ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ NGUYỄN SƠN HÙNG PHÂN TÍCH THIẾT KẾ THỜI GIAN THỰC TRONG THANH TOÁN TRỰC TUYẾN GIỮA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VỚI NGÂN HÀNG Ngành: Công nghệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN SƠN HÙNG
PHÂN TÍCH THIẾT KẾ THỜI GIAN THỰC TRONG THANH TOÁN TRỰC TUYẾN GIỮA CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN VỚI NGÂN HÀNG
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Hệ thống thông tin
Mã số: 60.48.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Hà Nội, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
PHÂN TÍCH THIẾT KẾ THỜI GIAN THỰC TRONG THANH TOÁN TRỰC TUYẾN GIỮA CÔNG
TY CHỨNG KHOÁN VỚI NGÂN HÀNG
Ngành: Công nghệ thông tin
Chuyên ngành: Hệ thống thông tin
Mã số: 60.48.05
Học viên : Nguyễn Sơn Hùng Giáo viên hướng dẫn : PGS TS Nguyễn Văn Vỵ
Hà Nội, 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Văn Vỵ, Bộ môn Các Hệ thống thông tin, Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc Gia Hà Nội, người đã hết lòng hướng dẫn, tạo điều kiện cho em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em xin cám ơn PGS.TS Đỗ Trung Tuấn, các thầy, các cô trong trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy chúng em, giúp đỡ động viên chúng em từ những ngày đầu bước vào cánh cổng trường Đại học Thầy
cô đã tạo cho chúng em môi trường học tập, những điều kiện thuận lợi cho chúng
em được học tập tốt, trang bị cho chúng em những kiến thức quý báu giúp chúng
em có thể vững bước trong tương lai
Cám ơn các bạn sinh viên K19 đã giúp đỡ, cùng nghiên cứu và chia sẻ với tôi trong suốt quá trình đào tạo và hoàn thành khóa đào tạo sau đại học tại Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Cuối cùng, tôi xin gửi thành quả này tới gia đình và người thân của tôi, những người đã hết lòng tạo điều kiện và động viên tôi để tôi có được kết quả ngày hôm nay
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã cố gắng tập trung tìm hiểu và tham khảo các tài liệu liên quan Tuy nhiên, với thời gian và trình độ có hạn nên không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được các nhận xét và góp
ý của các thầy cô giáo và bạn bè, những người cùng quan tâm để hoàn thiện hơn các kết quả nghiên cứu của mình
Hà Nội, 9/2015
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC I DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT III DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU V MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1
VỀ THỜI GIAN THỰC TRONG THANH TOÁN GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 4
1.1 K HÁI QUÁT Về HOạT ĐộNG GIAO DịCH CHứNG KHOÁN TạI V IệT N AM 4
1.1.1 Chứng khoán 4
1.1.2 Một số khái niệm liên quan 7
1.2 H OạT ĐộNG GIAO DịCH CHứNG KHOÁN TạI V IệT N AM 8
1.2.1 Một số vai trò trong hoạt động giao dịch 8
1.2.2 Thị trường chứng khoán 9
1.3 V ấN Đề THờI GIAN THựC TRONG THANH TOÁN CHứNG KHOÁN 12
1.3.1 Khái niệm thời gian thực 12
1.3.2 Hệ thời gian thực và điều khiển thời gian thực 13
1.3.3 Giao dịch mua, bán và thanh toán chứng khoán 21
1.3.4 Khái niệm thời gian thực áp dụng trong thanh toán chứng khoán 22
1.3.5 Vấn đề thời gian thực trong thanh toán chứng khoán 23
1.4 H ệ THốNG KếT NốI GIAO DịCH THANH TOÁN CHứNG KHOÁN TạI MộT NGÂN HÀNG ở V IệT N AM 23
1.4.1 Hệ thống kết nối cổng kết nối thanh toán chứng khoán trực tuyến 24
1.4.2 Đánh giá khảo sát sản phẩm 27
1.5 K HảO SÁT MộT Số THị TRƯờNG CHứNG KHOÁN TRÊN THế GIớI 29
1.5.1 Lịch sử thị trường chứng khoán thế giới, sơ khai 29
1.5.2 Sở giao dịch đầu tiên 30
1.5.3 Sở giao dịch chứng khoán New York 31
1.5.4 Thị trường chứng khoán Nasdaq 32
1.5.5 Thị trường chứng khoán Thượng Hải (SSE) 33
1.5.6 Thị trường chứng khoán Tokyo 34
1.5.7 Sở giao dịch chứng khoán London 35
1.6 K ếT LUậN CHƯƠNG 36
CHƯƠNG 2
THIẾT KẾ HỆ THỐNG THỜI GIAN THỰC TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO DỊCH MUA, BÁN VÀ THANH TOÁN CHỨNG KHOÁN 37
2.1 T HÍ Dụ Về PHÂN TÍCH , THIếT Kế Hệ THốNG CHứNG KHOÁN 37
2.1.1 Kiến trúc tổng thể 37
Trang 52.1.2 Cơ chế kết nối trong ADO của ASP 38
2.1.3 Biểu đồ thiết kế vật lí 39
2.1.4 Biểu đồ cơ sở dữ liệu vật lí 41
2.2 P HÂN TÍCH THIếT Kế TổNG QUÁT ĐốI VớI Hệ THốNG KếT NốI THANH TOÁN CHứNG KHOÁN THờI GIAN THựC 43
2.2.1 Phân tích thiết kế các yếu tố ảnh hưởng đến giao dịch theo thời gian tối ưu đối với giao dịch chứng khoán 43
2.2.2 Thiết kế các khía cạnh thời gian thực trong hệ thống giao dịch chứng khoán 47
2.2.3 Thiết kế tổng quát hệ thống kết nối thanh toán chứng khoán 48
2.3 K ếT LUậN CHƯƠNG 59
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ THỬ NGHIỆM TẠI NGÂN HÀNG BI DV 61
Về nơi công tác của học viên 61
Về sản phẩm thử nghiệm 62
3.1 X ử LÍ GIAO DịCH 63
3.1.1 Giao dịch viên tiếp nhận giao dịch và kiểm tra 63
3.1.2 Vấn tin đặt lệnh mua bán chứng khoán 64
3.1.3 Báo cáo giao dịch 66
3.2 P HầN CHứC NĂNG GIÀNH CHO KSV 66
3.2.1 Quản lý người sử dụng CTCK 66
3.2.2 Nhiệm vụ kiểm soát viên 67
3.2.3 Giải hạn chế tất cả tài khoản tiền gửi thanh toán nhà đầu tư CTCK 68
3.3 G IAO DịCH 68
3.3.1 Nhận và xuất file 68
3.3.2 Xử lý giao dịch 71
3.3.3 Sửa lỗi sai EC 73
3.3.4 Vấn tin 74
3.3.5 Đối chiếu 75
3.3.6 Báo cáo giao dịch 76
3.4 K ếT LUậN CHƯƠNG 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Automated Quotations system
Trang 7QoS Chất lƣợng dịch vụ
gọi là Sàn giao dịch chứng khoán)
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Cổ phiếu 5
Hình 1.2 Trái phiếu 6
Hình 1.3 Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội 7
Hình 1.4 Nhà đầu tư chứng khoán 8
Hình 1.5 Ngân hàng 9
Hình 1.6 Minh họa thời gian thực 14
Hình 1.7 Các yêu cầu khác nhau về hệ thống thời gian thực 16
Hình 1.8 Tác vụ qui định trong chuẩn IEC 61131-3 18
Hình 1.9 Minh họa sơ đồ luồng giao dịch chứng khoán đặt lệnh 22
Hình 1.10 Sản phẩm đạt giải 24
Hình 1.11 Giao diện chính của cổng kết nối thanh toán chứng khoán trực tuyến 29
Hình 2.1 Kiến trúc khách/ chủ 37
Hình 2.2 Mô hình kết nối 3-tier 38
Hình 2.3 Đặt xử lí lệnh 39
Hình 2.4 Chức năng quản lý khách hàng 40
Hình 2.5 Tra cứu của khách hàng 41
Hình 2.6 Chức năng báo cáo 41
Hình 2.7 Đồng bộ dữ liệu 41
Hình 2.8 Sơ đồ quan hê ̣ 42
Hình 2.9 Các lược đồ của các bảng dữ liệu 43
Hình 2.10 Mối quan hê ̣ giữa khách hàng, công ty chứng khoán và ngân hàng 49 Hình 2.11 Sơ đồ giao dịch đặt lệnh mua 51
Hình 2.12 Mô hình thời gian xử lý giao dịch đặt lệnh mua hợp lệ 53
Hình 2.13 Mô hình thời gian xử lý giao dịch đặt lệnh mua không hợp lệ 54
Hình 2.14 Mô hình kết nối message queue 56
Hình 2.15 Sơ đồ giao dịch đặt lệnh bán 58
Hình 2.16 Mô hình kết nối tổng quan về hệ thống kết nối thanh toán chứng khoán 58
Hình 3.a Trang tin giới thiệu về Ngân hàng BI.DV 61
Hình 3.b Giải thưởng và hồ sơ sản phẩm 63
Hình 3.1 Xử lí bảng kê 64
Hình 3.2 Vấn tin giao dịch 64
Hình 3.3 In báo cáo về giao dịch 64
Hình 3.4 Giao dịch hạch toán 65
Hình 3.5 Vấn tin giao dịch phong tỏa 66
Hình 3.6 Yêu cầu in báo cáo 66
Hình 3.7 Giao diện thêm người dùng 66
Hình 3.8 Xác nhận chấp nhận người dùng mới 67
Hình 3.7 Trạng thái đầu ngày 68
Hình 3.10 Giải hạn chế các tài khoản tiền gửi 68
Hình 3.11 Nhận bản kê giao dịch theo lô 68
Hình 3.12 Danh sách đến 69
Hình 3.13 Giải mã kiểm tra chữ kí 69
Hình 3.14 Kết quả bảng kê giao dịch chứng khoán 70
Trang 9Hình 3.15 Yêu cầu phong tỏa 70
Hình 3.16 Chức năng xuất file 71
Hình 3.17 Duyệt bảng giao dịch 71
Hình 3.18 Hiển thị giao dịch 71
Hình 3.19 Giao dịch không thành công 72
Hình 3.20 Hiển thị giao dịch 72
Hình 3.21 Chức năng phong tỏa nhà đầu tƣ 72
Hình 3.22 Chấp nhận phong tỏa 73
Hình 3.23 Bút toán đẩy thành công 73
Hình 3.24 Hiển thị giao dịch bút toán 74
Hình 3.25 EC không thành công 74
Hình 3.26 Vấn tin trạng thái lô 75
Hình 3.27 Kết quả vấn tin theo lô 75
Hình 3.28 Yêu cầu đối chiếu 76
Hình 3.29 Báo cáo giao dịch 76
Trang 10MỞ ĐẦU
Theo Luật số 27/VBHN-VPQH của Quốc hội nước Việt Nam ban hành ngày 18/12/2013, Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử Việc mua bán chứng khoán quy định được phải thực hiện tập trung trên sàn giao dịch chứng khoán Quốc gia thông qua các Công ty chứng khoán và các ngân hàng nơi mở tài khoản của người sở hữu cổ phiếu và Công ty chứng khoán
Như vậy, trong quan hệ mua bán và thanh toán chứng khoán ở đây có các tác nhân với các quan hệ như sau: (i) Nhà đầu tư là các cá nhân hoặc nhà đầu tư chuyên nghiệp là các tổ chức thực hiện yêu cầu mua/bán (đặt lệnh) thông qua Công ty chứng khoán; (ii) Công ty chứng khoán thực hiện quản lý danh mục chứng khoán của nhà đầu tư và thực hiện lệnh mua/bán của nhà đầu tư trên sàn giao dịch chứng khoán; (iii) Sau khi khớp lệnh tại Trung tâm giao dịch chứng khoán quốc gia các chứng khoán sẽ được chuyển quyền sở hữu cho nhà đầu tư sau 03 ngày kể từ ngày đặt lệnh; (iv) Ngân hàng là nơi quản lý giá trị bằng tiền tương ứng với khối lượng nhà đầu tư mua chứng khoán hoặc bằng tiền nhận về khi bán chứng khoán Quan hệ giữa Ngân hàng và Công ty chứng khoán là quan hệ tin tưởng và rất chặt chẽ Công
ty chứng khoán quản lý khối lượng chứng khoán của nhà đầu tư và ngân hàng quản
lý tiền, giá trị thanh toán của các khoản đầu tư
Trở ngại lớn trong giao dịch chứng khoán là thời gian giao dịch trong khoảng được xác định và tại 1 thời điểm khối lượng giao dịch tăng đột biến Theo thống kê, hiện nay có khoảng 20 triệu nhà đầu tư, nếu trong 1 thời điểm khoảng 30% số nhà đầu tư cùng ra lệnh mua hoặc bán thì khối lượng giao dịch vào khoảng 6 triệu giao dịch nếu chia đều cho 150 Công ty chứng khoán thì tại 1 thời điểm mỗi Công ty phải thực hiện khoảng 500000 giao dịch Để khắc phục vấn đề này, cần phải đưa ra giải pháp nhằm đảm bảo tiếp nhận đầy đủ các lệnh giao dịch chứng khoán nhưng với mức đầu tư không ở trạng thái tối đa mà đầu tư các hệ thống CNTT ở mức trung bình với thời gian thực hiện là chấp nhận được
Thực tế cho thấy nhiều Công ty chứng khoán nhỏ không đầu tư hệ thống công
Trang 11nghệ mà cử nhân sự ngồi ngay tại sàn giao dịch chứng khoán và thực hiện nhập ngay lệnh vào hệ thống Đây là phương thức đầu tư thấp nhất nhưng rủi ro cao nhất
vì thực hiện hoàn toàn thủ công, cũng như rất khó duy trì khi khối lượng khách hàng tăng lên nhanh chóng Như vậy, để phát triển bền vững Công ty chứng khoán
và ngân hàng cần xây dựng các hệ thống thanh toán điện tử đồng bộ với các phương
thức thanh toán được hỗ trợ bởi hệ thống công nghệ phù hợp
Từ nhìn nhận về yêu cầu kỹ thuật và phương thức triển khai thực tế, đề tài nghiên cứu vấn đề thời gian thực trong hệ thống thanh toán chứng khoán với ngân hàng nhằm nghiên cứu phân tích, đánh giá ứng dụng công nghệ thông tin đảm bảo yếu tố thời gian thực trong giao dịch thanh toán chứng khoán để xây dựng các giải pháp phù hợp với mức độ tin cậy và mức đầu tư trong thanh toán chứng khoán của các ngân hàng
Trong hoạt động giao dịch và thanh toán chứng khoán có nhiều thủ tục, dịch vụ như lưu ký chứng khoán, hợp đồng tương lai, giao dịch thảo thuận, đầu tư vào quỹ đầu tư, Tuy nhiên, do rất nhiều hoạt động xảy ra ngoài hệ thống nên đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu, phân tích quá trình đặt lệnh và thực hiện thanh toán mua bán chứng khoán của nhà đầu tư từ khi đặt lệnh đến khi hoàn tất giao dịch thanh toán
Có nghĩa là việc xác định danh tính, số lượng chứng khoán, tài khoản tại ngân hàng, được coi là các thông tin hợp lệ để tập trung vào tìm hiểu và phân tích hệ thống ứng dụng công nghệ theo thời gian thực thi tốt nhất
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài là tìm hiểu các quy định về Pháp luật chứng khoán, các mô hình thanh toán chúng khoán trực tuyến, tìm hiểu về mô hình
xử lý theo thời gian thực, để từ đó đưa ra giải pháp ứng dụng phù hợp
Nội dung của luận văn gồm có phần mở đầu, ba chương nội dung và phần kết luận:
Chương 1 Về thời gian thực trong chứng khoán : Giới thiệu về Chứng khoán,
giao dịch và thanh toán chứng khoán; Khía cạnh thời gian thực trong giao dịch chứng khoán; Nhu cầu ứng dụng công nghệ trong kết nối thanh toán chứng khoán giữa Công ty chứng khoán và ngân hàng
Chương 2 Thiết kế hệ thống thời gian thực trong hoạt động giao dịch mua, bán
Trang 12trong hệ thống; Các chức năng trong hệ thống
Chương 3 Thử nghiệm : thử nghiệm giao dịch chứng khoán tại ngân hàng mà
được nêu trong chương 2
Đánh giá kết quả thử nghiệm thời gian thực trong hệ thống thanh toán chứng khoán và đưa ra những giải pháp phân tích thiết kế, đánh giá phù hợp nhất cho các
hệ thống thanh toán chứng khoán trực tuyến và định hướng nghiên cứu cho các hệ thống thanh toán qua ngân hàng của các sàn giao dịch hàng hóa khác
Trang 13CHƯƠNG 1
VỀ THỜI GIAN THỰC TRONG THANH TOÁN GIAO
DỊCH CHỨNG KHOÁN
Sàn giao dịch chứng khoán ở Việt Nam đã được thành lập và đi vào hoạt động
từ năm 2004 đến nay đã hơn 10 năm, sau nhiều lần sửa đổi quy định, hiện nay luật
chứng khoán đang áp dụng là Luật số 27 có hiệu lực từ năm 2013 Kể từ đây, ứng
dụng công nghệ trong thanh toán chứng khoán được đặt lên một vị trí mới với yêu
cầu công nghệ làm nòng cốt và không thể thiếu trong giao dịch chứng khoán tại
Việt Nam
Việc nghiên cứu xây dựng các hệ thống ứng dụng công nghệ để đảm bảo giao
dịch thành công, an toàn trong các dịch vụ thanh toán chứng khoán là một hướng
nghiên cứu rất cần thiết hiện nay yêu cầu phù hợp về thời gian và mức đầu tư công
nghệ tương ứng
Việc xây dựng các hệ thống thanh toán chứng khoán về mặt kỹ thuật chính là
ứng dụng các thành tựu tổng hợp về công nghệ thông tin áp dụng cho các mô hình
truy cập, kết nối ứng dụng trong thanh toán đảm bảo thời gian khớp lệnh giữa các
bên tham gia
1.1 Khái quát về hoạt động giao dịch chứng khoán tại Việt Nam
1.1.1 Chứng khoán
Theo [6] Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng
khoán được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử
Chứng khoán bao gồm các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư,
chứng khoán phái sinh
1.1.1.1 Cổ phiếu
Cổ phiếu [6] là một loại chứng khoán được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ
phiếu đối với tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần
Trang 14Cổ phiếu thường được đặc trưng bởi quyền quản lí, kiểm soát công ty Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được tham gia bầu hội đồng quả trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các vấn đề lớn của công ty cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hội đồng quản trị công bố Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho cổ phiếu ưu đãi
Cổ phiếu ưu đãi: là cổ phiếu có cổ tức xác định được thể hiện bằng số tiền xác định được in trên cổ phiếu hoặc theo tỉ lệ phần trăm cố định so với mệnh giá cổ phiếu, cổ phiếu ưu đãi thường được trả cổ tức trước các cổ phiếu thường Cổ đông
sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bỏ phiếu bầu ra hội đồng quản trị Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ phiếu ưu đãi được ưu tiên thanh toán trước các cổ phiếu thường
Hình 1.1 Cổ phiếu
1.1.1.2 Trái phiếu
Trái phiếu [6] là chứng khoán nợ, người phát hành trái phiếu phải trả lãi và hoàn trả gốc cho những người sở hữu trái phiếu vào lúc đáo hạn
Trái phiếu có thể phân theo nhiều tiêu chí khác nhau:
1 Căn cứ vào chủ thể phát hành, trái phiếu gồm hai loại chính là: trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương (do chính phủ và chính quyền địa phương phát hành) và trái phiếu công ty (do công ty phát hành)
2 Căn cứ vào tính chất chuyển đổi, trái phiếu được chia thành loại có khả năng chuyển đổi (chuyển đổi thành cổ phiếu) và loại không có khả năng chuyển
3 Căn cứ vào cách thức trả lãi, trái phiếu được chia thành các loại sau:
Trang 15 Trái phiếu có lãi suất cố định: là loại trái phiếu được thanh toán cố định theo định kỳ
Trái phiếu với lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu được thay đổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳng hạn như giá bán lẻ
Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được bán theo nguyên tắc chiết khấu Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu nằm dưới dạng lợi nhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập (nó là phần chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa - mệnh giá trái phiếu và giá mua)
Trái phiếu có bảo đảm và trái phiếu không có bảo đảm
Hình 1.2 Trái phiếu
1.1.1.3 Chứng khoán có thể chuvển đổi
Chứng khoán có thể chuyển đổi là những chứng khoán cho phép người nắm giữ nó, tuỳ theo lựa chọn và trong những điều kiện nhất định, có thể đổi nó lấy một chứng khoán khác
Thông thường có cổ phiếu ưu đãi được chuyển thành cổ phiếu thường và trái phiếu được chuyển thành cổ phiếu thường
1.1.1.4 Các chứng khoán phái sinh
Quyền mua cổ phần: là quyền ưu tiền mua trước dành cho các cổ đông hiện hữu của một công ty cổ phần
Chứng quyền là một loại chứng khoán trao cho người nắm giữ nó quyền
Trang 16và vào một thời gian nhất định
Hợp đồng kỳ hạn: là một thoả thuận trong đó người mua và người bán chấp nhận giao dịch hàng hoá với khối lượng nhất định, tại một thời điểm nhất định trong tương lai với một mức giá được ấn định vào ngàyhôm nay
Bên cạnh đó còn có các loại hợp đồng khác như: hợp đồng tương lai và quyền lựa chọn
1.1.2 Một số khái niệm liên quan
Người ta có một số khái niệm cơ bản, liên quan đến chứng khoán, được sử du ̣ng trong luận văn :
4 Trung tâm giao dịch chứng khoán Trung tâm giao dịch chứng
khoán (TTGDCK) là một doanh nghiệp được hoạt động theo khuôn khổ pháp luật về chứng khoán và kinh doanh Hình thái điển hình của Thị trường chứng khoán tập trung là TTGDCK (Stock exchange) Tại TTGDCK, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch Các chứng Khoán được niêm yết tại TTGDCK thông thường là chứng khoán của các công ty lớn, có danh tiếng và đã trải qua thử thách trên thị trường, đáp ứng được tiêu chuẩn niêm yết
Hình 1.3 Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
TTGDCK là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới chứng khoán, là cơ quan phục
vụ cho giao dịch mua bán chứng khoán Như vậy, TTGDCK không tham gia
Trang 17mua bán chứng khoán mà chỉ cho thuê địa điểm để người mua, người bán thực hiện giao dịch và đưa ra các loại chứng khoán được mua bán trên thị trường
5 Công ty đại chúng Công ty đại chúng là công ty cổ phần đã thực hiện chào
bán cổ phiếu ra công chúng và cổ phiếu của công ty được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán;
6 Công ty chứng khoán Công ty chứng khoán (CTCK) là thành viên giao dịch
tại TTGDCK, được TTGDCK chấp thuận trở thành thành viên giao dịch
7 Ngân hàng Ngân hàng giám sát là ngân hàng thương mại có Giấy chứng
nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán có chức năng thực hiện các dịch
vụ lưu ký và giám sát việc quản lý quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán
8 Nhà đầu tư Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân
nước ngoài tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán Đây chính là các khách hàng của ngân hàng, CTCK
1.2 Hoạt động giao dịch chứng khoán tại Việt Nam
1.2.1 Một số vai trò trong hoạt động giao dịch
1.2.1.1 Khách hàng (nhà đầu tư)
Khách hàng đối với CTCK sẽ ký hợp đồng uỷ thác mua hoặc uỷ thác bán chứng khoán với CTCK Khách hàng đối với ngân hàng sẽ mở tài khoản và uỷ thác cho ngân hàng thực hiện nhận tiền gửi, thanh toán các giao dịch theo yêu cầu
Hình 1.4 Nhà đầu tư chứng khoán
Thực hiện đặt lệnh mua, bán chứng khoán tại CTCK, nhận tiền bán chứng
Trang 18khoán tại tài khoản ngân hàng, trả tiền mua chứng khoán từ tài khoản ngân hàng, nhận chứng nhận số lượng đã mua và đang sở hữu chứng khoán lưu ký tại CTCK
1.2.1.2 Công ty chứng khoán
Thực hiện ủy quyền của khách hàng mua, bán chứng khoán trên TTDGCK Thực hiện đối chiếu lệnh mua bán chứng khoán với TTLK, thông báo kết quả lệnh cho khách hàng
1.2.1.3 Ngân hàng
Thực hiện trả tiền cho TTGDCK thông qua CTCK các yêu cầu bán của khách hàng Thực hiện ghi nhận vào tài khoản của khách hàng giá trị bán chứng khoán của khách hàng từ TTGDCK thông qua CTCK
Hình 1.5 Ngân hàng
1.2.1.4 Trung tâm giao dịch chứng khoán :
Thực hiện khớp lệnh giữa các lệnh mua và bán Ngoài ra còn đối chiếu, thông báo kết quả khớp lệnh cho các bên
1.2.1.5 Trung tâm lưu ký:
Lưu giữ thông tin phát hành chứng khoán của các công ty đại chúng (là các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ có giá Còn được gọi là công
ty Cổ phần) và lưu giữ thông tin nắm giữ, chuyển nhượng chứng khoán của các nhà đầu tư đối với các công ty đại chúng
1.2.2 Thị trường chứng khoán
Để tiến hành CNH, thay đổi cơ cấu kinh tế, nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh, lâu bền, Việt Nam cần đến một khối lượng vốn khổng lồ mà hiện trạng thị
Trang 19trường tài chính không thể đáp ứng đầy đủ Với cơ cấu hiện nay, thị trường tài chính chủ yếu chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của nền kinh tế về vốn ngắn hạn Trong khi đó, quá trình CNH, HĐH lại đòi hỏi ngay một khối lượng khổng lồ vốn dài hạn: trong năm năm 1991- 1995, để có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2,8% năm cần 18, 6 tỉ USD; thời kì 1996-2000, để đạt được tốc độ tăng trưởng 9 - 9,5% năm thì dự tính vốn đầu tư đã tăng hơn 2, 2 lần, khoảng 40 - 45 tỉ USD; với quy mô như vậy ước tính đến năm 2020 vốn đầu tư là 500 - 600 tỉ USD
Trước những đòi hỏi bức xúc về vốn trung và dài hạn cho tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, khắc phục nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới, Việt Nam cần phải có những chính sách huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước cũng như các nguồn vốn nước ngoài bằng những hình thức khác nhau Một trong những giải pháp đó là phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam
Việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam hiện nay còn cần thiết bởi những lý do sau:
Dưới góc độ kinh tế, với tư cách là một bộ phận của thị trường tài chính có chức năng phân bổ nguồn vốn trung và dài hạn, thị trường chứng khoán là trung tâm thu nhận, phân phối và giao lưu các nguồn vốn cho đầu tư và xã hội Nó gắn bó hữu cơ trong sự phát triển đồng bộ hệ thống tài chính tiền tệ cấu thành nền tài chính quốc gia
Thị trường chứng khoán giúp cho đồng vốn đi vào những ngành, những doanh nghiệp biết tạo ra hiệu quả thông qua sự định hướng của thị trường vốn
Một thị trường chứng khoán hoạt động tốt sẽ cung cấp những dự báo chính xác
về chu kỳ kinh doanh trong tương lai, giúp nhà nước hoạch định các chính sách thích hợp
Thị trường chứng khoán mang lại nhiều lợi ích cho công chúng, giúp cho công chúng có thể đầu tư vào các chứng khoán khác nhau một cách dễ dàng
1.2.2.1 Những thuận lợi đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Thuận lợi cơ bản đầu tiên là chúng ta có một hệ thống chính trị ổn định Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta đang phát triển với một tốc độ khá cao, lạm phát được
Trang 20khống chế Đây là môi trường kinh tế vĩ mô hết sức thuận lợi cho việc phát triển thị trường chứng khoán
Uỷ ban chứng khoán nhà nước đã được thành lập Đây là hạt nhân cơ bản, quan trọng để xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán
Chính sách đa dạng hoá các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế của Đảng
và nhà nước đang giải phóng mọi năng lực sản xuất, kinh doanh, huy động mọi nguồn vốn cho phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho sự phát triển của thị trường chứng khoán
Quá trình cải cách đã cho ra đời và phát triển hàng loạt các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính, tín dụng, các tổ chức bảo hiểm Đây là các tác nhân quan trọng cho sự phát triển thị trường vốn và là tiền đề cho sự phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam Nhu cầu về vốn của nước ta trong thời kỳ tới rất cao như
đã nói ở phần trên Để đạt được mục tiêu tăng gấp đôi GDP bình quân đầu người thì nhu cầu vốn của nền kinh tế nước ta trong thời kỳ 2000-2010 là 543, 5 tỷ USD Nước ta là một nước đang phát triển, tài nguyên chưa được thăm dò và khai thác đầy đủ Đây là yếu tố quan trọng thu hút vốn đầu tư nước ngoài mà lâu nay Việt Nam mới chú trọng khai thác theo hướng đầu tư trực tiếp (FDI) mà chưa chú trọng theo hướng đầu tư gián tiếp qua thị trường chứng khoán
Trong vòng 12 năm qua, giá vàng liên tục sụt giảm và yếu tố tâm lý giữ vàng của nhân dân không còn như trước Do vậy, người ta thường dùng tiền để gửi tiền tiết kiệm, mua tín phiếu, trái phiếu đây chính là một cơ hội tốt để thúc đẩy nhanh
sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Một thuận lợi nữa mà chúng ta có đó là vào ngày 7/11/2006 chúng ta đã chính thức gia nhập WTO Có thể nói đây chính là thời điểm rất thuận lợi để cho thi trường chứng khoán phát triển, bởi lẽ một khi đã là thành viên của WTO thì sự bảo
hộ của nhà nước vể thuế cho các mặt hàng trong nước là không còn mạnh như trước nữa, mà các doanh nghiệp sẽ phải tự lực cánh sinh để cạnh tranh với các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới Điều này phần nào bắt buộc các tổ chức kinh doanh phải tiến hành cổ phần hoá và từ đó sẽ tạo ra nhiều hàng hoá hơn cho thị trường chứng
Trang 211.2.2.2 Những khó khăn đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
Tuy nhiên, những thuận lợi đã có, những khó khăn vẫn còn nhiều, và đây cũng chính là những nguyên nhân làm chậm lại quá trình hình thành thị trường chứng khoán ở Việt Nam
1 Khó khăn thứ nhất là thu nhập người dân còn thấp, tỷ lệ giữa tiết kiệm và tiêu dùng còn quá chênh lệch Tư tưởng “làm đồng nào xào đồng ấy” đang còn rất phổ biến trong dân và ngay trong cả một số doanh nghiệp trong khi tình hình lạm phát còn chưa ổn định và chứa đựng nhiều tiềm
ẩn Hệ thống pháp lý về thị trường chứng khoán cho đến nay vẫn chưa được hoàn chỉnh Một số văn bản pháp quy, các luật có liên quan, chi phối hoạt động hoặc có ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán đã ban hành nhưng trong phần nội dung còn nhiều bất cập, mâu thuẫn với hệ thống pháp lý về thị trường chứng khoán Luật về thị trường chứng khoán vẫn còn dự thảo Tình hình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước còn chậm, số lượng đã cổ phần không đáng kể so với yêu cầu đặt
ra Các công ty cổ phần đã được thành lập còn quá ít và phần lớn có vốn rất nhỏ, chưa đủ mạnh để tạo ra các “hàng hoá” cần thiết
2 Khó khăn thứ hai phải kể đến là chứng khoán và thị trường chứng khoán đối với đa số dân cư Việt Nam còn hoàn toàn là một điều mới lạ Chứng khoán chưa được coi là một tài sản tài chính, nhiều người còn lo sợ khi đầu tư vào chứng khoán do thiếu hiểu biết nên đã không thể tạo ra được lượng vốn như mong muốn Nên đã phần nào kìm hãm sự hình thành của thị trường chứng khoán Việt Nam
1.3 Vấn đề thời gian thực trong thanh toán chứng khoán
1.3.1 Khái niệm thời gian thực
Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, người ta nói về hệ thống thông tin thời gian thực khi hệ thống đó điều khiển một vật thể vật lý với một tốc độ phù hợp với sự tiến triển của tiến trình chủ Một ví dụ dễ hiểu (hệ thống thông tin điều khiển màn hình hiển thị giờ chính xác của các tàu điện ngầm sẽ đến và đi tại một ga nhất định)
Hệ thống thông tin thời gian thực khác với những hệ thống thông tin khác bởi sự gò
bó về thời gian, do đó, việc tuân thủ các nguyên tắc cũng quan trọng như độ chính
Trang 22xác của kết quả, nói một cách khác, hệ thống không chỉ đơn giản là đưa ra kết quả chính xác mà nó còn phải thực hiện một xử lý trong một thời gian rất ngắn Hệ thống thông tin thời gian thực ngày nay được ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực như: trong ngành công nghiệp sản xuất, kiểm soát tiến trình (trong nhà máy, hay trong viện hạt nhân, trong hệ thống hàng không, thông qua các hệ thống dẫn đường tích hợp trên máy bay và vệ tinh) Sự phát triển của hệ thống thông tin thời gian thực yêu cầu mỗi phần tử của hệ thống phải ở thời gian thực, và một hệ thống được thiết kế theo cách như vậy được gọi là hệ điều hành thời gian thực
1.3.1.1 Đặc thù của hệ thống thời gian thực
Để đảm bảo tuân thủ đúng sự giới hạn về thời gian, hệ thống cần phải:
Có những dịch vụ khác nhau và những thuật toán có thể xử lý trong khoảng thời gian hạn chế Một hệ điều hành thời gian thực phải được thiết kế làm sao cho các dịch vụ của nó có thể truy cập vào phần cứng với một khoảng thời gian ngắn nhất
Có những kết hợp thích hợp để đảm bảo cho những xử lý của mọi thành phần không vượt quá thời gian cho phép
1.3.1.2 Nhiệm vụ của hệ thống thời gian thực
Một nhiệm vụ được đặc trưng bởi khoảng thời gian tính toán, một kỳ hạn là khoảng thời gian tối đa cho một nhiệm vụ (Task), và trong trường hợp có những nhiệm vụ thực hiện theo chu kỳ trong khoảng thời gian, nó được thể hiện bằng khoảng thời gian giữa những lần kích hoạt, sự thực thi một nhiệm vụ gọi là kích hoạt
1.3.2 Hệ thời gian thực và điều khiển thời gian thực
Trang 23chống reset-windup, thì vẫn có hàng loạt các câu hỏi khác cần phải trả lời:
1 Làm thế nào để tạo các chu kỳ trích mẫu hay chu kỳ điều khiển một cách chính xác (ví dụ 0.01s hoặc 0.5s) trong chương trình theo đúng yêu cầu của lý thuyết điều khiển số?
2 Ngay cả khi ta đã biết sử dụng các ngắt thời gian để tạo chu kỳ trích mẫu, nhưng nếu phải thực hiện nhiều vòng điều chỉnh PID với chu kỳ trích mẫu khác nhau thì giải pháp sẽ phải thế nào? Khi nào và làm thế nào để một vi xử lý có thể đáp ứng đồng thời yêu cầu thực hiện nhiều thuật toán điều chỉnh? Thêm vào đó, nếu một số sự kiện khác xảy ra cần
xử lý ngay thì việc tổ chức thực hiện trong chương trình ra sao?
3 Khi một vòng điều chỉnh không được đáp ứng về yêu cầu thời gian (chu
kỳ trích mẫu không chính xác, thời điểm đưa ra kết quả tính toán chậm hơn thời điểm trích mẫu tiếp theo), thì chất lượng điều khiển sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?
Hình 1.6 Minh họa thời gian thực
Rõ ràng, theo [7], việc đưa ra lời giải đáp cho những câu hỏi trên không đơn thuần chỉ dựa vào những kiến thức của lý thuyết điều khiển, mà liên quan nhiều hơn tới cơ chế xử lý thông tin trong thiết bị điều khiển Đó là cơ chế xử lý thời gian thực, một nội dung mang tính chất nền tảng cho mọi thiết bị điều khiển
Ví dụ thứ hai, giả sử một công ty nào đó muốn tự phát triển một hệ điều khiển (PLC, DCS hay gì đó) trong nước Ngoài các kiến thức và hiểu biết về cấu trúc phần cứng, thiết kế vi mạch, ngôn ngữ lập trình phần mềm và lý thuyết điều khiển, hàng
Trang 24loạt các vấn đề khác cần phải được làm rõ:
1 PLC hay DCS là một hệ điều khiển chia sẻ, có nghĩa là nó đảm nhiệm nhiều “tác vụ” đồng thời Việc quản lý và thực thi “đồng thời” một số lượng không nhỏ các “tác vụ” như vậy được thực hiện theo cơ chế nào
để đáp ứng được các yêu cầu về thời gian do người sử dụng định nghĩa? Làm thế nào để giữa các tác vụ đó không chanh chấp sử dụng bộ nhớ, cổng vào/ra, timer,
2 Làm thế nào để lập trình sử dụng bộ nhớ, sử dụng các cổng vào/ra, và giao tiếp với các thiết bị trong mạng được thuận tiện? Làm thế nào để có thể hỗ trợ người sử dụng truyền nạp cấu hình phần cứng và chương trình ứng dụng, thậm chí từng phần chương trình xuống bộ điều khiển một cách dễ dàng?
3 Cơ chế cảnh giới, giám sát lỗi bộ nhớ, lỗi các cổng vào ra và lỗi các module được thực hiện như thế nào để nó độc lập với các chương trình ứng dụng
Câu trả lời chung cho các câu hỏi trên là sự cần thiết phải phát triển một hệ điều hành thời gian thực Có thể nói, cơ chế xử lý thời gian thực trong mỗi bộ điều khiển công nghiệp như trong các hệ PLC hoặc DCS là do một hệ điều hành thời gian thực đảm nhiệm
1.3.2.2 Trở lại về khái niệm thời gian thực
Bây giờ luận văn quay trở lại làm rõ khái niệm “hệ thời gian thực” Trong các tài liệu cũng như trong thực tế, khái niệm thời gian thực và hệ thời gian thực không phải lúc nào cũng được hiểu một cách thống nhất Nhiều người cho rằng, hệ thời gian thực là một hệ phải làm việc với yêu cầu thời gian rất nhanh (trong phạm vi một vài micro-giây gì đó), ví dụ các hệ thống điều khiển tay máy, điều khiển động cơ, Không ít ý kiến cho rằng, khái niệm thời gian thực luôn gắn với các hệ nhúng, điều khiển thời gian thực là một vấn đề của riêng điều khiển nhúng, tức là các giải pháp sử dụng vi điều khiển, DSP, v.v Lại cũng có quan niệm rằng thời gian thực
là thời gian tuyệt đối, hệ thời gian thực là một hệ có khả năng làm việc với thời gian tuyệt đối theo giờ-phút-giây của ngày tháng Vậy nên hiểu như thế nào?
Một quan điểm [2] được ủng hộ và trích dẫn nhiều nhất là của Stankovic (John
Trang 25A Stankovic et al.: “Strategic Directions in Real-Time and Embedded Systems” ACM Computing Surveys, Vol 28, No 4, December 1996): “A real-time system is one in which the correctness of the system depends not only on the logical results, but also on the time at which the results are produced” Nhƣ vậy, một hệ thời gian thực là một hệ thống mà sự hoạt động tin cậy của nó không chỉ phụ thuộc vào sự chính xác của kết quả, mà còn phụ thuộc vào thời điểm đƣa ra kết quả, hệ thống có lỗi khi yêu cầu về thời gian không đƣợc thoả mãn
Trong một bài báo nổi tiếng [4] khác (“Misconceptions About Real-Time Computing”, IEEE Computer, 21(10), Oct 1988.), Stankovic cũng đã chỉ ra một số quan niệm sai lầm về khái niệm thời gian thực Ví dụ, khái niệm hệ thời gian thực không đồng nghĩa với khái niệm hệ xử lý tốc độ cao, xử lý nhanh Nếu ta cho rằng, phải là các ứng dụng điều khiển có yêu cầu thời gian tính toán rất nhanh mới gọi là điều khiển thời gian thực, thì một câu hỏi sẽ đƣợc đặt ra là: nhƣ thế nào mới đƣợc gọi là nhanh? Ta có thể thống nhất là, cỡ một vài micro-giây là rất nhanh, tuy nhiên nếu một vài chục micro-giây thì sao, một trăm micro-giây thì sao? Nếu một trăm micro-giây mới gọi là nhanh, thì 101, 102, có nhanh không? Các hệ điều khiển với chu kỳ trích mẫu 5ms, 6 ms, 7ms có đƣợc gọi là hệ thời gian thực hay không?
Có thể nói một cách nôm na, tính thời gian thực là khả năng đáp kịp thời và chính xác Và ta hoàn toàn có thể định nghĩa nhƣ thế nào là kịp thời theo bốn yêu cầu khác nhau, nhƣ minh họa trên hình sau
Hình 1.7 Các yêu cầu khác nhau về hệ thống thời gian thực
Trang 261.3.2.3 Đặc điểm của hệ thống thời gian thực
Một hệ thống thời gian thực [7] có các đặc điểm tiêu biểu sau:
1 Tính bị động: Hệ thống phải phản ứng với các sự kiện xuất hiện vào các
thời điểm thường không biết trước Ví dụ, sự vượt ngưỡng của một giá trị đo, sự thay đổi trạng thái của một thiết bị quá trình phải dẫn đến các phản ứng trong bộ điều khiển
2 Tính nhanh nhạy: Hệ thống phải xử lý thông tin một cách nhanh chóng
để có thể đưa ra kết quả phản ứng một cách kịp thời Tuy tính nhanh nhạy là một đặc điểm tiêu biểu, nhưng một hệ thống có tính năng thời gian thực không nhất thiết phải có đáp ứng thật nhanh mà quan trọng hơn
là phải có phản ứng kịp thời đối với các yêu cầu, tác động bên ngoài
3 Tính đồng thời: Hệ thống phải có khả năng phản ứng và xử lý đồng thời
nhiều sự kiện diễn ra Có thể, cùng một lúc một bộ điều khiển được yêu cầu thực hiện nhiều vòng điều chỉnh, giám sát ngưỡng giá trị nhiều đầu vào, cảnh giới trạng thái làm việc của một số động cơ
4 Tính tiền định: Dự đoán trước được thời gian phản ứng tiêu biểu, thời
gian phản ứng chậm nhất cũng như trình tự đưa ra các phản ứng Nếu một bộ điều khiển phải xử lý đồng thời nhiều nhiệm vụ, ta phải tham gia quyết định được về trình tự thực hiện các công việc và đánh giá được thời gian xử lý mỗi công việc Như vậy người sử dụng mới có cơ sở để đánh giá về khả năng đáp ứng tính thời gian thực của hệ thống
1.3.2.4 Xử lý thời gian thực
Xử lý thời gian thực [7] là hình thức xử lý thông tin trong một hệ thống để đảm bảo tính năng thời gian thực của nó Như vậy, xử lý thời gian thực cũng có các đặc điểm tiêu biểu nêu trên như tính bị động, tính nhanh nhạy, tính đồng thời và tính tiền định Để có thể phản ứng với nhiều sự kiện diễn ra cùng một lúc, một hệ thống
xử lý thời gian thực sử dụng các quá trình tính toán đồng thời
Quá trình tính toán là một tiến trình thực hiện một hoặc một phần chương trình tuần tự do hệ điều hành quản lý trên một máy tính, có thể tồn tại đồng thời với các quá trình khác kể cả trong thời gian thực hiện lệnh và thời gian xếp hàng chờ đợi thực hiện
Trang 27Các hình thức tổ chức các quá trình tính toán đồng thời:
1 Xử lý cạnh tranh: Nhiều quá trình tính toán chia sẻ thời gian xử lý thông tin của một bộ xử lý
2 Xử lý song song: Các quá trình tính toán được phân chia thực hiện song song trên nhiều bộ xử lý của một máy tính
3 Xử lý phân tán: Mỗi quá trình tính toán được thực hiện riêng trên một máy tính
Trong các hình thức trên đây thì hình thức xử lý cạnh tranh có vai trò chủ chốt Mặc dù hệ thống điều khiển có thể có nhiều trạm, và mỗi trạm có thể là một hệ đa vi
xử lý, số lượng các quá trình tính toán cần thực hiện thường bao giờ cũng lớn hơn
số lượng vi xử lý Trong khi một vi xử lý không thể thực hiện song song nhiều lệnh,
nó phải phân chia thời gian để thực hiện xen kẽ nhiều nhiệm vụ khác nhau theo thứ
tự tùy theo mức ưu tiên và phương pháp lập lịch
Hình 1.8 Tác vụ qui định trong chuẩn IEC 61131-3
Trong các hệ thống điều khiển, khái niệm tác vụ (task) cũng hay được sử dụng bên cạnh quá trình tính toán Có thể nói, tác vụ là một nhiệm vụ xử lý thông tin trong hệ thống, có thể thực hiện theo cơ chế tuần hoàn (periodic task) hoặc theo sự kiện (event task) Các dạng tác vụ qui định trong chuẩn IEC 61131-3 (Programmable Controllers – Part3: Programming Languages) được minh họa trên hình sau Ví dụ, một tác vụ thực hiện nhiệm vụ điều khiển cho một hoặc nhiều mạch vòng kín có chu kỳ trích mẫu giống nhau Hoặc, một tác vụ có thể thực hiện nhiệm
vụ điều khiển logic, điều khiển trình tự theo các sự kiện xảy ra Tác vụ có thể thực
Trang 28hiện dưới dạng một quá trình tính toán duy nhất, hoặc một dãy các quá trình tính toán khác nhau
1.3.2.5 Phương pháp lập lịch
Để tổ chức việc thực hiện các tác vụ được hiệu quả, một hệ điều hành thời gian thực cần các phương pháp lập lịch [7] Trước hết, cơ chế lập lịch thực hiện cho các tác vụ có thể được thực hiện theo hai cách:
1 Lập lịnh tĩnh: thứ tự thực hiện các tác vụ không thay đổi mà được xác định trước khi hệ thống đi vào hoạt động
2 Lập lịnh động: hệ điều hành xác định lịnh sau khi hệ thống đã đi vào hoạt động
Sau khi xác định được cơ chế lập lịch, hệ điều hành cần sử dụng một sách lược lập lệnh (strategy) để áp dụng đối với từng tình huống cụ thể Có thể chọn một trong những cách sau:
FIFO (First In First Out): một tác vụ đến trước sẽ được thực hiện trước
Mức ưu tiên cố định/động: tại cùng một thời điểm, các tác vụ được đặt các mức ưu tiên cố định hoặc có thể thay đổi nếu cần
Preemptive: còn gọi là sách lược chen hàng, tức là chọn một tác vụ để thực hiện trước các tác vụ khác
Non-preemptive: còn gọi sách lược không chen hàng Các tiến trình được thực hiện bình thường dựa trên mức ưu tiên của chúng
Việc tính mức ưu tiên của mỗi tiến trình được thực hiện theo một trong số các thuật toán sau:
Rate monotonic: tác vụ nào càng diễn ra thường xuyên càng được ưu tiên
Deadline monotonic: tác vụ nào càng gấp, có thời hạn cuối càng sớm càng được ưu tiên
Least laxity: tác vụ nào có tỷ lệ thời gian tính toán/thời hạn cuối cùng(deadline) càng lớn càng được ưu tiên
Bên cạnh phương pháp lập lịch, cơ chế xử lý thời còn đặt ra nhiều vấn đề khác nữa như quản lý và đồng bộ hóa việc sử dụng tài nguyên, giao tiếp liên quá trình,
Trang 29Tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn, ta sẽ không đi sâu vào các chi tiết đó
Trong thực tế, yêu cầu về tính thời gian thực đối với mỗi ứng dụng điều khiển cũng có các đặc thù khác nhau, mức độ ngặt nghèo khác nhau Ví dụ, các hệ thống điều khiển nhúng thường được ứng dụng với các sản phẩm chế tạo hàng loạt, chi phí phần cứng cho từng sản phẩm cần được giảm thiểu, vì vậy dung lượng bộ nhớ cũng như hiệu năng vi xử lý thường thấp Hơn nữa, điều khiển nhúng lại là giải pháp đặc thù trong các ứng dụng nhanh, tiêu biểu là điều khiển chuyển động, dẫn đến các yêu cầu ngặt nghèo hơn về hiệu suất phần mềm Trong khi đó, các hệ điều khiển công nghiệp như PLC hoặc DCS đặt ra yêu cầu cao về khả năng lập trình và đưa vào vận hành thuận tiện cho các bài toán lớn Các hệ thống ứng dụng PLC và DCS cũng thường chậm hơn (ví dụ trong điều khiển các quá trình công nghệ) Nhưng như vậy không có nghĩa là các giải pháp PLC hoặc DCS không phải là các
hệ thời gian thực Điều gì sẽ xảy ra trong một nhà máy điện nguyên tử hay trong một nhà máy lọc dầu, nếu thuật toán điều khiển mặc dù rất hiện đại nhưng bộ điều khiển không có khả năng đưa ra kết quả đáp ứng kịp thời vào những thời điểm trích mẫu, hay khi không đưa ra được các quyết định dừng khẩn cấp một cách kịp thời trong những tình huống bất thường?
Tóm lại về thời gian thực:
Mỗi hệ thống điều khiển là một hệ thời gian thực Có thể nói, tất các các hệ thống điều khiển là hệ thời gian thực Ngược lại, một số lớn các hệ thống thời gian thực là các hệ thống điều khiển Không có hệ thống điều khiển nào có thể hoạt động bình thường nếu như nó không đáp ứng được các yêu cầu về thời gian, bất kể là hệ thống điều khiển nhiệt độ, điều khiển áp suất, điều khiển lưu lượng hay điều khiển chuyển động Một bộ điều khiển phải đưa ra được tín hiệu điều khiển kịp thời sau một thời gian nhận được tín hiệu đo để đưa quá trình kỹ thuật về trạng thái mong muốn Một mạng truyền thông trong một hệ thống điều khiển có tính năng thời gian thực phải có khả năng truyền tin một cách tin cậy và kịp thời đối với các yêu cầu của các bộ điều khiển, các thiết bị vào/ra, các thiết bị đo và thiết bị chấp hành Tính năng thời gian thực của một hệ thống điều khiển phân tán không chỉ phụ thuộc vào tính năng thời gian thực của từng thành phần trong hệ thống, mà còn phụ thuộc vào
sự phối hợp hoạt động giữa các thành phần đó
Trang 30Hệ thống giao dịch trên thị trường chứng khoán có nhiều mảng, tuy nhiên nội dung kết nối thanh toán chứng khoán giữa ngân hàng và Công ty chứng khoán có những yêu cầu ngặt nghèo về yêu cầu đáp ứng thời gian và lưu lượng được phân tích và nghiên cứu tại các phần dưới đây
1.3.3 Giao dịch mua, bán và thanh toán chứng khoán
Nhà đầu tư muốn mua hoặc muốn bán chứng khoán sẽ phải đến gặp công ty chứng khoán Nhà đầu tư (khách hàng) sẽ ký hợp đồng uỷ thác mua hoặc uỷ thác bán chứng khoán với công ty chứng khoán
Khách hàng đặt lệnh mua, bán chứng khoán với Công ty chứng khoán (CTCK) bằng phiếu lệnh Nội dung chi tiết của lệnh gồm có:
Lệnh mua hay lệnh bán;
Tên chứng khoán - mã số chứng khoán;
Số lượng chứng khoán;
Giá;
Điều kiện về thời gian đáo hạn của trái phiếu (nếu có)
Sau khi kiểm tra tính hợp lệ của phiếu lệnh:
o Khách mua phải có đủ tiền 100% trong tài khoản giao dịch tại ngân hàng
1 phần" của khách hàng và thông báo cho phòng thanh toán
Kết thúc ngày giao dịch, CTCK tổng hợp kết quả giao dịch trong ngày và lập báo cáo thanh toán và bù trừ về chứng khoán và tiền vốn chuyển cho Trung tâm lưu
ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán (của TTGDCK) Trung tâm lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán so khớp số liệu và thực hiện thủ tục
Trang 31thanh toán, đồng thời gửi thông báo cho ngân hàng thanh toán của hai bên đối tác mua - bán để thanh toán vốn đã giao dịch
Hình 1.9 Minh họa sơ đồ luồng giao dịch chứng khoán đặt lệnh 1.3.4 Khái niệm thời gian thực áp dụng trong thanh toán chứng khoán
Theo [1] thời gian thực là khái niệm xây dựng để chỉ ra một công việc hay 1 tác
vụ cần hoàn thành trong 1 thời gian xác định Để phân loại hệ thống thời gian thực, người ta thường phân ra thành 2 loại dựa trên tiêu chí đánh giá hậu quả của việc không đáp ứng ràng buộc về thời gian của từng hệ thống:
Hệ thống thời gian thực cứng, bắt buộc (Hard Real-time): nếu không đáp ứng yêu cầu thời gian thực, hệ thống sẽ sụp đổ hay gây ra hậu quả nghiêm trọng như thời gian hệ thống túi khí trên ô tô
Hệ thống thời gian thực mềm (Soft Real-time): nếu không đáp ứng yêu cầu thời gian thực, hệ thống sẽ bị suy giảm về chất lượng dịch vụ (Quality of Service – QoS)
Thời gian thực trong hệ thống thanh toán giao dịch chứng khoán được hiểu là một hệ thống cần hoàn thành các công việc, các tác vụ trong một khoảng thời gian cho phép Khoảng thời gian đó có thể là 1ns hay cũng có thể là hàng vài phút tùy
Trang 32thiết kế và mô hình áp dụng và nếu không được thực hiện thì hệ thống sẽ không đảm bảo chất lượng, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, CTCK có thể sẽ dẫn đến việc khách hàng sẽ rời bỏ ngân hàng, CTCK và chuyển sang đơn vị khác
1.3.5 Vấn đề thời gian thực trong thanh toán chứng khoán
Đối với lệnh bán: khớp với giá bán do khách hàng đặt lệnh
3 Khối lượng khớp lệnh sẽ được thực hiện theo thứ tự ưu tiên cho khối lượng
và giá khớp gần nhất
Ví dụ: Tại thời điểm Khách A mua 1000 Cổ phiếu X giá 1500, có Khách B bán
200 Cổ phiếu X giá 1450, Khách C bán 1000 Cổ phiếu X giá 1500
Yếu tố thời gian ở đây là việc ưu tiên thời gian nhập lệnh sớm nhất vào hệ thống của TTGDCK vì vậy hệ thống được gọi là khớp lệnh liên tục
1.4 Hệ thống kết nối giao dịch thanh toán chứng khoán tại một ngân hàng ở Việt Nam
Trang 331.4.1 Hệ thống kết nối cổng kết nối thanh toán chứng khoán trực tuyến
Theo tài liệu [8] mô tả sản phẩm dự thi “Nhân tài đất Việt” năm 2012, có sản
Phạm vi thị trường và ngành ứng dụng: Ngân hàng, các Công ty Chứng khoán và các nhà đầu tư chứng khoán
Xác nhận thương hiệu SP: Giấy chứng nhận Đăng ký quyền tác giả của Cục Bản quyền tác giả - Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch số 1172/2011/QTG cấp ngày 06/05/2011
Hình 1.10 Sản phẩm đạt giải
Điều 32 Quyết định số 27/2007/QĐ- BTC ban hành ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính quy định các công ty không được trực tiếp nhận tiền giao dịch của khách hàng, thay vào đó tài khoản tiền gửi dùng để thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư phải được mở tại ngân hàng thương mại do công ty chứng khoán lựa chọn Cũng theo quy định trên công ty chứng khoán chỉ thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh thuần túy của một công ty chứng khoán như môi giới, tư vấn, bảo lãnh, … còn các nghiệp vụ “quản lý tiền” của một tổ chức tín dụng như ứng trước, cầm cố, là thuộc về các ngân hàng mà nhà đầu tư mở tài khoản Do vậy, đây chính là thời điểm dịch chuyển tài khoản của nhà đầu tư từ công ty chứng khoán sang ngân hàng
Với mục tiêu không ngừng đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ phục vụ khách hàng,
Trang 34BI.DV đã xây dựng hệ thống Cổng kết nối thanh toán trực tuyến với các công ty
khoán một phương tiện và công cụ hiệu quả trong việc kết nối hệ thống giao dịch của Công ty chứng khoán với hệ thống tài khoản của nhà đầu tư mở tại ngân hàng
1.4.1.1 Mô tả các tính năng cơ bản của sản phẩm
1 Vấn tin kiểm tra số dư của nhà đầu tư mở tài khoản tại ngân hàng
2 Phong tỏa/giải phong tỏa một phần số dư tài khoản của nhà đầu tư khi đặt lệnh mua chứng khoán
3 Thanh toán tiền mua/bán, phí mua/bán cho công ty chứng khoán khi có kết quả giao dịch
4 Cung cấp các hàm lấy danh sách các giao dịch đã thực hiện trong ngày để thực hiện đối chiếu tại CTCK
5 Cung cấp giải pháp offline trong trường hợp đứt đường truyền
Về phía Ngân hàng, hệ thống này giúp ngân hàng thu hút một số lượng lớn tiền gửi của khách hàng và công ty chứng khoán, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn cho tài khoản tiền của nhà đầu tư Nhà đầu tư có thể tận dụng mạng lưới rộng khắp của ngân hàng và sử dụng các dịch vụ sẵn có như : Internet banking, Mobile banking
1.4.1.2 Tự đánh giá thành công ứng dụng của sản phẩm
thưởng Sao khuê 4 sao
Các sản phẩm tương tự trong nước hiện có tại: Ngân hàng Đông Á, Ngân hàng ACB, Ngân hàng Thương mại cổ phần Techcombank, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam… Tuy nhiên, các sản phẩm tương tự chỉ dừng ở mức nghiên cứu và thực hiện kết nối bán thủ công nhưng hầu hết không thành công do gặp các khó khăn về công nghệ và tải của hệ thống không đáp ứng được yêu cầu thực hiện thanh toán trực tuyến từ công ty chứng khoán
Trang 351.4.1.3 Tự đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội đem lại khi ứng dụng sản phẩm
Sản phẩm sử dụng dòng công nghệ hiện đại nhất với những ưu điểm vượt trội của IBM WebSphere Application Server, IBM WebSphere Message Queue, Rational Application Developer và hạ tầng chữ ký số của Entrust lưu trữ trong các thiết bị bảo mật Ikey2032, Ikey1000
Nhờ áp dụng các công cụ phát triển hiện đại, kết hợp với quy trình nghiệp vụ rõ
đã đáp ứng được tất cả các yêu cầu về thời gian giao dịch trực tuyến như tốc độ truy vấn số dư, phong tỏa/hủy phong tỏa số dư tài khoản của nhà đầu tư phục vụ mục đích mua/bán chứng khoán trực tuyến được tính bằng giây (s), cũng như các yêu cầu về an toàn bảo mật Với các tính năng, tiện ích của hệ thống như Vấn tin trực tuyến, phong toả và huỷ phong toả số dư tài khoản của nhà đầu tư mở tại ngân hàng… thanh toán các khoản phí mua/bán chứng khoán khi triển khai hệ thống đã đem lại hiệu quả to lớn cả về mặt kinh tế và xã hội, cụ thể cả CTCK, nhà đầu tư cá nhân và Ngân hàng đều được hưởng các lợi ích chung:
1 Đối với nhà đầu tư:
Tuân thủ được quy định của nhà nước và pháp luật trong hoạt động đầu
tư chứng khoán
Có thể sử dụng tài khoản giao dịch chứng khoán trên toàn quốc
có một số dịch vụ điển hình như quản lý tài khoản, tra cứu thông tin biến động số dư tài khoản qua SMS và Internet…
Lãi suất tiền gửi phân tầng ưu đãi
Được sử dụng dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán nhanh chóng
2 Đối với công ty chứng khoán:
Tuân thủ được quy định của nhà nước và pháp luật
Cắt giảm được nhân lực và chi phí quản lý tiền mặt của nhà đầu tư
Có thể dễ dàng thực hiện các nghiệp vụ: Chuyển tiền mua/bán chứng khoán, chi trả cổ tức… một cách an toàn, thuận lợi
Trang 36 Được BI.DV cấp hạn mức thấu chi
Thu hút được nhiều khách hàng tiềm năng, là các khách hàng sẵn có của
BI.DV
Minh bạch trong việc quản lý tài chính của công ty
3 Đối với Ngân hàng:
Sản phẩm đã hỗ trợ Ngân hàng thực hiện tốt chức năng quản lý và sử dụng vốn, huy động và tận dụng nguồn vốn trên thị trường phục vụ cho đầu tư phát triển vì mục đích phát triển kinh tế xã hội Cụ thể là:
Thu hút được một số lượng lớn khách hàng của CTCK
Gia tăng đáng kể lượng vốn huy động từ các nhà đầu tư và CTCK Số dư
có thời điểm lên đến hơn 1.000 tỉ đồng
1.4.1.4 Tự đánh giá về những mặt còn tồn tại chưa giải quyết được của sản phẩm:
Một số công đoạn trong quy trình của chương trình vẫn còn xử lý thủ công, có thể tiếp tục nâng cấp để làm cho chương trình có tính tự động hóa cao hơn
Giao diện kết nối với công ty chứng khoán còn yêu cầu nhiều điều kiện để đáp ứng yêu cầu bảo mật, có thể cải tiến để thuận tiện hơn
1.4.1.5 Tự đánh giá về tính thương mại hoá và giá trị thương hiệu của sản phẩm:
nối thanh toán chứng khoán trực tuyến) đã vinh dự đạt giải thưởng Sao khuê 4 sao
1.4.2 Đánh giá khảo sát sản phẩm
Luận văn tiếp tục phần trên, với đánh giá khảo sát, để xây dựng sản phẩm Sản phẩm ứng dụng các công nghệ nền tảng Java của IBM như IBM WebSphere Application Server, IBM WebSphere Message Queue, Rational Application Developer,…; Các công nghệ cốt lõi của nền tảng bảo mật Entrust như Ikey2032, Ikey1000 Đây là những dòng công nghệ mới, có những ưu điểm vượt trội so với các công nghệ đang sử dụng hiện nay Dựa trên các công nghệ này, mô
Trang 37hình kỹ thuật chi tiết của chương trình Cổng kết nối thanh toán chứng khoán trực tuyến đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về quy trình nghiệp vụ, các yêu cầu khắt khe
về tốc độ và bảo mật của một ứng dụng thời gian thực trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng Cụ thể:
Hệ thống cung cấp cho công ty chứng khoán và nhà đầu tư các dịch vụ:
Phong toả online
Huỷ phong toả online
Huỷ phong toả định kỳ (bảng kê)
Hạch toán kết quả mua bán CK, hoa hồng phí, cổ tức, trái tức, quyền mua thêm cổ phiếu (bảng kê)
Hỗ trợ giao dịch Ứng trước tiền bán chứng khoán
Hệ thống có khả năng xử lý giao dịch online, trả kết quả về công ty chứng khoán sau 1 đến 3 giây trên 1 giao dịch, đáp ứng được nhu cầu xử lý tức thời
10 cổng, thời gian phản hồi: 1,5giây/giao dịch Như vậy, hệ thống có khả năng chịu tải tốt, đảm bảo được tính liên tục trong giao dịch
Hệ thống được trang bị cơ chế bảo mật nhiều lớp:
Hệ thống kiểm soát truy nhập (firewall)
Hệ thống tự động phát hiện và phòng chống xâm nhập
Hệ thống xác thực (Authentication)
Mã hoá đường truyền và ký điện tử
Trang 38Hình 1.11 Giao diện chính của cổng kết nối thanh toán chứng khoán trực tuyến
Với các cơ chế này, hệ thống có khả năng đảm bảo an toàn bảo mật cho ngân hàng và công ty chứng khoán
Hệ thống được trang bị các phương án dự phòng thiết bị đường truyền, dự phòng theo cơ chế OFFLINE nên có tính sẵn sàng cao
Ngoài ra, việc sử dụng các chuẩn kết nối phổ biến như: Web Service, SOAP, XML làm cho hệ thống có khả năng dễ dàng tích hợp với hệ thống thông tin sẵn có của các công ty chứng khoán, tạo điều kiện thuận lợi để các công ty này ký hợp
1.5 Khảo sát một số thị trường chứng khoán trên thế giới
1.5.1 Lịch sử thị trường chứng khoán thế giới, sơ khai
Theo [10], thị trường chứng khoán không phải ngay từ đầu đã có những giao dịch toàn cầu phức tạp như hiện nay Cho đến năm 1531, định chế đầu tiên hao hao như một sở giao dịch mới ra đời tại Antwerp, Bỉ Tuy vậy, ở thị trường chứng khoán đầu tiên này không hề có cổ phiếu Thay vì mua bán cổ phiếu công ty (những thứ khi ấy còn chưa tồn tại), người môi giới và cho vay tập trung lại đây để giao dịch các món nợ của công ty, chính phủ và thậm chí cả cá nhân
Mọi chuyện thay đổi vào những năm 1600, khi cả Anh, Pháp và Hà Lan đều cử hạm đội đến Đông Ấn Do ít nhà thám hiểm trang trải đủ cho một chuyến hải thương, các công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập để huy động tiền từ nhà đầu tư, những người này sẽ được chia lợi nhuận đoàn tương ứng với phần vốn góp Hình thức tổ chức kinh doanh này cũng đòi hỏi phải được quản lý rủi ro Theo báo Imperial Gazetteer của Ấn Độ, các chuyến hải hành đầu tiên của Anh đến Ấn Độ
Trang 39Dương không thành công, tàu đắm còn tài sản cá nhân của những người đi huy động vốn bị chủ nợ tịch thu Điều đó khiến một nhóm thương nhân London lập nên một công ty vào tháng 9/1599, giới hạn trách nhiệm của mỗi thành viên theo số tiền
họ đầu tư Nếu chuyến hải hành thất bại, luật pháp chỉ có thể tịch biên số tiền trên
Nữ hoàng Anh cho phép nhóm thương nhân này hoạt động trong vòng 15 năm, và đặt tên cho công ty là “Thống đốc và nhóm thương nhân London giao thương với Đông Ấn” (hay đơn giản là “Công ty Đông Ấn”) Hình thức trách nhiệm hữu hạn đã phát huy tác dụng tốt, cho đến năm 1609, vua James I đã cho phép nhiều công ty thương nghiệp nữa hoạt động và thúc đẩy giao tương tại các quốc gia Châu Âu có
bờ biển khác Công ty Đông Ấn Hà Lan là công ty đầu tiên cho phép người ngoài mua cổ phiếu ghi danh theo một tỷ lệ nhất định Họ cũng là công ty đầu tiên phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng qua Sở giao dịch chứng khoán Amsterdam năm 1602
1.5.2 Sở giao dịch đầu tiên
Thị trường chứng khoán [10] khởi nguồn từ các quán cà phê ở thế kỷ 17; nơi đây những người cần có thêm vốn đến gặp người đầu tư vào một loại công ty mới hình thành, đó là “công ty liên doanh cổ phần” (joint stock company) Các công ty liên doanh cổ phần khởi thuỷ này là tiên phong của công ty hữu hạn cổ phần công khai PLC (public limited company, còn gọi là công ty đại chúng) ngày nay Trong bối cảnh đó, cổ phần liên doanh có liên quan tới công ty mà ở đó các đối tác hùn hạp cổ phiêu của họ với cổ phiếu của người ngoài công ty Do đó, công ty thuộc quyền sớ hữu liên hợp giữa những chủ nhân và các nhà đầu tư tư nhân
Khi khối lượng buôn bán giao dịch trong công ty cổ phần liên doanh phát triển,
số người hợp vốn gia tăng Những người buôn bán cổ phiếu thời kỳ đầu là người môi giới (broker) và nhà thầu lại cổ phiếu (jobber) Người môi giới mua và bán cổ phiêu nhân danh thân chủ của họ và thực hiện giao dịch thông qua các nhà thầu lại chứng khoán Vào năm 1986, nhà thầu này được thay thế bằng market makers (người tạo thị trường)
Thị trường chứng khoán buổi đầu hoàn toàn khác hẳn với hình thức sau này của
nó Thời kỳ này nhiều thương nhân (trader) tự tung tự tác đển mức một nhóm nhỏ trong số này bị hất ra khỏi Royal Exchange vào năm 1760; Royal Exchange là thị
Trang 40trường chính thay thế các quán cà phê nơi trao đổi buôn bán thời đó
1.5.3 Sở giao dịch chứng khoán New York
Theo [10] NYSE ban đầu không rộng và nhiều hoạt động phải được tiến hành ở bên ngoài Địa điểm này bị lửa thiêu rụi nên phải chuyển tới phố Broad và đổi tiên thành Sở giao dịch chứng khoán New York và NYSE không mất nhiều thời gian để trở thành một trung tâm trong giới tài chính Khối lượng giao dịch chứng khoán tăng 6 lần trong giai đoạn 1896-1901 Sự thành công này phần lớn là nhờ địa điểm của sở giao dịch tại thành phố New York, trung tâm của gần như mọi giao dịch và buôn bán của nước Mỹ tại thời điểm đó
Từ năm 1790, chính quyền Liên bang Mỹ đã phát hành trái phiếu chính phủ công trái - public stock lên đến 80 triệu USD để tài trợ cho các dự án của nhà nước Công trái khi bán cho những người mua đầu tiên đã tạo nên thị trường sơ cấp primary market; lúc những người này bán lại cho nhiều người khác thì sự mua bán
ấy tạo nên thị trường thứ cấp secondary market Cùng lúc với chính phủ bán công trái, các công ty bảo hiểm và ngân hàng cũng bán cổ phiếu Việc buôn bán diễn ra ở nhiều nơi nhưng ở New York là nhộn nhịp nhất Vì bên bán không ra mặt nên việc bán cho công chúng do các người môi giới broker thực hiện Từ “broker” được dùng từ khoảng năm 1622, lúc đầu nó chỉ những người bán rượu nho lẻ, người phải phá (break) cái đai thùng gỗ để chiết rượu
Năm 1793, Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch New York mở cửa tại Phố Wall
Dù không phải là sở giao dịch đầu tiên tại Mỹ, NYSE nhanh chóng trở thành trung tâm tài chính của đất nước non trẻ
Nước Mỹ tiếp tục phát triển, đường xe lửa được nối từ đông sang tây, TTCK New York là nơi làm trung gian cung cấp tài chính cho những công trình ấy, và bản thân nó cũng mở rộng theo Số hội viên từ 533 tăng lên 1.060 vào năm 1868 Ít lâu sau, NYS&EB nhập chung với một tổ chức khác chuyên bán công trái, nó đổi tên thành New York Stock Exchange NYSE, là cái tên tồn tại cho đến ngày nay Việc điều hành NYSE do một ủy ban phụ trách Nhiều tập tục, tiếng lóng sử dụng giữa các hội viên ở sàn bán chứng khoán được lập và trở thành truyền thống Vào thời đó chính uy tín của người mua bán quyết định việc họ được tham gia TTCK hay không Mãi sau này, sau khi dân chúng có trình độ học vấn cao, lợi tức nhiều và biết