Phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam và nhu cầu phát triển KH&CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hiện trạng KH&CN, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thốn
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
***
ĐỀ ÁN THÀNH LẬP
VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆT NAM - HÀN QUỐC (V-KIST)
(Phiên bản 05/6/2014)
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Phần thứ nhất BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ NHU CẦU HÌNH THÀNH TỔ CHỨC
KH&CN THEO MÔ HÌNH V-KIST TẠI VIỆT NAM
6
I Bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam và nhu cầu phát triển KH&CN phục vụ công nghiệp
2.Năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống các viện nghiên cứu ứng dụng định hướng
3 Môi trường thể chế, chính sách hỗ trợ hoạt động của các tổ chức KH&CN 15 III Nhu cầu cấp thiết hình thành viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ công nghiệp đa ngành
Phần thứ hai KINH NGHIỆM QUỐC TẾ, MÔ HÌNH HÀN QUỐC VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI
VIỆT NAM
27
I Kinh nghiệm và một số mô hình tổ chức KH&CN thành công trên thế giới 27
II Mô hình Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST): Bài học thành công trong nghiên
cứu ứng dụng, phát triển công nghệ phục vụ các ngành công nghiệp và kinh tế
29
Phần thứ ba TỔNG QUAN VỀ VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM - HÀN
QUỐC (V-KIST)
43
VIII Hạ tầng kỹ thuật
I Điều kiện bảo đảm cho Viện V-KIST được vận hành hiệu quả 71
Phụ lục
Phụ lục 1 Hiện trạng các ngành kinh tế - kỹ thuật của Việt Nam, năng lực và nhu cầu đổi mới
công nghệ của khu vực doanh nghiệp
3
Phụ lục 2 Mô hình và kết quả hoạt động của một số viện nghiên cứu ứng dụng định hướng
công nghệ công nghiệp điển hình ở Việt Nam
13
Phụlục 3 Kinh nghiệm và một số mô hình tổ chức KH&CN định hướng ứng dụng thành công
2
Trang 3BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2014
ĐỀ ÁN THÀNH LẬP Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (V-KIST)
Mở đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học và công nghệ (KH&CN) và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, là chìa khóa quyết định tốc độ phát triển và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia Chính sách đầu tư và phát triển KH&CN của các Chính phủ vì vậy cũng được chuyển dịch theo hướng dành tỷ trọng ngân sách ngày càng cao cho KH&CN, coi KH&CN là ngành kinh tế then chốt trong chiến lược phát triển quốc gia
Sự phát triển như vũ bão của KH&CN trong thế kỷ 21, khi các công nghệ mới sẽ chi phối nền kinh tế toàn cầu và người nắm công nghệ trở thành người điều khiển luật chơi và thống trị thị trường toàn cầu, đã đặt ra nhiều cơ hội và thách thức to lớn cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam giải bài toán trụ vững và phát triển trong hoàn cảnh cạnh tranh khốc liệt với thế giới khi tiềm lực và năng lực có hạn Mô hình tăng trưởng dựa vào gia tăng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo đã không còn thích hợp; cần và chỉ dựa vào phát triển ứng dụng KH&CN hiện đại, chúng ta mới có thể tạo ra sự tăng trưởng kinh tế - xã hội theo chiều sâu, bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững, từ đó, thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” và vươn lên gia nhập khối các quốc gia phát triển
Quan điểm coi KH&CN là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa được khẳng định và quán triệt trong nhiều văn kiện của Đảng thời kỳ đổi mới, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 và gần đây nhất là Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, Ban chấp hành Trung ương Đảng
khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 về phát triển KH&CN phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế) Trong đó, nhấn mạnh giải pháp hợp tác và hội
nhập quốc tế về KH&CN, xác định rõ đối tác chiến lược trong hợp tác nghiên cứu chung và triển khai hợp tác tầm quốc gia với các nước tiên tiến về KH&CN; tăng cường hợp tác với các tổ chức nghiên cứu KH&CN nước ngoài và hình thành một số trung tâm KH&CN hiện đại liên kết với các tổ chức khoa học tiên tiến nước ngoài
Trong số các quốc gia chiến lược mà Việt Nam đặt trọng tâm mở rộng hợp tác KH&CN trong những năm tới, Hàn Quốc là lựa chọn hàng đầu Hàn Quốc đi lên từ
3
Trang 4một nước kém phát triển vào năm 1960 với tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người 156 USD, giữa thập niên 1980 đã trở thành một trong những nước công nghiệp hóa mới (NICs) và đến nay là một trong những nước công nghiệp hàng đầu thế giới với GDP bình quân đầu người đạt 25.050 USD1 Thành công trong phát triển kinh tế
của Hàn Quốc - “Kỳ tích sông Hàn”, dựa chủ yếu vào nhân tố KH&CN và nhân lực
trình độ cao đã trở thành hình mẫu học tập cho nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó
có Việt Nam
Sự ra đời của Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) năm 1966, một viện nghiên cứu ứng dụng định hướng công nghệ công nghiệp đa ngành đầu tiên của Hàn Quốc hoạt động theo mô hình độc lập, tự chủ với cơ chế ưu đãi đặc biệt của quốc gia, đã đóng góp to lớn và hiệu quả cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hàn Quốc Thành công của Viện KIST qua gần 50 năm hình thành và phát triển, trên cơ sở bám sát thực tiễn để đáp ứng kịp thời các nhu cầu của thị trường và doanh nghiệp, đã được minh chứng rõ nét bằng các thành tựu xuất sắc trong KH&CN và đổi mới sáng tạo, từ cung cấp sản phẩm công nghệ mới và dịch vụ trợ giúp kỹ thuật cho doanh nghiệp, đào tạo nhân lực kỹ năng cao cho các ngành công nghiệp trong những giai đoạn khởi đầu, cho tới phát triển các hướng nghiên cứu cơ bản, các công nghệ cao mang tính dẫn dường cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai,… đã góp phần tác động mạnh mẽ tới tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Hàn Quốc trong từng thời kỳ phát triển
Hàn Quốc đã trải qua giai đoạn phát triển với các điều kiện tương đồng như Việt Nam hiện nay, điều này càng tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam có thể tham khảo, vận dụng các bài học thành công của bạn trong việc hình thành và phát triển một viện nghiên cứu ứng dụng đa ngành định hướng công nghệ công nghiệp ở Việt Nam theo
mô hình Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) Với tinh thần đó, chủ trương hợp tác thành lập Viện này đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung Park nhất trí trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc chính thức của Thủ tướng Việt Nam tại Hàn Quốc, tháng 3/2012
Để triển khai chủ trương trên, ngày 29/7/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1238/QĐ-TTg phê duyệt danh mục Dự án “Hợp tác xây dựng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc tại Việt Nam” do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ Trên cơ sở đó, ngày 09/9/2013, Thỏa thuận về việc triển khai Dự án thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (V-KIST) đã được ký kết giữa Bộ
Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Mục tiêu của Dự án thông qua việc thành lập và vận hành Viện V-KIST nhằm thúc đẩy phát triển KH&CN và đóng góp cho sự tăng trưởng bền vững của các ngành công nghiệp trọng điểm và nền kinh tế Việt Nam Phía Hàn Quốc sẽ cung cấp viện trợ không hoàn lại tương đương 35 triệu USD nhằm triển khai Dự án thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) với đối tác phía Việt Nam là Bộ Khoa học và Công nghệ, dự kiến bắt đầu từ
1 Nguồn: International Monetary Fund, World Economic Outlook Database, April 2013.
4
Trang 5năm 2014.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với Viện KIST Hàn Quốc và các Bộ, ngành có liên quan soạn thảo Đề án thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (V-KIST) Đề án đượccấu trúc gồm 4 phần và 5 phụ lục như sau:
Phần thứ nhất Bối cảnh trong nước và nhu cầu hình thành tổ chức KH&CN
theo mô hình V-KIST tại Việt Nam Phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam và
nhu cầu phát triển KH&CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hiện trạng KH&CN, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống các viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp ở Việt Nam; môi trường thể chế, chính sách hỗ trợ hoạt động của các
tổ chức KH&CN; nhu cầu cấp thiết hình thành viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ công nghiệp đa ngành theo mô hình V-KIST ở Việt Nam
Phần thứ hai Kinh nghiệm quốc tế, mô hình Hàn Quốc và bài học đối với Việt
Nam Phân tích một số mô hình tổ chức KH&CN thành công trên thế giới; kinh
nghiệm của Viện KIST trong nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ công nghiệp phục vụ nhu cầu tăng trưởng của các ngành công nghiệp và nền kinh tế Hàn Quốc; các bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Phần thứ ba Tổng quan về Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc
(V-KIST) Phân tích mô hình Viện với các đặc thù về mục tiêu, định hướng ưu tiên, sứ
mệnh/chức năng, cơ cấu tổ chức, nguồn nhân lực, tài chính, hạ tầng kỹ thuật và các điều kiện bảo đảm cho Viện được vận hành hiệu quả
Phần thứ tư Đề xuất, kiến nghị.
Các Phụ lục kèm theo Đề án bao gồm:
Phụ lục 1 Hiện trạng các ngành kinh tế - kỹ thuật của Việt Nam, năng lực và
nhu cầu đổi mới công nghệ của khu vực doanh nghiệp
Phụ lục 2 Mô hình và kết quả hoạt động của một số viện nghiên cứu ứng dụng
định hướng công nghệ công nghiệp điển hình ở Việt Nam
Phụ lục 3 Kinh nghiệm và một số mô hình tổ chức KH&CN định hướng ứng
dụng thành công trên thế giới
Phụ lục 4 Tổng luận về mô hình KIST - quá trình hình thành và phát triển.
Phụ lục 5 Các định hướng nghiên cứu chính của V-KIST trong tương lai.
5
Trang 6Phần thứ nhất BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ NHU CẦU HÌNH THÀNH TỔ CHỨC KH&CN
THEO MÔ HÌNH V-KIST TẠI VIỆT NAM
I BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM VÀ NHU CẦU PHÁT TRIỂN KH&CN PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC
1 Tổng quan chung
a) Sau gần 27 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng và an ninh được củng cố, an sinh xã hội và chất lượng cuộc sống được cải thiện Từ một nước kém phát triển, Việt Nam đã gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5,6%/năm (2011-2013), thu nhập bình quân đầu người từ mức 98 USD năm 1990 vươn tới 1.960 USD năm 20132
Cơ cấu kinh tế được chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 60,2% năm 2010 lên 78% năm 2013; tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản trong GDP giảm từ 20,6% năm 2010 xuống 19,3% năm 20133 Bên cạnh các ngành truyền thống như chế biến thực phẩm, dệt may,
cơ cấu công nghiệp đã chuyển dần mũi nhọn sang các ngành then chốt như năng lượng, hóa chất, chế tạo máy, công nghệ thông tin và truyền thông, các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, tăng cường xuất khẩu và phát triển công nghiệp hỗ trợ Nông nghiệp đang được tái cơ cấu theo hướng bền vững, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xây dựng các vùng chuyên canh, sản xuất quy mô lớn, khu nông nghiệp công nghệ cao, liên kết sản xuất với chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm Lĩnh vực dịch vụ cũng duy trì tăng trưởng ở một số ngành có tiềm năng, lợi thế, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao như du lịch, công nghệ thông tin, truyền thông, tài chính - ngân hàng
Tốc độ và tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng cao Kim ngạch xuất khẩu bình quân 5 năm 2007-2011 tăng 19,25%/năm, riêng 3 năm 2011-2013 tăng 22% Cơ cấu xuất khẩu đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các mặt hàng công nghiệp (sản phẩm điện tử, máy móc - thiết bị, phương tiện vận tải và phụ tùng), giảm tỷ trọng các mặt hàng nông nghiệp, khoáng sản và nhiên liệu Tuy nhiên, nhóm các mặt hàng có tổng giá trị xuất khẩu cao nhất vẫn thuộc về sản phẩm công nghiệp nhẹ có giá trị gia tăng thấp (dệt may, giầy da, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản), sản phẩm công nghệ cao chỉ chiếm xấp xỉ 5% tổng giá trị xuất khẩu4
tỷ); gạo (2,9 tỷ) Đơn vị tính: USD Nguồn: Tổng cục Hải quan và như ghi chú 3.
6
Trang 7Mặc dù đã đạt được một số thành tựu, nền kinh tế nước ta vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng và suy giảm kinh tế toàn cầu Việc tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng còn chậm Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) và ngành công nghiệp có chiều hướng giảm5 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam so với Hàn Quốc, Trung Quốc và
các quốc gia khác trong khu vực còn rất thấp (Bảng 1) Nhiều ngành, sản phẩm chậm
đổi mới công nghệ, giá trị gia tăng chưa cao, chưa tham gia được vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Tăng trưởng kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào tăng quy mô đầu tư, khai thác tài nguyên thiên nhiên và lao động giá rẻ Nền kinh tế phát triển chưa thật bền vững, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh quốc gia còn thấp
Bảng 1 Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam và các nước trong khu vực
Việt Nam, 1990-2012 Một số nước trong khu vực, 2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê, WB, OECD.
b) Đến nay, cả nước có khoảng 450.000 doanh nghiệp đang hoạt động (dù số lượng đăng ký là hơn 700.000), doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 97% Doanh nghiệp nhà nước đóng góp trên 33% GDP với tổng số 3.135 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản (12,9%), công nghiệp và xây dựng (44,7%), dịch vụ (42,4%)6 Thực trạng chung của đa số các doanh nghiệp Việt Nam là chưa có tầm nhìn dài hạn, thiếu nhân lực trình độ cao và trang thiết bị, tiềm lực tài chính và KH&CN yếu kém nhưng lại khó tiếp cận vốn, tín dụng để tiến hành đổi mới, nâng cấp công nghệ
Về hiện trạng công nghệ trong doanh nghiệp và các ngành, lĩnh vực (xem Phụ
lục 1), trừ một số lĩnh vực có tốc độ đổi mới công nghệ khá nhanh như công nghệ
thông tin - viễn thông, dầu khí, hàng không, tài chính - ngân hàng,… phần lớn doanh nghiệp nước ta vẫn đang sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế hệ Đối vớicác doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp (chiếm khoảng 1/3 tổng số doanh nghiệp), nhóm doanh nghiệp có trình độ công nghệ tiên tiến chỉ khoảng 12% (chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), 88% doanh nghiệp còn lại có trình độ công nghệ thuộc loại trung bình và lạc hậu.Tỷ lệ đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt nam chỉ đạt dưới 0,5% doanh thu (trong khi Hàn Quốc là 10%)
Trong môi trường tự do hóa thương mại, để nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh,nhu cầu đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp ngày càng trở nên bức thiết.Do nguồn cung và năng lực công nghệ trong nước chưa đáp ứng được nhu
5 Tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2010 đạt 7.0%, năm 2011: 6,2%, năm 2012 chỉ đạt 5,2% Giá trị gia tăng công nghiệp
- xây dựng năm 2011 tăng 6,7%, năm 2012: 5,8%, năm 2013: 5,4% Nguồn: Như ghi chú 3.
6 Trong đó, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước là 1.254, giảm 4,5 lần so với năm 2001 (5.655 doanh nghiệp) nhờ vào
chính sách cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ Nguồn: Như ghi chú 3.
7
Trang 8cầu, các doanh nghiệp chủ yếu phải nhập khẩu máy móc, thiết bị từ nước ngoài để đổi mới công nghệ Số liệu thống kê cho thấy,hai nhóm hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong năm 2013 là máy móc - thiết bị (18,7 tỷ USD, tăng 16,5% so với năm 2012)
và máy tính, sản phẩm điện tử, linh kiện (17,7 tỷ USD, tăng 35%)7 Tuy nhiên, nguồn gốc xuất xứ của máy móc, thiết bị chủ yếu từ Trung Quốc(35%),tỷ trọng nhập khẩu từ các quốc gia tiên tiến về công nghệ (như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ) rất thấp (16%, 12%
và 4%).Do vậy, mức độ tiên tiến, hiện đại của các công nghệ, thiết bị được các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư nhập khẩu còn hạn chế, chủ yếu chỉ ở mức trung bình so với thế giới
Theo Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), năm 2013,Việt Nam đứng thứ 70/148 quốc gia về chỉ số cạnh tranh toàn cầu, ở tốp cuối trong 9 nước ASEAN được khảo sát (chỉ hơn Lào, Campuchia, Miến Điện), trong khi 3 quốc gia châu Á khác là Singapore, Hồng Kông và Nhật Bản lọt vào tốp 10 thế giới Mức độ sẵn sàng về công nghệ xếp thứ 102/148, tụt 4 bậc so với năm 20128
Với thực trạng trình độ công nghệ và hoạt động đổi mới công nghệ như vậy, các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cải thiện năng lực cạnh tranh để nâng cao năng suất, chất lượng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, và vì thế, cũng khó tồn tại bền vững trên thị trường nội địa, chưa nói tới chiếm lĩnh các thị trường khu vực và thế giới
2 Nhu cầu ứng dụng KH&CN phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững kinh tế đất nước
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam giai đoạn 10 năm 2011-2020
đã xác định mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 7 - 8%/năm; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 3.000 USD Xây dựng cơ cấu kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, hiệu quả Tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% trong GDP Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp Nông nghiệp có bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng cao Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 35%
Để đạt được các mục tiêu đầy thách thức nêu trên9, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo triển khai Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế,
7 Tổng trị giá nhập khẩu của hai mặt hàng này chiếm 28% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước trong năm 2013
Nguồn: Tổng cục Hải quan.
8 Về mức độ sẵn sàng về công nghệ, Việt Nam xếp thứ 98/144 quốc gia xếp hạng năm 2012 Nguồn: WEF, Global
Competitiveness Report 2013-2014.
9 Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh giai đoạn 2013-2020 được phê duyệt theo Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ.
8
Trang 9trong đó KH&CN được coi là đòn bẩy của quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển
đổi mô hình tăng trưởng Một trong những định hướng mục tiêu của Đề án là hình thành, phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở phát triển các ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng cao từng bước thay thế các ngành công nghệ thấp, giá trị gia tăng thấp để trở thành các ngành kinh tế chủ lực
Đối với ngành công nghiệp, cần cơ cấu lại sản xuất công nghiệp cả về ngành kinh tế - kỹ thuật, vùng và giá trị mới Tăng hàm lượng KH&CN và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm Phát triển có chọn lọc công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp năng lượng, khai khoáng, luyện kim, hoá chất, công nghiệp quốc phòng Ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu thuộc các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp cơ khí, công nghiệp công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp dược Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ Từng bước phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường.Bên cạnh đó, cần phát huy và khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ KH&CN hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ưu tiên ứng dụng công nghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng với đòn bẩy KH&CN là các giải pháp mang tính chiến lược để Việt Nam có thể khắc phục các yếu kém nội tại của nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững, đồng thời tăng cường khả năng chủ động đối phó với những biến động khôn lường của thế giới trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu
II HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KH&CN CỦA VIỆT NAM
1 Khát quát chung
a) Về nhân lực KH&CN, đến nay Việt Nam có hơn 4,2 triệu người có trình độ từ
cao đẳng, đại học trở lên, trong đó có hơn 24 nghìn tiến sỹ, 101 nghìn thạc sỹ Số người trực tiếp làm công tác R&D là trên 62 nghìn người (7 người/một vạn dân) Tổng
số giảng viên đại học, cao đẳng trong cả nước là hơn 84 nghìn người, trong đó có hơn 2,6 nghìn GS, PGS (3%), 9,1 nghìn tiến sỹ (11%) và 36 nghìn thạc sỹ (44%) Bên cạnh
đó, có hơn 100 nghìn du học sinh, 300 nghìn trí thức kiều bào ở nước ngoài (đây là lực lượng tiềm năng, được đào tạo bài bản và rèn luyện trong môi trường KH&CN trình độ cao ở các nước tiên tiến, nếu có chính sách thu hút phù hợp sẽ đóng góp có hiệu quả cho sự phát triển KH&CN và kinh tế - xã hội trong nước)
Số lượng cán bộ R&D của Việt Nam dù đã gia tăng nhưng còn rất khiêm tốn so
9
Trang 10với các nước có quy mô dân số tương đồng hoặc lớn hơn như Hoa Kỳ, tổng số nhân lực R&D là hơn 1,4 triệu người, Trung Quốc: 1,2 triệu, Nhật Bản: 656 nghìn, Nga: 442 nghìn, Đức: 327 nghìn, Hàn Quốc: 264 nghìn10 Chất lượng và năng lực của đội ngũ nhân lực KH&CN nhìn chung còn hạn chế; số lượng cán bộ R&D và cán bộ giảng dạy đại học có trình độ trên đại học thấp
b) Về hệ thống tổ chức KH&CN, cả nước có 2.202 tổ chức KH&CN đăng ký
hoạt động, trong đó các tổ chức công lập chiếm hơn 50%11 Số lượng các trường đại học và cao đẳng là 420, trong đó có 204 trường đại học và 216 trường cao đẳng Quy
mô nhân lực cán bộ R&D của tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (viện nghiên cứu) khá nhỏ, trung bình 30 người/viện12
Tổ chức KH&CN có quy mô lớn nhất trong hệ thống là 2 Viện hàn lâm trực thuộc Chính phủ (Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), nơi tập trung các cán bộ KH&CN trình độ cao lớn nhất cả nước13 Ngoài ra,
có khoảng 160 viện nghiên cứu trực thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, thường là các tổ chức quy mô vừa14
c) Về nguồn lực tài chính và hạ tầng kỹ thuật cho KH&CN, tỷ lệ chi ngân sách
nhà nước cho KH&CN hàng năm đạt 2% (tăng trung bình 16,5%/năm), tuy nhiên xét
về giá trị tuyệt đối còn rất thấp Năm 2013, đầu tư từ ngân sách nhà nước cho KH&CNlà hơn 14 nghìn tỷ đồng (tương đương 673 triệu USD)15 Tổng đầu tư của toàn
xã hội cho KH&CN của Việt Nam hiện nay ước chỉ đạt dưới 1% GDP, trong khi Hàn Quốc là 3.1%16 và mức trung bình thế giới là 2.1% Ngân sách nhà nước vẫn là nguồn đầu tư chính(70%), đầu tư từ doanh nghiệpcòn thấp Đã hình thành một số định chế tài chính quốc gia mô hình quỹ (NAFOSTED, NATIF), tài trợ cho hoạt động KH&CN
Về hạ tầng KH&CN, cả nước có 3 khu công nghệ cao quốc gia, 8 khu công nghệ
10 Nguồn: OECD, Main Science and Technology Indicators Database, 3/2012.
11 Trong đó, có 953 tổ chức thuộc các Bộ, ngành, tổ chức nhà nước; 893 thuộc các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội, xã hội-nghề nghiệp; 88 thuộc các trường đại học; 33 thuộc doanh nghiệp, tập đoàn; 07 thuộc các tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài; 182 tổ chức do cá nhân thành lập và 46 thuộc các tổ chức khác.
12 Khoảng 70% tổ chức có quy mô nhân lực R&D dưới 50 người; số tổ chức có quy mô lớn (trên 300 người) chỉ là 3%.
13 Riêng Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam có 34 viện, 6 trung tâm sự nghiệp, 4 đơn vị tự trang trải kinh phí và 1 doanh nghiệp nhà nước; tổng số cán bộ trên 4.000 người (223 giáo sư và phó giáo sư, trên 700 tiến sỹ và 722 thạc sỹ); triển khai chủ yếu các hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng trong các lĩnh vực: công nghệ vũ trụ; công nghệ sinh học; khoa học vật liệu; khoa học trái đất; khoa học biển và đa dạng sinh học; môi trường và năng lượng; công nghệ thông tin, điện tử và tự động hoá.
14 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có số lượng viện nghiên cứu trực thuộc lớn nhất (65 viện), trong đó riêng 3 viện hạng đặc biệt của Bộ này đã có tới 53 viện và trung tâm thành viên Đứng thứ hai là Bộ Y tế với 25 viện nghiên cứu trực thuộc.
15 Trong khi đó, tổng chi cho hoạt động R&D năm 2010 của Hoa Kỳ là hơn 401,5 tỷ USD, Trung Quốc: 178,9 tỷ, Nhật
Bản: 140,8 tỷ, Đức: 86,2 tỷ, Hàn Quốc: 53,1 tỷ Nguồn: OECD, Main Science and Technology Indicators Database,
Trang 11thông tin tập trung, 12 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 17 phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia17 và hơn 800 cơ quan thông tin KH&CN Cơ sở vật chất và trang thiết bị nghiên cứu ở Việt Nam nhìn chung còn thiếu, lạc hậu
c) KH&CN Việt Nam đã bước đầu có tác động thiết thực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước Một số lĩnh vực trong khoa học tự nhiên (toán, vật lý lý
thuyết) có thứ hạng khá cao trong khu vực ASEAN18 Khoa học kỹ thuật và công nghệ
đã dần thâm nhập được vào hoạt động sản xuất, kinh doanh giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ19
Tuy nhiên, xét về hiệu quả, Việt Nam chưa có nhiều công trình, sản phẩm KH&CN mang tính đột phá ở tầm khu vực và thế giới Các bài báo, công trình khoa học được công bố quốc tế có tốc độ tăng trung bình 22%/năm, nhưng giá trị tuyệt đối và chỉ số trích dẫn còn thấp, nhất là khi so sánh với các nước trong khu vực và thế giới20
Số lượng đơn sáng chế đăng ký bảo hộ giai đoạn 2001-2010 của người Việt Nam
là 1.665 đơn, trong khi có 20.057 đơn của người nước ngoài21; số bằng độc quyền sáng chế được cấp của người Việt Nam còn thấp hơn nhiều, chỉ đạt 257 văn bằng, kém 27 lần so với số văn bằng được cấp của người nước ngoài22 Các sáng chế, giải pháp hữu ích của Việt Nam chủ yếu tập trung ở 2 lĩnh vực: các nhu cầu đời sống con người và các quy trình công nghệ, giao thông (Bảng 2)
Bảng 2 Bằng độc quyền sáng chế/giải pháp hữu ích - lĩnh vực ứng dụng
(theo Bảng phân loại sáng chế quốc tế - IPC)
Các nhu cầu đời sống con người 29
17 Các phòng thí nghiệm trọng điểm tập trung vào 7 lĩnh vực:Công nghệ sinh học (5 phòng); công nghệ thông tin (2 phòng); công nghệ vật liệu (3 phòng); cơ khí-tự động hóa (2 phòng); hóa dầu (1 phòng); năng lượng (1 phòng) và hạ tầng (3 phòng)
18 Xếp hạng một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản của Việt Nam:Toán học: thứ hai
ASEAN; vật lý lý thuyết: thứ ba ASEAN; toán tối ưu: 19 thế giới và đứng đầu khu vực ASEAN Nguồn: Nhà xuất bản ELSEVIER.
19 Một số kết quả nổi bật như: thiết kế chế tạo thiết bị cơ khí thủy công cho các nhà máy thủy điện công suất lớn; giàn khoan tự nâng ở độ sâu 90m nước; công nghệ khai thác dầu trong đá móng; các giống lúa mới năng suất cao; khai thác vệ tinh viễn thông; làm chủ công nghệ đóng tàu, xây dựng công trình ngầm, nhà cao tầng, cầu dây văng, đường cao tốc; ghép tạng và sản xuất vắc xin;
20 Số lượng bài báo, công trình khoa học công bố quốc tế của Việt Nam trong 5 năm gần đây (2008-2012) là 6.356, kém Thái Lan 4 lần, kém Singapore 7 lần, kém Nhật Bản 57 lần và kém Hoa Kỳ 256 lần.Số lượng bài báo công bố quốc tế trong giai đoạn tương ứng của Thái Lan là 25.965, Malaysia: 28.799, Singapore: 43.779, Nhật Bản: 368.067 và Hoa Kỳ:
1.629.140 Nguồn: ISI Web of Science of Thomson Reuters, 3/2013.
21 Trong một số lĩnh vực, điển hình như lĩnh vực dược - mỹ phẩm, lượng đơn và văn bằng bảo hộ sáng chế của chủ đơn nước ngoài chiếm tuyệt đại đa số, trong đó, chủ yếu là từ các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Thụy Sỹ, Pháp, Nhật Bản, Bỉ, Anh
22 Số văn bằng được cấp của người nước ngoài là 6.997 Nguồn: Báo cáo thường niên 2012, Cục Sở hữu trí tuệ.
11
Trang 12Các quy trình công nghệ - Giao thông vận tải 21
Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ
Trong giai đoạn 2003-2013, nếu tính riêng kết quả nghiên cứu KH&CN của các viện nghiên cứu, trường đại học thể hiện qua số lượng sáng chế/giải pháp hữu ích được đăng ký và cấp bằng bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ, chỉ số so sánh rất thấp (Bảng 3, Bảng 4) Số đơn đăng ký bảo hộ sáng chế/giải pháp hữu ích của khu vực nghiên cứu của Việt Nam chỉ có 758 đơn (trung bình 70 đơn/năm) và số văn bằng bảo hộ được cấp còn thấp hơn, 122 văn bằng (Bảng 5) Như vậy, trung bình trong một năm, các viện nghiên cứu và trường đại học của Việt Nam chỉ tạo ra được 11 sáng chế đủ tiêu chuẩn bảo hộ Con số này quá thấp so với số lượng các viện, trường hiện có, kém hơn cả khu vực doanh nghiệp trong nước và càng không thể so sánh được với các quốc gia phát triển khác trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản hoặc chỉ riêng Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST)23
Bảng 3 Sáng chế của viện, trường, doanh nghiệp giai đoạn 2003-2013
cứu
Trường đại học
Doanh
Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ
Bảng 4 Giải pháp hữu íchcủa viện, trường, doanh nghiệp giai đoạn 2003-2013
Giải pháp
hữu ích
Viện nghiên cứu
Trường đại học
Trang 13Bằng 42 18 202 514
Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ
Bảng 5 Sáng chế/giải pháp hữu ích của khu vực nghiên cứu và doanh nghiệp
giai đoạn 2003-2013 Sáng chế và
Giải pháp hữu ích
Khu vực nghiên cứu
Khu vực doanh nghiệp Tổng cộng
Nguồn: Cục Sở hữu trí tuệ
Số liệu thống kê cũng cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã ngày càng quan tâm hơn tới hoạt động R&D của doanh nghiệp Tuy nhiên, với năng lực nghiên cứu, thiết kế chế tạo của lực lượng nghiên cứu trong nước, các nhu cầu đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp chắc chắc chưa thể đáp ứng được trong hiện tại và tương lai gần Số lượng các sáng chế/giải pháp hữu ích được chuyển giao theo hợp đồng (li xăng và chuyển nhượng) tại Cục Sở hữu trí tuệ trong giai đoạn 2003-2013 là 100, cho thấy khả năng thương mại hóa sáng chế/giải pháp hữu ích đã được bảo hộ khá tốt, nhưng mặt khác cũng chứng tỏ một thực tế rất đáng lo ngại về năng lực đáp ứng nhu cầu thị trường và doanh nghiệp của các viện nghiên cứu, trường đại học trong nước
Điều này lý giải nguyên nhân Việt Nam luôn có thứ hạng thấp về chất lượng của các viện nghiên cứu (đứng thứ 74/142), sự phối hợp giữa viện, trường với doanh nghiệp (82/142) và mức độ sẵn có về công nghệ mới (133/142) trong Báo cáo đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF năm 201224 Theo Báo cáo đánh giá về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố, năm
2012, Việt Nam đứng thứ 76/141 quốc gia, tụt 25 bậc so với năm 2011 (51/125)25
2 Năng lực và hiệu quả hoạt động của các viện nghiên cứu ứng dụng định hướng công nghệ công nghiệp ở Việt Nam
Trong hệ thống các tổ chức KH&CN Việt Nam, các viện nghiên cứu ứng dụng định hướng công nghệ công nghiệp đã được hình thành từ rất sớm nhằm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu phát triển của các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Các viện nghiên cứu trong lĩnh vực công nghiệp chủ yếu trực thuộc một số Bộ chuyên ngành, trường đại học, cao đẳng công nghệ kỹ thuật và một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước; hoạt động trên 5 lĩnh vực: cơ khí và tự động hóa; vật liệu - hóa học; năng lượng; khai khoáng; điện tử, tin học Các viện này khá phân tán, chưa có tính liên thông và gắn kết chặt chẽ với thị trường và doanh nghiệp Kinh phí đầu tư hạ tầng nghiên cứu chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước (kinh phí đầu tư phát triển, chi thường xuyên và
24 Nguồn: WEF.
25 Trong khi Singapore ở tốp 3 thế giới, các nước Malaysia và Thái Lan đều đứng trên Việt Nam Nguồn: WIPO.
13
Trang 14kinh phí hỗ trợ mua sắm trang thiết bị từ đề tài, dự án) Đa số không đủ tiềm lực sử dụng kinh phí từ lợi nhuận để tái đầu tư cho các hoạt động KH&CN.
- Lĩnh vực cơ khí và tự động hoá: Có 14 viện (một số viện điển hình: Viện Máy
và dụng cụ công nghiệp;Viện Nghiên cứu cơ khí; Viện Cơ điện nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch;Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam).Nhân lực và hạ tầng kỹ thuật:
400 tiến sỹ, thạc sỹ; 1.800 kỹ sư; sở hữu 2 phòng thí nghiệm trọng điểm (hàn và xử lý
bề mặt; chuẩn đo lường), 25 phòng thí nghiệm chuyên ngành
Thế mạnh hoạt động: Công nghệ tạo phôi; gia công cơ; nhiệt luyện và xử lý bề mặt; chế tạo các thiết bị, phụ tùng đặc chủng (tàu chở hàng; thiết bị cơ khí thủy; máy biến áp; xe chuyên dụng; thiết bị siêu trường, siêu trọng); công nghệ chế tạo máy phục
vụ cơ giới hoá nông nghiệp, bảo quản và chế biến lương thực thực phẩm
- Lĩnh vực vật liệu - hóa học: Có 30 Viện (một số viện điển hình: Viện Hóa học;
Viện Khoa học vật liệu; Viện Dầu khí; Viện Công nghiệp thực phẩm; Viện Vật liệu xây dựng).Nhân lực và hạ tầng kỹ thuật: 500 tiến sỹ, thạc sỹ; 800 kỹ sư; sở hữu 1 phòng thí nghiệm trọng điểm (lọc hóa dầu), 100 phòng thí nghiệm chuyên ngành
Thế mạnh hoạt động: Hóa học công nghiệp, nông nghiệp; công nghệ nanô; vật liệu điện tử; vật liệu quang học, quang điện tử và kỹ thuật chiếu sáng; vật liệu gốm tính năng đặc biệt; vật liệu bảo vệ chống ăn mòn; vật liệu kim loại; nguyên tố quý hiếm và vật liệu đất hiếm
- Lĩnh vực năng lượng: Có 4 viện lớn (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam;
Viện Năng lượng; Viện Khoa học năng lượng; Viện Thủy điện và năng lượng tái tạo) Nhân lực và hạ tầng kỹ thuật:14 giáo sư, phó giáo sư; 55 tiến sỹ, thạc sỹ; hơn 1.000 kỹ sư; sở hữu 2 phòng thí nghiệm trọng điểm (mô hình thủy lực, điện cao áp), 40 phòng thí nghiệm chuyên ngành
Thế mạnh hoạt động: Năng lượng hạt nhân; năng lượng truyền thống, năng lượng mới, năng lượng tái tạo và năng lượng biển; khai thác, biến đổi, truyền tải, phân phối và tiêu thụ năng lượng; chế tạo, thử nghiệm các thiết bị và vật liệu mới trong năng lượng; quản lý và xử lý chất thải phóng xạ; xử lý quặng urani
- Lĩnh vực khai khoáng: Có 2 viện lớn (Viện KH&CN mỏ - luyện kim, Bộ Công
thương; Viện KH&CN mỏ, Tập đoàn Than và khoáng sản) Nhân lực và hạ tầng kỹ thuật: 173 tiến sỹ, thạc sỹ; 358 kỹ sư; đã được đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị chuyên sâu về khai thác mỏ, tuyển khoáng, luyện kim màu, vật liệu kim loại, gia công nấu đúc kim loại và hợp kim
Thế mạnh hoạt động: Nghiên cứu khai thác, tuyển khoáng sản kim loại, phi kim
và luyện kim; chế tạo, lắp đặt máy, thiết bị đồng bộ chuyên ngành; dịch vụ phân tích
14
Trang 15hoá - lý; chế tạo sản phẩm cơ khí, tự động hóa ngành mỏ.
- Lĩnh vực điện tử, tin học: Có 4 viện lớn, thuộc Bộ Quốc phòng (Viện Điện tử
viễn thông; Viện Công nghệ thông tin; Viện Tự động hóa kỹ thuật quân sự) và Bộ Công thương (Viện Nghiên cứu điện tử, tin học, tự động hóa) Nhân lực và hạ tầng kỹ thuật: 7 tiến sỹ; 97 kỹ sư (tính riêng Viện Nghiên cứu điện tử, tin học, tự động hóa); cơ
sở hạ tầng và trang thiết bị nghiên cứu về cơ bản được đầu tư hiện đại
Thế mạnh hoạt động: Kỹ thuật điện tử (thiết kế mạch IC chuyên dụng; thiết bị điện tử y tế; thiết bị điện tử công nghiệp); công nghệ thông tin (phần mềm tự động mã nguồn mở; phần mềm điều khiển công nghiệp); cơ điện tử (công nghệ CAD/CAM trong thiết kế, chế tạo các hệ thống CNC; Robotics và ứng dụng); tự động hóa (ứng dụng hệ thống SCADA trong khai khoáng, môi trường; hệ thống tự động định lượng và cấp liệu trong công nghiệp)
Xét về tổng thể, mặc dù đã xuất hiện một số viện điển hình có những thành công đáng ghi nhận trên một số lĩnh vực26, đến nay Việt Nam vẫn chưa có các viện nghiên cứu ứng dụng đủ mạnh về quy mô, tính liên ngành, đội ngũ nhân lực trình độ cao và hạ tầng nghiên cứu hiện đại để có thể cung cấp công nghệ và trợ giúp kỹ thuật tiên tiến,
tác động mạnh tới các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế (Xem Phụ lục 2).
3 Môi trường thể chế, chính sách hỗ trợ hoạt động của các tổ chức KH&CN
Cùng với sự chuyển biến nhận thức về vai trò then chốt của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội, môi trường pháp lý về KH&CN cũng được điều chỉnh theo hướng tạo nhiều thuận lợi và ưu đãi hơn cho hoạt động KH&CN27 Đối với các tổ chức KH&CN, Nhà nước đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật với tinh thần đổi mới
và cởi trói ngày càng thông thoáng như: thừa nhận và trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN công lập; trao quyền sở hữu các kết quả KH&CN có
sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì; bổ sung và nới rộng các sắc thuế ưu đãi; tháo gỡ các khó khăn trong cơ chế tài chính, quyền sử dụng đất, quyền về tài sản;
26Viện Máy và dụng cụ công nghiệp (IMI) thành lập năm 1973, hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần; chuyển đổi
thành công từ một viện nghiên cứu cơ khí cơ quy mô nhỏ trở thành một viện nghiên cứu hàng đầu về cơ điện tử Viện có
6 trung tâm nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo; 2 đơn vị chức năng; 1 phân viện và 14 công ty thành viên Lĩnh vực thế mạnh: chế tạo sản phẩm cơ điện tử trong máy công cụ, máy chế biến nông sản, máy xây dựng, thiết bị đo lường
công nghiệp, xử lý và bảo vệ môi trường.Viện Vắc xin và sinh phẩm y tế (IVAC) thành lập năm 1978, trực thuộc Bộ Y tế
Là viện tầm cỡ và uy tín quốc gia về vắc xin và sinh phẩm y tế, đóng góp to lớn cho thành công của chủ trương “tự chủ
sản xuất vắc xin trong nước” của Chính phủ Lĩnh vực thế mạnh: nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tư vấn về
vắcxin và sinh phẩm y tế
27 Hoạt động KH&CN được điều chỉnh bởi 8 đạo luật chuyên ngành (Luật KH&CN năm 2013; Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, sửa đổi, bổ sung năm 2009; Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006; Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật năm 2006; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007; Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008; Luật Công nghệ cao năm 2008; Luật Đo lường năm 2011) Các văn bản này nhìn chung đã tạo hành lang pháp lý tương đối đồng bộ và rộng mở cho hoạt động của các tổ chức KH&CN Bên cạnh đó, các tổ chức KH&CN công lập còn phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan về ngân sách nhà nước, tài sản công, đấu thầu, cán bộ, công chức…
15
Trang 16cụ thể hóa các chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ KH&CN;… Tuy nhiên, thực tế thi hành các cơ chế, chính sách tiến bộ này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc cản trở hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, rất cần được tháo gỡ kịp thời trong thời gian tới Việc điều chỉnh pháp luật nếu không áp dụng được đại trà, ít nhất cũng cần được thí điểm đối với một số viện nghiên cứu mới theo mô hình xuất sắc.
a) Cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN công lập
Từ năm 2005, pháp luật đã cho phép các tổ chức KH&CN công lập được quyền
tự chủ, tự chịu trách nhiệm khi triển khai hoạt động, trong đó có 6 nhóm quyền tự chủ về: tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN; quản lý tài chính; tài sản và quyền tài sản; tổ chức bộ máy; quản lý nhân sự; và hợp tác quốc tế Bên cạnh đó, các tổ chức KH&CN còn được quyền sản xuất, kinh doanh như doanh nghiệp; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; sử dụng con dấu của đơn vị sự nghiệp công lập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và hưởng mọi ưu đãi như doanh nghiệp28
Thứ nhất, tự chủ về tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN: Tổ chức KH&CN
được quyền chủ động xác định nhiệm vụ KH&CN; tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN các cấp theo cơ chế tuyển chọn, giao trực tiếp; liên kết hợp tác thực hiện nhiệm vụ KH&CN và cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong
và ngoài nước theo thỏa thuận, hợp đồng
Thứ hai, tự chủ về quản lý tài chính: Tổ chức KH&CN được quyền tự chủ
trong chi lương, chi hoạt động bộ máy và sử dụng các nguồn thu khác từ hợp đồng; được áp dụng phương thức khoán chi trong thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước29; được Nhà nước xem xét, cấp kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng của các dự án, kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định Riêng đối với tổ chức nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, xây dựng định mức kinh tế - kỹ thuật phục vụ quản lý nhà nước và các tổ chức ở địa phương, Nhà nước vẫn đảm bảo cấp toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên.Tuy nhiên, quyền tự chủ về tài chính bị hạn chế hoặc phải tuân thủ theo các ràng buộc khác của pháp luật như sau:
Một là, quyền tự chủ về tài chính của tổ chức KH&CN bị hạn chế trong khuôn
28 Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 về tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập, Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp KH&CN Năm 2010, hai Nghị định này được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 96/2010/NĐ-CP của Chính phủ.
29 Tổ chức KH&CN công lập được sử dụng các nguồn thu để chi thực hiện nhiệm vụ KH&CN, chi tiền lương, trích lập quỹ, chi thu nhập tăng thêm và các hoạt động khác (Điều 8 Nghị định 115/2005/NĐ-CP)
Đối với nguồn thu từ ngân sách không thuộc kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN, được sử dụng để chi thường xuyên và không thường xuyên theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (Điều 15) và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính (Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006, sửa đổi,
bổ sung theo Thông tư số 113/2007/TT-BTC ngày 24/9/2007).
16
Trang 17khổ các định mức chi, nội dung chi và thủ tục thanh, quyết toán nhiệm vụ KH&CN theo quy định của pháp luật hiện hành30 Định mức chi quá thấp và lạc hậu (đặc biệt là chi cho nhân công thực hiện nhiệm vụ chuyên môn), nhiều nội dung chi hợp lý phát sinh trong hoạt động KH&CN chưa được kịp thời bổ sung31, đặc biệt là thủ tục thanh quyết toán cứng nhắc32 không phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu sáng tạo
là các cản trở chính về cơ chế tài chính đối với các tổ chức KH&CN công lập hiện nay Đây cũng là một rào cản chủ yếu khiến cho các tổ chức KH&CN khó có thể thu hút cán bộ trình độ cao và triển khai các dự án, chương trình KH&CN quy mô lớn trên thực tiễn
30 Chi ngân sách nhà nước chỉ được thực hiện khi có trong dự toán ngân sách được giao và đúng chế độ, tiêu chuẩn, định
mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định (Điều 5 Luật Ngân sách nhà nước năm 2002).
31 Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07/5/2007 hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối vớiđề tài, dự án KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT-BTC-BKHCN
ngày 04/10/2006 hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước.
32 Các khoản chi ngân sách nhà nước phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình thanh toán.Hồ sơ kiểm soát chi phải đảm bảo có đầy đủ chứng từ và đúng như nội dung dự toán đã được duyệt.Đối với các khoản chi chưa có chế độ, tiêu chuẩn,định mức chi ngân sách, Kho bạc Nhà nước căn cứ vào dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao
để kiểm soát (Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Thông tư số 161/2012/TT-BTC ngày 02/10/2012 của Bộ Tài chính quy định chế độ kiểm soát, thanh toán các khoản chi ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước).
17
Trang 18Ngoài ra, mặc dù đã có cơ chế khoán, nhưng khi mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc và các công việc khác phải qua đấu thầu hoặc thẩm định giá thì phải tổ chức đấu thầu hoặc thẩm định giá theo quy định của pháp luật33.
Các vướng mắc nói trên hiện đã được Luật KH&CN năm 2013 tháo gỡ bằng các quy định mới về đầu tư và cơ chế tài chính trong hoạt động KH&CN34 Tuy nhiên, Nghị định hướng dẫn tinh thần đổi mới này của Luật còn chưa được Chính phủ ban hành, vì vậy các Thông tư liên tịch giữa Bộ Tài chính, Bộ KH&CN về định mức chi, nội dung chi và thủ tục thanh quyết toán nhiệm vụ KH&CN vẫn chưa thể được thống nhất ban hành trên thực tiễn
Hai là, tổ chức KH&CN công lập phải chịu sự kiểm toán của Kiểm toán nhà
nước35 theo 3 loại hình: i) kiểm toán báo cáo tài chính (tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính); ii) kiểm toán tuân thủ (tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế mà tổ chức KH&CN phải thực hiện); iii) kiểm toán hoạt động (tính kinh tế, hiệu lực và hiệu
quả trong quản lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản nhà nước) Tổ chức KH&CN
có thể sử dụng kiểm toán độc lập (kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm hoặc
báo cáo quyết toán dự án hoàn thành), nhưng việc kiểm toán độc lập không được thay
Thứ ba, tự chủ về quản lý tài sản, quyền tài sản: Tổ chức KH&CN được góp
vốn bằng tiền, tài sản, giá trị quyền sở hữu trí tuệ để tiến hành hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật (Luật KH&CN năm 2013) Tuy nhiên, quyền tự chủ này còn bị hạn chế ở khía cạnh sau:
Một là, việc dùng quyền sử dụng đất để thế chấp vay vốn ngân hàng và liên
doanh, liên kết trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại hóa các kết quả KH&CN vẫn chưa được pháp luật cho phép
Hai là, dù Luật KH&CN năm 2013 đã có quy định giao quyền sở hữu các kết
quả KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước cho cơ quan chủ trì, nhưng để có được quyền này, tổ chức KH&CN phải xin phép chủ sở hữu nhà nước (Bộ trưởng Bộ
33 Điều 51 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước.
34 Liên quan tới nội dung này, Luật KH&CN 2013 quy định 2 hướng đổi mới cơ bản về:
i) Cấp, sử dụng, quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước (Điều 53): Kinh phí
thực hiện nhiệm vụ KH&CN phải được cấp kịp thời, phù hợp với tiến độ đặt hàng và phê duyệt nhiệm vụ; cấp thông qua quỹ phát triển KH&CN của Nhà nước hoặc chuyển vào tài khoản tiền gửi của cơ quan chủ trì tại Kho bạc Nhà nước; việc
sử dụng kinh phí được thực hiện theo ủy nhiệm chi của cơ quan chủ trì và quyết toán khi kết thúc hợp đồng, không phụ thuộc vào năm tài chính; và
ii) Áp dụng khoán chi đối với nhiệm vụ KH&CN (Điều 52): Khoán chi áp dụng với nhiệm vụ KH&CN đã được
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mục tiêu, nội dung, yêu cầu về sản phẩm nghiên cứu và dự toán kinh phí; khoán chi đến sản phẩm cuối cùng áp dụng với nhiệm vụ đã xác định được rõ tiêu chí đối với sản phẩm cuối cùng trên cơ sở thẩm định thuyết minh và dự toán kinh phí; khoán chi từng phần áp dụng với nhiệm vụ không thể khoán chi đến sản phẩm cuối cùng
và có tính rủi ro cao (với điều kiện đã xác định rõ tiêu chí của phần công việc được khoán).
35 Điều 63 Luật Kiểm toán Nhà nước quy định đơn vị được kiểm toán bao gồm: đơn vị sự nghiệp được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần hoặc toàn bộ kinh phí.
36 Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập năm 2011.
18
Trang 19KH&CN hoặc Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền phê duyệt nhiệm vụ KH&CN)37 Thủ tục cấp phép vô hình chung tạo thêm một thủ tục hành chính không cần thiết đối với
tổ chức KH&CN Trong khi theo thông lệ quốc tế, pháp luật của các quốc gia thừa nhận và quy định theo hướng quyền sở hữu các kết quả KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước thuộc về các tổ chức chủ trì theo cơ chế tự động (không cần xin phép
đại diện chủ sở hữu nhà nước) để các viện nghiên cứu, trường đại học có thể chủ động thương mại hóa kết quả nghiên cứu Cơ chế “xin-cho” chỉ áp dụng trong một số lĩnh vực mà Nhà nước cần hạn chế giao quyền như: lĩnh vực quốc phòng, an ninh và phục
vụ lợi ích công cộng (tương tự như cơ chế bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ)
Thứ tư, tự chủ về tổ chức bộ máy: Tổ chức KH&CN được quyền sắp xếp, điều
chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy; quy định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trực thuộc; thành lập, sáp nhập, giải thể tổ chức trực thuộc trên cơ sở tự cân đối nguồn lực
để đảm bảo cho hoạt động của đơn vị Tuy nhiên, quyền thành lập, sáp nhập, giải thể chỉ áp dụng đối với các đơn vị trực thuộc không có tư cách pháp nhân Đối với đơn vị
có tư cách pháp nhân, thẩm quyền này vẫn thuộc về cơ quan chủ quản cấp trên (Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ)
Thứ năm, tự chủ về quản lý nhân sự: Về nhân sự quản lý và nghiên cứu, thủ
trưởng tổ chức KH&CN được quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng, cấp phó của các đơn vị trực thuộc; đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp phó của tổ chức KH&CN với thủ trưởng cơ quan chủ quản cấp trên; tuyển dụng cán bộ theo hình thức thi tuyển, xét tuyển và ký hợp đồng tuyển dụng theo quy định của pháp luật về viên chức, phù hợp với nhu cầu chuyên môn và điều kiện cụ thể của tổ chức Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế tự chủ này có các hạn chế sau:
Một là, mặc dù Luật KH&CN 2013 (Điều 24) đã cho phép được bổ nhiệm, thuê
đảm nhiệm chức danh lãnh đạo tổ chức KH&CN là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài nhưng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức38, người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập là công chức và phải là công dân Việt Nam Điều này dẫn đến vướng mắc trong triển khai chính sách thu hút chuyên gia trình độ cao là người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài
để bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo tổ chức KH&CN công lập, đặc biệt là các viện, trung tâm nghiên cứu theo mô hình xuất sắc (COE) ở Việt Nam
Hai là, mặc dù về nguyên tắc, tổng số biên chế hàng năm của tổ chức KH&CN
căn cứ trên cơ sở nhu cầu cán bộ và khả năng tài chính của đơn vị, nhưng tổ chức KH&CN phải xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm và được Thủ trưởng cơ quan chủ
37Điều 41 Luật KH&CN năm 2013 và Điều 39 Nghị định số 08/2013/NĐ-CP ngày 27/01/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật KH&CN.
38 Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (Điều 4) và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức (Điều 11), người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động là công chức nhà nước và phải là công dân Việt Nam.
19
Trang 20quản quyết định số lượng và chỉ tiêu theo quy định tại Nghị định số 71/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phân cấp quản lý biên chế hành chính, sự nghiệp nhà nước39 Quy định này cản trở tính linh hoạt và quyền tự quyết của người đứng đầu các tổ chức KH&CN trong việc xác định quy mô nhân sự và chất lượng cán bộ đáp ứng với phạm
vi nghiên cứu và yêu cầu của nhiệm vụ chuyên môn, từ đó gián tiếp ảnh hưởng tới kế hoạch đầu tư trang thiết bị và tài chính cho hoạt động nghiên cứu, vì các vấn đề này phụ thuộc ngay từ ban đầu vào số lượng nhân lực tham gia nhiệm vụ nghiên cứu
Ba là, pháp luật về phòng chống tham nhũng hiện hành không cho phép cán bộ,
công chức, viên chức được thành lập, tham gia thành lập hoặc quản lý, điều hành tổ chức nghiên cứu khoa học tư nhân40 Quy định này một mặt gián tiếp tạo rào cản đối với sự liên kết, hợp tác công - tư của cá nhân làm việc trong các tổ chức KH&CN công lập, mặt kháccó thể gây cản trở đối với quá trình tư nhân hóa các viện nghiên cứu của nhà nước trong tương lai, khi về lâu dài và theo thông lệ quốc tế, Việt Nam có thể đi theo mô hình quản lý cơ sở nghiên cứu KH&CN quốc gia của các nước tiên tiến trên thế giới: mô hình Nhà nước sở hữu, tư nhân vận hành(GOCO)41
Thứ sáu, tự chủ về hợp tác quốc tế: Tổ chức KH&CN được quyền lựa chọn đối
tác và quyết định hình thức hợp tác với các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đầu tư trực tiếp, dịch vụ KH&CN (trên cơ sở tuân thủ pháp luật có liên quan); mời các chuyên gia nước ngoài làm việc, trao đổi khoa học, tham gia quản lý và chủ trì các nhiệm vụ KH&CN của đơn vị; quyết định mức lương thuê chuyên gia tùy theo nguồn tài chính của đơn vị Thủ trưởng tổ chức KH&CN được quyền ký quyết định cử cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý của đơn
vị đi công tác, học tập nâng cao trình độ ở nước ngoài
b) Chính sách thuế đối với tổ chức KH&CN
Hoạt động KH&CN được ưu đãi ở hầu hết các sắc thuế (5 sắc thuế: thuế nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thuế đất) Về cơ bản, chính sách miễn giảm thuế của Nhà nước đối với hoạt động KH&CN
là giải pháp kích thích kinh tế quan trọng góp phần động viên, phát huy năng lực sáng tạo của các tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN, tác động mạnh tới kết quả và hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN
- Thuế nhập khẩu: Hàng hóa nhập khẩu để sử dụng trực tiếp vào hoạt động
39 Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập đã bãi
bỏ các quy định về biên chế tại Nghị định số 115/2005/NĐ-CP Theo đó, việc xây dựng biên chế của tổ chức KH&CN công lập phải thực hiện theo quy định tại Nghị định số 71/2003/NĐ-CPngày 19/6/2003 của Chính phủ về phân cấp quản
lý biên chế hành chính, sự nghiệp nhà nước.
40 Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2012 (Điều 37).
41 Hai mô hình quản lý đối với các cơ sở nghiên cứu quốc gia ở các nước tiên tiến bao gồm: Mô hình Nhà nước sở hữu, Nhà nước vận hành - GOGO (Government-owned and Government-operated) và Mô hình Nhà nước sở hữu, tư nhân vận hành - GOCO (Government-owned and Contractor-operated) Hoa Kỳ là quốc gia áp dụng cả hai mô hình này trong quản
lý các cơ sở nghiên cứu quốc gia, trong đó hầu hết các phòng thí nghiệm quốc gia thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ đều theo
mô hình GOCO, trong đó có Viện Battelle Memorial Institute, Viện đối tác của Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) trong giai đoạn đầu thành lập.
20
Trang 21nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, bao gồm máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật
tư, phương tiện vận tải trong nước chưa sản xuất được, công nghệ trong nước chưa
Tuy nhiên, để tạo thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu và giải mã công nghệ, nên
có điều chỉnh quy định hiện hành theo hướng miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc,
thiết bị, phụ tùng, vật tư trong nướcđã sản xuất được nhưng vẫn cần nhập khẩu từ các
nước tiên tiến phục vụ hoạt động nghiên cứu; đặc biệt là đối với công nghệ trong nước
đã tạo ra được nhưng cần nhập từ nước ngoài để giải mã, cải tiến Đối tượng được
miễn thuế chỉ áp dụng thí điểm trong phạm vi hẹp (viện, trung tâm nghiên cứu theo mô hình xuất sắc - COE) ở Việt Nam
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Tổ chức KH&CN được áp dụng các ưu đãi về
thuế thu nhập doanh nghiệp tương tự như doanh nghiệp43 Cụ thể như sau:
+ Miễn thuế: Thu nhập từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ, sản phẩm đang trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm, sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam; khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho nghiên cứu khoa học; thu nhập từ chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho
tổ chức, cá nhân ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thu nhập từ dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp
+ Ưu đãi thuế suất 10% trong thời gian 15 năm: Thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư mới trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; đầu tư xây dựng-kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; thu nhập của doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Đối với dự án cần đặc biệt thu hút đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài thêm, nhưng thời gian kéo dài thêm không quá 15 năm
+ Khoản tài trợ cho nghiên cứu khoa học là khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Kinh phí tài trợ cho việc đào tạo, đào tạo lại nhân lực về KH&CN được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế (Điều 22 Luật KH&CN 2013)
Nếu coi ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp tham gia hợp tác, đặt hàng các tổ chức KH&CN là một biện pháp gián tiếp thúc đẩy hoạt động của các tổ chức KH&CN, thì
pháp luật nên bổ sung quy định về việc cho phép doanh nghiệp được hạch toán các
khoản chi từ hợp đồng nghiên cứu KH&CN với các viện, trường vào chi phí được trừ
khi xác định thu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế
- Thuế thu nhập cá nhân: Thu nhập của cá nhân hoạt động KH&CN không được
42 Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu năm 2005.
43 Luật Thu nhập doanh nghiệp năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2013.
21
Trang 22hưởng chế độ miễn giảm theo Luật thuế thu nhập cá nhân (Điều 4), thậm chí còn phải chịu thuế từ bản quyền đối với phần thu nhập vượt trên 10 triệu đồng khi chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ (Điều 16); đối với các cá nhân không cư trú (người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài) thuế suất thuế thu nhập bản quyền này là 5% (Điều 30).
Vì vậy, nên điều chỉnh pháp luật theo hướng cho phép các thu nhập có được từ triển khai nhiệm vụ KH&CN của cá nhân các nhà khoa học (không phân biệt là người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài tham gia hoạt động KH&CN ở Việt Nam)
được miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập từ bản quyền khi chuyển giao, chuyển
quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ
- Thuế giá trị gia tăng: Các sản phẩm, hàng hóa liên quan tới lĩnh vực KH&CN
được hưởng ưu đãi theo Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008 Cụ thể là:
+ Miễn thuế: Sản phẩm là giống vật nuôi, giống cây trồng; sách khoa học - kỹ
thuật; máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư thuộc loại trong nước chưa sản xuất được
cần nhập khẩu để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ; chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật Chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ; phần mềm máy tính (Điều 5)
+ Mức thuế suất 5% áp dụng đối với: thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho nghiên cứu, thí nghiệm khoa học; dịch vụ KH&CN (Điều 8)
Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu KH&CN, pháp luật nên được điều chỉnh theo hướng miễn thuế giá trị gia tăng đối với: thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho nghiên cứu, thí nghiệm khoa học; máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư thuộc loại trong nước đã sản xuất được, nhưng vẫn cần nhập khẩu từ nước ngoài để sử dụng trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ
- Thuế đất, quyền sử dụng đất: Các tổ chức KH&CN được hưởng các ưu đãi liên
quan đến thuế đất, quyền sử dụng đất như sau
+ Miễn thuế đất phi nông nghiệp đối với: đất xây dựng các công trình sự nghiệp thuộc lĩnh vực KH&CN; đất xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông, lâm, thủy sản; xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống44
+ Các tổ chức KH&CN ngoài công lập được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để xây dựng các công trình theo các hình thức: giao đất không thu tiền sử dụng đất; giao đất miễn thu tiền sử dụng đất; cho thuê đất và miễn thu tiền thuê đất Tuy nhiên, các cơ sở này không được dùng đất đai làm tài sản thế chấp để vay vốn45
c) Chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ KH&CN
44 Điều 3 Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2010.
45 Nghị định số 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập.
22
Trang 23Trong một thời gian dài, chính sách sử dụng và trọng dụng cán bộ KH&CN luôn chỉ dừng ở mức các quan điểm chỉ đạo chung của Đảng mà chưa được thể chế hóa cụ thể bằng pháp luật của Nhà nước dẫn tới thực tế chưa có chính sách hiệu quả để phát huy năng lực của nguồn nhân lực KH&CN trong nước và thu hút, trọng dụng cán bộ khoa học giỏi là người Việt Nam ở nước ngoài, nghiên cứu sinh Việt Nam học tập ở nước ngoài về làm việc cho các cơ sở KH&CN
Để khắc phục tình trạng đó, Luật KH&CN năm 2013 đã lần đầu tiên dành riêng một chế định quy định về chính sách đối với cá nhân hoạt động KH&CN, theo đó nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước trong đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài KH&CN; các ưu đãi trong tuyển dụng, bổ nhiệm chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ46; trọng dụng cán bộ KH&CN tài năng, đặc biệt là 3 nhóm nhân lực trình độ cao là các nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học được giao chủ trì nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia đặc biệt quan trọng, nhà khoa học trẻ tài năng47; thu hút nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài48
Tuy nhiên, chỉ khi các quy định về chính sách cán bộ KH&CN của Luật được cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn dưới Luật thì mới có thể triển khai được trong thực tiễn hoạt động của các tổ chức KH&CN Các văn bản này (Nghị định về sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN; Nghị định về thu hút cá nhân hoạt động KH&CN là người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia nước ngoài; các thông tư
46 Người có học vị tiến sĩ hoặc có công trình nghiên cứu KH&CN xuất sắc hoặc được giải thưởng cao về KH&CN được xét công nhận, bổ nhiệm vào chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ cao hơn không phụ thuộc vào năm công tác (Điều 19 Luật KH&CN 2013).
Người được bổ nhiệm chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ: Được xếp vào vị trí việc làm và
hưởng mức lương, phụ cấp phù hợp với chuyên môn và năng lực trong tổ chức KH&CN công lập; hưởng ưu đãi về thuế; tạo điều kiện làm việc thuận lợi cao hơn mức quy định cho cán bộ, công chức nhà nước; miễn trách nhiệm dân sự khi gây thiệt hại cho Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN do khách quan (Điều 23 Luật KH&CN 2013).
47 Nhà khoa học đầu ngành: Được ưu tiên giao chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN quan trọng; thành lập nhóm nghiên
cứu xuất sắc, được hỗ trợ kinh phí cho nhóm; ưu tiên giao nhiệm vụ phản biện độc lập đối với nhiệm vụ KH&CN các cấp; hưởng mức phụ cấp ưu đãi đặc biệt; được hỗ trợ kinh phí tham gia hội nghị/hội thảo khoa học trong nước/quốc tế.
Nhà khoa học được giao chủ trì nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia đặc biệt quan trọng: Hưởng lương và phụ cấp
ưu đãi đặc biệt; nhà ở công vụ, phương tiện đi lại trong thời gian thực hiện nhiệm vụ; đề xuất điều động nhân lực
KH&CN, kinh phí thực hiện nhiệm vụ; thuê chuyên gia trong nước và nước ngoài; mua sáng chế, thiết kế, bí quyết công
nghệ trong phạm vi dự toán kinh phí được giao; tự quyết định và được hỗ trợ kinh phí tham gia hội nghị/hội thảo khoa
học trong nước/quốc tế; toàn quyền quyết định việc tổ chức nhiệm vụ được giao.
Nhà khoa học trẻ tài năng: Được ưu tiên xét cấp học bổng trong nước, ngoài nước; thành lập nhóm nghiên cứu
xuất sắc và được cấp/hỗ trợ kinh phí cho nhóm; được giao chủ trì nhiệm vụ KH&CN tiềm năng, ưu tiên chủ trì, tham gia nhiệm vụ KH&CN khác; hỗ trợ kinh phí tham gia hội nghị/hội thảo trong nước, quốc tế (Điều 23 Luật KH&CN 2013).
48 Nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài: Được bổ nhiệm, thuê đảm nhiệm chức danh lãnh đạo tổ chức KH&CN; chủ trì
nhiệm vụ KH&CN các cấp; xét công nhận, bổ nhiệm chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ; hưởng lương chuyên gia theo quy định của Chính phủ và ưu đãi theo hợp đồng; ưu đãi xuất nhập cảnh, cư trú, nhà ở và ưu đãi khác.
Chuyên gia nước ngoài: Được thuê đảm nhiệm chức danh lãnh đạo tổ chức KH&CN; chủ trì thực hiện nhiệm vụ
KH&CN; ưu đãi xuất nhập cảnh, cư trú, nhà ở; hưởng lương chuyên gia theo quy định của Chính phủ và ưu đãi theo hợp đồng; được vinh danh, khen thưởng, tặng giải thưởng về KH&CN của Việt Nam (Điều 24 Luật KH&CN 2013).
23
Trang 24hướng dẫn khác) đều chưa được ban hành.
Bên cạnh đó, kể cả khi đã có các hành lang pháp lý thuận lợi của Chính phủ thì việc thực thi chính sách thu hút, phát triển nguồn nhân lực trình độ cao ở các tổ chức KH&CN cũng gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn với nguồn lực tài chính có hạn, cơ
sở hạ tầng và trang thiết bị nghiên cứu lạc hậu, môi trường làm việc và giao lưu học thuật thiếu hấp dẫn, đặc biệt là năng lực giành được các hợp đồng nghiên cứu theo đặt hàng của Nhà nước và khu vực doanh nghiệp còn rất yếu kém Vì vậy, để phát huy hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, cần triển khai đồng bộ các giải pháp đầu
tư tài chính, hạ tầng kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực cùng với một cơ chế pháp lý thông thoáng, khả thi và có hiệu lực thực sự Và như đã đề cập, việc điều chỉnh pháp luật và cơ chế tài chính nếu không áp dụng được đại trà, ít nhất cũng cần được thí điểm
có trọng tâm, trọng điểm đối với số ít tổ chức KH&CN mới theo mô hình xuất sắc49.III NHU CẦU CẤP THIẾT HÌNH THÀNH VIỆN NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CÔNG NGHIỆP ĐA NGÀNH THEO MÔ HÌNH V-KIST Ở VIỆT NAM
Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chỉ còn
6 năm để hoàn thành mục tiêu đưa đất nước cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Điều này đặt ra thách thức to lớn cho tất cả các ngành, các lĩnh vực và cả nền kinh tế khi mô hình tăng trưởng dựa vào gia tăng vốn đầu
tư, nhân công giá rẻ và khai thác tài nguyên không tái tạo đã không còn thích hợp
Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã xác định một trong ba khâu đột phá chiến lược
là phát triển KH&CN và nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời coi KH&CN là đòn
bẩy của quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng Chỉ dựa
vào ứng dụng KH&CN hiện đại để nâng cấp các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và doanh nghiệp, chúng ta mới có thể tạo
ra sự tăng trưởng kinh tế - xã hội theo chiều sâu, bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững, thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” và vươn lên gia nhập khối các quốc gia phát triển
Tuy nhiên, sứ mệnh đó đặt ra thách thức rất lớn cho lực lượng KH&CN Việt Nam trong bối cảnh tiềm lực và trình độ còn nhiều hạn chế, yếu kém mà nếu không được kịp thời đầu tư cải thiện và nâng cấp thì khó có thể trở thành đòn bẩy và động lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Hai viện quốc gia, đặc biệt là Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam, chưa thực sự trở thành hạt nhân, đầu tàu thúc đẩy và lan toả phát triển KH&CN trong ngành, lĩnh vực trọng điểm Các viện nghiên cứu ứng
49 Trên thực tế, trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, Việt Nam đã có một mô hình trung tâm xuất sắc COE mới thành lập là Viện Nghiên cứu cao cấp về toán Trong khi lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng (công nghệ và kỹ thuật) cần được ưu tiên đầu
tư hơn, đặc biệt trong điều kiện một nước đang phát triển và đi sau như Việt Nam, thì vẫn chưa có một viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ theo mô hình trung tâm xuất sắc nào được Chính phủ thành lập và đầu tư với cơ chế đặc thù.
24
Trang 25dụng của Việt Nam đa phần có quy mô nhỏ, trang thiết bị lạc hậu, thiếu cán bộ KH&CN trình độ cao và điều đáng lo ngại hơn là hoạt động của các viện này chưa gắn kết được với các ngành, các lĩnh vực chiến lược, then chốt của nền kinh tế50
Trước đòi hỏi của thực tiễn, Việt Nam cần có một lực lượng KH&CN mạnh, năng động và hiệu quả, thực sự trở thành đòn bẩy cho tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Vì vậy, việc thành lập một viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ công nghiệp đa ngành, hoạt động theo mô hình tự chủ, với đội ngũ nhân lực trình độ cao, hạ tầng kỹ thuật hiện đại và môi trường nghiên cứu đẳng cấp quốc tế là hết sức cần thiết
và cấp bách
Trong điều kiện đa số các tổ chức KH&CN công lập hiện nay còn chưa thoát khỏi thói quen được bao cấp, ngại chuyển đổi, số đã chuyển đổi thì còn gặp nhiều trở ngại trong hoạt động tự chủ, thì giải pháp đầu tư có trọng điểm để thành lập một viện nghiên cứu mới đẳng cấp quốc tế là lựa chọn tối ưu so với phương án cải tổ hoặc nâng cấp các viện đang hoạt động51 Hơn nữa, các viện nghiên cứu công lập, bao gồm cả Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, đã được đầu tư một nguồn lực lớn để triển khai hoạt động nghiên cứu, nhưng hầu hết đều tập trung cho các nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng nếu có cũng chưa gắn được với thị trường và nhu cầu của doanh nghiệp Việc đầu tư để nâng cấp hoặc cải tổ các viện đã hoạt động theo lối mòn thành một viện nghiên cứu mới đa ngành, theo mô hình trung tâm xuất sắc, với tư duy mới, nguồn nhân lực đẳng cấp quốc tế, hạ tầng trang thiết bị hiện đại và cơ chế hoạt động đặc thù
là một giải pháp đầu tư nhiều rủi ro và kém hiệu quả
Trong điều kiện các nguồn lực trong nước hạn hẹp, để thành lập mới một viện nghiên cứu ứng dụng đa ngành đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam, vai trò của hợp tác quốc
tế với sự trợ giúp của một quốc gia có tiềm lực mạnh về kinh tế và KH&CN là vô cùng quan trọng Hàn Quốc là đối tác chiến lược của Việt Nam thời kỳ hội nhập toàn diện và
là một trong các quốc gia công nghiệp hàng đầu thế giớivới mô hình phát triển kinh tế thành công vượt bậc dựa vào nhân tố KH&CN và nhân lực trình độ cao Hàn Quốc đã vượt qua thời kỳ nghèo nàn và lạc hậu, kinh tế thấp kém hơn điều kiện của Việt Nam hiện nay bằng chính yếu tố KH&CN, trong đó, sáng kiến thành lập và đưa vào hoạt động Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST), một viện nghiên cứu ứng dụng
đa ngành định hướng công nghệ công nghiệp đầu tiên của Hàn Quốc, hoạt động theo
mô hình độc lập, tự chủ với cơ chế ưu đãi đặc biệt của quốc gia, đã đóng góp to lớn và
50 Trong hoàn cảnh các doanh nghiệp Việt Nam đa phần thiếu năng lực làm chủ và sử dụng công nghệ mới với hoạt động R&D còn ở trình độ rất thấp, thiếu vốn và nhân lực để đổi mới công nghệ dẫn tới hầu hết đều không có khả năng cạnh tranh trên các thị trường xuất khẩu, thì hệ thống KH&CN trong nước (các viện nghiên cứu, trường đại học) lại chưa đủ năng lực để đáp ứng nhu cầu công nghệ và trợ giúp kỹ thuật cần thiết cho các doanh nghiệp và các ngành, lĩnh vực Để khắc phục tình trạng đó, hệ thống KH&CN cần được nhanh chóng cải thiện và nâng cao tiềm lực, hoạt động nghiên cứu của các tổ chức KH&CN phải gắn kết được với thị trường và các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế
51 Trước khi thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) năm 1966, Hàn Quốc cũng thử tìm giải pháp tái cấu trúc hoặc phát triển viện mới mô hình KIST trên nền các viện nghiên cứu đang có của họ, nhưng các phương án này
đều bị bác bỏ vì không khả thi và hiệu quả (Xem Phần thứ hai Đề án)
25
Trang 26hiệu quả cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hàn Quốc.Với các bài học thành công quý báu đó, sự trợ giúp của Chính phủ Hàn Quốc đối với Dự án thành lập một viện nghiên cứu đa ngành theo mô hình KIST ở Việt Nam là một thuận lợi lớn52.
Với các nghiên cứu đẳng cấp quốc tế để phát triển công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao cho các doanh nghiệp, phát triển công nghệ nội địa để thay thế công nghệ nhập khẩu, tiến tới sáng tạo các công nghệ nguồn thúc đẩy động lực tăng trưởng của các ngành công nghiệp và kinh tế then chốt trong tương lai, sự ra đời của Viện sẽ có tác động rất lớn đối với sự phát triển các ngành công nghệ công nghiệp ở Việt Nam, góp phần đẩy nhanh tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, nâng cao trình độ KH&CN trong nước và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hơn thế nữa, với vai trò là một trung tâm KH&CN xuất sắc trong hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, nơi quy tụ các nhà khoa học, kỹ sư công nghệ đẳng cấp quốc tế
và hạ tầng nghiên cứu tiên tiến, kết nối hợp tác chặt chẽ với các viện, trường, doanh nghiệp trong nước và liên kết với các cơ sở nghiên cứu toàn cầu, Viện sẽ mở ra cơ hội
và môi trường làm việc tốt nhất cho cho các nhà khoa học Việt kiều, nghiên cứu sinh Việt nam ở nước ngoài, thủ khoa hoặc sinh viên xuất sắc của các trường đại học và các nhà khoa học, kỹ sư tài năng trong nước, góp phần phát huy và phát triển tiềm năng trí tuệ của lực lượng KH&CN Việt Nam
Việc thành lập và vận hành hiệu quả một viện nghiên cứu ứng dụng theo mô hìnhV-KIST với các viễn cảnh tích cực như vậy cũng chính là một giải pháp công nghệ tối ưu cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam hiện tại và trong tương lai
52 Trên cơ sở sự đồng thuận giữa hai Chính phủ, ngày 29/7/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1238/QĐ-TTg phê duyệt danh mục Dự án “Hợp tác xây dựng Viện KH&CN Việt Nam - Hàn Quốc tại Việt Nam” do Chính phủ Hàn Quốc tài trợ Ngày 09/9/2013, Thỏa thuận về việc triển khai Dự án thành lập Viện KH&CN Việt Nam - Hàn Quốc (V-KIST) được ký kết giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam và Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Phía Hàn Quốc sẽ cung cấp viện trợ không hoàn lại tương đương 35 triệu USD nhằm triển khai Dự án thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) với đối tác phía Việt Nam là Bộ KH&CN, dự kiến bắt đầu từ năm 2014.
26
Trang 27Phần thứ hai KINH NGHIỆM QUỐC TẾ, MÔ HÌNH HÀN QUỐC
VÀ BÀI HỌC ĐỐI VỚI VIỆT NAM
I KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ MÔ HÌNH TỔ CHỨC KH&CN THÀNH CÔNG TRÊN THẾ GIỚI
Trong nhiều thập kỷ qua, sự ra đời và phát triển thành công của các viện nghiên cứu ứng dụng định hướng công nghệ với vai trò là hạt nhân liên kết giữa nghiên cứu
và doanh nghiệp, giữa KH&CN vàcác ngành công nghiệp then chốt đã có tác động rất lớn tới tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của các quốc gia Dưới đây là kinh nghiệm cụ thể của một số tổ chức điển hình
1 Viện Nghiên cứu công nghệ công nghiệp (ITRI), Đài Loan
Viện Nghiên cứu Công nghệ Công nghiệp Đài Loan (ITRI) được thành lập năm
1973 với tư cách là một tổ chức nghiên cứu độc lập, phi lợi nhuận với sứ mệnh thúc đẩy
sự phát triển các ngành công nghệ công nghiệp Đài Loan Sự ra đời của Viện đáp ứng nhu cầu cấp bách của nền kinh tế Đài Loan trong bối cảnh hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực và trang thiết bị nghiên cứu của hệ thống KH&CN Đài Loan yếu kém, lạc hậu,
có nguy cơ cản trở quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ ở Đài Loan trong thập niên 1970
Với định hướng phát triển công nghệ công nghiệp, Viện ITRI đã hoàn thành xuất sắc vai trò trung tâm gắn kết KH&CN với các ngành kinh tế - kỹ thuật của Đài Loan, trên 3 lĩnh vực chủ yếu sau:
(i) Triển khai các chính sách phát triển công nghiệp với tư cách là một viện
27
Trang 28nghiên cứu và tạo lập các doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) trong các ngành công nghiệp mới Đã có ít nhất 12 doanh nghiệp spin-off được thành lập và phát triển từ các
dự án nghiên cứu của ITRI về bán dẫn điện tử, tự động hóa và quang điện tử, đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành các ngành công nghiệp tự động hóa và chip điện tử của Đài Loan
(ii) Điều phối và ươm tạo các nguồn lực R&D thông qua việc tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo ITRI đã ươm tạo thành công hơn 100 doanh nghiệp mới với tổng giá trị vốn hơn 1 tỷ USD
(iii) Cung cấp dịch vụ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp Hàng năm, ITRI cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật cho khoảng 25.000 doanh nghiệp Đài Loan Số lượng sáng chế được bảo hộ của Viện: hơn 20.000
Bên cạnh vai trò tham gia hoạch định chính sách phát triển công nghiệp của Chính phủ thông qua việc cung cấp dữ liệu và thông tin công nghệ, ITRI còn đóng góp rất lớn trong việc đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực công nghiệp Đài Loan Bên cạnh nguồn sinh viên kỹ thuật được đào tạo ở Trường cao đẳng ITRI (thành lập năm 2003), ITRI còn là nguồn quan trọng cung cấp nhân lực kinh nghiệm và trình độ cao cho các ngành công nghiệp thông qua sự di chuyển nhân lực định kỳ từ Viện ra các doanh nghiệp (16.526 kỹ sư có kinh nghiệm đã rời ITRI, 81% trong số đó nắm các vị trí chủ chốt tại các doanh nghiệp; trung bình hàng năm có 15% nhân lực của ITRI chuyển ra làm việc tại các doanh nghiệp) Sự thuyên chuyển nguồn nhân lực của ITRI vào khu vực công nghiệp mang lại lợi ích rất lớn cho sự phát triển của ngành công nghiệp Đài Loan
Hiện nay, ITRI đã trở thành một trong những viện nghiên cứu ứng dụng hàng đầu của Đài Loan và khu vực với tiềm lực rất mạnh về trang thiết bị kỹ thuật và đội ngũ nhân lực trình độ cao với tổng kinh phí chi cho R&D hàng năm hơn 500 triệu USD (54% từ các dự án phát triển công nghệ do Chính phủ hỗ trợ; 46% từ các hợp đồng nghiên cứu và dịch vụ kỹ thuật với khu vực doanh nghiệp) Tổng số nhân lực của ITRI
là hơn 6.000 người, trong đó 60% có trình độ thạc sỹ trở lên
2 Viện Khoa học RIKEN, Nhật bản
RIKEN là tổ chức nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng lớn nhất của Nhật Bản được thành lập vào năm 1917 Đây cũng là một viện nghiên cứu quy mô lớn với nhân lực nghiên cứu là 2.862 người (337 nhân viên cơ hữu và 2.525 nhân viên hợp đồng) Lực lượng nghiên cứu chiếm đa số với cơ cấu nhân lực nghiên cứu và quản trịhành chính là 5:1 Ngân sách chi cho hoạt động R&D của RIKEN là hơn 90 tỷ Yên trong năm 2012, trong đó 85 tỷ từ nguồn tài trợ từ Chính phủ
Mô hình tổ chức của RIKEN bao gồm các trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm phân bố trên khắp đất nước Mỗi đơn vị tập trung vào một số lĩnh vực nghiên cứu cụ thể, do một nhà khoa học đứng đầu và có hầu hết quyền tự chủ trong việc quyết
28
Trang 29định lĩnh vực nghiên cứu, tuyển dụng và phân bổ kinh phí Tổ chức mẹ, thường được dẫn dắt bởi một nhà khoa học từng đạt giải Nobel, giữ quyền quyết định phân bổ kinh phí nghiên cứu giữa các lĩnh vực.
Hiện nay, RIKEN sở hữu một mạng lưới các trung tâm nghiên cứu đẳng cấp quốc tế trên khắp Nhật Bản, với các cơ sở chính ở Wako, Tsukuba, Yokohama, Kobe
và Harima, được trang bị cơ sở hạ tầng nghiên cứu hiện đại, đi tiên phong trong các hướng nghiên cứu công nghệ mới, công nghệ cao và nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học tự nhiên (sinh học, thần kinh học, vật lý lượng tử, khoa học máy tính)
Được hỗ trợ phần lớn kinh phí hoạt động từ Chính phủ Nhật Bản, cùng với trang thiết bị nghiên cứu tối tân và sự tự chủ trong hoạt động của các phòng thí nghiệm, RIKEN được ví như “thiên đường nghiên cứu” và là vườn ươm đào tạo các nhà khoa học Nhật Bản Hiệu quả hoạt động của RIKEN được minh chứng qua chất lượng vượt trội của các kết quả nghiên cứu so với chuẩn mực thế giới: trong nhiều năm, RIKEN luôn có khoảng 20% bài báo lọt vào tốp 10 và 3% vào tốp 1 các bài báo quốc tế có tỷ
lệ trích dẫn cao nhất Năm 2012, RIKEN có 1.293 sáng chế được bảo hộ trong nước và
ở nước ngoài Các kết quả nghiên cứu của RIKEN được chuyển hóa thành sản phẩm thương mại thông qua các dự án hợp tác nghiên cứu chungtheo đặt hàng của doanh nghiệp Việc thiết lập mối quan hệ toàn diện giữa bên cung và bên cầu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện một cách hiệu quả các dự án trung và dài hạn của RIKEN
3 Tổ chức nghiên cứu ứng dụng Bay Zoltán, Hungary
Tổ chức Nghiên cứu ứng dụng Bay Zoltán là một viện nghiên cứu phi lợi nhuận hàng đầu Hungary được thành lập năm 1993, là viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ công nghiệp thành công nhất và là nhà cung cấp công nghệ lớn nhất trên thị trường nước này
Với nền kinh tế chuyển đổi và quy mô dân số nhỏ (10 triệu người), nhưng Hungary là quốc gia xếp thứ tư trong số 13 quốc gia Châu Âu có chỉ số tài năng cao nhất và cũng xếp thứ tư về chất lượng hoạt động R&D trong các nước Trung Âu Quốc gia này có tới 1 triệu doanh nghiệp, đây là thị trường lớn cho các viện nghiên cứu ứng dụng công nghệ như Bay Zoltán Các viện nghiên cứu ở Hungary thường có quy mô nhỏ, vì vậy, với một cơ sở nghiên cứu được coi là đi đầu trong nghiên cứu ứng dụng trong nước, tổng số nhân lực nghiên cứu ở Trụ sở Bay Zoltán chỉ gồm 171 người (trong đó có 113 cán bộ nghiên cứu)
Bay Zoltán có 7 viện trực thuộc, hoạt động trong các lĩnh vực thế mạnh như: công nghệ vật liệu, công nghệ nano, công nghệ sinh học, gen thực vật học, công nghệ môi trường, công nghệ công nghiệp và hậu cần; công nghệ thông tin, viễn thông Không tính kinh phí của các viện trực thuộc, ngân sách chi cho hoạt động R&D hàng năm của Bay Zoltán khoảng hơn 1,7 triệu Euro, chủ yếu đến từ các hợp đồng nghiên cứu theo đặt hàng của doanh nghiệp và các dự án do Chính phủ hoặc EU tài trợ Nhờ năng động thiết lập quan hệ hợp tác với các nhà khoa học có uy tín quốc tế và mạng
29
Trang 30lưới đối tác rộng, Bay Zoltán đã trở thành trung gian kết nối hiệu quả khu vực R&D với các doanh nghiệp.
II MÔ HÌNH VIỆN KH&CN HÀN QUỐC (KIST): BÀI HỌC THÀNH CÔNG TRONG NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG, PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP VÀ KINH TẾ
1 Bối cảnh thành lập
Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST) được thành lập ngày 10/2/1966 như một viện nghiên cứu độc lập đa ngành đầu tiên của Hàn Quốc Ở thời điểm đó, Hàn Quốc đang bước vào năm cuối của Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất (1962-1966) nhằm công nghiệp hóa các ngành kinh tế và cải thiện cơ cấu công nghiệp
để thoát nghèo với khẩu hiệu “Thiết lập nền tảng cho một nền kinh tế tự cung” Với
năng lực công nghệ công nghiệp yếu kém, Hàn Quốc phải nhập khẩu hầu như toàn bộ công nghệ từ nước ngoài để khởi đầu sự phát triển công nghiệp Vì vậy, việc học cách nhanh chóng nắm bắt công nghệ nhập để ứng dụng hiệu quả trong các ngành công nghiệp nội địa và tiếp tục phát triển thành công nghệ của Hàn Quốc nhằm đáp ứng nhu cầu công nghệ ngày càng gia tăng trong nước là vô cùng quan trọng Việc thành lập một viện nghiên cứu đa ngành có nhân lực nghiên cứu xuất sắc và hạ tầng kỹ thuật hiện đại là cần thiết trong bối cảnh đó
Trên thực tế, ý tưởng hình thành một viện nghiên cứu theo mô hình KIST (viện nghiên cứu độc lập đa ngành) có xuất phát điểm rất sớm, từ năm 1961 Khi đó, Tổng thống Hàn Quốc Park Chung Hee mới đang là Chủ tịch Hội đồng tối cao tái thiết quốc gia, đã yêu cầu tiến hành nghiên cứu FS cho sự hình thành của viện Từ 1962 cho tới thời điểm ra đời Viện KIST 1966, Hàn Quốc đã trải qua giai đoạn thử nghiệm thành lập mới, kể cả thử tìm giải pháp tái cấu trúc hoặc phát triển viện mới mô hình KIST trên nền các viện nghiên cứu hiện có của họ (196153, 196354, 196455) nhưng đều thất bại
do thiếu khả thi, đòi hỏi nguồn kinh phí quá lớn và nhiều lý do khác56
53 Để giải phóng tiềm năng phát triển của Hàn Quốc, ngay khi bắt đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm lần thứ nhất, Chủ tịch Hội đồng tối cao tái thiết quốc gia Park Chung Hee đã yêu cầu Bộ Giáo dục nghiên cứu luận cứ cho việc thành lập một viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp tiên tiến Cuối năm 1961, Bộ Giáo dục đề xuất thành lập Viện Khoa học và Công nghệ tiên tiến Hàn Quốc trên cơ sở hợp nhất tất cả các tổ chức KH&CN công lập, đặt dưới sự điều hành của Thủ tướng Tuy nhiên, phương án này gặp nhiều phản đối từ các cơ quan Chính phủ do mô hình quá phức tạp và đòi hỏi ngân sách quá lớn.
54 Cùng với đề xuất tư hữu hoá các tổ chức KH&CN công lập, Cục Quản lý Công nghệ (Bộ Phát triển Hàn Quốc) đã trình Uỷ ban Kế hoạch kinh tế Dự Luật về việc thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc ( KIST) trên cơ sở tư hữu hoá và cải tổ Viện Nghiên cứu công nghiệp quốc gia Tuy nhiên, ý tưởng tư hữu hoá vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ chính Viện bị cải tổ.
55 Đề án phát triển Viện Nghiên cứu mỏ và luyện kim thuộc Bộ Công thương Hàn Quốc thành một viện nghiên cứu đa ngành và chuyển về Ủy ban Kế hoạch kinh tế không thành hiện thực do kinh phí hạn hẹp, tiến độ xây dựng Đề án chậm Trước đó, ý tưởng sáp nhập 3 viện (Viện Nghiên cứu công nghiệp quốc gia, Viện Năng lượng nguyên tử Hàn Quốc, Viện Nghiên cứu mỏ và luyện kim) thành một viện nghiên cứu KH&CN tổng hợp cũng không khả thi do đặc điểm rất khác nhau của 3 viện, không thể sáp nhập một cách cơ học.
56 Trong giai đoạn này, Hàn Quốc có 86 cơ sở nghiên cứu (khu vực Chính phủ: 58; khu vực đại học: 28) và một số ít trung tâm nghiên cứu nhỏ lẻ thuộc các doanh nghiệp tư nhân Năm 1964, tổng kinh phí cho hoạt động của các tổ chức này
30
Trang 31Tháng 8/1965, trên cơ sở đề nghị của Tổng thống Hàn Quốc, đoàn chuyên gia Hoa Kỳ do TS Horning, Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học quốc gia - Trợ lý đặc biệt về KH&CN của Tổng thống Hoa Kỳ đã tới Hàn Quốc để khảo sát các điều kiện cơ bản cho việc thành lập một tổ chức nghiên cứu độc lập về công nghệ công nghiệp và khoa học ứng dụng Tháng 12/1965, Viện Battelle Hoa Kỳ (Battelle Memorial Institute) trình lên Chính phủ hai nước Báo cáo đánh giá về việc thành lập và tổ chức hoạt động của Viện, khi đó dự kiến là Viện Công nghệ công nghiệp và khoa học ứng dụng Hàn Quốc (a Korean Institute of Industrial Technology and Applied Science) Viện Battelle sau này trở thành Viện kết nghĩa với KIST (Sister Institute) và trợ giúp đắc lực cho hoạt động của KIST cả về phương pháp vận hành, hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn và đào tạo cán bộ trong suốt những năm đầu thành lập.
Trong quá trình hoạt động, Viện KIST đã một lần sáp nhập với Viện Khoa học tiên tiến Hàn Quốc (KAIS)57và Quỹ Khoa học và kỹ thuật Hàn Quốc (KOSEF)58 và đổi tên thành Viện Khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) - tháng 1/1981 Tuy nhiên, tới tháng 6/1989, Viện KIST được tách ra độc lập với Viện KAIST và tái lập với tên gọi KIST như buổi đầu thành lập đến nay
2 Mô hình và cơ chế vận hành đặc thù
Viện KIST được thành lập dưới sự đồng tài trợ của Chính phủ Hàn Quốc và Hoa
Kỳ, với tư cách một tổ chức nghiên cứu đa ngành, độc lập, phi lợi nhuận, do Tổng
thống Park Chung Hee sáng lập Mục đích ban đầu của Viện là triển khai một cách tổng thể các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm KH&CN và truyền bá, chuyển giao các kết quả nghiên cứu nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp và quá trình công nghiệp hóa ở Hàn Quốc Dưới đây là những đặc thù cơ bản về mô hình hoạt động của Viện trong giai đoạn đầu thành lập và hoạt động
a) Quyền tự chủ tối cao, các bảo đảm ban đầu về đất đai, tài chính
Quyền độc lập, tự chủ trong hoạt động của Viện KIST được pháp luật và Tổng
khoảng 4,5 triệu USD (0,1% GDP quốc gia - 3,86 tỷ USD), trong đó 83,3% được tài trợ cho các viện công lập Phần kinh phí hạn hẹp này hầu như chỉ đủ để các viện trang trải chi phí hoạt động thường xuyên Hoạt động nghiên cứu chỉ dừng ở các thử nghiệm, kiểm tra, phân tích cơbản để hỗ trợ cho công tác quản lý hành chính của Chính phủ, hầu như không có liên hệ với nhu cầu thực tiễn của các ngành công nghiệp Kinh phí nghiên cứu hạn hẹp và mức lương cán bộ quá thấp khiến các cơ sở nghiên cứu công lập không thể thu hút được nhân lực trình độ cao Khi đó, không có viện nghiên cứu nào của Hàn Quốc đủ
năng lực hỗ trợ các nhu cầu phát triển của nền công nghiệp, kể cả khi liên kết với các viện khác Nguồn: Donald F Hornig,
Report to the President regarding the feasibility of establishing in Korea with U.S cooperation an institute for industrial technology and applied science, 8/1965.
57 KAIS được thành lập năm 1971, với mục đích cung cấp cho nền công nghiệp Hàn Quốc các kỹ sư và nhà khoa học ứng dụng kết hợp được cả trình độ cao với phương pháp đào tạo tiên tiến đáp ứng nhu cầu công nghệ của các ngành công nghiệp hiện đại Với 40% sinh viên là các kỹ sư và nhà khoa học trẻ được các doanh nghiệp tư nhân và viện nghiên cứu tài trợ, cho phép KAIS duy trì được mối liên hệ thường xuyên với các ngành công nghiệp mà Viện dự định hỗ trợ nhân
lực Viện này hoạt động theo một đạo luật tương tự như KIST, vì vậy cũng có quyền tự chủ rất cao Nguồn: KIST, 1981.
58 KOSEF được thành lập năm 1977, có chức năng tài trợ cho các dự án nghiên cứu, cấp học bổng nghiên cứu để đào tạo nhà khoa học trẻ Là Quỹ độc lập, hoạt động theo một đạo luật đặc biệt về quyền tự chủ nên rất linh hoạt trong việc đáp ứng với các thay đổi về nhu cầu và định hướng ưu tiên của nền kinh tế Quỹ được kiểm soát bởi các nhà khoa học và kỹ
sư với Hội đồng điều hành gồm các đại diện từ khu vực hàn lâm, chính phủ và công nghiệp Nguồn: KIST, 1981.
31
Trang 32thống Hàn Quốc ủng hộ tuyệt đối cùng với các bảo đảm hỗ trợ ban đầu về đất đai, tài chính, ưu đãi về thuế và tài sản là các điều kiện tiên quyết cho hoạt động của Viện.
- Đạo luật hỗ trợ KIST của Quốc hội và Sắc lệnh hướng dẫn thi hành của Tổng thống đã trao quyền tự chủ tối cao về hoạt động, tài chính, tài sản cho KIST Mặc dù
chưa có tiền lệ ở Hàn Quốc về quyền tự chủ đối với các viện nghiên cứu, nhưng với nhận thức rõ về việc KIST với tư cách một viện độc lập, cần phải được trao quyền tự chủ tối đa trong hoạt động cùng với quyền sử dụng tài sản và ngân sách quốc gia, Tổng
thống Hàn Quốc đã phê chuẩn Đạo luật của Quốc hội về hỗ trợ cho Viện KIST (KIST
định Chính phủ phải bảo đảm tài chính (vốn không hoàn lại) và đất đai cho Viện KIST, tuy nhiên, Chính phủ không có quyền kiểm toán đối với hoạt động tài chính của KIST
và không can thiệp vào kế hoạch hoạt động của KIST
Để chi tiết hóa các nội dung của Luật, Tổng thống Hàn Quốc đã ban hành Sắc lệnh hướng dẫn thi hành Luật (Sắc lệnh số 2917 ngày 16/02/1967) Sắc lệnh này được sửa đổi, bổ sung 3 lần sau đó (tháng 6/1967, tháng 10/1969 và tháng 01/1977) để phù hợp và hỗ trợ hiệu quả hơn cho các hoạt động của KIST trong quá trình phát triển Nội dung cơ bản của Sắc lệnh này như sau:
i) Xác lập mối quan hệ của KIST với các cơ quan của Chính phủ nhằm đảm bảo tính độc lập và tự chủ của KIST trong hoạt động và xác định các dự án nghiên cứu;
ii) Đảm bảo hỗ trợ về tài chính cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng (kết hợp với nguồn viện trợ và vốn vay của Chính phủ Mỹ) và kinh phí hoạt động trong những năm đầu khi KIST chưa có nguồn thu ổn định từ các hợp đồng nghiên cứu;
iii) Tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước giao các tài sản quốc gia cho KIST;
iv) Quy định KIST không chịu sự kiểm toán của Chính phủ mặc dù vẫn có nghĩa
vụ báo cáo hoạt động theo định kỳ và nộp báo cáo kiểm toán do các tổ chức kiểm toán độc lập được Chính phủ chỉ định tiến hành
- Trên cơ sở đó, KIST được cấp 65 ha đất vô thời hạn để làm khuôn viên hoạt
động Về các hỗ trợ tài chính cụ thể của Chính phủ, xin xem khoản d dưới đây.
- Bên cạnh đó, KIST còn được hưởng các chính sách ưu đãi khác về thuế: được miễn trừ 7 sắc thuế (thuế doanh nghiệp, thuế kinh doanh, thuế đăng ký, thuế tài sản, thuế mua sắm, thuế hàng hoá, thuế hải quan) Nhà nước cũng áp dụng các biện pháp
ưu đãi gián tiếp khác đối với KIST thông qua việc áp dụng chính sách miễn thuế đối với các doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu và sử dụng dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật của KIST (miễn thuế đối với phần kinh phí hợp đồng với KIST)
59 Thực ra, Đạo luật hỗ trợ KIST 12/1966 đã không trao quyền tự chủ tối đa cho KIST như đề xuất ban đầu của Viện Luật này quy định kế hoạch nghiên cứu và kinh phí hoạt động hàng năm của KIST phải được Chính phủ thông qua; KIST phải bị kiểm toán bởi Chính phủ và chỉ được thuê đất của Nhà nước thay vì được giao đất vĩnh viễn Dưới sức ép của Tổng thống Park Chung Hee, tháng 3/1967, Quốc hội đã sửa đổi Luật này theo tinh thần hỗ trợ và trao quyền tự chủ tối đa cho KIST.
32
Trang 33b) Mô hình quản lý tự trị hiệu quả
- Hội đồng quản trị: Là cơ quan cao nhất đưa ra các quyết định quan trọng về
điều lệ, kế hoạch hoạt động, cơ cấu tổ chức, nhân sự và tài chính của Viện Hội đồng quản trị gồm 11 ủy viên, trong đó có 5 thành viên mặc định (đại diện Bộ Giáo dục, Công thương, Ủy ban Kế hoạch kinh tế, Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ tại Hàn Quốc, Viện Battelle), 3 thành viên từ khu vực hàn lâm và 3 đại diện khu vực công nghiệp Ngoại trừ các thành viên mặc định, các ủy viên đầu tiên của Hội đồng quản trị Viện KIST do Tổng thống (với tư cách là Sáng lập viên của Viện) chỉ định
Hai thành viên là đại diện phía Hoa Kỳ chấm dứt nhiệm kỳ ủy viên Hội đồng quản trị khi kết thúc giai đoạn hỗ trợ tài chính và hợp đồng hỗ trợ kỹ thuật (năm 1970, 1971) Sau đó, Hội đồng quản trị Viện KIST chỉ còn 9 thành viên (cơ cấu 3:3:3 chia đều cho khu vực Chính phủ, hàn lâm và doanh nghiệp)
Thực chất, toàn bộ quyền kiểm soát đối với các tài sản quốc gia được giao cho KIST (tài sản, đất đai, tài chính) đều thuộc về Hội đồng quản trị độc lập này với đa số thành viên không thuộc các cơ quan Chính phủ Điều này cho phép Viện thực sự có được quyền tự chủ hoạt động mà không chịu sức ép từ phía Chính phủ Hàn Quốc
- Chủ tịch Viện KIST: Chủ tịch Viện là thành viên của Hội đồng quản trị, nhưng
không được làm Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Chủ tịch Viện được Hội đồng quản trị bổ nhiệm và miễn nhiệm theo đa số phiếu thuận Riêng Chủ tịch đầu tiên của Viện KIST do Tổng thống bổ nhiệm vào thời điểm thành lập Viện Nhiệm kỳ Chủ tịch Viện là 3 năm (tương đương với nhiệm kỳ ủy viên Hội đồng quản trị) và có thể được bổ nhiệm lại
Chủ tịch đầu tiên của KIST được Tổng thống Hàn Quốc bổ nhiệm là TS Choi Hyung Sup, người trước đó đã xây dựng và phát triển thành công Viện Năng lượng nguyên tử Hàn Quốc và Viện Nghiên cứu mỏ và luyện kim60 TS Choi là người đáp ứng đầy đủ các tố chất của một nhà lãnh đạo cần cho Viện KIST lúc này, với năng lực giỏi, giàu kinh nghiệm quản lý, có mối quan hệ gần gũi với giới công nghiệp và hàn lâm, đặc biệt là có hiểu biết sâu về thực trạng nền kinh tế Hàn Quốc
- Các Phó Chủ tịch Viện KIST: Trong giai đoạn 1966-1970, KIST có 3 Phó chủ
tịch phụ trách 3 khối (nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật và quản lý hành chính), hỗ trợ đắc lực cho Chủ tịch Viện trong các hoạt động điều hành
- Kiểm toán nội bộ: Kiểm toán của Viện KIST được Hội đồng quản trị bổ nhiệm,
Bộ trưởng Bộ KH&CN phê chuẩn với nhiệm kỳ 2 năm (có thể được bổ nhiệm lại), có chức năng kiểm toán kết quả chi tiêu tài chính và hoạt động của Viện, phản biện các báo cáo tài chính của Viện trưởng, báo cáo Hội đồng quản trị và Bộ trưởng khi phát hiện các vi phạm
c) Cơ chế vận hành đặc thù
60 Đây là 2 viện có trang thiết bị, đội ngũ cán bộ, môi trường nghiên cứu và kết quả hoạt động được đánh giá tốt nhất Hàn Quốc thời điểm đó.
33
Trang 34- Khảo sát kinh tế kỹ thuật các ngành công nghiệp Hàn Quốc và xác định phạm
vi nghiên cứu: Ngay từ ban đầu, KIST đã tiến hành các đợt khảo sát kinh tế - kỹ thuật
quy mô lớn về các ngành công nghiệp Hàn Quốc để xác định rõ hiện trạng, nhu cầu, các khó khăn của thực tiễn và quy trình cần thiết cho sự phát triển của các ngành này
trong tương lai (Bảng 6) Đợt khảo sát này được tiến hành ở 600 cơ sở công nghiệp
theo 17 ngành kinh tế - kỹ thuật, do một nhóm 80 nhà khoa học, kỹ sư, nhà kinh tế Hàn Quốc và Hoa Kỳ thực hiện61 Kết quả khảo sát là cơ sở để KIST tiến hành các bước tiếp theo như: xác định phạm vi nghiên cứu, nhu cầu cán bộ và quy mô hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu, từ đó mới tiến hành tuyển dụng cán bộ, xây dựng nhà xưởng
và mua sắm trang thiết bị để triển khai hoạt động nghiên cứu
- Chương trình tuyển dụng nhân lực tài năng: Để bảo đảm nhân lực cho giai
đoạn đầu thành lập, KIST đã khởi xướng một Chương trình được thiết kế và vận hành
Bảng 6.Trình tự các bước chuẩn bị cho hoạt động ban đầu của KIST
Trình tự các bước Bước 1
Xác định mục tiêu của Viện
Bước 2
Tổ chức điều tra khảo sát kinh tế - kỹ thuật
trong các ngành công nghiệp
Xác định quy mô hạ tầng kỹ thuật phục vụ nghiên cứu
Bước 5
Tuyển dụng, đào tạo cán bộ
Xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị
61 Nhóm này gồm 57 chuyên gia Hàn Quốc (đại diện KIST, các trường đại học, các ngành công nghiệp và các nhà hoạch định chính sách) và 23 chuyên gia của Viện Battelle; làm việc trong 10 tháng với hơn 10.000 giờ làm việc Các báo cáo và kiến nghị của Nhóm còn là cơ sở để Chính phủ Hàn Quốc hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp cho giai đoạn tiếp theo.
34
Trang 35Bước 6
Triển khai hoạt động nghiên cứu
Nguồn: The establishment of KIST, 1971
rất tốt để thu hút nhân tài (brain-drain), trọng tâm là các trí thức Hàn kiều sống và làm việc ở Châu Âu và Hoa Kỳ62 Thời gian đầu, KIST đã tuyển dụng được gần 30 nhà khoa học Hàn kiều từ nước ngoài, có ít nhất 5 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực chuyên môn sau khi có bằng tiến sỹ
Các biện pháp ưu đãi mà KIST áp dụng để thu hút và giữ chân cán bộ tài năng bao gồm: i) Trả lương cao, trên mức lương của công chức đương thời; ii) môi trường làm việc thuận lợi, hấp dẫn với trang thiết bị hiện đại; iii) chế độ nghỉ phép trong 1 năm hưởng nguyên lương để tham gia nghiên cứu, khảo sát, học tập ở nước ngoài; các gói ưu đãi hậu hĩnh khác về nhà ở, phương tiện đi lại,… Nhờ có cơ chế tự chủ trong chính sách cán bộ, sau này KIST vẫn tiếp tục thu hút, tuyển dụng được các nhà khoa học và kỹ sư trình độ cao trong nước và ở nước ngoài
Bảng 7 Số lượng cán bộ của KIST qua các năm
- Thiết lập quan hệ đối tác chặt chẽ với Viện kết nghĩa Battelle và các cơ sở
nghiên cứu xuất sắc khác trên thế giới Với vai trò là Viện kết nghĩa (Sister Institute), Viện Battelle có đóng góp vô cùng quan trọng cho giai đoạn khởi đầu của Viện KIST thông qua các hoạt động hỗ trợ sau:
Giai đoạn 1966-1967: Hỗ trợ thiết lập mô hình tổ chức, kế hoạch xây dựng và
nghiên cứu của KIST; giới thiệu các kỹ năng quản lý hiện đại; khảo sát và tuyển dụng các nhà khoa học Hàn Quốc trong và ngoài nước; đào tạo cán bộ nghiên cứu và quản lý
62 Cách thức lựa chọn và thu hút Hàn kiều của KIST những năm 1966-1970 được tiến hành với sự trợ giúp của Viện Battelle của Hoa Kỳ Thông qua mạng lưới chi nhánh và đối tác của mình trên toàn cầu, Viện Battelle Hoa Kỳ cung cấp cho các nhà khoa học Hàn kiều tài liệu giới thiệu về mục tiêu, quy mô của KIST và các thông tin cần thiết khác Từ đó, Viện Battelle lên danh sách và kết nối với 800 nhà khoa học Hàn kiều ở nước ngoài, trong đó 150 người là nhà khoa học chủ chốt ở địa bàn Hoa Kỳ và Châu Âu được ưu tiên sàng lọc trước Tháng 10/1966, đích thân Viện trưởng KIST, Dr Choi Hyung Sup đã trực tiếp tới Hoa Kỳ để trực tiếp phỏng vấn và thuyết phục các nhà khoa học này về nước Kết quả là 65/69 nhà khoa học và chuyên gia giỏi Hàn kiều được Dr Choi phỏng vấn đã bày tỏ ý nguyện sẵn sàng trở về nước làm việc cho KIST Tiếp đó, Viện KIST gửi cho các ứng viên bản copy kết quả báo cáo điều tra khảo sát nhu cầu thị trường và các ngành kinh tế - kỹ thuật của Hàn Quốc (do Viện điều tra trước đó) để các nhà khoa học có thể lựa chọn vấn đề nghiên cứu phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, lập đề cương nghiên cứu và gửi về Viện KIST Sau khi xem xét đề xuất nghiên cứu của các nhà khoa học Hàn kiều, tháng 6/1967, Viện trưởng KIST tiếp tục trở lại Hoa Kỳ để tiến hành khâu lựa chọn cuối cùng, 18 nhà khoa học Hàn kiều được Dr Choi phỏng vấn trực tiếp tại Viện Battelle, để hình thành nguồn nhân lực nghiên cứu cho giai đoạn khởi đầu của Viện.
35
Trang 36về mô hình nghiên cứu theo hợp đồng; lựa chọn, mua sắm, lắp đặt và vận hành máy móc, thiết bị nghiên cứu; thành lập trung tâm thông tin công nghệ.
Giai đoạn 1968-1971: Hỗ trợ tạo lập năng lực nghiên cứu và quản trị cho KIST
thông qua các hoạt động nghiên cứu chung về công nghệ công nghiệp và kinh tế - kỹ thuật; đào tạo cán bộ nghiên cứu; giới thiệu, ứng dụng công nghệ tiên tiến của Hoa Kỳ
Sau này, Viện KIST tiếp tục mở rộng quan hệ kết nghĩa với các đối tác mạnh khác trên thế giới như: Viện Nghiên cứu Mitsubishi và Công ty thép Nippon (Nhật), Viện Nghiên cứu công nghệ công nghiệp ITRI (Đài Loan), Viện Khoa học ứng dụng TNO (Hà Lan), Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Hoa Kỳ
- Hoạt động nghiên cứu trên cơ sở hợp đồng: Viện KIST tiến hành các dự án
nghiên cứu trên cơ sở hợp đồng theo đặt hàng và tài trợ của các cá nhân, doanh nghiệp,
cơ quan Chính phủ và tổ chức quốc tế.Trên cơ sở đề xuất của khách hàng, các chuyên gia của KIST nghiên cứu tính khả thi về công nghệ và kinh tế của giải pháp đặt hàng Chỉ sau khi xác định được giải pháp có tính khả thi, KIST dự thảo các công việc cần tiến hành và gửi khách hàng thông qua, khi đó hợp đồng mới được soạn và ký kết Trong quá trình nghiên cứu, KIST sẽ chuyển giao toàn bộ thông tin, dữ liệu có được từ kết quả nghiên cứu kèm theo quyền sở hữu trí tuệ, kể cả các pa-tăng, cho khách hàng
- Hệ thống quản lý nghiên cứu của KIST được tổ chức thành các phòng thí
nghiệm độc lập63 Khi có hợp đồng nghiên cứu, phòng thí nghiệm theo chuyên ngành tương ứng sẽ được thành lậpvà quản lý bởi một Nghiên cứu viên chính (Principal Investigator), người có toàn quyền quyết định về nhân sự, tài chính và chịu trách nhiệm về kết quả dự án Mỗi phòng thí nghiệm được hạch toán chi phí đầu vào độc lập Khi kết thúc hợp đồng nghiên cứu, nếu không có thêm hướng nghiên cứu ứng dụng mới hoặc Nghiên cứu viên chính không đáp ứng yêu cầu thì phòng thí nghiệm sẽ
bị đóng cửa
Hệ thống tổ chức này đảm bảo quyền tự chủ và độc lập tối đa cho từng đơn vị, đồng thời cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của từng phòng thí nghiệm một cách khách quan Bên cạnh đó, KIST cũng có cơ chế để huy động nguồn lực giữa các phòng thí nghiệm khác nhau Khi có dự án nghiên cứu liên ngành, Viện hình thành nhóm nghiên cứu chung gồm các nhà khoa học từ các phòng thí nghiệm khác nhau Hệ thống hạch toán chi phí cũng được áp dụng để đánh giá hiệu quả từng dự án
Cán bộ nghiên cứu của KIST làm việc theo chế độ hợp đồng Hợp đồng được gia hạn mỗi năm sau 2 năm làm việc đầu tiên, tùy thuộc vào kết quả đánh giá năng lực cán bộ và lĩnh vực nghiên cứu của Viện Khi cần thiết, các nghiên cứu viên có thể được tuyển dụng tạm thời từ bên ngoài
- Dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật được tiến hành bởi các Trung tâm chuyên môn của
KIST Trong giai đoạn đầu, các trung tâm này bao gồm: Trung tâm máy tính, Trung tâm chuyển giao công nghệ, Trung tâm công nghệ tạo khuôn mẫu, Trung tâm thiết bị
63Đến tháng 12/1970, KIST có 36 phòng thí nghiệm và 7 nhóm hỗ trợ kỹ thuật Nguồn: The establishment of KIST, 1971.
36
Trang 37công cụ chính xác Các hỗ trợ kỹ thuật bao gồm: Đào tạo về tin học cho các cơ quan Chính phủ, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học; tư vấn hỗ trợ các ngành công nghiệp nội địa trong kế hoạch nhập khẩu công nghệ tiên tiến, phân tích tính phù hợp của công nghệ; dịch vụ thử nghiệm, điều tra, thông tin kỹ thuật; giới thiệu các công nghệ và thiết bị chính xác tiên tiến, thiết kế và vận hành kỹ thuật cho các ngành công nghiệp Hàn Quốc.
- Một đặc thù riêng có khác trong cơ cấu vận hành của KIST là sự ra đời của
Công ty Tiến bộ kỹ thuật (K-TAC), chi nhánh kinh doanh do KIST sở hữu toàn phần
Công ty này đóng góp một lượng lớn doanh thu cho KIST thông qua việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu theo 2 hướng: Trực tiếp đầu tư vào sản phẩm và sản xuất thử nghiệm; trực tiếp thương lượng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp cho doanh nghiệp tư nhân
d) Đóng góp tài chính của Chính phủ Hàn Quốc và Hoa Kỳ
Tổng chi phí cho xây dựng, đầu tư trang thiết bị, tuyển dụng cán bộ, đào tạo và quỹ cấp vốn của Chính phủ Hàn Quốc và Hoa Kỳ cho 5 năm đầu, 1966-1970, là 24.1 triệu USD (chưa tính từ Quỹ bồi thường Nhật Bản).Trong đó, Chính phủ Hoa Kỳ hỗ trợ 9.2 triệu USD (7.2 triệu USD tài trợ và 2 triệu USD vốn vay) Vốn đối ứng của Chính phủ Hàn Quốc là 14.9 triệu USD (2.2 triệu USD đối ứng và 2.7 USD - đất và các hỗ trợ khác) Trên thực tế, tiền đối ứng của Chính phủ Hàn Quốc được phân bổ trong hơn 5 năm đầu, kéo dài cho tới năm 1973 Ngoài ra, do sự phát triển nhanh chóng của Viện, nhu cầu tài chính trong 5 năm đầu đã lên tới hơn 24.8 triệu đô la (0,4% GDP quốc gia)64
Theo tính toán của Viện Battelle, KIST sẽ cần hỗ trợ tài chính của Chính phủ trong vòng 5-10 năm đầu Tuy nhiên, trên thực tế, KIST đã có thể tự chủ về tài chính ngay sau năm 1970 (khi kết thúc thời hạn viện trợ của Hoa Kỳ) và năm 1973 (khi vốn đối ứng của Chính phủ Hàn Quốc kết thúc) Sau đó, Chính phủ không còn cần phải đưa KIST vào danh mục chi ngân sách thường xuyên mà chỉ chi hỗ trợ cho KIST thông qua các dự án nghiên cứu theo đặt hàng của Chính phủ
Bảng 8 Đóng góp của Chính phủ Hàn Quốc và Chính phủ Hoa Kỳ
Giai đoạn 1966 - 1970 (đơn vị: USD)
Trang 38Chi phí hoạt động 476.670 3.176.177 3.652.847
Nguồn: The Establishment of KIST, 1971
3 Thành công và định hướng tương lai
Hoạt động của Viện KIST luôn bám sát và phục vụ đắc lực cho nhu cầu công nghệ và nhân lực kỹ thuật trình độ cao của các ngành công nghiệp và kinh tế Hàn Quốc Khi trọng tâm chính sách phát triển kinh tế của Hàn Quốc thay đổi, sứ mệnh, chức năng và các định hướng nghiên cứu của Viện cũng được điều chỉnh cho phù hợp
để đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn của nền kinh tế (Bảng 9).
Gần 5 thập kỷ hình thành và phát triển, từ khởi đầu bắt chước và cải tiến công nghệ sang giai đoạn đổi mới sáng tạo, Viện KIST luôn bắt kịp và thúc đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển thần kỳ của nền kinh tế Hàn Quốc Tới năm 2004, KIST đã tạo ra tổng giá trị kinh tế - xã hội tương đương 55 tỷ Won (gấp 33 lần đầu tư đầu vào cho Viện)65, đã dẫn dắt sự phát triển của nền công nghệ Hàn Quốc đi từ định hướng công nghệ công nghiệp của những thập kỷ 1960, 1970 đi tới các công nghệ đổi mới sáng tạo, công nghệ tiên phong trong thập kỷ 1990 và đầu thế kỷ 21 Ngoài các kết quả nghiên cứu xuất sắc, KIST còn trở thành nhà cung cấp chiến lược các nguồn lực R&D cho quốc gia66, tạo ra nhiều cột mốc ghi dấu ấn KIST trong các thành tựu phát triển công nghệ của Hàn Quốc và nhân loại67
Bảng 9 Trọng tâm chính sách của Hàn Quốc và hoạt động của KIST
- Tập trung phát triển đội ngũ kỹ thuật viên và thợ lành nghề cho các ngành công nghiệp nhẹ.
- Khuyến khích nhập công nghệ nước ngoài; nâng cao năng lực làm chủ, cải tiến công nghệ nhập.
- Khảo sát kinh tế - kỹ thuật phục vụ kế hoạch hiện đại hóa các ngành công nghiệp.
- Hỗ trợ kỹ thuật cho các nhà máy.
- Tư vấn lựa chọn công nghệ, làm chủ và thích nghi với công nghệ nước ngoài.
- Dự án nghiên cứu ngắn hạn theo hợp đồng của khu vực tư nhân (đa số).
- Dự án nghiên cứu dài hạn theo đặt hàng của Chính phủ.
- Lĩnh vực: điện và điện tử, cơ khí kỹ thuật, hóa chất, thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, vật Thập kỷ 1970 - Phát triển các ngành công
65 Nguồn: Korea Research Council of Fundamental Science and Technology, 2004.
66 Thành lập công ty khởi nguồn spin-off: 12; chuyển giao công nghệ: 3.447 hợp đồng; nghiên cứu viên cao cấp: 679;
giáo sư: 348; thạc sỹ và tiến sỹ: 1.375; sinh viên được đào tạo: 4.636 Nguồn:KIST - 40-year History of Korea Institute of
Science and Technology, 1966-2006.
67 Thiết kế kế hoạch thành lập POSCO(1969); phim Polyeste-công nghệ công nghiệp nền (1978); sợi Fiber-công nghệ nguồn cho ngành dệt (1982); kim cương nhân tạo (1988), trống từ VCR (1994); viên nang nội soi (2003); nghiên cứu công nghệ nguồn tương lai trong khoa học não bộ (những năm 2000).
38
Trang 39Thập kỷ 1980 - Công nghiệp hóa định hướng
phát triển công nghệ nguồn, công nghệ bản địa.
- Hỗ trợ tích cực hoạt động R&D của khu vực tư nhân.
- Phát triển sau đại học và tuyển dụng Hàn Kiều (phục vụ các công
ty tư nhân).
- Tiếp tục nâng cấp năng lực tri thức của Viện, đáp ứng các nhu cầu đổi mới công nghệ; sẵn sàng cung cấp công nghệ cho các ngành công nghiệp.
- Phát triển sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, chuyển hướng xuất khẩu ra thị trường thế giới.
- Tiếp tục tư vấn nhập khẩu công nghệ tiên tiến; cải tiến và bản địa hóa công nghệ phục
vụ các ngành công nghiệp nội địa.
- Hỗ trợ xây dựng chính sách phát triển KH&CN và kinh tế quốc gia.
- Dự án nghiên cứu dài hạn quy mô quốc gia trong các lĩnh vực công nghệ sử dụng nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước.Thập kỷ1990 - Phát triển các ngành công nghệ
- Nghiên cứu phát triển công nghệ nguồn dẫn đường cho các ngành công nghệ tương lai của Hàn Quốc.
- Nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
để củng cố tiềm lực nền tảng và kỹ thuật của Hàn Quốc.
- Mở rộng hợp tác nghiên cứu với các viện, trường, doanh nghiệp trong và ngoài nước; tích cực truyền bá các kết quả nghiên cứu.
- Xây dựng kế hoạch, đánh giá và quản lý các
dự án R&D quốc gia ở khu vực công, công nghệ và chính sách KH&CN.
Hiện tại và tương lai: KIST tập trung vào các hướng nghiên cứu tiền đề và mang tính toàn cầu
thông qua việc đầu tư cho các dự án R&D quy mô lớn, dài hạn và liên ngành.
- Lĩnh vực ưu tiên:Khoa học về não bộ, y sinh, công nghệ vật liệu, năng lượng sạch, công nghệ
thông tin và điện tử, nghiên cứu định hướng cho tương lai
- Sứ mệnh: Làm đầu tầu thúc đẩy năng lực KH&CN của Hàn Quốc, giúp Hàn Quốc duy trì vị thế
tiên phong về đổi mới sáng tạo trên thế giới.
- Tầm nhìn: Trở thành một trong những viện nghiên cứu danh tiếng nhất thế giới với khả năng dẫn
đầu công nghệ trong vòng 5 thập kỷ tới.
III BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Từ các mô hình viện nghiên cứu ứng dụng định hướng công nghệ công nghiệp trên thế giới, đặc biệt là mô hình thành côngcủa Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc (KIST), có thể rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN nói chung, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam - Hàn Quốc (V-KIST) nói riêng, như sau:
Thứ nhất, bài học về trao quyền tự chủ tối đa và có cơ chế bảo đảm thực thi
39