1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Chủ đề 3 ngân hàng trung ương một viễn cảnh toàn cầu

33 396 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 88,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều phổ biến khởi đầu của quyền lực này đã dẫn đến sự phát triển của Cục Dự trữ Liên Bang bao gồm các đối tượng sau: các Ngân hàng Dự trữ Liên bang, Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên b

Trang 1

CHỦ ĐỀ 3: NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG: MỘT VIỄN CẢNH TOÀN CẦU

Trong số người chơi quan trọng nhất trong các thị trường tài chính trên toàn thế giới

là các ngân hàng trung ương, các cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về chính sáchtiền tệ Hành động của các ngân hàng trung ương ảnh hưởng đến lãi suất, khối lượngtín dụng và nguồn cung tiền, tất cả đều có ảnh hưởng trực tiếp không chỉ trên thịtrường tài chính, mà còn về tổng sản lượng và lạm phát Để hiểu rõ vai trò của cácngân hàng trung ương đóng tại các thị trường tài chính và nền kinh tế tổng thể,chúng ta cần phải cách thức hoạt động của những tổ chức này Ai kiểm soát cácngân hàng trung ương và xác định hành động của họ? Điều gì khuyến khích hành vicủa họ? Ai giữ dây cương của quyền lực?

1.Nguồn gốc của cục dự trữ liên bang

Trong tất cả các ngân hàng trung ương trên thế giới, Cục Dự Trữ Liên Bang có thể

có cấu trúc khác thường Để hiểu tại sao cấu trúc này phát sinh, chúng ta phải trở lạitrước năm 1913, khi Cục Dự Trữ Liên Bang đã được tạo ra

Trước thế kỉ 20, một đặc điểm chính của nền chính trị Mỹ là sự lo sợ của quyền lựctập trung, được thể hiện trong việc kiểm tra và cân bằng của Hiến pháp và giữ gìnquyền của bang Mối lo sợ về quyền lực tập trung là một lí do trong việc đề phòngcủa người Mĩ để thành lập một ngân hàng trung ương Một nguồn khác là sự mấtlòng tin truyền thống của Mỹ về lợi ích tiền bạc, những biểu tượng nổi bật nhấttrong số đó là một ngân hàng trung ương Thái độ thù địch của cộng đồng người Mỹđến sự tồn tại của một ngân hàng trung ương dẫn đến sự sụp đổ của hai thử nghiệmđầu tiên trong ngành ngân hàng trung ương, có chức năng để giám sát hệ thống ngânhàng: Ngân hàng đầu tiên của Hoa Kỳ đã bị giải tán vào năm 1811, và các đặcquyền quốc gia của ngân hàng thứ hai của Hoa Kỳ hết hạn vào năm 1836 sau khiviệc gia hạn được phủ quyết trong năm 1832 do Tổng thống Andrew Jackson

Viếc chấm dứt đặc quyền quốc gia của ngân hàng thứ hai vào năm 1836 đã tạo ramột vấn đề nghiêm trọng đối với thị trường tài chính Mỹ, vì không có người chovay như phương kế cuối cùng mà có thể cung cấp dự trữ cho hệ thống ngân hàng đểngăn chặn một cuộc khủng hoảng ngân hàng Do đó, trong thế kỷ XIX và XX,khủng hoảng ngân hàng trên toàn quốc đã trở thành một sự kiện thường xuyên, xảy

ra mỗi hai mươi năm hoặc lâu hơn, mà đỉnh cao là cuộc khủng hoảng năm 1907.Cuộc khủng hoảng năm 1907 dẫn đến kết quả sụp đổ ngân hàng trên diện rộng vàgây thiệt hại đáng kể cho người gửi tiền, vì vậy công chúng cuối cùng đã được

Trang 2

thuyết phục rằng một ngân hàng trung ương là cần thiết để ngăn ngừa những cuộckhủng hoảng trong tương lai.

Sự thù địch của công chúng Mỹ đối với các ngân hàng và quyền lực tập trung tạo

ra sự phản đối lớn trong việc thành lập một ngân hàng trung ương duy nhất nhưNgân hàng Anh Sự sợ hãi quá khích rằng nhóm tư bản tiền tệ trên Wall Street (baogồm cả các tập đoàn lớn và các ngân hàng) sẽ có thể thao túng cơ quan đó để giànhquyền kiểm soát nền kinh tế và hoạt động liên bang của ngân hàng trung ương cóthể dẫn đến sự can thiệp quá nhiều của chính phủ vào công việc của các ngân hàng

tư nhân Bất đồng nghiêm trọng trong việc phân định các ngân hàng trung ương phải

là một ngân hàng tư nhân hay là một cơ quan chính phủ Bởi vì những cuộc tranhluận nóng bỏng về những vấn đề này, một thỏa hiệp đã được lập ra Trong truyềnthống vĩ đại của người Mỹ, Quốc hội đã viết và xây dựng hệ thống kiểm tra và cânđối vào Luật Dự trữ Liên bang năm 1913, trong đó tạo ra một Hệ thống Dự trữ Liênbang với mười hai ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực

2.Cấu trúc của Cục Dự Trữ Liên Bang

Các nhà soạn thảo của Luật Dự trữ Liên bang muốn khuếch tán quyền lực dọc theocác đường khu vực, giữa các khu vực tư nhân và chính phủ, và giữa các chủ ngânhàng, doanh nhân, và công chúng Điều phổ biến khởi đầu của quyền lực này đã dẫn

đến sự phát triển của Cục Dự trữ Liên Bang bao gồm các đối tượng sau: các Ngân hàng Dự trữ Liên bang, Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang, Ủy Ban Liên bang Thị Trường Tự do (FOMC), Hội đồng tư vấn liên bang, và khoảng

2500 thành viên các ngân hàng thương mại

Ngân hàng dự trữ liên bang

Mỗi mười hai khu vực dự trữ liên bang có một ngân hàng dự trữ liên bangchính, trong đó có thể có các chi nhánh ở các thành phố khác trong khu vực Các địađiểm của các khu vực, các ngân hàng dự trữ liên bang, và các chi nhánh của nó đượcthể hiện trong Hình 1 Ba ngân hàng dự trữ liên bang lớn nhất về tài sản là của NewYork, Chicago và San Francisco - cộng lại họ nắm giữ hơn 50% tài sản (cho vaychiết khấu, chứng khoán, và các tài sản khác) của Hệ thống Dự trữ Liên bang Ngânhàng New York, với khoảng một phần tư của các tài sản, đóng vai trò quan trọngnhất của các ngân hàng dự trữ liên bang (xem Bên trong Fed, "Vai trò đặc biệt củaNgân hàng Dự trữ Liên bang New York")

Trang 3

Mỗi ngân hàng dự trữ liên bang là một tổ chức bán-công (một phần của tưnhân, một phần của chính phủ), thuộc sở hữu của các ngân hàng thương mại tư nhântrong khu vực là thành viên của Hệ thống Dự trữ Liên bang Các ngân hàng thànhviên đã mua cổ phiếu ở ngân hàng Dự trữ Liên bang trong khu vực của họ (một yêucầu để làm thành viên), và cổ tức trả bằng cổ phiếu đó được giới hạn bởi pháp luậtđến 6% hàng năm Các ngân hàng thành viên bầu sáu giám đốc đối với từng ngânhàng khu vực; thêm ba giám đốc được chỉ định bởi Hội đồng Thống đốc Các giámđốc của một ngân hàng khu vực được phân thành ba loại: A, B và C Ba giám đốc A(được bầu bởi các ngân hàng thành viên) là nhà ngân hàng chuyên nghiệp, và bagiám đốc B (cũng được bầu bởi các ngân hàng thành viên) là các nhà lãnh đạo nổibật từ ngành công nghiệp, lao động, nông nghiệp, hoặc lĩnh vực tiêu dùng Ba giámđốc C, người được bổ nhiệm của Hội đồng Thống đốc đại diện cho lợi ích chung,không được phép là cán bộ, nhân viên, hoặc các cổ đông của ngân hàng Các giámđốc điều hành hoạt động của các ngân hàng khu vực, nhưng công việc quan trọngnhất của họ là để bổ nhiệm chủ tịch của ngân hàng (tùy thuộc vào sự chấp thuận củaHội đồng Thống đốc) Cho đến năm 2010, tất cả chín giám đốc tham gia vào quyếtđịnh này, nhưng pháp luật Dodd-Frank có hiệu lực từ tháng 7 năm 2010 loại trừ bagiám đốc A ra khỏi sự tham gia trong việc lựa chọn chủ tịch của ngân hàng Quốchội cho rằng không phù hợp khi để các ngân hàng tham gia trong việc lựa chọn chủtịch của ngân hàng dự trữ liên bang, việc đó sẽ dẫn đến sự giám sát của các ngânhàng đó.

Mười hai ngân hàng dự trữ liên bang tham gia vào chính sách tiền tệ trongnhững cách sau:

Trang 4

 Các giám đốc của hệ thống "thiết lập" các tỷ lệ chiết khấu (mặc dù tỷ lệ chiết khấutrong từng huyện được xem xét và quyết định bởi Hội đồng Thống đốc).

 Họ quyết định ngân hàng nào (thành viên và phi thành viên như nhau) có thể cóđược các khoản vay chiết khấu từ ngân hàng dự trữ liên bang

 Các giám đốc của hệ thống chọn một chủ ngân hàng thương mại từ mỗi khu vực đểphục vụ trong Hội đồng tư vấn liên bang, trong đó tư vấn với Hội đồng thống đốc vàcung cấp thông tin giúp cho việc điều hành chính sách tiền tệ

 Năm trong mười hai chủ tịch ngân hàng được bầu chọn vào Ủy ban thị trường tự

do liên bang (FOMC), cơ quan chỉ đạo các hoạt động của thị trường tự do (mua

và bán chứng khoán của chính phủ dẫn đến ảnh hưởng đến cả lãi suất và số tiền dựtrữ trong hệ thống ngân hàng) Như đã giải thích trong “Bên trong hộp Fed”, "Vaitrò đặc biệt của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York", bởi vì chủ tịch của Cục

Dự trữ Liên bang New York là một thành viên thường trực của FOMC, họ luôn luônđược bầu vào FOMC, làm cho nó quan trọng nhất trong các ngân hàng, bốn phiếukhác giao cho các ngân khu vực hàng năm luân phiên trong số mười một Chủ tịchcòn lại

Mười hai ngân hàng dự trữ liên bang còn thực hiện các chức năng sau:

 Clear checks ???

 Phát hành tiền mới và rút tiền bị hư hỏng khỏi hệ thống lưu thông

 quản lý và thực hiện các khoản vay chiết khấu cho các ngân hàng trên địa bàn khuvực

 Đánh giá các đề xuất sáp nhập và các thỉnh cầu của các ngân hàng để mở rộng hoạtđộng của nó

 Hoạt động như liên lạc viên giữa cộng đồng doanh nghiệp và Cục Dự Trữ LiênBang

 Kiểm tra các ngân hàng cổ phần và các ngân hàng thành viên được hưởng đặcquyền của bang

 Thu thập số liệu về điều kiện kinh doanh địa phương

 Sử dụng đội ngũ chuyên gia về kinh tế của họ để nghiên cứu các chủ đề liên quanđến việc điều hành chính sách tiền tệ

1 Các ngân hàng thành viên

Tất cả các ngân hàng quốc gia (ngân hàng thương mại được thành lập dưới hiếnchương của Văn phòng Kiểm soát tiền tệ) bắt buộc phải là thành viên của Cục Dựtrữ Liên bang Các ngân hàng thương mại được thành lập bởi hiến chương của bangkhông bắt buộc phải là thành viên, nhưng họ có thể lựa chọn để tham gia Hiện nay,

Trang 5

khoảng một phần ba của các ngân hàng thương mại tại Hoa Kỳ là thành viên củaCục Dự trữ Liên bang, đã giảm từ con số cao nhất là 49% vào năm 1947.

Trước năm 1980, chỉ có các ngân hàng thành viên được yêu cầu phải giữ dự trữtiền gửi tại các ngân hàng dự trữ liên bang Ngân hàng phi thành viên xác định dựtrữ bắt buộc tùy theo tình trạng (yêu cầu của bang???), thường cho phép họ giữnhiều dự trữ bằng chứng khoán sinh lãi Bởi vì vào thời điểm đó không có lợi nhuậnđược trả cho khoản dự trữ gửi tại các ngân hàng dự trữ liên bang, gây nên tốn kémkhi làm một thành viên của hệ thống, và khi lãi suất tăng, chi phí tương đối của cácthành viên tăng, và ngày càng nhiều các ngân hàng rời khỏi hệ thống

Suy giảm số lượng các thành viên Cục Dự Trữ Liên Bang là một mối quan tâmlớn của Hội đồng Thống đốc; một lý do là nó làm giảm đi sự kiểm soát của Cục DựTrữ Liên Bang trong việc cung cấp tiền bạc, gây khó khăn cho cục khi thực hiệnchính sách tiền tệ Chủ tịch Hội đồng Thống đốc liên tục kêu gọi dự luật mới yêucầu tất cả các ngân hàng thương mại phải là thành viên của Cục Dự trữ Liên bang.Một kết quả của áp lực của Cục vào Quốc hội là một điều khoản trong và Đạo luậtphi điều tiết và kiểm soát tiền tệ năm 1980: Tất cả các tổ chức lưu ký tuân thủ chungyêu cầu về các khoản tiền gửi tại Cục Dự trữ Liêng bang, vì vậy các ngân hàngthành viên và phi thành viên sẽ được bình đẳng về các yêu cầu dự trữ Ngoài ra, tất

cả các tổ chức lưu ký được phép truy cập đến các cơ sở dự trữ liên bang, chẳng hạnnhư các cửa sổ chiết khấu (thảo luận trong Chương 16) và Cục kiểm tra thanh toán

bù trừ trên cơ sở bình đẳng Những quy định này kết thúc sự suy giảm số lượngthành viên Fed và giảm sự phân biệt giữa các ngân hàng thành viên và các ngânhàng phi thành viên

Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang:Tại đầu của Hệ thống Dự trữ Liên

bang là Hội đồng gồm 7 thành viên của Thống đốc, có trụ sở tại Washington, DC.Mỗi đốc được bổ nhiệm bởi Tổng thống Hoa Kỳ và xác nhận bởi Thượng viện Đểhạn chế điều khiển của chủ tịch Fed trong và cách ly của Fed khỏi những áp lựcchính trị khác, các thống đốc có thể phục vụ một toàn thể tái tạo hạn 14 năm cộngvới một phần của một nhiệm kỳ nữa, nhiệm kỳ của mỗi thống đốc kết thúc vào mỗitháng 1 khác nhau Các thống đốc (phần nhiều là các chuyên gia kinh tế) là bắt buộcđến từ các dự trữ liên bang quận khác nhau để ngăn chặn các lợi ích của một khuvực của đất nước bị chiếm dụng Chủ tịch Hội đồng Thống đốc được chọn từ mộttrong 7 thống đốc, phục vụ bốn năm, được gia hạn Người ta cho rằng một khi mộtchủ tịch mới được chọn, chủ tịch cũ từ chức từ Hội đồng Thống đốc, ngay cả khinhiệm kỳ thống đốc còn nhiều năm

Trang 6

Hội đồng thống đốc là tích cực tham gia vào việc điều hành chính sách tiền tệ trongnhững cách sau đây:

-Tất Cả 7 thống đốc là thành viên của FOMC và biểu quyết về việc tiến hành cáchoạt động thị trường mở Vì chỉ có mười hai thành viên có quyền biểu quyết của uỷban này (bảy thống đốc và năm Chủ tịch của ngân hàng quận), Hội đồng quản trị cóđasố phiếu

- Hội đồng quản trị cũng đặt ra yêu cầu dự trữ (trong giới hạn cho phép của phápluật)

-Nó có hiệu quả kiểm soát tỷ lệ chiết khấu của quá trình "cân nhắc và quyết định", theo đó chấp thuận hoặc không chấp thuận lãi suất chiết khấu "được thiết lập" bởi các ngân hàng dự trữ liên bang

-Các Chủ tịch Hội đồng cố vấn cho Tổng thống Mỹ về chính sách kinh tế, làm chứng trong Quốc hội, và phát biểu cho các hệ thống dự trữ liên bang để các phươngtiện truyền thông

Ủy ban thị trường mở liên bang (FOMC)

FOMC thường họp 8 lần một năm (khoảng sáu tuần một lần) và ra các quyết địnhliên quan đến việc thực hiện các nghiệp vụ thị trường mở và các thiết lập của chínhsách lãi suất, tỷ lệ quỹ liên bang, đó là lãi suất cho vay qua đêm từ một ngân hàngnày với ngân hàng khác Thật vậy, các FOMC thường được gọi tắt là "Fed" trên báochí: Ví dụ, khi các phương tiện truyền thông nói rằng Fed đang họp, họ thực sự cónghĩa là FOMC đang họp Ủy ban gồm 7 thành viên của Hội đồng Thống đốc, Chủtịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, và Chủ tịch của bốn ngân hàng dự trữliên bang khác Chủ tịch Hội đồng Thống đốc cũng chủ là chủ tịch của FOMC Mặc

dù chỉ có Chủ tịch của 5 trong số các ngân hàng dự trữ liên bang được bầu các thànhviên của FOMC, 7 thống đốc khác của các ngân hàng tham gia cuộc họp FOMCquận và tham gia thảo luận Do đó họ có một số đầu vào để ra quyết định của ban.Bởi vì các hoạt động thị trường mở là công cụ chính sách quan trọng nhất mà Fed đãcho kiểm soát cung tiền, và vì nó là nơi quyết định thực hiện việc thắt chặt chínhsách tiền tệ (tăng tỷ lệ quỹ liên bang) hoặc nới lỏng chính sách tiền tệ (một giảm của

tỷ lệ quỹ liên bang) FOMC nhất thiết phải là tâm điểm cho hoạch định chính sáchtrong hệ thống dự trữ liên bang Mặc dù dự trữ bắt buộc và lãi suất chiết khấu khôngthực sự thiết lập bởi FOMC, các quyết định liên quan đến các công cụ chính sáchđược thực hiện có hiệu quả ở đó, và đây là lý do tại sao Hình 1 đường gạch chỉ rarằng FOMC "tư vấn" về việc thiết lập các yêu cầu dự trữ và lãi suất chiết khấu.FOMC không thực sự thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán Thay vào đó, nótạo ra chỉ thị tại quầy giao dịch tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, nơi màcác nhà quản lý cho các hoạt động thị trường mở trong nước giám sát một lượngngười đã thực hiện các giao dịch mua bán của chính phủ hoặc cơ quan chứng khoán

Trang 7

Người quản lý liên lạc hàng ngày với các thành viên FOMC và nhân viên của họliên quan đến các hoạt động của các bàn giao dịch.

Cuộc họp FOMC:Cuộc họp FOMC diễn ra trong phòng họp trên tầng hai của tòa

nhà chính của Hội đồng thống đốc ở Washington, DC 7 thống đốc và 12 Chủ tịchNgân hàng Dự trữ, cùng với thư ký của FOMC, các Ban của "Giám đốc Bộ phậnnghiên cứu và thống kê và cấp phó, và Giám đốc của vấn đề tiền tệ và Tài chínhQuốc tế Phòng, ngồi vào bàn họp có quy mô lớn Mặc dù chỉ có 5 Chủ tịch Ngânhàng Dự trữ có quyền biểu quyết về các FOMC tại bất kỳ thời điểm nào, tất cả tíchcực tham gia vào các cuộc thảo luận Ngồi xung quanh các mép của căn phòng làGiám đốc nghiên cứu tại mỗi Ngân hàng dự trữ và hội đồng quản trị cấp cao khác vàcác quan chức Ngân hàng dự trữ, người, không nói tại cuộc họp.Cuộc họp bắt đầu nhanh chóng với các biên bản cuộc họp trước của FOMC Cácchương trình họp khoản mục thứ nhất là báo cáo của người quản lý của hệ thốnghoạt động thị trường mở về ngoại tệ và thị trường mở trong nước và các vấn đề khácliên quan đến các chủ đề này Sau khi các thống đốc và Chủ tịch Ngân hàng Dự trữkết thúc đặt câu hỏi và thảo luận về các báo cáo này, một cuộc bỏ phiếu được thựchiện để phê chuẩn chúng

Giai đoạn tiếp theo trong cuộc họp là một bài thuyết trình của các nhân viên Hộiđồng quản trị "là dự báo kinh tế quốc gia của các Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu vàthống kê tại các Ban Sau khi các thống đốc và Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ đã hỏicác giám đốc bộ phận về các dự báo, vòng đàm phán xảy ra: Mỗi chủ tịch ngân hàngtrình bày tổng quan về điều kiện kinh tế của mình quận mình và các ngân hàng "vìnhững đánh giá về triển vọng quốc gia, và mỗi đốc , gồm Chủ tịch, cho một cái nhìn

về triển vọng quốc gia Theo thông lệ, tránh nhận xét các chủ đề về chính sách tiền

tệ tại thời điểm này

Chương trình họp sau đó chuyển sang chính sách tiền tệ hiện tại và chỉ thị chínhsách trong nước Giám đốc Bộ phận Tiền tệ giao dịch của Hội đồng dẫn tắt cáccuộc thảo luận bằng cách đưa ra các kịch bản khác nhau cho hành động của chínhsách tiền tệ và có thể mô tả một vấn đề liên quan đến chính sách tiền tệ như thế nàonên được tiến hành Sau một thời gian câu hỏi và trả lời, mỗi người trong số cácthành viên FOMC, cũng như Chủ tịch ngân hàng không bỏ phiếu, biểu lộ quan điểmcủa mình về chính sách tiền tệ, và trên các tuyên bố chính sách tiền tệ Chủ tịch sau

đó tóm tắt các cuộc thảo luận và đề xuất diễn đạt rõ ràng cụ thể cho các hướng dẫnmục tiêu lãi suất liên bang chuyển đến thị trường mở và các tuyên bố chính sách tiền

Trang 8

tệ Thư ký của FOMC chính thức đọc báo cáo đề xuất và các thành viên của FOMC

3.Fed độc lập như thế nào?

Khi chúng ta nhìn, trong 3 chương tiếp theo, cách dự trữ liên bang tiến hành chínhsách tiền tệ, chúng ta sẽ muốn biết lý do tại sao nó quyết định để có những hànhđộng chính sách nhất định, nhưng không phải người khác Để hiểu được hoạt độngcủa nó, chúng ta phải hiểu động cơ mà thúc đẩy hành động của Fed Làm thế nàomiễn là Fed không bị áp lực của tổng thống và quốc hội? Đừng quan tâm kinh tế,hành chính, chính trị hay hướng dẫn nó? Là Fed thực sự độc lập của các áp lực bênngoài?

Stanley Fischer, là một giáo sư tại MIT và bây giờ là thống đốc Ngân hàng Israel, đã

xác định hai loại khác nhau của nền độc lập của ngân hàng trung ương: công cụ độc lập, khả năng của các ngân hàng trung ương để thiết lập công cụ chính sách tiền tệ,

và mục tiêu độc lập, các khả năng của ngân hàng trung ương để thiết lập các mục

tiêu của chính sách tiền tệ Cục Dự trữ Liên bang có cả hai loại độc lập và là đáng

kể do những áp lực chính trị có ảnh hưởng đến các cơ quan khác của chính phủ.Không chỉ có các thành viên của Hội đồng Thống đốc bổ nhiệm có thời hạn 14 năm(và do đó không thể bị đẩy ra khỏi văn phòng), nhưng cũng hạn về mặt kỹ thuậtkhông thể tái bổ nhiệm, loại bỏ một số ưu đãi cho các thống đốc để thiên vị (bợđỡ)mang lại lợi với tổng thống và Quốc hội

Trang 9

Có lẽ thậm chí còn quan trọng hơn để giành được độc lập từ ý tưởng bất chợt củaQuốc hội là các Fed nguồn độc lập và đáng kể của doanh thu từ cổ phần của mìnhtrong chứng khoán, và ở một mức độ thấp hơn, từ các khoản vay cho các ngân hàng.Trong những năm gần đây, ví dụ, Fed đã có thu nhập ròng sau khi chi phí khoảng 40

tỉ USD mỗi năm không phải là một sống tồi tệ nếu bạn có thể đạt được nó! Bởi vì

nó sẽ thu hồi về số lượng lớn của các khoản thu nhập cho Kho bạc, nó không cóđược nhiều hơn từ các hoạt động của mình, nhưng thu nhập này cho phép Fed mộtlợi thế quan trọng trong các cơ quan chính phủ khác: Nó không phải là đối tượngcủa quá trình được dành riêng thường được kiểm soát bởi Quốc hội Thật vậy, cácVăn phòng Kế toán tổng hợp, các cơ quan kiểm toán của chính phủ liên bang, khôngthể kiểm tra các chính sách tiền tệ hoặc các chức năng của thị trường ngoại hối củaCục Dự trữ Liên bang Bởi vì sức mạnh để kiểm soát thắt chặt là thường đồng nghĩavới sức mạnh kiểm soát tổng thể, tính năng này của hệ thống dự trữ liên bang đónggóp cho sự độc lập của mình hơn bất kỳ yếu tố nào khác

Tuy nhiên, Fed vẫn chịu ảnh hưởng của Quốc hội, bởi vì luật đã được cấu trúc nóđược viết bởi Quốc hội và có thể thay đổi bất cứ lúc nào Khi các nhà lập pháp đang

lo lắng với thực hiện chính sách tiền tệ cuae Fed, họ thường xuyên đe dọa kiểm soátcủa tài chính của Fed và buộc nó để gửi nhu cầu ngân sách như các cơ quan kháccủa chính phủ Một ví dụ gần đây là cuộc gọi của Thượng nghị sĩ Reid Dorgan và

năm 1996 cho Quốc hội có thẩm quyền ngân sách đối với hoạt động phi tiền tệ của

Cục Dự trữ Liên bang Đây là một tổ chức mạnh mẽ để vận dụng, và nó chắc chắn

có một số tác dụng trong việc giữ Fed trong tầm kiểm soát như mong muốn củaQuốc hội

Quốc hội cũng đã thông qua luật để thực hiện dự trữ liên bang có trách nhiệm hơnđối với hành động của mình Theo Đạo luật Humphrey-Hawkins năm 1978, Cục Dựtrữ Liên bang phải phát hành một báo cáo chính sách tiền tệ cho Quốc hội sáu thángmột lần, có kèm theo các chứng do Chủ tịch Hội đồng Thống đốc, để giải thích cáchđiều hành chính sách tiền tệ phù hợp với các mục tiêu được đưa ra bởi Luật Dự trữLiên bang

Tổng thống cũng có thể ảnh hưởng đến dự trữ liên bang Bởi vì pháp luật của Quốchội có thể ảnh hưởng đến Fed trực tiếp hoặc ảnh hưởng đến khả năng của mình đểthực hiện chính sách tiền tệ, tổng thống có thể là một đồng minh mạnh mẽ thông quaảnh hưởng của mình vào Quốc hội Thứ hai, mặc dù bề ngoài là một tổng thống cóthể có thể chỉ định chỉ có một hoặc hai thành viên trong Hội đồng Thống đốc trongmỗi nhiệm kỳ tổng thống, trong thực tế các Tổng thống bổ nhiệm các thành viênthường xuyên hơn Một lý do là hầu hết các thống đốc không phục vụ ra một hạn 14

Trang 10

năm đầy đủ (Thống đốc lương thấp hơn đáng kể những gì họ có thể kiếm đượctrong khu vực tư nhân hoặc thậm chí tại các trường đại học, do đó thêm một độnglực để họ trở lại học viện hoặc làm khu vực tư nhân trước khi nhiệm kỳ của họ hếthạn.) Ngoài ra, tổng thống là có thể chỉ định một chủ tịch mới của Hội đồng Thốngđốc mỗi bốn năm, và một chủ tịch người không được bổ nhiệm lại dự kiến sẽ từchức khỏi hội đồng quản trị để một thành viên mới có thể được bổ nhiệm lại.

Fed có nên độc lập?

Như chúng ta đã thấy, Cục Dự trữ Liên bang có lẽ là cơ quan chính phủ độc lập nhấttại Hoa Kỳ Cứ vài năm, câu hỏi đặt ra trong Quốc hội liệu độc lập cho Fed cầnđược cắt giảm Các chính trị gia người mạnh mẽ phản đối một chính sách Fedthường muốn mang nó dưới sự giám sát của mình để áp đặt một chính sách theo ý

họ Nên FED được độc lập, hoặc chúng tôi sẽ được tốt hơn với một ngân hàng trungương dưới sự kiểm soát của tổng thống hay Quốc hội?

Trường hợp đồng ý với NHTW Độc lập

Các luận cứ mạnh nhất cho một dự trữ liên bang độc lập dựa trên quan điểm rằngphải chịu Fed nhiều áp lực chính trị sẽ truyền đạt một thiên vị lạm phát cho chínhsách tiền tệ Theo quan điểm của nhiều nhà quan sát, chính trị gia trong một xã hộidân chủ là thiển cận, vì họ được thúc đẩy bởi sự cần thiết để giành chiến thắng cuộcbầu cử tiếp theo của họ Với điều này là mục tiêu chính, họ không có khả năng tậptrung vào các mục tiêu dài hạn, chẳng hạn như việc thúc đẩy một mức giá ổn định.Thay vào đó, họ sẽ tìm kiếm các giải pháp ngắn hạn cho các vấn đề, chẳng hạn như

tỷ lệ thất nghiệp cao và lãi suất cao, thậm chí nếu các giải pháp ngắn hạn có hậu quảlâu dài không mong muốn Ví dụ, chúng ta đã thấy trong Chương 5 là tăng cung tiềncao có thể dẫn ban đầu để giảm lãi suất, nhưng có thể gây ra sự gia tăng sau khi lạmphát nóng lên Một dự trữ liên bang dưới sự kiểm soát của Quốc hội hoặc Chủ tịch

sẽ có nhiều khả năng để theo đuổi một chính sách tăng trưởng cung tiền quá mứckhi lãi suất cao, mặc dù nó cuối cùng sẽ dẫn đến lạm phát và lãi suất cao hơn trongtương lai? Những người ủng hộ của một dự trữ liên bang độc lập nói có Họ tin rằngFed cách nhiệt chính trị có nhiều khả năng được quan tâm với mục tiêu dài hạn và

do đó là một lá chắn của đồng đô la và một mức giá ổn định

Một biến thể của đối số trước là quá trình chính trị ở Mỹ có thể dẫn tới một chu kỳkinh tế chính trị, trong đó ngay trước khi cuộc bầu cử, chính sách mở rộng đangtheo đuổi để tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất thấp hơn Sau cuộc bầu cử, các tác độngxấu của các chính sách cao lạm phát và lãi suất cao giá ai đến nhà để ngủ, đòi hỏiphải có chính sách thu hẹp các chính trị gia hy vọng công chúng sẽ quên trước khi

Trang 11

cuộc bầu cử tiếp theo Có một số bằng chứng cho thấy một chu kỳ kinh tế chính trịnhư vậy tồn tại ở Hoa Kỳ, và một dự trữ liên bang dưới sự kiểm soát của Quốc hộihoặc Chủ tịch có thể làm cho chu kỳ thậm chí còn rõ hơn.

Đặt ngân hàng trung ương dưới sự điều khiển của bộ tài chính hay đại lý tài chínhcủa chính phủ (nhiều vấn đề sẽ bị ảnh hưởng bởi Tổng thống) cũng được xem là khánguy hiểm bởi vì ngân hàng trung ương có thể được sử dụng để bù đắp tài chính củathâm hụt ngân sách lớn bằng cách mua lại chứng khoán chính phủ Áp lực của chínhphủ trong vấn đề yêu cầu một sự giúp đỡ đến từ Ngân hàng trung ương có thể dẫnđến lạm phát tăng cao trong nền kinh tế Một sự độc lập của ngân hàng trung ương

sẽ ngăn ngừa áp lực đến từ chính phủ một cách tốt hơn

Một sự tranh cãi khác của việc ngân hàng trung ương độc lập là việc điều hànhchính sách tiền tệ quá trọng yếu để có thể phó mặc cho các chính trị gia, một nhómngười đã giải thích rằng việc thiếu chuyên môn trong việc đưa ra quyết định là mộtvấn đề quan trọng của nền kinh tế, điển hình là việc giảm thâm hụt ngân sách và sắpxếp lại hệ thống ngân hàng Một cách khác để nói rõ lập luận này là trong nhiệm kỳcủa vấn đề ông chủ và người đại diện thảo luận trong chương 8,9,12, cả ngân hàngtrung ương và nhà chính trị đều có động cơ để hành động vì lợi ích của chính họ chứkhông phải vì lợi ích của công chúng Quan điểm ủng hộ ngân hàng trung ương độclập cho rằng vấn đề ông chủ và người đại diện tồi tệ hơn đối với các chính trị gia vì

họ có ít động cơ để hành động vì lợi ích công cộng hơn

Phân tích sâu hơn, một số nhà chính trị có thể thích có một ngân hàng trung ươngđộc lập vì họ có thể đổ lỗi một cách chính đáng Nó có thể là một chính trị gia có tưtưởng phản đối một chính sách tiền tệ lạm phát sẽ bị buộc phải hỗ trợ như một chínhsách công khai vì sợ không được tái đắc cử Fed độc lập kéo theo những chính sáchkhông được ưa chuộng về mặt chính trị trong lợi ích công cộng

Các trường hợp chống lại Ngân hàng TW độc lập

Những người đề xướng có một Ngân hàng trung ương đặt dưới sự điều hành củatổng thống hoặc chính phủ tranh luận rằng sẽ không dân chủ nếu có một chính sáchtiền tệ (ảnh hưởng đến hầu hết mọi người trong nền kinh tế) được điều khiển bởimột nhóm người giàu có và có quyền lực trong xã hội mà không phải chịu tráchnhiệm trước ai Sự thiếu trách nhiệm của ngân hàng trung ương cũng gây nên mộthậu quả nghiêm trọng: nếu ngân hàng trung ương hoạt động kém hiệu quả sẽ không

có một sự thay thế thành viên (giống như các chính trị gia)

Trang 12

Công chúng kiểm soát tổng thống, nội các và quốc hội- những người chịu tráchnhiệm về kinh tế thịnh vượng của đất nước, nhưng họ thiếu kiểm soát các cơ quanchính phủ mà những cơ quan này cũng là yếu tố quan trọng nhất trong việc xác địnhtình trạng của nền kinh tế Thêm nữa, để đạt được một chương trình gắn kết thúcđẩy sự ổn định kinh tế, chính sách tiền tệ phải được phối hợp với các chính sách tàikhóa Chỉ bằng cách đặt tiền tệ dưới sự kiểm soát của các chính trị gia-những ngườicũng kiểm soát chính sách tài khóa- là hai chính sách này có thể được ngăn chặn sựbất hòa trầm trọng của hai chính sách này.

Một lập luận chống lại sự độc lập của ngân hàng trung ương là một ngân hàng trungương độc lập không phải lúc nào cũng sử dụng quyền tự quyết của mình thànhcông Trích dẫn một ví dụ, FED đã thất bại trong vai trò đề ra là người cho vay cuốicùng trong cuộc Đại suy thoái, và sự độc lập của nó chắc chắn đã không ngăn được

nó theo đuổi một chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức trong những năm 1960 và

1970 và góp phần vào lạm phát nhanh chóng trong khoảng thời gian này

Thảo luận trước đó của chúng tôi cũng cho thấy cục dự trữ liên bang cũng khôngtránh khỏi những áp lực chính trị Sự độc lập của nó có thể khuyến khích nó để theođuổi một tiến trình tư lợi hơn là lợi ích công cộng

Không có sự đồng nhất đạt được về việc liệu ngân hàng trung ương độc lập là mộtđiều tốt, mặc dù vậy sự hỗ trợ công cộng cho sự độc lập của ngân hàng trung ươngdường như đã được phát triển ở cả Hoa Kỳ và ở nước ngoài Như bạn có thể mongđợi, nhiều người thích chính sách của ngân hàng trung ương có nhiều khả năng ủng

hộ sự độc lập của NHTW, trong khi những người không thích chính sách củaNHTW ủng hộ cho một ngân hàng trung ương ít độc lập

Độc lập của ngân hàng trung ương và kinh tế vĩ mô trên khắp thế giới

Chúng ta đã thấy rằng những người ủng hộ của một ngân hàng trung ương độc lậptin rằng hiệu suất kinh tế vĩ mô sẽ được cải thiện bằng cách làm cho các ngân hàngtrung ương độc lập hơn Bằng chứng thực nghiệm dường như ủng hộ giả thuyết này:khi các ngân hàng trung ương được xếp hạng từ ít độc lập nhất đến độc lập nhất,tình trạng lạm phát được tìm thấy là tốt nhất cho các nước với các ngân hàng trungương độc lập nhất Mặc dù một ngân hàng trung ương độc lập nhiều hơn xuất hiệndẫn dắt một tỷ lệ lạm phát thấp hơn, điều này là không đạt được với chi phí của nềnkinh tế thực sự nghèo Quốc gia với ngân hàng trung ương độc lập không có nhiềukhả năng có thất nghiệp cao hoặc sự dao động về sản lượng lớn hơn so với các nướcvới các ngân hàng trung ương độc lập ít

Trang 13

Trong vài năm qua duy trì mức lạm phát thấp đã trở thành một mục tiêu xã hội quantrọng Trong thực tế, kể từ những năm 1990, ngân hàng của israel đã được cấp độclập hơn để nhắm đến mục tiêu lạm phát, nơi mà chỉ số CPI được phép tăng chỉ trongvòng khoảng 1% và 3% mỗi năm Lạm phát đã trở thành một vấn đề đáng kinh ngạc

từ giữa những năm 1980 cho israel, mà bị chu kỳ lạm phát phi thường trong nhữngnăm 1980, buộc phải chấp nhận sự mới mới sheqel để thay thế sheqel theo tỷ lệ 1:

1000 Mức độ cao của tính độc lập của các ngân hàng của israel cấp các thống đốc

là trách nhiệm duy nhất của việc quản lý lãi suất sau khi tham vấn với các giám đốc

và các nhà kinh tế của ngân hàng Mức độ độc lập mong muốn là gì? chúng ta phảinhớ rằng không phải chỉ là mục tiêu kinh tế vĩ mô Cuộc khủng hoảng tài chính toàncầu hiện nay đã tiết lộ rằng chính sách tiền tệ có thể có tác động tàn phá đối với biến

số kinh tế khác Trong khi số lượng các quốc gia cấp cho các ngân hàng trung ươngđộc lập ngày càng gia tăng với hy vọng duy trì lạm phát thấp và ổn định, luôn luôn

có những nguy hiểm mà ngân hàng trung ương độc lập sẽ không chịu trách nhiệm

Do đó, ủy quyền thực hiện các chính sách ảnh hưởng sâu rộng đến một tổ chức độclập đòi hỏi phải đảm bảo trách nhiệm giải trình của nó Vì lý do này, nhiều nhàhoạch định chính sách đã kêu gọi cải cách bằng cách cấp cho các ngân hàng trungương công cụ độc lập, trong khi vẫn giữ quyền của chính phủ trong việc thiết lậpmục tiêu chính sách Chỉ bằng cách làm cho các ngân hàng trung ương có tráchnhiệm với quốc hội, chúng ta sẽ có thể theo dõi hiệu quả của họ trong việc đạt đượccác mục tiêu chính sách

4.Giải thích hành vi của NHTW

Một quan điểm về hành vi quan liêu của chính phủ là quan liêu phục vụ lợi íchcông cộng Nhưng một số nhà kinh tế đã phát triển một lý thuyết về hành vi quanliêu mà nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng như thế nào hoạt động quan

liêu Lý thuyết về hành vi quan liêu (bureaucratic) đưa ra rằng mục tiêu của quan liêu là tối đa hóa phúc lợi (welfare) của họ, cũng như hành vi của người tiêu dùng được thúc đẩy bởi tối đa hóa phúc lợi cá nhân, và hành vi của một doanh nghiệp được thúc đẩy bởi tối đa hóa lợi nhuận, phúc lợi của bọn quan liêu liên quan đến

quyền lực và uy thế Chính vì vậy lý thuyết này cho rằng nhân tố quan trọng ảnhhưởng đến hành vi của ngân hàng trung ương (NHTW) đó là sự cố gắng của nótrong việc gia tăng quyền lực và uy thế Điều gì dự báo được viễn cảnh của mộtNHTW? Một là NHTW sẽ đánh mạnh để bảo vệ quyền tự trị, mặt khác có một sự

dự đoán cho rằng một NHTW sẽ cố gắng tránh xung đột giữa các nhóm quyền lực

mà có thể sẽ đe dọa đến việc tước đi quyền lực của họ và làm giảm đi quyền tự trịcủa họ Hành vi này có thể thuộc một vài dạng

Trang 14

Sự mong muốn của các NHTW là nắm giữ nhiều quyền lực nhất có thể cũng nhưgiải thích tại sao họ cố gắng hết sức để dành quyền kiểm soát nhiều ngân hàng hơn.

Chúng ta phải nhận ra rằng quan điểm của một NHTW chỉ được kết nối với tính

tư lợi của họ là quá mạnh Tối đa hóa lợi ích của họ không phải là điều ngoại lệ

(altruism-chủ nghĩa vị tha) (bạn phải cho đi một cách hào phóng rộng lượng

giống như lòng từ thiện bởi vì nó làm bạn cảm thấy tốt hơn) NHTW chắc chắnliên quan đến việc họ kiểm soát chính sách tiền tệ trong mức lãi suất công khai.Tuy nhiên, tồn tại nhiều điều không chắc chắn và bất đồng liên quan đến chínhsách tiền tệ sẽ như thế nào Khi mà điều gì trong lãi suất công khai không được rõràng, nhiều lý do khác có thể ảnh hưởng đến hành vi của NHTW Trong nhữngtrường hợp như vậy, lý thuyết hành vi quan liêu có thể là một chỉ dẫn có ích để tiênđoán được động cơ của Fed và các NHTW

5.CẤU TRÚC VÀ SỰ ĐỘC LẬP CỦA CÁC NHTW CHÂU ÂU

Cho tới bây giờ, cục dự trữ liên bang (FED) không có đối thủ về tầm quan trọngtrong NHTW thế giới Tuy nhiên, tình hình đã thay đổi vào tháng 1/1999 với sự rađời của NHTW Châu Âu (ECB) và hệ thống NHTW ở Châu Âu (ESCB), nơi quản

lý chính sách tiền tệ của các nước thành viên Khối Tiền Tệ Châu Âu, những quốcgia này, liên kết với nhau, có mức dân số vượt mức Hoa Kỳ và GDP có thể so sánhđược với Hoa Kỳ Hiệp ước Maastricht được thành lập giữa ECB và ESCB, làkhuôn mẫu cho sự ra đời của Deutsche Bundesbank, NHTW Đức, mỗi NHTW củamỗi quốc gia ( đề cập đến NHTW quốc gia, hoặc NCBs) có vai trò tương tự nhưLander Banks (cho một cái nhìn tổng thể làm thế nào mà Lander Banks vận hành,

có thể thấy phần này về Bundesbank) Sự quyết định trong hệ thống Châu Âu chịu

sự kiểm soát tập trung của ECB, nhưng thực hiện theo NCBs trong cách không tậptrung hóa

Bây giờ chúng ta làm quen với bản thân mình với sự thành lập của Liên minh Châu

Âu ESCB hoàn thiện ECB và NHTW quốc gia, của 27 nước thành viên Châu Âu

về việc có hay không họ sử dụng đồng EURO là đồng tiền quốc gia họ, mặt khác,

hệ thống Châu Âu, gồm có ECB và NCBs của 17 nước chấp nhận đồng EURO;Estonia là thành viên cuối cùng gia nhập liên minh tiền tệ Châu Âu vào 1/2011.Như khu vực Châu Âu, nó đề cập đến chỉ những quốc gia Châu Âu sử dụng đồngEURO như đơn vị tiền tệ của họ ECB sở hữu 17 NCBs và nó thành lập như mộtkhối hệ thống ngân hàng trung ương Châu Âu (ESCB) và EUROsystem Trong khiECB mang tính hợp pháp cá nhân dưới hệ thống luật quốc gia chung thì ESCB lạikhông như vậy Nó dự kiến rằng hệ thống Châu Âu và ESCB cùng tồn tại như làcác quốc gia thành viên Châu Âu ngoài khu vực Châu Âu Khi tất cả 27 thành viên

Trang 15

của ESCB chấp nhận đồng euro, cả những nước mới thành lập sẽ đươc sáp nhập.Hình 2 cho thấy quốc gia thành viên của ECB và ESCB.

Quy trình ra quyết định tại EMU được chia làm 3 cấp: Hội đồng quản trị, Ban giámđôc, Ban tham vấn Hội đồng quản trị là người ra quyết định thực tê Ban giám đốc

là người chịu trách nhiệm thi hành các quyết đinh của Hội đồng quản tri Trong khiBan phổ biến đảm nhận vai trò thứ yếu hơn như một bộ phận tham vấn

Hội đồng quản trị, Ban giám đôc, Ban tham vấn

Hội đồng quản trị, bộ phận làm quyết định tối cao của ECB, bao gồm 6 thành viêncủa Ban giám đốc, thêm những thống đốc của NCBs của 17 quốc gia khu vựcChâu Âu Trách nhiệm chính của Hội đồng quản trị là đưa ra chính sách tiền tệ chokhu vực Châu Âu Quyết định chính sách tiền tệ của Hội đồng quản trị liên quanđến việc đáp ứng mục tiêu tiền tệ chung của khu vực Châu Âu, sự cho phép củaNCBs để được phát hành tiền, sự thay đổi trong lãi suất, sự giám sát quản lý chính

dự trữ ngoại tệ, đưa ra đường lối để NCBs thi hành những quyết định này Hộiđồng quản trị thường triệu tập cơ bản là 2 tuần một lần tại Eurotower ở Frankurt,Đức Vào cuộc gặp đầu tiên của tháng, thành viên hội đồng quản trị đánh giá tìnhhình kinh tế và tiền tệ, sự phát triển của EMU để có quyết định về chính sách tiền

tệ trong tháng Trong cuộc gặp lần thứ hai, thảo luận vấn đề liên quan đến các tráchnhiệm của ECB và tiến trình thi hành chi tiết của mỗi quốc gia NCBs

Hội đồng quản trị đã quyết định rằng mặc dù các thành viên của nó có quyền biểuquyết, không biểu quyết thì sẽ được bỏ qua, thay vào đó, hội đồng thông qua bởi sựnhất trí Một lý do mà hội đồng quản trị đã quyết định không cần biểu quyết bởi vì

lo lắng việc đưa ra ý kiến mang tính cá nhân có thể dẫn tới người cầm quyền củacác NCBs để hỗ trợ cho chính sách tiền tệ sẽ chỉ phù hợp với riêng quốc gia của họnhưng không phù hợp cho khối liên minh tiền tệ Châu Âu

Cục dữ trữ liên bang đưa ra quyết định của FOMC về việc thiết lập chính sách tỷ lệlãi suất, lập tức sau đó cuộc họp kết thúc ECB đã tiến hành giống vậy sau đó hộiđồng quản kết luận (thông báo mục tiêu cho tỉ lệ lãi suất ngắn hạn cho nhữngkhoản nợ xấu ngân hàng) Tuy nhiên, trong khi Fed đưa ra tuyên bố về việc thànhlập các công cụ chính sách tiền tệ, thì ECB đi xa hơn bởi những cuộc họp khẩn cấp

mà trong đó chủ tịch và phó chủ tịch nhận những câu hỏi từ giới truyền thông tintức Tiến hành một cuộc họp khẩn cấp cho thấy cuộc họp khá tế nhị, nó đòi hỏi chủtịch và phó chủ tịch phải giải quyết một cách nhanh chóng các vấn đề đặt ra Chủtịch đầu tiên của ECB Willam F Duisenberg, đã rơi vào tình huống khó xử trongcuộc họp khẩn và ECB đã phải hứng chịu những lời phê bình gay gắt Người kế

Trang 16

thừa anh ấy, Jean-Claude Trichet phải chịu sự chỉ trích cay nghiệt bởi việc nhấnmạnh mục tiêu ổn định giá cả trên tăng trưởng và ổn định Anh ấy đã kế tục MarioDraght, thống đốc trước đây của Ngân hàng Italia Trong những lý do cho việc lựachọn Draghi là vì kiến thức của ông về những bí mật của ngân hàng đầu tư trongnhiệm kỳ của ông là giám đốc điều hành của Goldman Sachs, đó là thuận lợi choông để có khả năngg điều khiển và giám sát các ngân hàng châu Âu thận trọnghơn

Ban điều hành bao gồm chủ tịch, phó chủ tịch và bốn thành viên khác, nhữngngười được chỉ định bởi thỏa thuận chung của chính phủ các nước khu vực Euro.Nhiệm vụ chính của nó là để bảo đảm thực hiện đầy đủ hằng ngày chính sách tiền

tệ thông qua việc hướng dẫn chi tiết cho tất cả các NCBs theo hướng dẫn của Hộiđồng Hơn nữa, ban chấp hành có trách nhiệm quản lý công việc kinh doanh hàngngày của ECB

Cuối cùng, Đại hội đồng bao gồm chủ tịch và phó chủ tịch của ECB, các đại diệncủa 17 nước khu vực Euro và 11 nước thành viên không thuộc khu vực châu Âu

EU Chủ tịch Hội đồng EU và một thành viên của Ủy ban châu Âu có thể tham dựcác cuộc họp của Hội đồng, nhưng họ không có quyền biểu quyết Đại Hội đồng là

cơ quan chuyển tiếp sẽ được xóa bỏ một khi tất cả các nước thành viên EU sủ dụngđồng tiền chung Nó thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho ECB, thu thập thông tin thống

kê và chuẩn hóa các hoạt động kế toán của NCBs

Với nhiều quốc gia lựa chọn để tham gia liên minh tiền tệ châu Âu trở nên khókhăn hơn để đạt được một sự đồng thuận Để đối phó với các vấn đề tiềm năngnày, hội đồng quản trị đã quyết định chọn một hệ thống phức tạp của các vòngxoay, phần nào như thế cho FOMC, trong đó các ngân hàng Trung uong quốc gia

từ các nước lớn sẽ bỏ phiếu thường xuyên hơn so với ngân hàng trung ương quốcgia từ các nước nhỏ hơn Hơn nữa, một khi các quốc gia thành viên của khu vựcđồng euro có thể đạt 18, hai phần ba số đông sẽ tuân theo thay vì sự đồng thuậnhiện hành

Làm thế nào để các ngân hàng trung ương quốc gia hoạt động trong các EUROSYSTEM?

NCBs đóng một vai trò thiết yếu trong ESCB và thực hiện quyền hạn được giaobởi Hội đồng quản trị Nhưng câu hỏi đó ngay lập tức xuất hiện là làm thế nào đểmỗi một ngân hàng trung ương quốc gia hành động phù hợp với hướng dẫn ECB?

Ngày đăng: 04/04/2016, 12:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w