hóa kinh doanh đã và đang trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp Trong tiến trình xây dựng văn hóa kinh doanh trong doanh nghiệp các doanh nghiệp đã được các thành tựu sau:

 Một là, văn hóa kinh doanh trong doanh nghiệp được chú trọng phát triển và đạt được những thành tựu nhất định Một số công ty đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường cũng như trong lòng khách hàng và các đối tác kinh doanh Ví dụ FBT là một tập đoàn đã xây dựng một nền văn hóa kinh doanh mà mỗi khi nhắc đến FBT, chúng ta mà chúng ta nhắc tới đầu tiên đó là sự sáng tạo, hiện đại, sự tin cậy, hài lòng, hay tập đoàn Viettell đã khẳng định được vai trò của mình không chỉ ở trên thị trường trong nước mà tập đoàn đang vương xa ra thị trường quốc tế và cũng có những thành công nhất định, hay các doamh nghiệp khác như VinaMilk, …

 Hai là, niềm tin của khách hàng đối với doanh nghiệp ngày càng được nâng cao Hiện nay, khách hàng trong nước đã tin tưởng chất lượng của các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam: hàng Việt Nam đã khẳng định được chất lượng của mình không

Trang 10

thua kém hàng ngoại Đối với các đối tác, doanh nghiệp cũng khẳng định được mình

là một đối tác tin cậy để hợp tác Đồng thời các doanh nghiệp cũng quan tâm đến các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm,… nên cũng được sự ủng hộ của người tiêu dùng

 Ba là, khẳng định được uy tín của mình trên thị trường trong nước và thị trường quốc

tế

Những thành tựu trên đã được khẳng định lần nữa qua các thành tựu mà nền kinh tế ta

đã đạt được: Nhờ đường lối phát triển kinh tế đúng đắn và giải pháp phù hợp, trong gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển kinh tế gây ấn tượng, được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên nhiều Sau 10 năm đổi mới (1996) đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội; sau 25 năm đổi mới (năm 2010) đất nước đã ra khỏi tình trạng nước nghèo kém phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình Trong giai đoạn 2001- 2010, kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế đạt 101,6 tỷ USD gấp 3,26 lần so với năm 2000, năm 2011 khoảng 170 tỷ USD GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1168 USD, năm 2014 ước tính khoảng 1900 USD/ người Trong 5 năm

2011-2015, do sự tác động của khủng hoảng tài chính thê giới, suy thoái kinh tế toàn cầu nên nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng GDP bị giảm sút Tuy vậy, tốc độ tăng GDP bình quân vẫn ở mức khá, ước đạt 5,8% Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong 5 năm 2006-2010 đạt gần 45 tỷ USD, vượt 77,8% so với kế hoạch đề ra Tổng vốn ODA cam kết đạt trên 31 tỷ USD, gấn hớn 1,3 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng 13,8 tỷ USD, vượt 17,5% Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng lên, khu vực nông nghiệp giảm xuống Năm 2010, trong cơ cấu GDP, khu vực công nghiệp chiếm 41,1%, khu vực dịch vụ chiếm 38,3%, khu vực nông nghiệp chiếm 20,6% Kết cấu hạ tầng ngày càng được xây dựng hiện đại, đồng bộ; nguồn nhân lực qua đào tạo ngày càng tăng lên ( năm 2013 là 49%), đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện

Đồng thời, Việt Nam tiếp tục tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế:

 Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đã phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa binh, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

 Nhờ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế bằng những chính sách phù hợp nên Việt Nam dã phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh của nhân loại… để

Ngày đăng: 04/04/2016, 20:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w