1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập lớn: NGHIÊN CỨU SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI

48 2,9K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 4,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦU………………………………………………………..3 Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN……………………………………………………………….4 1. Khái niệm và chức năng………………………………………...4 2. Lịch sử phát triển của TTCK trên thế giới………………………5 3. Hình thức sở hữu………………………………………………..6 Chương 2: SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI……………7 1. Cở sở pháp lý hình thành và phát triển………………………….7 2. Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và chức năng………………………..13 3. Điều kiện niêm yết và phương thức giao dịch………………….15 4. Các điều kiện trở thành thành viên……………………………...22 5. Quy mô và sự phát triển nghiệp vụ của sở giao dịch…………...39 6. So sánh SGDHN và SGD thành phố HCM……………………..40 Chương 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP…………………….47

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU……… 3

Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN……….4

1 Khái niệm và chức năng……… 4

2 Lịch sử phát triển của TTCK trên thế giới………5

3 Hình thức sở hữu……… 6

Chương 2: SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI………7

1 Cở sở pháp lý hình thành và phát triển……….7

2 Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và chức năng……… 13

3 Điều kiện niêm yết và phương thức giao dịch……….15

4 Các điều kiện trở thành thành viên……… 22

5 Quy mô và sự phát triển nghiệp vụ của sở giao dịch………… 39

6 So sánh SGDHN và SGD thành phố HCM……… 40

Chương 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP……….47

Lời mở đầu

Trang 3

Thị trường chứng khoán ra đời đáp ứng nhu cầu về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế Mặc dù ra đời muộn hơn so với nhiều thị trường khác nhưng thị trường chứng khoán đã nhanh chóng phát triển về quy mô, hàng hóa giao dịch,cơ sở vật chất….và khẳng định là một thị trường không thể thiếu được ở bất cứ quốc gia nào vận hành theo cơ chế thị trường, đặc biệt là các nước phát triển trên thế giới.

Nghiên cứu thị trường chứng khoán đã trở thành một nhu cầu tất yếu đối với nhiều cá nhân và tổ chức hiện nay Vì vậy mà bài tập lớn môn thị trường

chứng khoán sẽ giúp cho sinh viên học hỏi được những kiến thức cơ bản của môn này đồng thời hiểu rõ hơn về sở giao dịch chứng khoán Hà Nội ở nước ta

để từ đó đưa ra những nhận xét, ý kiến của bản thân mình Cở sở pháp lý hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức nhiệm vụ, chức năng,điều kiện niêm yết, thời gian giao dịch, quy mô và thành viên của SGDCK Hà Nội là những kiến thức mà bài tập lớn môn thị trường chứng khoán muốn sinh viên tìm hiểu Không những thế bài tập lớn cũng phát triển năng lực tư duy, khả năng độc lập và sáng tạo của mỗi sinh viên và cũng giúp cho sinh viên củng cố, khắc sâu, mở rộng, hệ thống hóa, tổng hợp các kiến thức đã học.Hơn nữa biết vận dụng những kiến thức đã học để đề xuất, đưa ra những giải pháp về những vấn đề còn bất cập của sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Tăng tính tự học, tự nghiên cứu của sinh viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

NỘI DUNG BÀI TẬP LỚN

Trang 4

Chương I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SGDCK 1.Khái niệm và chức năng

a.Khái niệm

Sở giao dịch chứng khoán là thị trường giao dịch chứng khoán được thựchiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch hoặc thông qua hệ thống máy tính Các chứng khoán được niêm yết tại sở giao dịch chứng khoánthông thường là chứng khoán của các công ty lớn,có danh tiếng và đã trải qua thử thách trên thị trường và đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết Các loại

chứngkhoán này được giao dịch theo những quy định nhất định về phương thức giaodịch, thời gian và địa điểm cụ thể

* Đặc điểm

- Là nơi gặp gỡ của các nhà môi giới chứng khoán

- Không có hàng hóa và không có người mua bán cuối cùng chỉ có những nhà môi giới

- Là một địa điểm lý tưởng cho những cuộc giao lưu vốn của xã hội

b Chức năng

-Cung cấp, đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc giao dịch chứng khoán (địa điểm và hệ thống giao dịch) Đảm bảo việc giao dịch chứng khoán được diễn ra thông suốt, đúng pháp luật và công khai kể cả giá cả

-Tổ chức niêm yết và giám sát các chứng khoán niêm yết, các tổ chức niêm yết

-Tổ chức và giám sát chặt chẽ quá trình giao dịch chứng khoán

-Giám sát chặt chẽ những người tham dự vào quá trình giao dịch

2.Lịch sử phát triển của TTCK trên thế giới

Trang 5

Thị trường chứng khoán không phải ngay từ đầu đã có những giao dịch toàn cầu phức tạp như hiện nay

Cho đến năm 1531 định chế đầu tiên hao hao như một sở giao dịch mới ra đời tại Antwerp, Bỉ Tuy vậy, ở thị trường chứng khoán đầu tiên này không hề

có cổ phiếu

Thay vì mua bán cổ phiếu công ty(những thứ khi ấy còn chưa tồn tại),

người môi giới và cho vay tập trung lại đây để giao dịch các món nợ của công

ty, chính phủ thậm chí cả cá nhân

Mọi chuyện thay đổi vào những năm 1600, khi cả Anh, Pháp, Hà Lan đều

cử hạm đội đến Đông Ấn Do ít nhà thám hiểm trang trải đủ cho một chuyến hải thương, các công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập để huy động tiền

từ nhà đầu tư, những người này sẽ được chia lợi nhuận đoàn tương ứng với phần vốn góp Hình thức tổ chức kinh doanh này cũng đòi hỏi phải quản lý được rủi ro

Theo báo Imperial Gazetteer của Ấn Độ, các chuyến hải hành đầu tiên của Anh đến Ấn Độ Dương không thành công, tàu đắm coàn tài sản cá nhân của những người đi huy động vốn bị chủ nợ tịch thu

Điều đó khiến một nhóm thương nhân London lập nên một công ty vào tháng 9/1599, giới hạn trách nhiệm của mỗi thành viên theo số tiền họ đầu tư Nếu chuyến hải hành thất bại, luật pháp chỉ có thể tịch biên số tiền trên

Nữ hoàng Anh cho phép nhóm thương nhân này hoạt động trong vòng 15 năm và đặt tên cho công ty là” Thống đốc và nhóm thương nhân London giao thương với Đông Ấn”

Hình thức TNHH đã phát huy tác dụng tốt, cho đến năm 1609, vua James I

đã cho phép nhiều công ty thương hiệp nữa hoạt động và thúc đẩy giao

thương tại các quốc gia Châu Âu có bờ biển khác

Trang 6

Công ty Đông Ấn Hà Lan là công ty đầu tiên cho phép người nước ngoài mua cổ phiếu ghi danh theo một tỷ lệ nhất định Họ cũng là công ty đầu tiên phát hành cổ phiếu và trái phiếu ra công chúng qua SGDCK Amsterdam năm 1602.

Sở giao dịch chứng khoán London

Sự phát triển nhanh chóng của các công ty phát hành cổ phiếu dẫn tới sự

ra đời của SGDCK London Đầu tiên cổ phiếu không được giao dịch tại một tòa nhà nào cả thay vào đó cả bên môi giứoi lẫn nhà đầu tư gặp nhau ở các quán cà phê khắp London Khi ấy, nếu một công ty muốn bán cổ phiếu hay phát hành nợ họ dán thông báo trên cửa các quán cà phê hay gửi thư tới nhà tài trợ Đặc biệt, quán cà phê của Jonathan tại Change Alley nổi lên như một

tụ điểm giao dịch chứng khoán ở London

Sở giao dịch chứng khoán New York

Năm 1973, Ủy ban Chứng khoán và giao dịch New York mở cửa tại phố Walls Dù không phải là SGD đầu tiên tại Mỹ, NYSE nhanh chóng trở thành trung tâm tài chính của đất nước non trẻ Khối lượng giao dịch chứng khoán tăng 6 lần trong giai đoạn1896-1901 Sự thành công này phân lớn là nhờ địa điểm của SGD TP.New York, trung tâm của gần như mọi giao dịch và buôn bán của Mỹ tại thời điểm đó NYSE cũng là SGD đầu tiên có điều kiện niêm yết và phí, giúp đem lại khoản thu nhập lớn cho SGD trong 200 năm SGDCK New York luôn giữ vị trí số một

3.Hình thức sở hữu

Hình thức sở hữu Nhà nước

Mô hình này chính phủ đứng ra thành lập, quản lý và sở hữu toàn bộ hay một phần vốn của SGDCK Hình thức này phù hợp trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển ở những nước đang phát triển Mặt khác, đây là mô hình tổ

Trang 7

Nhưng hình thức này cũng bộc lộ những hạn chế như: thiếu tính độc lập,năng động, chi phí cao, kém hiệu quả.

Hình thức công ty cổ phần:

SGDCK được tổ chức dưới hình thức một công ty cổ phần đặc biệt do các công ty chứng khoán thành viên, ngân hàng, công ty tài chính, bảo hiểm tham gia sở hữu với tư cách là cổ đông, tổ chức, hoạt động của SGDCK theo luật công ty và hoạt động hướng tới mục tiêu lợi nhuận Mô hình này được áp dụng ở Đức, Anh, Hồng Kông

Chương II: SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI

I.Cở sở pháp lý hình thành và phát triển

a Cơ sở pháp lý

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (Sở GDCK Hà Nội) được thành lập theo Quyết định số 01/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sởchuyển đổi, tổ chức lại Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội (thành lập theo Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg và khai trương hoạt động vào ngày

08/03/2005) Ngày 24/06/2009, Sở GDCK Hà Nội chính thức ra mắt, hoạt động với mô hình Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước (đại diện là

Bộ Tài chính) làm chủ sở hữu

Trang 8

Với chức năng là đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức quản lý và điều hành thị trường giao dịch chứng khoán, Sở GDCK Hà Nội đã tổ chức hoạt động đấu giá cổ phần, tổ chức đấu thầu trái phiếu Chính phủ, huy động vốn cho ngân sách Nhà nước và vận hành 03 thị trường giao dịch thứ cấp trên một nền công nghệ: thị trường cổ phiếu niêm yết, thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP) chuyên biệt và thị trường giao dịch cổ phiếu của công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM).

- Tên gọi đầy đủ: Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

- Tên giao dịch quốc tế: Hanoi Stock Exchange

- Tên viết tắt: HNX

- Vốn điều lệ: 1000 tỷ đồng

b Sự phát triển của Sở GDCK Hà Nội

08/03/2005: Trung tâm GDCK Hà Nội (Tiền thân của Sở GDCK Hà

Nội) chính thức khai trương và đi vào hoạt động với việc tổ chức đấu giá cổ phần hóa DNNN đầu tiên Nhà máy Thiết bị Bưu điện (Postef),

mở màn cho chương trình đấu giá CPH DNNN qua các SGDCK

14/07/2005:Khai trương, vận hành hệ thống giao dịch chứng khoán

thứ cấp với 6 công ty niêm yết đầu tiên Phương thức giao dịch ban đầu áp dụng duy nhất là giao dịch thỏa thuận

02/11/2005: Chính thức áp dụng bổ sung phương thức giao dịch báo

giá trung tâm (khớp lệnh liên tục) song song với phương thức giao dịch thoả thuận

20/06/2006: Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2276/QĐ-BTC quy

định việc tập trung đấu thầu trái phiếu Chính phủ tại TTGDCK Hà Nội Theo đó, TTGDCK Hà Nội là đơn vị duy nhất được giao nhiệm

vụ tổ chức đấu thầu TPCP tại Việt Nam

Trang 9

19/11/2007: Mở rộng thời gian giao dịch từ 8h30 đến 11h (thay vì từ

9h đến 11h)

19/03/2008:Trung tâm GDCK Hà Nội vinh dự được đón nhận Huân

chương Lao động hạng Ba theo Quyết định số 1455/2007/QĐ-CTN của Chủ tịch nước về thành tích xuất sắc trong việc thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả của TTCK, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH

và bảo vệ Tổ quốc

30/10/2008: Vận hành Hệ thống giao dịch từ xa, cho phép các CTCK

kết nối thẳng với máy chủ giao dịch của Trung tâm GDCK Hà Nội để thực hiện nhập lệnh giao dịch cho nhà đầu tư

02/01/2009: Chính phủ ban hành Quyết định số 01/2009/QĐ-TTg về

việc thành lập Sở GDCK Hà Nội trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm GDCK Hà Nội, từ đơn vị sự nghiệp có thu sang hoạt động theo mô hình Công ty TNHH một thành viên thuộc sở hữu Nhà nước

24/06/2009: SGDCK Hà Nội chính thức ra mắt đồng thời khai trương

vận hành thị trường đăng ký giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCoM)

24/09/2009: Hệ thống giao dịch TPCP chuyên biệt chính thức vận

hành, là cơ sở phát triển thị trường giao dịch TPCP thứ cấp theo chuẩn quốc tế

18/11/2009: Phiên giao dịch thứ 1000 chính thức được thực hiện tại

Sở GDCK Hà Nội Sau hơn 4 năm hoạt động, với 1000 phiên giao dịch an toàn, hiệu quả và quy tụ được trên 250 doanh nghiệp niêm yết, đăng ký giao dịch trên địa bàn cả nước, 98 công ty chứng khoán thành viên với gần 700.000 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư, tổng mức

Trang 10

vốn hóa thị trường tại SGDCK Hà Nội đạt 135.500 tỷ đồng, chiếm gần 10% GDP, gấp gần 70 lần giá trị vốn hoá thị trường tại thời điểm khai trương.

08/02/2010: Triển khai công nghệ giao dịch trực tuyến trên thị trường

giao dịch cổ phiếu niêm yết, cho phép nhà đầu tư nhập lệnh trực tiếp vào hệ thống của Sở GDCK Hà Nội, rút ngắn thời gian truyền lệnh, cải thiện năng lực khớp lệnh của hệ thống

15/04/2010:Sở GDCK Hà Nội chính thức gia nhập và là thành viên

thứ 19 của Liên đoàn các SGDCK Châu Á và Châu Đại Dương

(AOSEF)

21/6/2010:Sở GDCK Hà Nội đón cổ phiếu thứ 300 tham gia niêm yết,

cổ phiếu của Công ty Cổ phần Kinh doanh dịch vụ cao cấp dầu khí Việt Nam (mã chứng khoán PVR)

18/07/2010: Sở GDCK Hà Nội đón nhận Huân chương Lao động hạng

Nhì theo Quyết định số 995/QĐ-CTN của Chủ tịch nước ngày

12/07/2010 vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác từ năm

2005-2009, góp phần vào sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc

19/07/2010:Áp dụng bổ sung phương thức khớp lệnh liên tục đối với

thị trường UPCoM, bên cạnh phương thức giao dịch thỏa thuận

11/05/2011: Bộ Tài chính chính thức phê duyệt việc Sở GDCK Hà

Nội tham gia Diễn đàn thị trường trái phiếu Asean+3 (ABMF) với vai trò là "thành viên chính thức cấp quốc gia"

30/5/2011: Bộ Tài chính chấp thuận cho Sở GDCK Hà Nội tham gia

Liên đoàn các SGDCK Thế giới (WFE) và chính thức được kết nạp

Trang 11

2/12/2011:Sở GDCK Hà Nội đăng cai tổ chức Hội nghị Tổng Giám

đốc các SGDCK ASEAN lần thứ 15 tại Hà Nội Hội nghị tuyên bố kết nối ASEAN Link vào tháng 6/2012

15/1/2012: Khánh thành và đưa vào sử dụng công trình trụ sở mới của

Sở GDCK Hà Nội Đây là công trình trọng điểm của ngành tài chính, được đầu tư xây dựng hiện đại, đồng bộ thể hiện sự quan tâm, ủng hộ của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính đối với việc đầu tư

cơ sở vật chất phục vụ hiệu quả cho công cuộc phát triển thị trường vốn và TTCK Việt Nam

05/03/2012: Áp dụng thời gian giao dịch cổ phiếu từ 9h00 đến 14h15

(nghỉ giữa giờ từ 11h30-13h00)

09/07/2012: Ra mắt chỉ số HNX 30, là chỉ số giá của 30 cổ phiếu có

tính thanh khoản nhất trên thị trường cổ phiếu niêm yết

06/08/2012: Áp dụng hệ thống đấu thầu trái phiếu điện tử, cho phép

thành viên đấu thầu có thể nhập phiếu dự thầu từ xa, sửa/hủy phiếu thầu theo diễn biến của thị trường, nhận kết quả đấu thầu trực tuyến tức thời, giúp rút ngắn thời gian xét thầu, xác định kết quả đấu thầu và kết nối cơ quan quản lý, tổ chức phát hành, tổ chức thị trường với toàn thể thành viên đấu thầu Trái phiếu Chính phủ

24/08/2012: Khai trương Hệ thống giao dịch tín phiếu Kho bạc, góp

phần tạo tính thanh khoản cho tín phiếu đồng thời thể hiện sự kết nối công cụ ngắn hạn và dài hạn của Trái phiếu Chính phủ

1/10/2012: Chính thức áp dụng Hệ thống ngành kinh tế HaSIC (Hanoi

Stock Exchange Standard Industrial Classification) đối với các doanh nghiệp niêm yết/đăng ký giao dịch trên Sở GDCK Hà Nội

Trang 12

18/03/2013: Chính thức vận hành hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính

phủ phiên bản 2, cho phép hỗ trợ giao dịch đa thị trường, đa tiền tệ, tích hợp các hoạt động đấu thầu, giao dịch tín phiếu, trái phiếu và công bố thông tin, tạo sự liên thông giữa thị trường nợ sơ cấp và thứ cấp

18/03/2013: Triển khai hệ thống Đường cong lợi suất TPCP, một

trong những chỉ báo thanh khoản quan trọng giúp cơ quản lý, tổ chức phát hành và nhà đầu tư nhận định xu hướng thị trường và định giá trái phiếu

29/07/2013: Chính thức vận hành Hệ thống giao dịch cổ phiếu phiên

bản 5, (core i5) với năng lực xử lý của hệ thống tăng gấp 20-30 lần, cho phép triển khai nhiều tiện ích giao dịch

29/07/2013: Kéo dài thời gian giao dịch đến 15h00 trên thị trường cổ

phiếu đồng thời thay đổi kết cấu phiên giao dịch và bổ sung các loại lệnh mới (ATC, lệnh thị trường) trên thị trường cổ phiếu niêm yết

2/12/2013: Chính thức vận hành hệ thống chỉ số bao gồm chỉ số tổng

hợp (HNX FF Index), bộ chỉ số quy mô (Large Cap Index và

Medium/Small Cap Index), và bộ chỉ số ngành (Công nghiệp, Xây dựng và Tài chính)

- Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội có nhiệm vụ tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán cho chứng khoán của tổ chức phát hành có điều kiện niêm yết chứng khoán quy định tại Điều 9 Nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 01 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán

26/3/2014: HNX phối hợp UBCK tổ chức hội nghị “ doanh nghiệp đại

chúng chưa niêm yết 2014”tại TP.HCM

Trang 13

24/6/2014: Tổ chức đón nhận cờ thi đua của chính phủ, bằng khen của

UBCK và khai trương góc nhà đầu tư

23/9/2014: Tổ chức hội nghị “ Tổng kết 5 năm hoạt động và phát triển

của thị trương TPCP”

13/11/2014: HNX và Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam ký kết Biên

bản thỏa thuận hợp tác thực hiện quyết định 51/2014/QĐ-TTg

29/12/2014: Công ty TNHH Quản lý Quỹ SSI chính thức niêm yết

chứng chỉ quỹ E1SSHN30 trên HNX

2 Cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và chức năng

a Cơ cấu tổ chức

Trang 15

b Chức năng của SGDCK Hà Nội

 Tổ chức hoạt động niêm yết, đăng ký giao dịch, giao dịch chứng

khoán, đấu giá chứng khoán, đấu thầu trái phiếu theo quy định của pháp luật và phân công của chủ sở hữu

 Giám sát việc chấp hành quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán của thành viên giao dịch, tổ chức niêm yết và nhà đầu tư tham gia giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch Chứng khoán theo quy định của pháp luật và phân cấp của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

 Giải quyết hoặc làm đầu mối giải quyết các tranh chấp liên quan đến hoạt động giao dịch chứng khoán của thành viên giao dịch thông qua thương lượng, hòa giải khi có yêu cầu của thành viên giao dịch

 Hỗ trợ phát triển thị trường thông qua việc cung cấp các dịch vụ cơ sở

hạ tầng kỹ thuật, thông tin, đào tạo, tuyên truyền và phổ biến kiến thức

4 Bảo toàn và phát triển vốn nhà nước giao; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn và tài sản, chịu trách nhiệm trước pháp luật về tổn thất các nguồn vốn và tài sản của SGD; phối hợp thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thực về chứng khoán và thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư

Trang 16

5 Bồi thường thiệt hại cho thành viên giao dịch trong trường hợp SGD gây thiệt hại cho thành viên giao dịch trừ trường hợp bất khả kháng.

6 Xử lý và trả lời những thắc mắc, khiếu nại, khiếu kiện của các nhà đầu tư, các tổ chức niêm yết SGD được Nhà nước giao vốn điều lệ và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của SGD trong phạm vi vốn điều lệ của mình

7 SGD chịu trách nhiệm kế thừa quyền và nghĩa vụ pháp lý của

Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội theo quy định của pháp luật; thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

3 Điều kiện niêm yết và thời gian giao dịch

3.1 Điều kiện niêm yết

a Điều kiện niêm yết cổ phiếu

- Là công ty cổ phần có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết

từ 30 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

- Có ít nhất một năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng ký niêm yết( ngoại trừ doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết); tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu(ROE) năm liền trước năm đăng ký niêm yết tối thiểu 5%; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm, không có lỗ lũy kế tính đến thời điểm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính

- Tối thiểu 15% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100

cổ đông không phải do cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

- Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc( Tổng Gíam đốc), Phó Giám đốc( Phó

Trang 17

Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của công ty; cổ đông lớn là người có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc( Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc(Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của

công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ

- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều

10 Nghị định này

- Việc niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp thành lập thuộc lĩnh vực cơ

sở hạ tầng hoặc công nghệ cao,doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chuyển đổi thành công ty cổ phần không phải đáp ứng điều kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều này

b Điều kiện niêm yết trái phiếu của doanh nghiệp

- Là công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp nhà nước có vốn điều lệ

đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

- Các trái phiếu của một đợt phát hành có cùng ngày đáo hạn;

- Có hồ sơ đăng ký niêm yết trái phiếu hợp lệ theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Nghị định này

c Trái phiếu chính phủ

Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương được niêm yết trên SGDCK theo đề nghị của tổ chức phát hành trái phiếu.3.2.Thời gian và phương thức giao dịch

Phương Thức Giao Dịch Giờ Giao Dịch

Trang 18

Khớp lệnh liên tục I và thỏa thuận 9h00’ đến 11h30’

a.Giá tham chiếu:

- Giá tham chiếu của cổ phiếu là bình quân gia quyền các thực hiện qua phương thức giao dịch báo giá của ngày có giao dịch gần nhất

Đối với các cổ phiếu mới niêm yết hoặc cổ phiếu bị tạm ngừng giao dịch trong ngày đầu tiên giao dịch hoặc ngày giao dịch trở lại sẽ giao dịch không biên độ Trong ngày giao dịch tiếp theo, giá tham chiếu của cổ phiếu này sẽ được tính theo thời gian giao dịch ở trên

b.Biên độ dao động giá

+) Biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đối với cổ phiếu là +/_10%+) Không áp dụng biên độ dao động giá đối với các giao dịch trái phiếu

c.Hiệu lực của lệnh

Trong phiên giao dịch, lệnh giới hạn được nhập vào hệ thống giao dịch

có hiệu lực cho đến hết phiên hoặc cho đến khi lệnh bị hủy trên hệ thống

d.Nguyên tắc giao dịch: Các giao dịch phải được thực hiện thông qua công

ty chứng khoán thành viên của trung tâm GDCK Hà Nội

Trang 19

- Trước tiên để thực hiện giao dịch nhà đầu tư phải có tài khoản GDCK tại một công ty chứng khoán là thành viên của Trung tâm GDCK Hà Nội

- Khi đặt lệnh mua bán chứng khoán, nhà đầu tư phải đảm bảo đủ tỉ lệ ký quỹ trên tài khoản Cụ thể là khi đặt lệnh bán nhà đầu tư phải có đủ số

chứng khoán trong tài khoản, coàn khi đặt lệnh mua thì nhà đầu tư phải có

đủ số tiền kí quỹ theo thỏa thuận với công ty chứng khoán

e Phương thức giao dịch: Giao dịch khớp lệnh và giao dịch thỏa thuận

 Phương thức giao dịch khớp lệnh liên tục :

-Đơn vị yết giá:

+)Đối với cổ phiếu: 100 đồng

+)Đối với trái phiếu: không quy định

-Đơn vị giao dịch:100 cổ phiếu hoặc 10.000.000(mười triệu đồng) tính theo mệnh giá trái phiếu

-Khối lượng giao dịch tối thiểu: không quy định

-Loại lệnh giao dịch: lệnh giới hạn

-Nguyên tắc khớp lệnh

+ Các lệnh có mức giá tốt nhất được ưu tiên thực hiện trước

+ Nếu có nhiều lệnh cùng mức giá thì lệnh nào được nhập vào hệ thống trước sẽ được thực hiện trước

+ Nếu lệnh mua và lệnh bán cùng thỏa mãn nhau về giá thì mức giá thực hiện sẽ là mức giá của lệnh được nhập vào hệ thống trước

+ Lệnh giao dịch có thể được thực hiện toàn bộ hoặc một phần theo bội số của đơn vị giao dịch

-Sửa lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục

Trong phiên giao dịch , các lệnh đã nhập vào hệ thống không được phép sửa trừ trường hợp sửa giávà trường hợp đại diện giao dịch nhập sai so với lệnh gốc của khách hàng

Trường hợp sửa giá theo yêu cầu của khách hàng, đại diện giao dịch được tiến hành sửa lệnh ngay trên hệ thống

Trang 20

Trường hợp nhập sai lệnh của khách hàng so với lệnh gốc, đại diện giao dịch được phép sửa lệnh theo trình tự trong quy trình sửa lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục Trường hợp này sẽ tính vào lỗi của đại diện giao dịchViệc sửa lệnh giao dịch khớp lệnh liên tục chỉ được thực hiện đối với các lệnh chưa được khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh

-Hủy lệnh

Trong phiên giao dịch, đại diện giao dịch được hủy lệnh theo yêu cầu của khách hàng đới với các lệnh chưa được khớp hoặc phần chưa được khớp của lệnh

-Hình thức thanh toán:Tất cả các giao dịch khớp lệnh liên tục được thanh toán theo hình thức thanh toán đa phương(T+3)

 Phương thức giao dịch thỏa thuận:

-Đơn vị yết giá: không quy định

-Đơn vị giao dịch:không quy định

-Khối lượng giao dịch tối thiểu:

+Đối với cổ phiếu: 5.000 cổ phần

+Đối với trái phiếu: 100.000.000(100 triệu đồng) tính theo mệnh giá

-Sửa lệnh giao dịch thỏa thuận

Trong giờ giao dịch, trường hợp phát hiện sai lệch so với lệnh gốc sau khi lệnh giao dịch thỏa thuận đã được xác nhận, đại diện giao dịch được phép sửa lệnh giao dịch thỏa thuận theo Quy trình sửa lệnh giao dịch thỏa thuậnThời gian sửa lệnh giao dịch thỏa thuận phải được hoàn tất chậm nhất là 15 phút trước khi phiên giao dịch kết thúc

-Hình thức thanh toán

+ Các GD có khối lượng nhỏ hơn 100.000 cổ phiếu hoặc nhỏ hơn 10 tỷ đồng mệnh giá trái phiếu; áp dụng hình thức thanh toán đa phương với chu

kỳ T+3

Trang 21

+Các giao dịch có khối lượng lớn hơn hoặc bằng 100.000 cổ phiếu hoặc 10

tỷ đồng mệnh giá trái phiếu thì được lựa chọn 1 trong 3 hình thức thanh toán:

-Đa phương với chu kỳ thanh toán T+3

-Song phương với chu kỳ thanh toán T+2

-Trực tiếp với chu kỳ thanh toán từ T+1 đến T+3

3.3 Các loại hàng hòa trên SGDCKHN

Chỉ số

- Hệ thống chỉ số cổ phiếu

HNX-Index được đưa vào vận hành cùng với hệ thống Giao dịch vào năm

2005 ban đầu với chu kỳ tính toán 5 giây/lần và được xây dựng tích hợp bên trong module khớp lệnh của hệ thống giao dịch, trong cơ sở dữ liệu của hệ thống giao dịch

Năm 2009, cùng với sự ra đời của thị trường UPCoM, chỉ số

UPCoM-Index chính thức được công bố và tính toán một chỉ số tổng hợp cho toàn thị trường UPCoM

Ngày 09/07/2012, chỉ số HNX 30 được vận hành là chỉ số giá của Top 30

cổ phiếu được lựa chọn dựa vào tính thanh khoản, giá trị vốn hóa thị

trường, là tiền đề phát triển sản phẩm giao dịch trên chỉ số, phục vụ mục đích đầu tư của thị trường

Ngày 02/12/2013, Sở GDCK Hà Nội chính thức vận hành các bộ chỉ số chỉ báo mới trên thị trường, bao gồm chỉ số HNX FF Index, Bộ chỉ số Quy mô

và Bộ chỉ số Ngành

Ngày 15/12/2014: chính thức vận hành chỉ số Tổng thu nhập trên HNX 30 Index Chỉ số HNX30 TRI là chỉ số tổng thu nhập được tính toán dựa trên chỉ số gốc HNX 30 với sự thay đổi giá trị thị trường của 30 cổ phiếu trong

rổ chỉ số HNX 30 và các khoản cổ tức bằng tiền mặt của các cổ phiếu trong

rổ chỉ số HNX 30 được giả thiết tái đầu tư vào rổ chỉ số

Trang 22

Kể từ ngày 01/01/2015, Sở GDCK Hà Nội sẽ thay đổi tính toán chỉ số toàn thị trường HNX Index theo phương pháp giá trị vốn hoá thị trường có điều chỉnh tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng Theo đó, HNX Index là chỉ số giá dựa trên giá trị vốn hoá thị trường có điều chỉnh tỉ lệ cổ phiếu tự do

chuyển nhượng của tất cả các cổ phiếu niêm yết và giao dịch trên Sở GDCK

Hà Nội có tỷ lệ tự do chuyển nhượng lớn hơn hoặc bằng 5%

Ngày 24/6/2015, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đã cho chạy thử chỉ số UPCOMFF Index Ngày cơ sở của Chỉ số là 23/6/2015, điểm cơ sở của Chỉ

số là chỉ số đóng cửa của Chỉ số Upcom Index tại ngày 23/06/2015 Chỉ số UPCOMFF Index áp dụng phương pháp tính toán dựa trên giá trị vốn hoá thị trường có điều chỉnh tỉ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng của tất cả công

ty đang đăng ký giao dịch trên thị trường Đăng ký giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

-Hệ thống chỉ số trái phiếu

Nhằm cung cấp thêm công cụ chỉ báo trên thị trường trái phiếu Chính phủ,

Sở GDCK Hà Nội sẽ chính thức ra mắt bộ chỉ số trái phiếu (Bond Index) từ ngày 5/1/2015 Đây là công cụ đo lường mức độ biến động của thị trường trái phiếu, là một chỉ báo quan trọng của thị trường trái phiếu Chính phủ

Bộ chỉ số trái phiếu có các chỉ số thành phần gồm chỉ số trái phiếu tổng hợp

và các chỉ số trái phiếu theo dải kỳ hạn: 2 năm, 3 năm, 5 năm, 1-3 năm, 3-5 năm…

Mỗi bộ chỉ số này đều bao gồm các chỉ số giá sạch, chỉ số giá gộp và chỉ số tổng thu nhập Trong đó, các chỉ số giá phản ánh sự biến động của giá trái phiếu do tác động của các yếu tố thị trường như lãi suất,tình hình kinh tế vĩ

mô … Chỉ số tổng thu nhập phản ánh tổng thu nhập từ giá và thu nhập từ lãi coupon nhận được cũng như từ việc tái đầu tư các khoản coupon

Bộ chỉ số trái phiếu Kho bạc Nhà nước có điểm cơ sở là 100

Cổ phiếu niêm yết

Cổ phiếu UpcoM

Trang 23

Trái phiếu chính phủ

ETFs

1 Thế nào là quỹ ETF?

Quỹ ETF (quỹ hoán đổi danh mục) là một loại hình quỹ mở, hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy chứng chỉquỹ Chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán (theo định nghĩa tại Thông tư 229/2012/TT-BTC)

- Danh mục chứng khoán cơ cấu bao gồm các chứng khoán mô phỏng biến động của chỉ số tham chiếu

- Nhà đầu tư được phép góp vốn và thoái vốn tương tự quỹ mở, nhưng phải thông qua thành viên lập quỹ và được thực hiện bằng cơ chế hàng đổi hàng (danh mục chứng khoán cơ cấu đổi lấy chứng chỉ quỹ ETF và ngược lại)

- Giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ ETF được thực hiện qua Sở Giao dịch Chứng khoán theo phương thức tương tự như cổ phiếu niêm yết và chứng chỉ quỹ đóng

2 Cơ chế hoạt động

-Thị trường sơ cấp (góp vốn và thoái vốn):

+ Khi muốn yêu cầu phát hành/mua lại chứng chỉ quỹ ETF với công ty quản

lý quỹ, nhà đầu tư phải đặt lệnh tại thành viên lập quỹ

+ Thành viên lập quỹ gửi yêu cầu của nhà đầu tư cho CTQLQ

+ Việc kiểm tra, xác nhận lệnh giữa CTQLQ và thành viên lập quỹ được thực hiện trên hệ thống của Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam

(VSD)

+ Vào ngày thanh toán, trên tài khoản của nhà đầu tư, số danh mục chứng khoán cơ cấu được thay thế bằng số chứng chỉ quỹ ETF tương ứng (trường

Trang 24

hợp yêu cầu phát hành) hoặc số chứng chỉ quỹ ETF được thay thế bằng số danh mục chứng khoán cơ cấu tương ứng (trường hợp yêu cầu mua lại).

- Thị trường thứ cấp:

+ Việc mua, bán chứng chỉ quỹ ETF được thực hiện tương tự như đối với

cổ phiếu, nhà đầu tư đặt lệnh tại công ty chứng khoán nơi mình mở tài

khoản và được công ty chứng khoán gửi lệnh vào so khớp trên hệ thống của

Sở Giao dịch Chứng khoán

+ Nhà đầu tư theo dõi diễn biến giao dịch chứng chỉ quỹ ETF thông qua bảng giá trực tuyến

+ Vào ngày thanh toán, nhà đầu tư phải thanh toán tiền cho giao dịch mua,

và thanh toán chứng chỉ quỹ ETF cho giao dịch bán

Chứng khoán phái sinh

4.Điều kiện trở thành thành viên của SGDCKHN

Về cơ bản, điều kiện trở thành thành viên giao dịch trên thị trường niêm yết

và điều kiện trở thành thành viên trên thị trường ĐKGD là giống nhau:

1 Là CTCK được cấp phép hoạt động môi giới chứng khoán;

2 Được Trung tâm Lưu ký chứng khoán Việt Nam chấp thuận là thành viên lưu ký;

3 Có đủ điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ hoạt động:

a Có hệ thống công nghệ tin học đáp ứng được yêu cầu của HNX;

b Có thiết bị cung cấp thông tin giao dịch của HNX phục vụ người đầu tư;

c Có trang thông tin điện tử đảm bảo thực hiện việc công bố thông tin giao dịch chứng khoán và thông tin công bố của CTCK;

Ngày đăng: 04/04/2016, 11:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w