Đánh giá tác động hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tới môi trường tự nhiên tại đền bà chua kho (xã vũ ninh, thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh) và hệ thống các giải pháp Đánh giá tác động hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tới môi trường tự nhiên tại đền bà chua kho (xã vũ ninh, thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh) và hệ thống các giải pháp Đánh giá tác động hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tới môi trường tự nhiên tại đền bà chua kho (xã vũ ninh, thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh) và hệ thống các giải pháp Đánh giá tác động hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tới môi trường tự nhiên tại đền bà chua kho (xã vũ ninh, thành phố bắc ninh, tỉnh bắc ninh) và hệ thống các giải pháp
Trang 1Trờng đại học s phạm hà nội 2 Khoa giáo dục chính trị
****&****
Lê thị mai hơng
Những quy phạm về chính trị trong hơng ớc cải lơng ở lập thạch thời
pháp thuộc (1921 - 1942)
Tóm tắt khóa luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Ngời hớng dẫn khoa học
Trần Thị Thu Hà
Hà Nội 2010
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam tín ngưỡng ra đời và tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử và được phát triển đến tận ngày nay Tín ngưỡng thường gắn với các lễ hội truyền thống được tổ chức vào các dịp lễ, tết trong năm Mỗi một địa phương, dân tộc, vùng miền đều có các hình thức tín ngưỡng khác nhau tạo nên nét văn hoá tín ngưỡng phong phú, độc đáo của đất nước Việt Nam mà không nơi nào có được Hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho là một trong những tín ngưỡng ở Việt Nam Nó mang đậm nét truyền thống trường tồn bất diệt trong tâm linh người Việt, thể hiện ước mơ khát vọng mong muốn một cuộc sống ấm no hạnh phúc, đây là những nhu cầu rất chính đáng của người dân, nó tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho họ để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu đẹp Đồng thời khi đến với Đền Bà Chúa Kho người ta còn nhớ về một vị nhân thần là Bà Chúa Kho là người đã có công giúp nhân dân khai ấp lập làng, giúp nhà Lý đánh thắng giặc Tống xâm lược (1077)
Hiện nay đứng trước xu hướng toàn cầu hoá, cùng với sự đi lên về mọi mặt, nhu cầu văn hoá tinh thần cũng được tăng lên Sự tham gia của du khách thập phương vào hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc nơi đây ngày càng nhiều kéo theo nhiều vấn đề bất cập nảy sinh, những giá trị văn hoá tín ngưỡng của Đền có nguy cơ bị mai một dần, môi trường cũng ngày một suy thoái Do vậy việc bảo tồn di tích lịch sử văn hoá Đền Bà Chúa Kho và môi trường nơi đây đang trở thành yêu cầu cấp thiết
Để có một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng suy thoái môi trường tự nhiên của Đền Bà Chúa Kho cùng việc bảo tồn giá trị văn hoá tín ngưỡng cầu tài lộc ở Đền Bà Chúa Kho và đề ra những giải pháp mang ý nghĩa thực tiễn
cao tôi chọn đề tài: “Đánh giá tác động hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tới
Trang 3môi trường tự nhiên tại Đền Bà Chua Kho (xã Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) và hệ thống các giải pháp”
2 Mục tiêu của đề tài
Việc thực hiện đề tài này nhằm:
- Phân tích đánh giá môi trường cảnh quan của khu di tích lịch sử- văn hoá Đền Bà Chua Kho
- Tìm hiểu nguyên nhân và dự báo các tác động môi trường của hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc ở khu vực
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường hiện tại và xây dựng mô hình bảo vệ môi trường cho khu vực trong tương lai
3 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài đã bước đầu đánh giá hiện trạng môi trường tự nhiên của khu di tích lịch sử văn hoá Đền Bà Chúa Kho, bao gồm môi trrường đất nước, không khí và hệ sinh thái, cũng như ảnh hưởng của các hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tới môi trường nơi đây Từ đó tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường hiện tại và đồng thời xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường bền vững
Nước ta có vị trí thuận lợi trong giao lưu quốc tế, có nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hoá, nghệ thuật Nhân dân ta giàu lòng mến khách Đó là những điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch thàng một ngành kinh tế quan trọng của đất nước Hướng tới 1000 năm Thăng long –Hà nội cùng với việc bảo tồn Đền Bà Chúa Kho, chúng tôi với mong muốn nâng cao
sự hiểu biết của người dân Việt Nam về các giá trị lịch sử văn hoá truyền thống, đồng thời giới thiệu cho du khác một địa điểm du lịch tâm linh để hiểu thêm về bản sắc văn hoá Việt Với mô hình bảo vệ môi trường tại Đền Bà Chúa Kho, đề tài có thể được mở rộng và nghiên cứu áp dụng ở những địa điểm di tích, danh lam thắng cảnh trong cả nước, nhằm tiến đến mục tiêu chung là xây dựng hình ảnh du lịch Việt Nam là du lịch văn hoá văn minh và thân thiện
Trang 4NỘI DUNG
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Lịch sử hoạt động tín ngưỡng Đền Bà Chúa Kho
Đã có truyền thuyết kể lại rằng: Ngày xưa ở đất Kinh Bắc vào tháng 3, tháng 9, nước ngập trắng cả một vùng, đồng thời hoang hoá, tưởng như sự sống chẳng thể nào có được nơi đây Bấy giờ, ở làng Quả Cảm có người con gái rất đẹp, nhan sắc tuyệt trần lại đảm đang tài giỏi Lúc đó bà đeo bên mình một bị trấu xuống tận núi Bài (Nham Biền) vừa lội đồng vừa vung trấu xuống nước, trấu trôi đến đâu bà lập ấp đến đó, khoanh vùng, trị thuỷ, dạy dân cày cấy Từ đó các làng Đại Tảo Sở, Cô Mễ, Quả Cảm, Thượng Đồng (72 trang ấp) dân cư đông đúc, vạn vật tốt tươi, cuộc sống no đủ, giàu có
Tiếng đồn về người con gái xứ Bắc đến kinh thành vua lý, vua liền đón
bà về cung và lấy làm vợ, bà trở thành vị Hoàng Phi của triều Lý Ngày ngày
ở nơi cung đình, Bà luôn nhớ về quê hương, lòng thương dân không dứt Một hôm Bà xin vua cho Bà về chốn cũ mong giúp dân làng làm ăn Tin tưởng ở tài năng, đức độ, lòng trung thực, tính chắt chiu của Bà, nhà vua đồng ý giao cho Bà trọng trách trông coi kho lương thực của triều đình ở ven sông Cầu để tiếp tế lương thực cho tướng sĩ trên chiến tuyến Như Nguyệt chống giặc Tống đồng thời cai quản một số tù binh do nhà Lý bắt được trong chiến tranh, đủ cung cấp cho quân Đại Việt phòng chống giặc Tống ngoại xâm
Cũng từ đó núi Cô Mễ mang tên núi Kho, làng Thượng Đồng được gọi
là làng Lẫm (làng Kho)
Sau đó Bà đã anh dũng hi sinh vì sự nghiệp đánh giặc giữ nước vào ngày 12 tháng Giêng âm lịch (1077) Nhà vua thương tiếc phong cho Bà làm Phúc Thần Nhân dân nhớ thương công ơn của Bà lập Đền trên núi Kho Nơi
Trang 5đặt kho lương xưa trở thành trung tâm thờ phụng và lễ hội của vùng Mọi người vẫn gọi Bà với niềm tôn kính thân thuộc Bà Chúa Kho.
2.2 Các công trình bảo tồn
Ban đầu Bà Chúa Kho chỉ là một ngôi miếu nhỏ dân ở làng tuần rằm nhang khói Đến đời Lê Huy Tông, niên hiệu Chính Hoà (1680-1705) miếu được xây dựng thành Đền lớn Toàn bộ công trình kiến trúc như: sắc phong, tượng, hoành phi, câu đối đỏ đều được tạo dựng trong thời gian này Ngoài
ra nhiều công trình cũng được mở rộng trong thời gian này như: Đền Trình, Cổng Tam Quan, sân Giải Vũ, toà Tiền Tế, cung Đệ Nhị, Hậu cung, trung tâm thờ tự tôn nghiêm với tượng Bà Chúa kho được chạm khắc rất công phu, tài nghệ Gần 200 năm sau công trình bị xuống cấp đời Nguyễn Dực Tông niên hiệu Tự Đức (1848 – 1883) dân làng Cô Mễ đã trùng tu lại diện mạo cơ bản của khu Đền
Qua thời gian chiến tranh tàn phá, Đền Bà Chúa Kho tuy được thường xuyên tu bổ, nhưng đến những năm 30 thế kỷ XIX thì sụp đổ hoàn toàn sau
đó được khắc phục dựng lại nhưng lại bị phá tan trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
Năm 1980 khi có chủ trương của nhà nước chống mê tín dị đoan thì ngôi Đền đã bị phá huỷ hoàn toàn, tượng Bà bị vứt xuống sông Đến khi nhà nước chủ trương cho tự do tín ngưỡng thì Đền Bà Chúa Kho mới được hoạt động trở lại Tượng Bà Chúa Kho đã được vớt lên trùng tu tôn tạo lại và đặt trong cung Thượng để ngày ngày tuần nhang hương khói tưởng nhớ công ơn của Bà
Sự hồi sinh thật sự của ngôi Đền được bắt đầu từ tháng 1 năm 1989, khi nhà nước chính thức ra quyết định công nhận toàn bộ khu di tích lịch sử - văn hoá làng Cô Mễ gồm Đền, Đình, Chùa là di tích lịch sử - văn hoá Từ khi
Trang 6được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hoá cộng với việc tuyên truyền của địa phương thì tín ngưỡng về Đền Bà Chúa Kho được phát triển.
Năm 1991, dưới sự lãnh đạo của chính quyền địa phương và ngành văn hoá các cấp cùng bách gia trăm họ, công đức tiền của dân làng Cô Mễ đã dựng lại ngôi Đền toạ lạc trên nền thiêng đất cũ Theo thuyết phong thuỷ, Đền toạ lạc trên đầu rồng (núi Cô Mễ, Thị Cầu) nối liền về phía Tây Nam là những quả đồi lớn nhỏ kéo dài đến Từ Sơn thì dừng lại, giống như hình con rồng đang uốn lượn, phun châu nhả ngọc Và tên đất, tên làng cũng tạo nên từ đó, gắn với bao truyền thuyết của một vùng văn hoá xứ Bắc, quê hương của 8 vị vua triều lý, với những làn điệu dân ca quan họ Bắc Ninh Đặc biệt pho tượng
Bà Chúa Kho đã được đúc lại bằng đồng và hoàn thành vào ngày 29/5/1993 (tức ngày 10/8 năm Quý Dậu) Bà Chúa Kho được an vị trong khám thờ của cung thượng Toàn bộ tượng được thếp vàng rực rỡ, ánh sáng của những ngọn nến bạch lạp đặt ở phía dưới khám thờ càng tôn thêm vẻ huyền ảo và tôn kính của ban thờ Bà
Từ trung tâm thành phố Bắc Ninh du khách theo quốc lộ 1 (đi Lạng Sơn) đến với suối Hoa rẽ 1000m là tới chân núi Kho, với hệ thống điện thờ trong khuôn viên 6000m2 tổng thể kiến trúc độc đáo Leo qua 15 bậc gạch đến khu sân thứ nhất (chiếu nghỉ) Qua 13 bậc nữa đến khu sân thượng tiếp thêm
11 bậc là nhà Tiền Tế, toà nhà này xưa là 3 gian 2 trái, phần khung gỗ làm kiểu rốn rồng kẻ tràng, 4 góc mái là 4 đầu đao cong vút Ngày 29 tháng 10 năm 1997, Công ty thương mại Bến Thành công đức trùng tu lại nguyên mẫu
cũ, bằng chất liệu quý, bền, chắc hơn Tiếp đó là 3 toà nhà đường bệ, trầm mặc trên đỉnh núi thoáng tĩnh, đây là trung tâm của Đền gồm 3 cung: cung Thượng, Cung Đệ Nhị, cung Đệ Tam
1 Cung Thượng: gian giữa thờ Bà Chúa Kho, gian bên phải đặt ban thờ Đức Ông, gian bên cạnh đặt ban thờ Chấu Bà
Trang 72 Cung Đệ Nhị: là bàn thờ Tam toà Thánh Mẫu
3 Cung Đệ Tam: gian giữa (ban trên) thớ Tứ Phủ Công Đồng Ban dưới thờ Ngũ Hổ, gian bên phải thờ ông Hoàng Bơ (Ba) Kề cạnh là 2 gian nhà thờ đặt ban thờ Cô, ban thờ Cậu
Ở phía Tây khu Đền đặt ban thờ Mẫu Cửu Trùng Thiên (dân gian còn gọi là bàn Trùng cửu, hoặc đài Cửu Thiên) cao 4m
Ngoài ra một số công trình kiến trúc khác phục vụ du khách nghỉ ngơi, soạn hành lễ Các công trình này cũng vừa được xây dựng khang trang mang đậm bản sắc phương Đông
Sau ngôi Đền Bà Chúa Kho là nhà thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh được xây dựng năm 1998 để tưởng nhớ đến một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam
Đến nay, dù trải qua những thăng trầm của lịch sử, chiến tranh tàn phá, cùng những hiểu biết khác nhau của người dân thì tín ngưỡng về Bà Chúa Kho vẫn giữ nguyên giá trị Nó là món ăn tinh thần không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của mỗi người dân Việt Nam Tín ngưỡng về Bà Chúa Kho từ lâu là chỗ dựa tinh thần cho dân làng Cô Mễ và hoà vào mạch nguồn tín ngưỡng dân tộc
2.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến Đền Bà Chúa Kho
Khu di tích lịch sử - văn hoá Đền Bà Chúa Kho có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống văn hoá tâm linh của nhiều người dân Việt, đã thu hút nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau đó là: kiến trúc, văn hoá dân gian, lịch sử, du lịch
Trong đề án phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh (2006), công trình nghiên cứu đã đề cập đến Bà Chúa Kho như: mục đích đến Đền của du khách, lượt khách trung bình đến hàng năm
Trang 8Trong sách non nước Việt Nam – sách hướng dẫn du lịch của Tổng cục
Du lịch Việt Nam – NXB Hà Nội 2006, đã giới thiệu khái quát về lịch sử Đền
Bà Chúa Kho, kiến trúc Đền, mục đích của người đi cầu
Tất cả những nghiên cứu trên đều nhằm tìm hiểu về lịch sử văn hoá Đền Bà Chúa Kho, bảo tồn và phát triển những giá trị của khu di tích này
Hiện nay, cùng với hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc là các hoạt động
du lịch, thương mại tại khu di tích đã nảy sinh nhiều vấn đề bất cập mà các nhà tổ chức và các cơ quan chức năng chưa kiểm soát được Đề tài này không ngoài mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững khu di tích, chúng tôi đã xem xét vấn đề ở một khía cạnh khác đó là nguy cơ xuống cấp môi trường tự nhiên trước tác động của các hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc
Trang 9Chương 2: ĐỐI TƯỢNG - THỜI ĐIỂM - ĐỊA ĐIỂM –
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Kiến trúc Đền Bà Chúa Kho
- Hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc Đền Bà Chúa Kho
- Môi trường tự nhiên của khu vực
2.2 Thời điểm nghiên cứu
Từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2008
2.3 Địa điểm nghiên cứu
Tại Đền Bà Chúa Kho thuộc thôn Cô Mễ xã Vũ Ninh thành phố Bắc Ninh và khu vực phụ cận
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát - điều tra
+ Quan sát các hoạt động Tế, Lễ diễn ra tại lễ hội
+ Quan sát hoạt động của người tham gia lễ hội
+ Quan sát công tác quản lý và tổ chức lễ hội
+ Điều tra tình hình xây dựng, bảo tồn và phục vụ lễ hội
+ Điều tra thực địa khu vực Đền Bà Chúa Kho
- Phương pháp thu thập số liệu và tài liệu có liên quan
Tôi đã thu thập số liệu có liên quan đến đề tài từ phía ban quản lí khu
di tích, các tài liệu về Đền Bà Chúa Kho cũng như một số tài liệu liên quan khác
- Phương pháp dự báo
Dựa vào hiện trạng môi trường tự nhiên, các hoạt động tín ngưỡng tại khu di tích lịch sử - văn hoá Đền Bà Chúa Kho để đưa ra xu hướng diễn biến môi trường trong tương lai
Trang 10Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tại Đền Bà Chúa Kho
Hiện nay việc tổ chức hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc của Đền Bà Chúa Kho tuân theo quyết định số 100 VHQĐ ngày 21/01/1989 về việc công nhận Đền Bà Chúa Kho là di tích lịch sử văn hoá
Theo tín ngưỡng dân gian Việt Nam, mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm, là mùa để vạn vật sinh sôi nảy nở đồng thời là mùa có nhiều dịp lễ hội quan trọng: tết Nguyên Đán, Rằm Tháng Giêng (Tết Nguyên Tiêu), lễ hội Chùa Hương vào tháng 2 âm lịch Và khi đi lễ ở bất kì nơi nào người dân cũng đều mong muốn một điều là cầu được ước thấy Quan niệm của người Việt Nam là “có Thánh có thiêng” chính vì thế mỗi địa danh đều gắn với mục đích mong muốn của người dân như để cầu con cái lên Chùa Hương (tháng 2
âm lịch); cầu xuất ngoại lên Bia Bà, La Cả, La Khê thuộc Hà Đông, Hà Nội;
để cầu quan chức xin ở Đền Trần Nam Định, Đền Đức Thánh Cả thuộc quần thể chùa Hương, Đền Cửa Ông, động Tam Thanh, Nhị Thanh, Đền Cô Chín bên sông Đồng Dao Nhưng về tài lộc có thuyết đã nói phong trào xin lộc ở Đền Bà Chúa Kho là tâm điểm nhất Mỗi du khách khi hành hương về Đền đều mong muốn được đắc tài đắc lộc, mong được Bà phù hộ Ở Đền Bà Chúa Kho, lượng khách hành hương về Đền hàng năm tăng lên đáng kể vào dịp lễ hội 3 tháng đầu năm (10/01 đến hết tháng 3 âm lịch) và 3 tháng cuối năm (từ tháng 10 đến hết tháng 12 âm lịch) Ngoài ra số lượng khách vãng lai hành hương vào các dịp khác trong năm đều tăng Theo ban di tích sở văn hoá - thể thao - du lịch tỉnh Bắc Ninh, lượng khách trung bình đến điểm này vào năm
2006 đạt 25000 – 30000 lượt/năm, năm 2007, 2008 số lượng du khách đến đây tăng gấp 2 đến 3 lần thậm chí có thể hơn, trong đó chủ yếu là vào dịp lễ hội Du khách đến đây không chỉ có du khách trong nước mà cả du khách nước ngoài trong đó du khách trong nước chiếm 93,2%, du khách quốc tế
Trang 11chiếm 6,8% Tâm nguyện của người đi lễ rất khác nhau tuỳ thuộc vào ngành nghề, lứa tuổi, hoàn cảnh nhưng chủ yếu du khách đến đây để dâng hương, cầu tài, cầu lộc, cầu bình an, xin vay, nhờ Bà hộ độ, trả nợ năm cũ
Lễ hội ở Đền Bà Chúa Kho về cơ bản vẫn duy trì các lễ nghi truyền thống trang trọng như: tế lễ, dâng hương, tổ chức các trò chơi dân gian như cướp cầu, đô vật, chọi gà, hát quan họ, Bên cạnh những nghi thức truyền thống xưa thì bây giờ hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc là loại hình tín ngưỡng phát triển nhất ở Đền Bà Chúa Kho Hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc tại Đền
Bà Chúa Kho gồm có các hình thức: xin lộc rơi, lộc vãi và hình thức vay trả
3.2 Các vấn đề môi trường đặt ra
Các hoạt động của du khách và dân địa phương có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên môi trường tự nhiên ở nhiều mức độ khác nhau Nếu như không được quan tâm bảo vệ kịp thời thì nguy cơ cạn kiệt, suy thoái tài nguyên môi trường là điều không thể tránh khỏi Tại Đền Bà Chúa Kho tín ngưỡng cầu tài lộc, tham quan du lịch đang rất phát triển chính điều đó đã góp phần làm cho môi trường ngày một suy thoái nghiêm trọng hơn
Hiện nay hoạt động tín ngưỡng cầu tài lộc đã được coi là một hoạt động tín ngưỡng lành mạnh Do vậy việc giữ gìn hoạt động tín ngưỡng này đi kèm với bảo vệ giá trị Đền Bà Chúa Kho Chính vì vậy để bảo tồn những giá trị vật thể - phi vật thể nên có sự kết hợp giữa du lịch di tích lịch sử danh lam thắng cảnh với du lịch sinh thái Chi cục kiểm lâm Bắc Ninh cùng với ban quản lí Đền Bà Chúa Kho và sở tài nguyên môi trường tỉnh Bắc Ninh đã trồng và phát triển rừng sinh thái sau khu vực Đền Bà Chúa Kho (núi Kho) Đây là khu rừng đặc dụng nằm trong khu di tích lịch sử được bảo vệ và phát triển, hứa hẹn là khu vực sinh thái trong lành, cảnh quan đẹp Du khách đến đây không chỉ được thoả mãn về nhu cầu tín ngưỡng cầu tài lộc mà còn thoả mãn về nhu cầu thăm thú cảnh sắc thiên nhiên
Trang 12Trên thực tế, những vấn đề đặt ra cho môi trường tự nhiên có thể bị tác động theo hướng tiêu cực Hiện trạng môi trường tự nhiên ở Đền Bà Chúa Kho cụ thể như sau:
3.2.1 Môi trường không khí
Vào dịp lễ hội chính nhìn bầu không khí của khu vực Đền thấy khói bốc lên nghi ngút Khói hương cùng với việc đốt vàng mã, hoá sớ quá nhiều tại các điểm nhà hoá sớ khiến bầu không khí trở nên ngột ngạt Cùng với đó việc đốt sớ, vàng mã qua nhiều gây ra muội than lơ lửng, muội đen bám xung quanh các khu vực Đền gây mất mĩ quan Lượng vàng mã đốt cũng thay đổi theo số lượng khách đến Đền, vào mùa xin lộc đầu năm và trả lễ cuối năm thì lượng vàng mã đốt nhiều không thể kiểm soát nổi Đó là vì nhiều du khách hiểu sai về tín ngưỡng cầu tài lộc mang theo quan niệm “tốt lễ dễ kêu”, “lễ sao lộc vậy” nên họ sắp lễ to vàng mã nhiều Các thời gian còn lại trong năm
số lượng du khách ít hơn do vậy mà lượng vàng mã cũng đốt ít hơn Vàng mã
có thể do du khách chuẩn bị trước ở nhà hoặc khi đến Đền mới bắt đầu mua ở những hàng vàng mã ở cửa Đền, số lượng vàng mã du khách đốt ngày một tăng do đó kéo theo số lượng hàng bán vàng mã cũng tăng theo Cụ thể số lượng cửa hàng bán vàng mã tăng lên qua các năm như sau (tính từ Đền Trình đến Đền chính):
Năm Số lượng hàng kinh doanh bán đồ vàng mã,viết sớ
Để đáp ứng nhu cầu của du khách thập phương, ban quản lí di tích đã
xây dựng hai khu hoá vàng mã có kích thước mỗi khu là 3.8m x 2m x 2.2m
nhưng vào mùa lễ hội vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu hoá vàng mã của du khách Sản phẩm của đốt vàng mã là nhiều khí thải độc hại như: C (bụi than),
Trang 13CO, CO2, SOx (SO, SO2, SO3), NOx (NO, NO2, N2O5) các chất này khi vào trong không khí có khả năng gây nên hiện tượng mưa axit
Đặc biệt, Đền Bà Chúa Kho nằm trên núi nên khí đốt có khả năng phân tán ra xung quanh bao phủ lên một diện tích làng mạc, đồng ruộng rất lớn Khi không có gió khói bụi có thể lan phủ trong không khí theo quy tắc Gause:
Gọi h1 là chiều cao của ngôi Đền so với mặt đất xung quanh
h2 là chiều cao của ống khói
h = h1 + h2
Bán kính lan toả của bụi trong không khí bằng 15 – 30h Ngôi Đền ở vị trí càng cao so với mặt đất xung quanh thì bán kính lan toả của bụi càng lớn
và nó gây ra tác hại càng nhiều Sự tương ứng giữa tốc độ gió và chiều cao
của ống khói được thể hiện trong bảng sau (trích từ “Acidrain” của các tác
giả Stephen Tilling, Andy Nisbet, Keith Chell)
Chiều cao ống khói so với mặt đất (m) Tốc độ gió trung bình(km/phút)
Các hoạt động giao thông vận tải đặc biệt vào dịp lễ hội hàng ngàn xe
cơ giới đổ về đây với đủ các loại phương tiện như các loại xe ô tô, mô tô 2 bánh hoạt động hết công suất vào mùa lễ hội để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân Các khí thải bao gồm các khí độc hại phát sinh trong quá trình đốt cháy nhiên liệu của các loại động cơ đốt trong như: CO, CO2, hơi chì, NOx,
Trang 14SOx là nguyên nhân gây ô nhiễm lớn tới không khí ở khu vực Đền và các vùng phụ cận.
Lượng khách hành hương đến với Đền Bà Chúa Kho ngày một tăng là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường không khí do nguồn CO2 thải ra tăng đột biến Khu vực Đền thì nhỏ hẹp mà lượng CO2 tăng đột biến như vậy
đã làm cho bầu không khí trở nên ngột ngạt khó chịu, nhiệt độ cũng tăng lên
so với nhiệt độ trung bình của thời tiết Hơn nữa sự khuếch tán chậm không khí làm cho lượng CO2 khó phân tán vào tầng khí cao hơn do vậy ảnh hưởng đến hệ hô hấp của con người
3.2.2 Chất thải rắn và môi trường đất
Những ngày thường lệ, lượng du khách không quá nhiều, rác thải sinh hoạt ở dạng rắn được thu gom và đưa ra khỏi khu dân cư nhìn chung môi trường rất trong sạch đảm bảo cho sức khoẻ
Vào dịp lễ hội tình trạng rác thải trở nên quá tải, lượng rác khổng lồ tập trung tại một khu vực nhỏ hẹp diễn ra lễ hội Việc vứt rác bừa bãi là nguyên nhân trực tiếp làm lượng rác thải rắn tăng lên khó kiểm soát
Rác thải chủ yếu là bao bì đựng các sản phẩm ăn uống được du khách
sử dụng và vô ý thải ra mọi nơi không đúng quy định Thực trạng ở khu di tích là chưa trang bị các thiết bị thu gom và chứa rác thải nên có một số du khách bỏ rác đúng nơi quy định cũng không biết bỏ vào đâu? Đó là chưa kể đến sự hoạt động hết công suất của các nhà hàng phục vụ ăn uống đã thải ra lượng rác rất lớn, bao gồm nhiều loại như: các loại rác thải sinh hoạt như bao
ni lông, vỏ lon nước ngọt, giấy ăn, thức ăn dư thừa Lượng rác thải ngày một nhiều hơn do số lượng du khách ngày một đông và số lượng cửa hàng phục vụ
ăn uống cũng tăng rất nhanh theo các năm như sau (tính từ Đền Trình đến Đền chính):
Năm Số cửa hàng phục vụ ăn uống
Trang 152006 20 – 30
Các loại chất thải rắn thải ra một cách hỗn độn nên việc phân loại và xử
lí rất khó khăn Trên thực tế, một lượng rác lớn không được đem xuống mà để sau khu di tích, các loại rác thải đó một phần được lấp đi nhưng một phần bị
lộ thiên ra ngoài vừa làm mất mĩ quan và là nguồn gây ô nhiễm rất lớn đối với môi trường đất
Lượng rác thải quá lớn nên các vi sinh vật đồng hoá các rác thải có bản chất hữu cơ bị quá tải Đây là nguyên nhân gây hại đến những vi sinh vật trong đất Rác thải ngày càng nhiều lại không được phân huỷ kịp thời, làm cho môi trường đất nay lại càng ô nhiễm Đặc biệt khí hậu quanh năm nóng
ẩm, mưa nhiều nhiệt độ trung bình / năm dao động 24,30C – 25,10C Độ ẩm tương đối trung bình 79% là điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật gây bệnh phát triển
Trong khu vực rừng sinh thái tại Đền Bà Chúa Kho còn có một số nhà
vệ sinh không được quy hoạch xây dựng gọn gàng, chỉ là những tấm đan bằng nứa, cói tự che lại, làm mất mĩ quan và bốc mùi khó chịu
Những người trong ban quản lí Đền chủ yếu là những người cao tuổi hàng ngày chăm lo các công việc trong Đền như quản lí, chăm lo hương khói,
tu bổ, vệ sinh chưa có nhân công thu gom rác riêng Nên với nhân lực như vậy khó có thể đảm trách được hết công việc trên toàn bộ khu di tích
Quá trình xây thêm các công trình nhà ở, nhà ăn, nhà nghỉ việc nạo vét, san lấp để giải phóng mặt bằng gây hậu quả làm tăng độ trầm lắng trong nước
do quá trình hoà tan cơ học, làm thay đổi tầng thổ nhưỡng rất có thể dẫn tới hiện tượng sụt lở, gây rửa trôi bào mòn Mà đất ở đây chủ yếu là đất feralit có thành phần cơ giới nặng, kém tơi xốp, đất có độ dày trung bình nên khi mất
Trang 16lớp phủ rừng đất rất dễ bị rửa trôi và bào mòn trong mùa mưa do đó nếu không có biện pháp bảo vệ, đất nghèo đi nhanh chóng.
3.2.3 Môi trường nước
3.2.3.1 Nước mặt
Việc thải rác bừa bãi, chủ yếu là rác sinh hoạt từ dân địa phương, từ các
cơ sở dịch vụ, các cửa hàng kinh doanh, đặc biệt từ khách thập phương làm cho nguồn nước mặt bị ô nhiễm nặng bởi cặn bã hữu cơ, chất vô cơ độc hại, kèm theo các loài sinh vật gây bệnh
Sông Cầu là một tuyến thuỷ lợi cách Đền Bà Chúa Kho không xa, nguồn nước ở đây cũng bị ảnh hưởng Rác thải sinh hoạt ở dạng lỏng, dạng rắn được tập trung ở hệ thống cống rãnh, mương máng do các nhà ăn, quán xá
đổ trực tiếp vào sông Cầu làm nước sông bị ô nhiễm gây ô nhiễm cả khu vực thành phố Băc Ninh, Bắc Giang
Ngoài ra các phương tiện cơ giới phục vụ lễ hội trong quá trình hoạt động cũng để lại một lượng xăng dầu rơi vãi đáng kể (trong thành phần xăng dầu có chì và các hidrocacbon (CxHy)) theo nước mưa ngấm xuống đất chảy xuống các hệ thống mương máng thuỷ lợi làm ô nhiễm tầng nước mặt
Ô nhiễm vi sinh vật nước mặt thường gặp ở các khu vực nhận nước thải sinh hoạt Mùa lễ hội, lượng khách thập phương rất lớn dẫn đến lượng nước thải, rác thải sinh hoạt cũng rất lớn mang theo nhiều mầm bệnh Vì vậy để hạn chế lượng vi sinh vật này cần quản lý tốt nguồn thải, xử lý tốt nguồn nước thải trước khi cho ra bể chứa cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường khu dân cư