1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Toàn cảnh nền kinh tế nước ta thời Đại Việt

18 718 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 618,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan mọi mặt về kinh tế nước ta trong quốc hiệu Đại Việt.Toàn bộ chi tiết và hình ảnh mô tả mọi kiến thức cũng như mọi ngành nghề kinh tế nước ta kéo dài từ thời gian thành lập quốc hiệu Đại Việt cho đến lúc kết thúc

Trang 1

I>Phần mở:

Nước Việt Nam chúng ta đã có mấy nghìn năm lịch sử hào hùng dân tộc.Trong suốt khoảng thời gian ấy,nhân dân Việt Nam đã được sinh ra và lớn lên với một nhiệm vụ thiêng liêng và gắn liền với sứ mạng của bản thân đó là luôn xây dựng

và bảo vệ tổ quốc yên bình.Để thực hiện nhiệm vụ trên,biết bao xương máu và nước mắt đã rơi xuống,biết bao anh hùng đã bỏ mạng nơi xa trường,biết bao sự mất mát hi sinh.Biết bao sự kiện quan trọng đã xảy ra trên mảnh đất lịch sử có hình dạng tựa như chữ S nhìn ra Biển Đông thể hiện sức sống của dân tộc Việt Nam trên bước đường xây dựng và trưởng thành.Trong các sự kiện trọng đại đó,chúng ta không thể nào bỏ qua một thời kì vô cùng quan trọng đánh dấu bước phát triển vượt bậc về mọi lĩnh vực của đất nước ta đó là thời kì Đại Việt.Đây là giai đoạn lịch sử có tầm quan trọng trong việc đánh dấu sự tự chủ của đất nước

ta sau nhiều năm Bắc thuộc và đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ.Thành tựu trên không chỉ là những trận đánh oanh liệt,những chiến công hào hùng vang động đất trời ghi vào sử sách mà bên cạnh đó còn có một lĩnh vực vô cùng quan trọng,góp phần lớn tạo xây đất nước Vậy thời kì Đại Việt đã hình thành ra sao?

Đã trải qua những triều đại nào?Đạt được những thành tựu văn minh về lĩnh vực kinh thế như thế nào.Chúng ta sẽ cũng nhau tìm hiểu qua những nội dung dưới đây

II>Nội dung:

Trước hết chúng ta cần tìm hiểu vì sao lại có tên gọi Đại Việt? và nó đã hình thành như thế nào ?Tên gọi Đại Việt chính thức có từ thời trị vì của vua Lý Thánh Tông (1054 – 1073) vua thứ 3 của nhà lý Năm 1400 sau khi thay thế nhà Trần ,Nhà Hồ lên nắm chính quyền và thay tên nước bằng tên Đại Ngu Năm

1407 nhà Minh xâm lược Đại Ngu và cai trị cho đến năm 1427 Năm 1428 sau khi dành độc lập Lê Lợi đã đặt tên nước lại là Đại Việt Như vậy quốc hiệu Đại Việt tồn tại tổng cộng là 723 năm, bắt dầu từ thời vua Lý Thánh Tông đến thời vua Gia Long thì tên nước Đại Việt hoàn toàn chấm dứt.Đó là lịch sử xuất xứ để

có tên nước là Đại Việt như chúng ta đã biết và thời gian tồn tại của thời kì này Tiếp đến là sự hình thành các triều đại đã tồn tại xuyên suốt trong thời kì này và

đã có những đóng góp tích cực để có thể đạt được những thành tựu vượt bậc về kinh tế như vậy Như chúng ta đã biết thì tên nước Đại Việt đã được dùng làm quốc hiệu trong thời cai trị của các thời nhà Lý, nhà Trần, nhà Hậu Lê, nhà Mạc, Đàng Ngoài, Đàng Trong, nhà Tây Sơn, và 3 năm đầu thời nhà Nguyễn Trong quá trình này tên gọi Đại Việt bị gián đoạn 27 năm ngắn ngủi ở thời nhà Hồ và thời thuộc Minh.Đó là các triều đại đã trị vì và tồn tại trong thời kì Đại Việt Qua từng thời đại,từng vị vua đã trị vì đất nước thời Đại Việt sẽ hình thành nên những đặc điểm khác nhau về mọi lĩnh vực của đất nước mà trên hết là lĩnh vực kinh tế Bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu những đặc điểm chính và tình hình kinh

tế qua các triều đại để có thể thấy được qua từng thời đại đó,tình hình kinh tế có những thay đổi chính gì?

2.1>Tình hình kinh tế thời Lý(bắt đầu từ năm 1054-1225)

Trang 2

Lưỡi cày sắt thời Lý

a>Nông nghiệp: Trong thời gian này “nghề nông” là sinh hoạt chủ yếu trong

đời

sống quốc gia nên nghề nông được mở rộng và đặc biệt được chú trọng

-Từ những thế kỉ đầu công nguyên khi các công cụ sắt đã trở thành phổ biến thì lưỡi cày sắt đã thay thế dần cho lưỡi cày đồng.Nông nghiệp dùng cày và sức kéo của trâu bò trở thành phổ biến ở vùng đồng bằng.Các vua nhà Tiền Lê,Lý luôn luôn chăm lo đến sản xuất nông nghiệp:đầu mùa xuân,vua thường có lễ cày tịch điền khuyến khích dân trong việc nông tang,trong các bộ luật đều có những điều cấm giết trâu bò,miễn giảm thuế cho dân trong những năm mùa màng thất thu.Nhà nước còn đặt ra các chức Hà đê sứ,Khuyến nông sứ,chuyên trông coi việc đắp đê và sản xuất nông nghiệp.Dưới thời Lê sơ ( thế kỉ XV) nhà nước ban hành phép quân điền,thống nhất quy tắc phân chia ruộng cày ở các làng xã nhằm bảo đảm cho người dân lao động đều có ruộng cày.Vì vậy mọi người đền phấn khởi và yên tâm sản xuất.Từ thời Đại Việt nhân dân đã biết biết sử dụng kĩ thuật thâm canh trong làm ruộng,một năm hai ba vụ

-Bên cạnh đó Nhà Lý áp dụng chính sách “ngụ binh ư nông” cho binh lính thay nhau về làm ruộng, có tác dụng phát triển sản xuất nông nghiệp, sức lao động không bị thiếu Binh sĩ thay nhau nghỉ 1 tháng 1 lần về cày ruộng tự cấp

-Do nhu cầu của công tác trị thủy,nhà nước rất quan tâm đến việc đắp đê.Năm

1077 nhà Lý cho đắp đê sông Như Nguyệt( sông Cầu).Năm 1088 đắp đê Cơ Xá dọc sông Hồng.Ở nửa sau thế kỉ XV,vua Lê xuống lệnh đắp đê biển chạy suốt từ Ninh Bình đến Nam Hải Phòng,bảo vệ hàng mẫu ruộng được khai phá ở vùng biển,đồng thời tạo điều kiện cho việc mở rộng hơn nữa diện tích canh tác

-Với sự khuyến khích của nhà nước,nhân dân,quý tộc,quan lại còn hợp lức khai phá đất hoang,xây dựng làng xóm mở rộng ruộng đồng

-Trên cơ sở khẩn hoang vùng ven biển và vùng đất phía Nam,diện tích đất ngày càng mở rộng.Kĩ thuật sản xuất được đúc kết dựa trên kinh nghiệm thực hiện 4 khâu:Nhất nước,nhì phân,tam cần,tứ giống

-Nhân dân còn biết áp dụng phương thức nhân giống lúa và đã tạo ra nhiều giống lúa khác nhau tăng thêm năng suất thu hoạch.Tiêu biểu những năm được mùa lớn như năm:1016,1044,1079,1092,1111,1120,1123,1131,1139,1140

->Từ những tình hình chính về nông nghiệp trên ở triều đại Lí,chúng ta có thể

Trang 3

tổng kết thành tựu qua 1 câu nhận xét của sứ giả nhà Nguyên khi sang thăm nước ta vào năm 1291 như sau:ở đồng bằng sông Hồng,một năm lúa chín 4 lần -Ngoài việc trồng lúa,trồng cây ăn quả cũng khá phổ biến.Trầu cau được trồng ở khắp nơi,nhuộm răng ăn trầu là một tục lệ cổ truyền phổ biến

***Kết luận nông nghiệp thời Lí:Sự phát triển nông nghiệp vừa đảm bảo sự

ổn định cho cuộc sống cư dân,vừa tạo cơ sở cho sự tồn tại của bộ máy nhà nước

và nâng Đại Việt lên địa vị một quốc gia cường thịnh bậc nhất Đông Nam Á vào thế kỉ XV và giữ được nền độc lập quốc gia ở thế kỉ XVIII.Bên cạnh đó còn nâng cao đời sống nhân dân tương đối ổn định,đất nước phát triển vững chắc hơn

Đối với nông nghiệp dưới nhà Lý là vậy,bây giờ chúng ta sẽ cũng nhau tìm hiểu một ngành kinh tế khá phổ biến trong thời kì này và cũng đạt được không ít thành tựu rực rỡ đã để lại cho các thời kì sau và đến bây giờ vẫn còn tiếp nối đó

là nền kinh tế thủ công nghiệp

b>Thủ công nghiệp: Trên cơ sở của nền công nghiệp phát triển,kinh tế công

thương nghiệp công thương nghiệp cũng có nhưng bước tiến đáng kể,các nghề thủ công cổ truyền như:chăn tằm,ươm tơ,dệt lụa,làm đồ trang sức bằng vàng bạc,nghề rèn sắt,nghề khắc gỗ in bản gỗ,nghề đúc đồng,nghề nhuộm,…đều phát triển

*Nghề dệt:

-Trong cung đình, những người thợ thủ công lao động cho triều đình gọi là thợ bách tác Sản phẩm họ làm ra để phục vụ hoàng cung Theo Đại việt sử kí toàn

thư thì tháng 2 năm 1040, "vua Lý Thái Tông đã dạy cung nữ dệt được gấm

vóc.Trong nghề dệt với các nguyên liệu chủ yếu như tơ tằm,bông vải,đay gai,các thợ dệt đã làm nên nhiều thứ vải,lụa như cát bá,lĩnh,lụa,gấm Trong nhân gian nghề trồng dâu nuôi tằm được phát triển ở khắp nơi.Năm 1156 trong đồ cống của nhà Lý cho vua Tống đã có đến 850 tấm đoạn màu vàng thẫm có hoa rồng cuốn

-Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì ở thế kỉ XV đã có những làng,phưởng thủ công chuyên nghiệp bên cạnh những nghề phụ của nông dân như ở ấp Mao Điển(Hải Dương) có nghề”dệt vải nhỏ, đẹp hơn lụa”,phường “Tàng Kiếm ở Thăng Long dệt võng,gấm trừu”.Nghề nhuộm vải cũng phát triển với phường Hàng Đào nhuộm điều,làng Huê Cầu nhuộm thâm

-Để thấy được sự phát triển và thành tựu của nghề dệt vải và nhuộm vải ta có thể hiểu được qua sự ca tụng của sứ nhà Nguyên đối với “thứ lụa sợi nhỏ ngũ

sắc,chiếu dệt gấm màu” của nhân dân ta.Không chỉ thế nó còn được thể hiện qua hai câu thơ sau :

Ai lên Đồng Tỉnh,Huê Cầu

Đồng Tinh bán thuốc,Huê Cầu nhuộm thâm

Trang 4

Khung cửu dệt vải cấu trúc thời Lý

*Nghề gốm: Nghề gốm vốn có truyền thống lâu đời:qua thời Bắc thuộc vẫn tiếp

tục phát triển với trình độ ngày càng tinh xảo.Lượng gạch ngói được sản xuất ra ngày một nhiều

-Trong những năm Thăng Long đang được xây dựng Các công trình chùa chiền, bảo tháp, cung điện đòi hỏi nguồn vật liệu này khá nhiều Gạch thời Lý có kích thước lớn, có nhiều hình dạng phong phú Có loại vuông (35cm x 35cm x 6), có loại gạch hình tròn hay hình chữ nhật đường kính 25cm Phần lớn bề mặt các loại gạch được ghi nhận vào thời Lý Có hoa văn phong phú như rồng uốn khúc,

dây cúc, hoa sen, tượng Phật v:v

-Đồ Đàn: Có loại đồ đựng như thạp, thố, chậu, bát, đĩa Đặc biệt gốm đàn có

xương gốm rắn chắc nặng, dáng khỏe, còn lớp men dày màu xanh mát trong bóng như thủy tinh gọi là gốm men ngọc, Loại này có đường nét hoa văn đẹp, tỉ

mỉ, nổi hoặc chìm phỏng theo hoa văn trên các đồ đá, gỗ

-Gốm đàn hoa nâu (hoa văn màu nâu, hoặc nền nâu hoa trắng), Có nước men

trong suốt hoặc ngả sang ngà Tất cả loại gốm này có hình dáng mập -Đồ gốm được sử dụng phổ biến trong xây dựng tiêu biểu là hai công trình chùa

tháp Diên Hựu và tháp Sùng Thiện Diên Linh Bia Sùng Thiện Diên Linh ghi:

''Sở chùa Diễn Hựu ở tại vườn Tây ở sân trước cầu xây tháp báu lưu li"; xét từ các hiện vật gốm còn lại, gốm cổ của ta cả thời Lý là dạng nửa sành nửa sứ Vào

Trang 5

thời này, gốm men ngọc nổi tiếng nhất, đường nét hoa văn trang trí khỏe, đẹp

Gốm men xanh thời Lý trong thành Thăng Long

-Thời Lý cũng đã có một số trung tâm sản xuất gốm tiêu biểu như Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) nổi tiếng xuất hiện vào thời này Nghề gốm Bát Tràng là do dân làng Bồ Bát (Yên Mô, Ninh Bình) di cư ra lập nghiệp

-Để thấy được sự phát triển của nghề làm gốm đương thời và gắn liền với một số

làng làm đồ gốm nổi tiếng.Nhân dân ta vẫn thường có câu ca dao:

Chiếu Nga Sơn,gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định,lụa hàng Hà Đồng

*Nghề đúc đồng: Nghề đúc đồng cũng có những thành tựu Năm l198, nhà

nước tổ chức khai thác mỏ đồng ở Lạng Châu Đồng được sử dụng khá rộng rãi: Đúc tượng, chuông, tiền, vũ khí và các đồ dùng sinh hoạt Số đồng chi phí vào công việc này khá lớn Năm 1035, Lý Thái Tông cho phát 6000 cân đồng đúc chuông treo ở chùa Trùng Quang ở núi Tiên Du (Bắc Ninh) Sau đó lại là phát

7560 cân đúc tượng Di Lặc và 2 vị Bồ Tát Lý Thánh Tông có lần phát 12000 cân đồng đúc chuông chùa Sùng Khánh Báo Thiên Năm 1101, vua Lý cho đúc chuông chùa Diên Hựu quá lớn, đánh không kêu đành phải bỏ ngoài ruộng (nên gọi là chuông quy điền)

*Một số nghề thủ công khác: Nước ta đã có nhiều nghề thủ công khác phổ

biến như nghề xây dựng, nghề in khắc gỗ.v.v…Việc xây dựng kinh thành Thăng Long quy mô to lớn, nhà cửa dinh thự lộng lẫy đã thể hiện sự phát triển của các nghề này Năm 1031 triều đình còn phát tiền cho làm chùa quán trong các hương

lý ấp, số lượng đến 150 nơi Cùng với sự phát triển của nghề xây dựng thì các nghề khác như nghề làm bia đá, nghề mộc, nghề đúc kim loại, nghề làm đồ mĩ nghệ, điêu khắc v.v cũng phát triển tương ứng

c>Thương nghiệp:

-Về tiền tệ:Thương mại phát triển bước đầu, nhu cầu trao đổi hàng hóa trong nước ngày càng tăng Nhà Lý đúc tiền bằng hợp kim đồng – giống như tiền lưu hành ở vùng Đông Nam Trung quốc khi đó Tuy nhiên, tiền do triều đình đúc ra không đáp ứng đủ nhu cầu lưu thông hàng hóa nên nhiều đồng tiền nhà Tống và thậm chí thời Đường vẫn được lưu hành trong nước.

Loại đồng tiền Thuận Thiên Đại Bảo thời Lý -Về giao thương:

+Cảng Vân Đồn có vị trí rất quan trọng cho hoạt động ngoại thương, nằm trên trục hàng hải từ Trung Quốc xuống các nước Đông Nam Á Ngoài ra, nơi này còn thuận lợi cho việc đỗ tàu thuyền Ngoài Vân Đồn, vùng biển Diễn châu cũng

là nơi có hoạt động ngoại thương phát triển

Trang 6

+Các đối tác chủ yếu của Đại Việt là Trung Quốc, Chiêm Thành, Trảo Oa

tức Đảo Java, Lộ Lạc tức vương quốc Lavo, Xiêm La - quốc gia vùng Mê Nam

và Tam Phật Tề tức Srivijaja ở đảo Sumatra

+Tại vùng biên giới, những người dân tộc thiểu số cũng qua lại buôn bán với nhau

+Người Việt thời Lý thường sang Trung Quốc buôn bán qua hai ngả là trại Vĩnh Bình trên bộ, nằm ở biên giới với Ung Châu, và đường biển là cảng châu Khâm

và Liêm Nhà Lý cũng thường cử sứ giả sang buôn bán, gọi là "đại cương" Nhà

Lý cử sứ giả sang Trung Quốc ba lần để thống nhất cân đo, tạo điều kiện cho buôn bán

+Hàng hóa xuất khẩu của Đại Việt chủ yếu là thổ sản; hàng nhập khẩu bao gồm :giấy,bút,tơ,vải,gấm Các thương nhân Đại Việt thường mua trầm hương của Chiêm Thành để bán lại cho thương nhân người Tống

2.2>Tình hình kinh tế nhà Trần: (1225-1400)

hồi sản xuất nông nghiệp, mở rộng thêm diện tích canh tác.Ở triều Đại này đã hình thành một số loại hình ruộng như sau:

* Ruộng công:Có hai bộ phận ruộng công, gồm ruộng đất do triều đình

trực tiếp quản lý và ruộng đất công của thôn làng

-Ruộng quốc khố

Ruộng quốc khố, hay quốc khố điền, là ruộng công của triều đình mà hoa lợi thu

được dự trữ vào kho của vua để chi dùng cho hoàng cung

-Sơn lăng

Sơn lăng là loại ruộng dùng vào việc thờ phụng tổ tiên dòng họ nhà vua, được giao cho dân trông nom việc tế tự, được miễn tô thuế

-Tịch điền

Ruộng tịch điền là loại ruộng do triều đình trực tiếp quản lý, hoa lợi dùng cho triều đình, đã có từ thời Tiền Lê

-Ruộng công làng xã

Ruộng công làng xã gọi là quan điền hay quan điền bản xã

*Ruộng tư:

-Thái ấp:Chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc thể hiện dưới hình thức thái

ấp Những thái ấp tiêu biểu thời Trần là Quắc Hương (Bình lục,Hà Nam)

của Trần Thủ Độ,Vạn Kiếp của Trần Quốc Tuấn,Chí Linh của Trần Quốc

Chân Diễn Châu của Trần Quốc Khang

-Điền trang:Điền trang thành lập là điểm dân cư tiêu biểu cho hình thái kinh

tế-xã hội thời Trần Đây là khu vực kinh tế hỗn hợp của hình thức bóc lột nông nô,

nô tì và nông dân lệ thuộc

-Ruộng tư địa chủ:Năm 1254 đánh dấu mốc quan trọng trong sự phát triển ruộng

tư hữu, triều đình ra lệnh bán ruộng công Tới những năm 1280, hình thức sở

Trang 7

hữu ruộng tư đã rất phổ biến Những địa chủ sở hữu nhiều ruộng đất nhưng không vì vậy mà địa vị xã hội của họ được nâng cao

-Ruộng đất tiểu nông:Kinh tế hàng hóa-tiền tệ là một trong những nguyên nhân tạo ra sở hữu ruộng đất tiểu nông Lệnh bán đất năm 1254 tạo điều kiện cho các gia đình tiểu nông mua thêm ruộng đất

-Nhà nước thời Trần đã thi hành chính sách trọng nông, khuyến khích nông nghiệp Cùng với chính sách "ngụ binh ư nông" kết hợp kinh tế với quốc phòng, Triều đình đã lập ra Ty Khuyến nông, đặt các chức quan Hà đê chánh phó sứ -Triều đình cũng cho phép các vương, hầu có quyền chiêu tập những người nghèo khó, lưu lạc đi khai khẩn đất hoang để mở mang thêm ruộng nương

-Đê được nhà Lý quan tâm đắp nhưng chưa có quy hoạch quy mô, nhiều lần nước vẫn tràn vào kinh thành Năm 1238 và 1243, nước lại tràn vào cung điện Năm 1248, Trần Thái Tông lập ra cơ quan Hà đê, có chánh sứ, phó sứ phụ trách

đê điều tại các lộ phủ Việc đắp đê thực hiện suốt từ đầu nguồn cho tới bờ biển

để ngăn nước lũ tràn ngập, gọi là đắp đê quai vạc

-Việc hộ đê mùa lũ lụt được triều đình rất quan tâm Triều đình quy định khi có lụt thì mọi người cùng phải có trách nhiệm Vua đi thân chinh và huy động cả học sinh trường Quốc Tử Giám

-Ngoài đắp đê ngăn nước sông, nhà Trần còn tổ chức đắp đê biển ngăn nước mặn Đê biển là những công trình mới có từ thời Trần Các quý tộc nhà Trần thường cho nô tì đắp đê tại ven biển các điền trang

- Để bảo đảm nguồn thu hoạch của Nhà nước, các nông dân làng xã đã phải chịu những nghĩa vụ tô thuế và lao dịch

b>Thủ công nghiệp:

**Thủ công nghiệp Nhà nước Nhà Trần vẫn tiếp tục xây dựng quan xưởng thủ

công nghiệp nhà nước Thủ công nghiệp nhà nước gồm có nhiều ngành nghề khác nhau, là thành phần kinh tế quan trọng Có thể kể đến những ngành nghề sau:

-Nghề sản xuất các đồ gốm là bộ phận trong quan xưởng Khảo cổ học không

tìm thấy nhiều di tích sản xuất gốm ở Thăng Long, nhưng ở Thiên Trường thì rất phong phú Tại đây, phế tích gạch ngói mang chữ ''Vĩnh Ninh trường'' hay

"Thiên Trường phủ chế'' rất nhiều Trên địa phận thôn Bối xã Mỹ Thanh (ngoại thành Nam Định) xưa thuộc hương Tức Mặc, khảo cổ học tìm thấy nhiều chồng bát đĩa phế phẩm, nhiều bao nung và vết tích lò gốm

Lò gốm trong các quan xưởng này sản xuất các đồ dùng gia đình: chén bát, đồ thờ cúng và các vật liệu xây dựng như gạch, ngói

- Nghề dệt cũng được nhà nước chú ý, đặt ngay trong cung đình Đồ dệt của nhà

Vua chủ yếu vẫn là tơ tằm Tiếng động của khung cửi thường vang đến cung vua Trần Nhân Tông có viết:

Trang 8

''Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ".

+ Xưởng chế tạo vũ khí

Một tài liệu địa phương ở Nho Lâm (Diễn Châu, Nghệ An) có ghi chức nghiệp của ông tổ họ Cao là trần triều vũ khố tượng cục Cao tướng công'' thì rõ ràng ông thợ rèn họ Cao này làm việc trong xưởng rèn vũ khí của nhà nước Nho

Vũ khí thời Trần Lâm từ xưa đã là làng chuyên rèn suất, có nhiều thợ thủ công làm việc trong các quan xưởng của các triều đại

-Triều đình còn tập trung thợ giỏi trong nước để tạo ra một số công trình lớn Sự

mở rộng của phương thức này càng tăng thêm tính chất tự cấp tự túc trong nền

kinh tế nói chung Hoàng cung giống như một hộ gia đình lớn có ruộng đất riêng lại có quan xưởng riêng

**Thủ công nghiệp nhân dân

Đây là bộ phận quan trọng và phổ biến của tiểu thủ công, của tiểu nông

Chợ, phố, lị sở, các phủ lộ và kinh đô Thăng Long là địa điểm trao đổi sản phẩm

- Gốm: sản phẩm đồ gốm bao gồm các đồ dùng sinh hoạt trong gia đình, các vật

liệu xây dựng không thể thiếu được trong đời sống, phải kể đến Bát Tràng (Gia

Lâm, Hà Nội) là trung tâm làm gốm nổi tiếng nhất cả nước

Trang 9

Gốm Bát Tràng Thời Trần

Gốm Bát Tràng là đồ sành men trắng ngà, men nâu, những đồ đàn và gạch ngói Hàng Bát Tràng tinh vi, đẹp, được làm đồ cống phẩm bang giao và buôn bán với nước ngoài, Thổ Hà và Phù Lãng (Bắc Ninh) cũng là những làng gốm

- Nghề rèn sắt Vào thời Trần, nghề rèn sắt đã phát triển mạnh, hình hành nhiều

làng chuyên nghiệp Ở các phủ Diễn Châu, Nghệ An có hai làng Tùng Lâm và Hoa Chàng Tùng Lâm nay là Nho Lâm (Diễn Châu, Nghệ Anh) nơi có nghề rèn sắt từ thời xa xưa Người thợ rèn ở đây vừa làm ruộng, vừa rèn sắt Lò rèn được đặt ở nơi cư trú và quặng sắt lấy ở núi thuộc khu vực Trường Sắt cách Nho Lâm

Trang 10

về phía nam hơn 10 km

Vào cuối thế kỉ XIV nghề luyện sắt từ Hoa Chàng (nay là Trung Lương, Hà Tĩnh) truyền ra phía bắc lập làng rèn Hoa Chàng mới (nay là Văn Chàng, Nam Định)

-Nghề đúc đồng cũng có một vị trí to lớn Trung tâm đúc đồng cổ truyền thời bấy

giờ ở làng Bưởi (làng Đại Bái, Gia Lương, Bắc Ninh) Từ làng Bưởi, những người thợ đúc đồng đã đi khắp nơi, đến các chùa chiền, các thôn xóm đúc tượng Phật và làm đồ dùng gia đình v.v

- Nghề làm giấy và khắc bản in Sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và yêu

cầu của văn thư hành chính đòi hỏi nghề làm giấy và khắc bản in phải ngày càng

mở rộng Vì Anh Tông khi làm thái thượng hoàng đã tặng chùa Siêu Loại 500 hòm kinh Đại Tạng

- Nghề mộc và xây dựng ở thời Trần cũng rất phát triển

Nghề mộc và xây dựng đã tạo ra được nhà ở, dụng cụ gia đình và đồ thờ cúng

Nó đã làm nên đô thành Thăng Long, hoàng cung Tức Mặc, các phủ đệ Vạn Kiếp, Quắc Hương, An Sinh các lăng mộ vua chúa Những công trình kiến trúc tiêu biểu này đã tô điểm cho đất nước thêm tươi đẹp

Chùa Pháp Minh-Cửa bắc thành Thăng Long

- Nghề khai khoáng: Khai thác tài nguyên trong lòng đất đã được các triều đại

Lý - Trần đặc biệt lưu ý hầu hết các mỏ được khai thác trong thời này đều ở miền núi phía tây và phía bắc Thư tịch cổ cho biết các phủ châu Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Hóa, Quảng Oai có các mỏ vàng, bạc, đồng,thiết

c>Thương mại:

*Tuyến giao thông:

-Hệ thống đường sông, đường biển và trên bộ, ngoài phục vụ mục đích quân sự còn nhằm phát triển thương mại Các tuyến đường bộ không phải được xây cất

tự phát của nhân dân địa phương mà do chính quyền địa phương và triều đình tổ chức thực hiện Đây được xem là bước tiến so với thời Lý Ngoài đường dài

Ngày đăng: 04/04/2016, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w