1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, thành phần hóa học và giá thành sản phẩm bột lá của sắn, keo giậu và cỏ stylo

95 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ba lo i cây thức ăn này có tốc độ sinh trưởng, tái sinh và năng suất của ba lo i cậy thức ăn này có chênh lệch ở nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau do các nghiên cứu đều khác nhau về địa

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

Đề tài luận văn của tôi là một phần đề tài của nghiên cứu sinh của Từ Quang Trung, chúng tôi hợp tác cùng nhau thực hiện Các kết quả công bố trong luận văn này đã được sự đồng ý của nghiên cứu sinh và chưa được bất

kỳ tác giả nào công bố trước đó

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2015

Tác giả luận văn

TẠ TH L NG

Trang 4

Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình của cô TS Trần Thị Hoan và thầy GS.TS Từ Quang Hiển trong suốt quá trình thực hiện luận án Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cô giáo, thầy giáo hướng dẫn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo và các cán bộ Bộ môn Chăn nuôi Động vật, các thầy

cô giáo khoa Chăn nuôi - Thú y và Phòng Đào t o trường Đ i học Nông lâm Thái Nguyên đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đối với Ban lãnh đ o và các cán bộ viên chức của các đơn vị: Trung tâm Thực hành Thực nghiệm trường Đ i học Nông lâm Thái Nguyên, Viện Khoa học Sự sống - Đ i học Thái Nguyên đã t o điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Thư viện trường Đ i học Nông Lâm Thái Nguyên và b n bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình đã t o điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, tháng năm 2015

Tác giả

TẠ TH L NG

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu về cây sắn 3

1.1.1 Tên gọi, nguồn gốc phân bố và đ c điểm sinh vật của cây sắn 3

1.1.2 Năng suất chất xanh 5

1.1.3 Thành phần hóa học của lá sắn 6

1.1.4 Độc tố của lá sắn và phương pháp kh độc tố 9

1.2 Giới thiệu về cây keo giậu 13

1.2.1 Tên gọi, nguồn gốc phân bố và đ c điểm sinh vật của lá keo giậu 13 1.2.2 Năng suất chất xanh 14

1.2.3 Thành phần hóa học của bột lá keo giậu 16

1.3.Giới thiệu cỏ Stylo 23

1.3.1 Tên gọi, nguồn gốc phân bố và đ c điểm sinh vật của cỏ Stylo 23

1.3.2 Năng suất chất xanh 24

1.3.3 Thành phần hóa học trong bột cỏ Stylo: 25

1.4 Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất chất xanh 28 1.4.1 Ảnh hưởng điều kiện khí hậu 28

1.4.2 Ảnh hưởng của đất 29

1.4.3 Ảnh hưởng của phân bón: 30

1.4.4 Thời gian thu cắt 32

Trang 6

2.1 Đối tượng địa điểm, thời gian nghiên cứu 35

2.2 Nội dung nghiên cứu 35

2.3 Phương pháp nghiên cứu 35

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 35

2.3.2 Phương pháp trồng, bón phân, chăm sóc, thu ho ch 36

2.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 37

2.3.4 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 37

2.3.5 X lý số liệu 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LU N 41

3.1 Khí tượng khu vực thí nghiệm từ 2014 - 2015 41

3.2 Thành phần dinh dưỡng đất thì nghiệm 44

3.3 Sinh trưởng của cây thức ăn thí nghiệm 45

3.4 Kết quả tốc độ sinh trưởng của cây thức ăn thí nghiệm 47

3.5 Chiều cao tái sinh lần 1 của các cây thức ăn thí nghiệm 50

3.6 Tốc độ tái sinh lần 1 của các cây thức ăn thí nghiệm 51

3.7 Chiều cao tái sinh lần 2 của các cây thức ăn thí nghiệm 52

3.8 Tốc độ tái sinh lần 2 của các cây thức ăn thí nghiệm 54

3.9 Năng suất sinh khối của các cây thức ăn thí nghiệm 56

3.10 Tỷ lệ lá và năng suất lá tươi của các cây thức ăn thí nghiệm 58

3.11 Thành phần hoá học của lá tươi và bột lá của các cây thức ăn thí nghiệm 61 3.12 Sản lượng dinh dưỡng năm thứ nhất của các cây thức ăn thí nghiệm.63 3.13 Ho ch toán chi phí sản xuất cho 1ha trong 1 năm 65

3.14 Ho ch toán chi phí co sản xuất 1kg bột lá và 1kg protein của năm thứ nhất 67

KẾT LU N VÀ ĐỀ NGH 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

BCStylo : Bột cỏ Stylo BLKG : Bột lá keo giậu BLS : Bột lá sắn

DCP : Di canxi phôt phat

DM : Vật chất khô DXKN : Dẫn xuất không chứa nitơ

ĐC : Đối chứng

KL : Khối lƣợng KLTB : Khối lƣợng trung bình

ME : Năng lƣợng trao đổi

TB : Trung bình TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TS : Tổng số VCK : Vật chất khô

Trang 8

Bảng 3.1: Giá trị trung bình về khí tượng Thái Nguyên từ năm 2014-2015 41

Bảng 3.2: Thành phần dinh dưỡng đất thí nghiệm 44

Bảng 3.3: Chiều cao sinh trưởng của cây thức ăn thí nghiệm (cm) 45

Bảng 3.4: Tốc độ sinh trưởng của các cây thức ăn thí nghiệm cm ngày 48

Bảng 3.5: Chiều cao tái sinh lần 1 của các cây thức ăn thí nghiệm cm 50

Bảng 3.6: Tốc độ tái sinh lần 1 của các cây thức ăn thí nghiệm cm ngày 51

Bảng 3.7: Chiều cao tái sinh lần 2 của các cây thức ăn thí nghiệm cm 53

Bảng 3.8: Tốc độ tái sinh lần 2 của các cây thức ăn thí nghiệm cm ngày 54

Bảng 3.9: Năng suất sinh khối của các cây thức ăn thí nghiệm ta ha lứa 56

Bảng 3.10: Tỷ lệ lá sinh khối của các cây thức ăn thí nghiệm 58

Bảng 3.11: Năng suất lá tươi của các cây thức ăn thí nghiệm t lứa ha 59

Bảng 3.12: Thành phần hóa học của lá tươi và bột lá (n = 3) 61

Bảng 3.13: Sản lượng dinh dưỡng của các cây thức ăn thí nghiệm tấn ha năm 64 Bảng 3.14: Chi phí sản xuất cho 1 ha trong năm thứ nhất đồng 65

Bảng 3.15: Chi phí cho sản xuất 1 kg bột lá và 1 kg protein của năm thứ nhất 67

Trang 9

Hình 3.1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình từ năm 2014-2015 43 Hình 3.2 Đồ thị sự phân bố lƣợng mƣa trung bình từ năm 2014-2015 43 Hình 3.3 Biểu đồ chiều cao của cây thức ăn qua các thời điểm đo 47

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

S dụng bột lá trong chăn nuôi, đ c biệt là chăn nuôi gà đã được nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu Ngoài cung cấp các chất dinh dưỡng cho vật nuôi giống như các lo i thức ăn khác, bột lá có một thành phần đ c biệt mà các thức ăn thông thường không có ho c có rất ít, đó là sắc

tố Tác động chính của sắc tố đến vật nuôi là: cải thiện khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng với virut, cải thiện khả năng sinh sản, giảm tỷ lệ thai chết lưu, tăng tỷ lệ trứng có phôi, ấp nở, tăng tỷ lệ nuôi sống, cải thiện tốc độ sinh trưởng, đ c biệt là tăng độ đậm màu của da gà và thịt gà…

Ở một số nước, trồng và sản xuất bột lá đã trở thành một ngành sản xuất liên hợp công – nông nghiệp, như Philippin, Thái Lan, Ấn Độ; một số nước châu Mỹ la tinh Ở nước ta cũng có một số nghiên cứu về trồng và sản xuất bột lá từ các cây như sắn, keo giậu, cỏ stylo Ba lo i cây thức ăn này có tốc độ sinh trưởng, tái sinh và năng suất của ba lo i cậy thức ăn này có chênh lệch ở nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau do các nghiên cứu đều khác nhau về địa điểm, thời gian, thời tiết, khí hậu… Nên để so sánh và đánh giá hiệu quả kinh

tế sản xuất của ba lo i cây thức ăn này là chưa có cơ sở Để nâng cao hiệu quả kinh tế khi s dụng bột lá thực vật, ta cần tiến hành nghiên cứu cùng trồng ba

lo i cây thức ăn này trong cùng một điều kiện như địa điểm, thời gian nghiên cứu để so sánh tốc độ sinh trưởng, tốc độ tái sinh và năng suất, giá thành 1kg bột lá của 3 lo i cây thức ăn này, từ đó so sánh nh m đánh giá hiệu quả kinh

tế từ đó định hướng sản xuất bột lá của ba lo i cây thức ăn phù hợp trong điều kiện chăn nuôi nông hộ Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài

“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, thành phần hóa học và giá

thành sản phẩm bột lá của sắn, keo giậu và cỏ stylo.”

Trang 11

2 Mục tiêu của đề t

- So sánh tốc độ sinh trưởng và tốc độ tái sinh của cây sắn, keo giậu và

cỏ Stylo nh m đánh giá khả năng sản suất bột lá của chúng

- So sánh sản lượng và giá thành sản xuất bột lá của sắn, keo giậu, cỏ

stylo trong điều kiện nông hộ

3 Ý n ĩa của đề t

* Ý nghĩa khoa học

- Đề tài so sánh được khả năng sinh trưởng, năng suất, thành phần hóa học và giá thành sản xuất bột lá sắn, keo giậu, cỏ stylo trong cùng một điều kiện sản xuất Kết quả này s s dụng để nghiên cứu ứng dụng sản xuất bột lá trong thực tiễn sản xuất

- Kết quả nghiên cứu của đề tài s bổ sung thêm tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên, cán bộ kỹ thuật trong giảng d y, học tập, nghiên cứu khoa học

* Ý nghĩa thực tiễn

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, cây thức ăn nào có năng suất cao, giá thành sản xuất bột lá thấp s được khuyến cáo ưu tiên trong sản xuất

4 Đ ểm mớ của đề t

Trong các nghiên cứu trước đây thì đã có rất nhiều nghiên cứu của ba

lo i cây này trong sản xuất thức ăn Tuy nhiên, việc trồng 3 lo i cây thức

ăn trong cùng một điều kiện địa điểm, thời gian… để biết được cây nào

có ưu điểm hơn về sản lượng, giá thành sản phẩm thì chưa nào nghiên cứu nào Vì vậy, mục tiêu chính là so sánh hiệu quả kinh tế để khuyến cao ứng

dụng sản xuất bột lá trong chăn nuôi có hiệu quả nhất

Trang 12

C ươn 1 TỔNG QU N T I LIỆU

1.1 G ớ t ệu về ây sắn

1.1.1 Tên ọ n u n ố p ân ố v đặ đ ểm s n v t ủa ây sắn

* n gọi

Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, thuộc giới

Plantae, bộ malpighiales, họ cây thầu dầu Euphorbiaceae, phân họ Crtonoideae, chi Malihot, loài M esculenta Ở một số nước, cây sắn còn có

tên gọi khác là Casava, Manioc, Tapioca Plant, Maniva Casava, Manlioke, Yeueca Brava,

Ở Việt Nam cây sắn là cây lương thực đứng thứ 3 sau cây lúa và ngô Năm 2009, diện tích trồng sắn của cả nước là 496.000 ha đã đưa nước ta trở thành nước đứng thứ 2 về xuất khẩu sắn sau Thái Lan

Cây sắn được du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18 Hiện chưa

có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên Sắn là một cây hoa

Trang 13

màu truyền thống và quan trọng của nhân dân ta, nhất là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc

Quá trình trồng thích nghi và chọn lọc tự nhiên đã hình thành lên nhiều giống sắn địa phương có đ c điểm hình thái, năng suất và chất lượng khác nhau, phù hợp với từng vùng khí hậu, sinh thái khác nhau trong cả nước Do

đó, các giống sắn của nước ta rất đa d ng và phong phú, gồm trên 30 giống sắn đang được trồng phổ biến ở các vùng khác nhau trong cả nước Howeler,

1992 [65]; Đinh Văn Lữ, 1972 [18])

* Đặc điểm sinh vật của cây sắn

Rễ sắn: được chia thành 2 lo i: Rễ con làm nhiệm vụ hút các chất dinh

dưỡng và giữ cho cây vững chắc và rễ củ làm nhiệm vụ dự trữ

Thân sắn: Là thân gỗ, hình trụ, chia đốt và có lóng Chiều cao cây tùy

thuộc vào từng giống, điều kiện chiếu sáng, mức độ thâm canh, mật độ và thời

vụ trồng

Lá sắn: Là lo i lá đơn mọc xen k , thẳng hàng trên thân cây Lá gồm 2

phần: Cuống và phiến lá Lá có thùy sâu, d ng chân vịt, thùy thường có cấu

t o số lẻ từ 3 - 9 thùy cá biệt có 11 thùy

Hoa sắn: Hoa thuộc lo i hoa chùm, đơn tính có cuống dài mọc ra từ

chỗ phân cành, ngọn thân Những cụm hoa gồm một trục dài 2 - 10 cm và nhiều trục bên hợp thành nên gọi là chùy

Quả sắn: Có kích thước từ 1 - 1,5 cm, 1 quả thường có 3 h t Mầu

quả đa d ng phụ thuộc vào giống H t sắn hình trứng tiết diện hơi giống hình tam giác H t sắn n ng từ 95 – 136 mg, màu nâu đen, trơn nhẵn, có đường gân mầu nâu

* Giới thiệu vài nét về giống sắn KM 94

Tên gốc là KU 50 ho c Kasetsart 50 được nhập nội từ CIAT Thái Lan trong bộ giống khảo nghiệm Liên Á năm 1990 Giống do Viện Khoa

Trang 14

học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trường Đ i học Nông Lâm Thái Nguyên nhập nội, tuyển chọn và giới thiệu, đến năm 1995 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống quốc gia trên toàn quốc Hoàng Kim, 2010 [99] Hiện nay, giống sắn KM 94 là giống chủ lực của nước ta với diện tích trồng hàng năm là trên 350.000 ha Đ c điểm về hình d ng của giống KM 94 là thân xanh, hơi cong, ngọn tím, không phân nhánh Năng suất củ tươi đ t 33,0 tấn ha, tỷ lệ vật chất khô đ t 35,1 - 39,0 , năng suất tinh bột: 7,6 - 9,5 tấn Thời gian thu ho ch củ từ 9 - 11 tháng

1.1.2 N n suất ất xan

Ở Việt Nam, sắn là một cây trồng có tiềm năng cho việc sản xuất bột lá thực vật Diện tích trồng sắn ở nước ta vào khoảng 600.000 ha, chỉ riêng tận thu ngọn, lá khi thu củ sắn cũng có thể sản xuất được gần 1 triệu tấn bột lá Việc trồng sắn thu lá cũng có nhiều hứa hẹn, có thể thu được 30 tấn lá tươi và sản xuất được trên dưới 8 tấn bột lá ha 2 năm

Wanapat (1997) [96] cho biết trồng sắn lấy lá s dụng làm thức ăn cho gia súc nhai l i với mật độ dầy và thu ho ch lần đầu sau khi trồng 3 tháng, còn thu các lần tiếp theo là 2 tháng lần thì sản lượng vật chất khô (bao gồm cả thân, cành, lá) có thể đ t 12,6 tấn ha năm

Wanapat (1997) [96] khi th nghiệm trồng 16 dòng sắn với mật độ 27.788 cây/ha để thu cắt lấy lá đã thấy: Sản lượng vật chất khô VCK qua

3 lứa cắt từ 4,043 đến 7,768 tấn ha năm, còn khi trồng 25 dòng sắn khác với mật độ 111.111 cây ha thì cho sản lượng VCK dao động từ 2,651 đến 8,239 tấn ha năm

Atchara và cs (2002) [46] tổng hợp các kết quả nghiên cứu về trồng sắn thu lá từ năm 1977 đến năm 1979 về dòng sắn Rayong 1, tác giả cho biết người ta có thể trồng sắn với nhiều mật độ khác nhau Các kết quả nghiên

Trang 15

cứu đều cho thấy sản lượng đ t từ 6,94 đến 8,85 tấn lá tươi ha năm và không

có sự sai khác thống kê có ý nghĩa giữa sản lượng lá tươi được trồng với mật

độ khác nhau

Ở Việt Nam, theo dõi năng suất lá sắn trong hai năm 2009 - 2010 ở những khoảng cách trồng khác nhau; 1,0 m x 0,4 m , 0,8 m x 0,4 m và 0,6 m x 0,4 m Mỗi năm thu ho ch được 3 lứa, năng suất lá sắn tươi đ t trung bình 41,11 - 52,66 t ha lứa Còn theo dõi năng suất lá sắn khi bón các mức phân đ m khác nhau, mỗi năm thu ho ch 3 lứa, năng suất trung bình lứa 2 năm tính chung cho cả 3 lứa cắt trong 2 năm đ t từ 34,55 đến 54,95 t ha lứa Trần Thị Hoan 2012 [13]

1.1.3 T n p ần óa ọ ủa lá sắn

* Protein

Theo Dương Thanh Liêm (1999) [17], Nguyễn Thị Hoa Lý 2008 [19], hàm lượng protein thô trong VCK của lá sắn tương đối cao, dao động từ 20 - 34,7 % Theo Alhasan và cs 1982 trích Nguyễn Nghi và cs, 1984 [25]) thì lá sắn giàu protein hơn củ sắn, hàm lượng protein trong lá sắn từ 23 - 32 % trong VCK Từ Quang Hiển và Ph m Sỹ Tiệp 1998 [10] cho biết: protein trong lá của các giống sắn bản địa của Việt Nam dao động từ 24,06 - 29,80 % trong VCK Lá của các giống sắn có hàm lượng protein cao trong nước ta là sắn Xanh Vĩnh Phú, Dù, Chuối Trắng, KM 60, Chuối đỏ Liu và Zhuang 2000 [73] cho biết bột lá sắn có hàm lượng protein là 25,0 , còn chế biến sắn cả cuống thì hàm lượng protein giảm xuống còn 20,30 VCK Lá sắn vào thời điểm thu khác nhau thì hàm lượng protein cũng khác nhau Tác giả còn cho biết protein

trong lá sắn cao hơn các lo i cây thức ăn khác protein trong VCK của hòa thảo

là 12,60 %: ngô 11,90 %) nhưng thấp hơn đỗ tương 45,70

Theo Ph m Sỹ Tiệp 1999 [35], Chavez và cs (2000) [51] thì hàm lượng axit amin trong lá sắn cao hơn củ sắn và cân đối so với trứng gà, tuy

Trang 16

nhiên hàm lượng methionin và histidin trong lá sắn thấp, tương ứng là 1,99

và 1,14 Hàm lượng lysin trong protein của lá sắn tương đối cao 5,68 đáp ứng đầy đủ nhu cầu lysin của gia súc, gia cầm Hoài Vũ và cs (1980) [43]

nhận định: về m t chất lượng, trong protein của lá sắn có đầy đủ các axit amin thiết yếu, so với các lo i rau tươi khác thì chất lượng protein của lá sắn

hơn hẳn Ví dụ: Hàm lượng lysin, methionin, triptophan của lá sắn tươi là

0,3; 0,4; 0,11 g 100g Trong khi đó, rau muống là 0,14; 0,07; 0,04 g 100g ; rau ngót là 0,16; 0,13; 0,05 g 100g ; rau cải là 0,07; 0,03; 0,02 (g/100g)

Eruvbetine và cs (2003) [57] cho biết methionin là yếu tố h n chế của bột lá sắn, trong khi đó hàm lượng lysin và arginin trong protein của

lá sắn l i tương đối cao, tương ứng 4,45 và 4,35 g 100g, nếu được bổ sung

methionin s làm cân đối hàm lượng axit amin và làm tăng tỷ lệ tiêu hóa

của thức ăn

* Lipit

Theo nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Thưởng và Simulin (1992) [34]; Nguyễn Nghi 1984 [25]; Hoài Vũ và cs (1980) [43] thì tỷ lệ lipit trong củ sắn Việt Nam đ t cao hơn từ 0,4 – 0,7 %, tương ứng với 2 - 2,5 trong vật chất khô Tuy nhiên kết quả phân tích của Ph m Sỹ Tiệp (1999) [35] thì tỷ lệ lipit thô trong củ sắn là rất thấp và không có sự sai khác nhau nhiều về tỷ lệ lipit giữa các giống Các giống Xanh Vĩnh Phú, Xanh Hà Bắc, 203 có tỷ lệ lipit từ 0,23 - 0,25 ; các giống Chuối vỏ đỏ, Chuối vỏ trắng, 205 tỷ lệ lipit từ 1,07 - 1,74 Riêng sắn KM60 và Sắn dù

tỷ lệ lipit chỉ đ t 0,15 - 0,18 %

* inh bột

Theo các tác giả trong nước như Nguyễn Văn Thưởng và Simulin (1992) [34]; Bùi Văn Chính 1995 [4] thì ở Việt Nam, các giống sắn Dù, sắn Chuối, 205 là những giống có năng lượng trao đổi cao, 1 kg củ sắn tươi có

Trang 17

năng lượng dao động từ 1034 – 1187 Kcal kg Trong củ sắn khô thì năng lượng trao đổi của củ sắn đã bóc vỏ luôn cao hơn củ sắn cả vỏ: ở củ sắn khô

cả vỏ, tỷ lệ năng lượng trao đổi dao động từ 3087 – 3138 Kcal kg, còn ở sắn khô bóc vỏ trung bình từ 3115 – 3196 Kcal/kg

Theo Hoàng Kim và cs (2010) [99] dòng sắn khác nhau thì năng suất là khác nhau, giống KM 98 - 1, KM 98 - 5, KM 98 - 6 đ t năng suất tinh bột là 12,41; 13,02 và 13,69 tấn ha và tương tự như giống sắn KM 94 và vượt trội hơn hẳn giống KM 60 Nhưng các dòng khác thì năng suất chỉ đ t từ 9 - 11 tấn ha Cũng theo tác giả thì trong cùng một dòng nhưng được trồng ở các vùng đất khác nhau thì tỷ lệ tinh bột cũng khác nhau, ví dụ như dòng KM94, KM982, KM60, CMR35 - 129 - 31 được trồng ở vùng đất xám b c tỷ lệ tinh bột lần lượt là 27,3; 24,5; 26,5; 24,1 % Nhưng cũng các giống sắn trên trồng trên đất phèn thì tỷ lệ tinh bột chỉ đ t lần lượt là 23; 23; 24; 19 %

Nếu cùng một giống, dòng nhưng được trồng ở trong cùng một điều kiện khí hậu thì tỷ lệ tinh bột trong sắn phụ thuộc rất ch t ch vào thời gian thu ho ch Các tác giả Hoài Vũ và cs (1980) [43]; Đinh Văn Lữ 1972 [18] khi nghiên cứu thành phần tinh bột sắn thu ho ch vào các thời điểm khác nhau cho thấy: tỷ lệ tinh bột trong củ sắn tươi ở các tháng 4, 6, 8, 10, 12 sau khi đ t hom tương ứng là: 3,0; 16,5; 20,0; 21,0 và 28,0 Theo các tác giả trên

và một số tác giả khác như Hoài Vũ và cs (1980) [43]; Bùi Thị Buôn và Nguyễn Văn Nghị (1985) [3] thì thu ho ch sắn sau khi đ t hom 10 - 12 tháng

là lúc củ sắn có tỷ lệ tinh bột cao nhất Nếu để qua thời gian 12 tháng, tỷ lệ tinh bột giảm nhưng tỷ lệ protein thô và xơ thô tăng lên Do đó, sắn quá non

ho c quá già, hàm lượng tinh bột đều thấp hơn

* Khoáng

Theo Ph m Sỹ Tiệp 1999 [35] cho biết chất khoáng trong củ sắn cũng tương đối thấp, hàm lượng Ca đ t từ 0,11 – 0,25 , photpho đ t 0,08 – 0,12

Trang 18

% trong VCK Trong các thành phần khoáng thì kali chiếm tỷ lệ cao nhất trong củ sắn, thường từ 0,57 – 0,58 trong vật chất khô Tác giả cho biết hàm lượng Co, P, K, Zn, Mn, Cu tính theo VCK trong củ sắn rất thấp so với nhu cầu của gia súc Do đó, khi s dụng nhiều sắn trong khẩu phần ăn phải chú ý bổ sung các nguyên tố trên

* Sắc tố và vitamin

Củ sắn tươi có tỷ lệ chất khô 38 - 40 , tinh bột 16 - 32 %, giàu vitamin C, vitamin B và các chất khoáng, nghèo chất béo, muối khoáng, vitamin và nghèo đ m Trong củ sắn, hàm lượng các axit amin không cân đối, thừa arginin nhưng l i thiếu các axit amin chứa lưu huỳnh Thành phần dinh dưỡng khác biệt tuỳ giống, vụ trồng, số tháng thu ho ch sau khi trồng và kỹ thuật phân tích Hàm lượng vitamin trong lá sắn cũng cao Theo Hoài Vũ (1980) [43] thì hàm lượng vitamin B1 là 0,25 mg 100g, B2 là 0,66 mg 100g

Đ c biệt, vitamin C trong lá sắn có tới 2,95 mg 100g

Bột lá sắn giàu carotenoid, xanthophyll, là nguồn bổ sung sắc chất cho

gia súc, gia cầm Theo Từ Quang Hiển 1983 [9], trong bột lá sắn khô có chứa tới 66,7 mg caroten 100g VCK Còn theo Hoài Vũ 1980 [43] thì hàm lượng caroten trong lá sắn nói chung cao hơn so với củ Dương Thanh Liêm

và cs (1999) [17] cho biết tỷ lệ caroten trong bột lá sắn phụ thuộc vào quá trình chế biến, sấy ở nhiệt độ 1000C giữ được caroten cao nhất là 351 mg kg

Tuy nhiên trong lá sắn có chứa một lượng độc tố HCN đáng kể, khi gia súc thu nhận hàm lượng HCN quá cao s làm cho con vật bị trúng độc Có nhiều cách để lo i bỏ HCN như: Ngâm cả củ sắn ho c thái lát rồi ngâm vào nước, thái lát rồi phơi khô, muối dưa lá sắn

1.1.4 Đ tố ủa lá sắn v p ươn p áp k đ tố

* Độc tố HCN

Ngoài các giá trị dinh dưỡng, thì yếu tố h n chế s dụng các sản phẩm

Trang 19

từ sắn như củ, lá làm lương thực cho con người và thức ăn cho gia súc là trong sắn có chứa một lượng độc tố HCN đáng kể

Giống sắn khác nhau thì lượng độc tố trong nó không giống nhau Lượng HCN ở lá non nhiều hơn lá già; phần củ thì cao nhất ở phần vỏ thịt, sau đó là 2 phần đầu củ và lõi sắn: ở thân thì thân già nhiều hơn thân non Ở mỗi phần thân, lá, củ của cây sắn thì hàm lượng HCN có tỷ lệ rất khác nhau, nhưng HCN tập chung chủ yếu ở phần củ, căn cứ vào đây mà phân chia làm 2

lo i sắn: sắn ngọt và sắn đắng Giống sắn ngọt có từ 30 - 80 ppm HCN trong chất tươi, giống sắn đắng có từ 80 - 400 ppm HCN trong chất tươi Trần Ngọc Ngo n 2007 [27]

Trong cây sắn, lượng độc tố phân bố không đều, chủ yếu tập chung ở

bộ phận dưới m t đất Theo Ph m Sỹ Tiệp 1999 [35] thì sự phân bố HCN trong các bộ phận của cây sắn được chia ra như sau: Các bộ phận trên m t đất gồm thân lá có 29,3 , trong đó độc tố chủ yếu nắm ở thân là 27,2 còn l i

ở lá chỉ có 2,1 Lượng HCN ở các bộ phận dưới m t đất chiếm tới 70,7 tổng lượng độc tố trong cây Trong đó gốc già dưới đất có 8,9 và rễ củ chiếm 61,8 , tập chung chủ yếu ở vỏ và hai đầu củ sắn

Khi gia súc thu nhận hàm lượng HCN quá cao thì s làm cho con vật

bị trúng độc Thường thấy gia súc bị ngộ độc HCN ở hai thể cấp tính và mãn tính, ngộ độc cấp tính làm cho con vật chết rất nhanh và ngộ độc mãn tính thường không có biểu hiện rõ ràng Theo Oke, 1969 [79]) Theo Lê Đức Ngoan và cs (2005) [26], gia súc thường xuất hiện dấu hiệu ngộ độc khi được cho ăn liên tiếp những lượng nhỏ HCN và thường xuyên, nhưng gan vẫn có khả năng giải độc HCN nhờ vào lưu huỳnh trong axit amin để

t o ra chất thiociannat ít độc hơn HCN Lượng độc tố HCN có thể gây chết động vật khoảng 2,5 mg kg khối lượng cơ thể Theo Humphreys 1988 dẫn theo Lê Đức Ngoan và cs (2005) [26] thì liều ngộ độc tối thiểu là 2 -

Trang 20

2,3 mg khối lượng cơ thể, nhưng theo Du Thanh Hang và Preston (2005) [98] thì ở mức 6 - 15 mg kg khối lượng cơ thể vẫn không thấy ngộ độc Tuy nhiên theo các tác giả trên thì mức độ gây ngộ độc còn tùy thuộc vào

d ng glucocid có trong thức ăn Chính vì tác h i của lo i độc tố này trong sắn, thì việc nghiên cứu làm giảm đến mức tối đa HCN trong củ và lá sắn trước khi dùng làm thức ăn gia súc, gia cầm là không thể thiếu được

* Phương pháp khử độc tố HCN trong sắn

Để s dụng sắn cho gia súc, gia cầm với tỷ lệ cao trong khẩu phần thì cần phải nghiên cứu để tìm ra các biện pháp làm giảm được tối đa lượng độc

tố trong sắn, nhưng l i bảo tồn được các thành phần dinh dưỡng, tăng khẩu vị,

dễ tiêu hóa, hấp thu, giá thành rẻ, dễ làm và dễ bảo quản

Theo Gomez (1985) [61] việc lo i bỏ độc tố HCN trong củ và lá sắn thường áp dụng theo nguyên tắc sau:

Lo i bỏ trực tiếp cyanogen glucocid b ng cách hòa tan trong nước Vì cyanogen glucocid sản sinh ra HCN, chất này bị lo i bỏ thì HCN cũng bị lo i bỏ

Làm phân giải cyanogen glucocid thành aceton và HCN, sau đó dùng nhiệt làm bốc hơi HCN ho c dùng nước làm r a trôi HCN

Làm phá hủy ho c ức chế enzym linamariaza và glucocidaza Các enzym này không ho t động thì cyanogen glucocid không thể phân hủy thành aceton và HCN

Cơ chế thứ nhất chắc chắn dễ thực hiện và có hiệu quả vì glucocid dễ hòa tan trong nước Nguyên tắc này được s dụng nhiều trong các phương pháp như ngâm sắn: Sắn cả củ, ho c thái lát được ngâm 5 - 7 ngày trong nước chảy ho c nước đọng, sau đó lọc lấy tinh bột Như vậy, một phần lớn glucocid bị lo i bỏ theo dòng nước

Cơ chế thứ hai được áp dụng vào các phương pháp chế biến như: Thái lát phơi khô, băm nhỏ lá sắn phơi khô, thái lát x lý bề m t lát cắt b ng

Trang 21

ngâm nước nước lã, nước vôi, nước muối, axit HCl, axit axetic, sắn sợi

n o, duội , làm sắn h t, làm bột sắn thô, chế biến tinh bột sắn, ủ chua lá sắn , ủ tươi củ sắn và lên men vi sinh vật cho bột sắn

Sự phân hủy các glucocid nhờ tác động của enzym được dễ dàng thêm khi người ta nghiền tế bào ho c để cho tế bào tự tiêu do đó glucocid

và enzym tiếp xúc với nhau Nghiền hay nói đúng hơn mài sát củ sắn được thực hiện không những phổ biến trong nhân dân mà còn được thực hiện với quy mô công nghiệp Trường hợp này không chỉ có sự phân hủy các glucocid và lo i bỏ HCN b ng nước r a, mà nước còn cuốn theo các glucocid chưa bị phân hủy

Phương pháp chế biến đơn giản dễ làm và cổ điển nhất đó là thái lát phơi khô Việc phơi sắn củ đã thái lát ho c phơi héo lá cùng với những sự thay đổi tế bào về hình thái, cấu trúc và sinh hóa đồng thời cũng chính là quá trình thực hiện sự tiếp xúc giữa glucocid và enzym và kết quả là HCN tự

do được giải phóng và bay hơi Đinh Văn Lữ, 1972 [18])

Từ Quang Hiển 1983 [9], Bùi Văn Chính (1995) [4], đã thí nghiệm muối dưa lá sắn kết quả cho thấy trong lá sắn đã muối dưa chỉ còn 1 - 2 mg HCN Tuy nhiên theo các tác giả trên thì biện pháp phơi khô lá sắn và nghiền thành bột là tốt nhất Trong lá sắn phơi khô, chỉ còn chứa 1 - 2 mg % HCN Sau khi nghiền thành bột thì hàm lượng HCN l i giảm đi rất nhiều và nếu cất giữ cẩn thận sau 4 - 5 tháng vẫn còn chất lượng tốt Lượng bột lá sắn gia súc, gia cầm ăn được gấp 3 - 4 lần so với số lượng chúng ăn được ở d ng

lá tươi, luộc ho c muối dưa Theo Bùi Văn Chính, 1995 [4]; Gomez, 1985 [61] thì cũng có thể làm giảm HCN trong sắn b ng cách muối dưa lá sắn và

ủ xilo củ sắn Nhờ tác động của men sẵn có trong sắn mà glucocid được phân hủy giải phóng HCN tự do Khi cho gia súc ăn lá sắn ủ chua hay ủ xilô các sản phẩm nên r a qua b ng nước lã rồi vắt bỏ nước

Trang 22

1.2 G ớ t ệu về ây keo u

1.2.1 Tên ọ , n u n ố p ân ố v đặ đ ểm s n v t ủa lá keo u

* n gọi

Keo giậu là một cây thuộc bộ đậu, sống ở vùng nhiệt đới, có tên khoa

học là Leucaena leucocephala (Lam) de - Wit Tên gọi “Leucaena” là danh

pháp quốc tế gọi chung cho loài cây này Ngoài ra, keo giậu còn có các tên

khác như: Leucaena Glauca (Wind) Benth, Mimosa leucocephala Lam,

Mimosa glauca L, Acacia glauca (L.) Moenth Ở các quốc gia khác nhau,

keo giậu còn có các tên khác nhau Ở Trung Mỹ, keo giậu có tên là Huakin; Mexico và Tây Ban Nha gọi là Guaje; Philippin gọi là Ipil - ipil; Ấn Độ gọi là Kubabul ho c Subabul; Indonesia gọi là Lamtoro; Hawaii gọi là

Kaohaole; Trung Quốc gọi là Yin huehuan và Quần đảo Thái Bình Dương

gọi là Tanggantangan…

Ở Việt Nam, keo giậu được phân bố rộng từ Bắc vào Nam, tỉnh nào cũng có keo giậu và keo giậu đã trở thành cây mọc tự nhiên ở một số địa phương Nguyễn Đăng Khôi, 1979 [15] Ở các địa phương khác nhau, keo

giậu cũng có các tên khác nhau: Miền Bắc gọi là Keo giậu; Miền Trung gọi là

Táo nhơn; Miền Nam gọi là Bình linh Giống keo giậu mọc hoang ở nước ta

thuộc kiểu Hawaii Dương Hữu Thời và cs, 1982) [33], năng suất không cao Ngô Văn Mận, 1977) [20]

* N u n ố p ân ố

Keo giậu được xác định có nguồn gốc từ Trung Mỹ và Mexico NAS, 1984) [77] Phần lớn các vùng đất này có độ cao trung bình dưới 1500 m so với mực biển, đất n a khô h n, hơi kiềm hay axit nhẹ

Năm 1965, người Tây Ban Nha đưa keo giậu từ Mexico vào Philippin

để trồng làm thức ăn cho đàn dê của họ Brewbaker và hutton, 1979 [48]; Oakes, 1968 [79] Cuối thế kỷ VXII và đầu thế kỷ XIX, keo giậu đã được

Trang 23

đưa tới các nước nhiệt đới ven bờ biển Thái Bình Dương: Indonesia, Malaysia, Paypua New Guinea, Tây và Nam Phi (NAS, 1984) [77]

Keo giậu được nhập vào Hawaii, Fijii, bắc Austrailia, Ấn Độ, Đông Phi, vùng biển Caribbean Đông Nam Á là vùng phát triển keo giậu tương đối sớm và nhiều Trong những năm 70 của thế kỷ XX, các nước Ấn Độ, Indonesia, Philippin, Thái Lan đã trồng nhiều keo giậu và s dụng chúng như một nguồn thức ăn trong chăn nuôi Ở Việt nam một số địa phương đã chú ý trồng keo giậu với mục đích khai thác những tiềm năng đa d ng của nó đ c biệt là cải t o đất, chống xói mòn, phủ xanh

* Đặ đ ểm s n v t ủa lá keo u

Thân: Cây gỗ nhỏ, cao tới 5m, không có gai, vỏ thân màu xám nh t, tán

lá hẹp

Lá: Cuống chung dài 12 - 20 mm; lá kéo lông chim 4 - 8 đôi; lá chét 12 -

18 đôi gần như không cuống và hình lưỡi liềm, dài 10 - 15 mm, rộng 3 - 4

mm Lá nhẵn, trên cuống lá cấp 1 có các tuyến hình chậu

Hoa: Cụm hoa hình đầu ở nách lá, gồm nhiều hoa màu trắng

Quả: Quả t o thành chùm Quả đậu dẹt màu xanh lục khi còn non, màu

nâu nh t khi đã già, dài 13 - 14 cm, rộng 15 mm, đầu quả có mỏ nhọn

Hạt: Mỗi quả có 15 - 20 h t, h t dẹt, lúc non màu lục; khi già màu nâu

nh t, cứng, nhẵn

1.2.2 N n suất ất xan

Keo giậu có khả năng sinh trưởng rất nhanh và có khả năng sản sinh ra một khối lượng lớn cành, lá, hoa, quả và h t mà động vật đều có thể s dụng làm thức ăn Người ta còn s dụng những phần non và lá của keo giậu để chế biến thành bột khô để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, nhất là vào mùa khô khan hiếm thức ăn xanh Bởi bột này, chứa nhiều vitamin tự nhiên, đ c biệt là caroten và sắc tố vàng cung cấp cho vật nuôi Trong bột keo giậu còn có

Trang 24

vitamin E, C và caroten là những chất chống oxy hóa, ngăn cản tích tụ cholesterol trong máu, ngoài ra còn chứa các chất chống viêm nhiễm và bài tiết chất độc cho động vật như quinol và phenol Chính vì vậy, bột cỏ nói chung và bột keo giậu nói riêng được nhiều nước trên thế giới quan tâm s dụng làm thức ăn chăn nuôi

NAS (1984) [77] cho biết, những cánh đồng keo giậu có lợi ích hơn bất

cứ một cánh đồng cỏ nào, nó có thể trở thành một nguồn cung cấp chất xanh

to lớn Trong điều kiện chăm sóc, quản lý tốt những cánh đồng keo giậu có thể duy trì một năng suất chất xanh cao và chịu đựng được cường độ chăn thả lớn Những cánh đồng keo giậu được quản lý theo phương pháp luân phiên có thể tồn t i trong thời gian trên 20 năm mà không cần phải trồng l i Jones và Harrison, 1980) [68] Năng suất chất khô của keo giậu hàng năm dao động từ

2 đến 20 tấn ha Jones, 1979 [67] Những giống keo giậu tốt, được trồng trên đất có độ phì cao có thể cho năng suất vật chất khô hàng năm lên tới 12 - 20 tấn ha, tương đương với 2,4 đến 6,4 tấn protein ha năm NAS, 1984 [77]

Ở Việt Nam, keo giậu là loài cây dễ trồng và dễ thích nghi, năng suất chất xanh và vật chất khô khá cao, phù hợp với nhiều loài động vật nên được

nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu để đưa vào thực tiễn sản

xuất chăn nuôi Bùi Xuân An và Ngô Văn Mận 1981 [1] cho biết, khi được

bón lót 10 tấn phân chuồng ha và bón thúc b ng 30 kg N, 60 kg P2O5, 40 kg

K2O ha đã đưa năng suất chất khô đ t 4 tấn ha năm, trong đó, số lượng lá

chiếm tới 46

Lê Thị Hòa Bình và cộng sự 1990 [2] đã khảo sát năng suất của các

giống keo giậu Ipil - ipil, Đồng Mô, Ba Vì h t lớn, Ba Vì h t nhỏ, Peru và Ấn

Độ Kết quả khảo sát cho thấy, các giống Ba Vì h t lớn, Ipil - ipil và Ấn Độ

cho năng suất chất xanh cao, lần lượt là 45,05; 43,35 và 40,20 tấn ha năm, tương đương khoảng 10.000 đơn vị thức ăn Tuy nhiên, về mùa khô, keo giậu

Trang 25

sinh trưởng kém, chỉ đ t gần 50 so với mùa mưa Riêng giống Ba Vì h t lớn, sinh trưởng ở mùa đông có ưu thế hơn các giống khác

Nguyễn Ngọc Hà 1996 [8] đã th nghiệm trồng khảo sát tốc độ sinh trưởng của keo giậu trên các lo i đất khác nhau cho biết, trong số 12 loài được

khảo sát thì loài keo giậu Leucaena leucocephala có nhiều ưu điểm hơn cả Tốc

độ sinh trưởng đ t 1,26 cm ngày, cao hơn 2 lần tốc độ sinh trưởng trung bình của

12 loài khảo sát Tác giả cũng cho biết, năng suất chất khô trung bình của keo giậu là 11,5 tấn ha năm Giống Peru - Cunnigham có năng suất chất khô là 13,36 tấn ha năm, cao hơn giống Salvador - Mỹ là 3,62 tấn Tuy nhiên, năng suất chất khô của keo giậu còn phụ thuộc khá nhiều vào độ chua của đất, vì ở đất chua khả

năng cộng sinh của vi khuẩn Rhyzobium với keo giậu kém, làm cho keo giậu

thiếu đ m, năng suất thấp

1.2.3 T n p ần óa ọ ủa t lá keo u

Thành phần hóa học lá cây keo giậu phụ thuộc vào các yếu tố như: loài, giống, vị trí địa lý, mùa vụ, giai đo n phát triển, lá ở các phần khác nhau của cây và x lý sau thu ho ch Nhìn chung, các kết quả phân tích cho thấy, lá keo giậu giàu protein, khoáng, vitamin và các chất sắc tố

* Protein

Hàm lượng protein thô trung bình trong bột lá keo giậu biến động từ 24,0 - 34,4 , trong hỗn hợp cành và lá từ 10 - 30 VCK Như vậy, hàm lượng protein trong BLKG là khá cao và có thể so sánh với bột cỏ Medi là một cây họ đậu có hàm lượng protein cao Garcia và cs, 1996) [59] Hàm lượng protein trong lá keo giậu cũng biến động giữa các phần của cây Lá non của keo giậu chứa nhiều protein và có khả năng tiêu hóa cao, lá ở đỉnh ngọn có hàm lượng protein cao nhất từ 28,4 - 30,0 % VCK Ronia và cs (1979) [86] cho biết, hàm lượng protein trong lá non cao gấp 1,5 lần so với

lá già, các phần lá phân bố ở giữa có hàm lượng protein là 23,8 - 28,2 %

Trang 26

VCK, phần lá bên dưới có hàm lượng protein là 17,4 - 24,1 % VCK

El - Ashry và cs (1993) [56] cho biết, hàm lượng protein của lá đ t mức cao nhất ở giai đo n đầu sinh trưởng và nó giảm dần với tuổi của cây

Mùa vụ là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân, cành, lá của keo giậu Garcia (1988) [58] cho biết, hàm lượng protein thô trong hỗn hợp thân cành lá được thu ho ch vào tháng 2, 3, 5, 6 trong năm lần lượt là: 34,2; 25,8; 20,5; 19,4; 20,5 VCK

Phương pháp chế biến cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới hàm lượng protein của keo giậu D’Mello và Fraser (1981) [53] nhận thấy, hàm lượng protein thô của BLKG thu ho ch t i Malawi được chế biến b ng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng m t trời cao hơn hàm lượng protein thô của BLKG chế biến b ng phương pháp sấy khô trong lò sấy ở nhiệt độ cao 29,41

so với 28,13 VCK

Người ta nhận thấy, protein của lá và h t keo giậu khá giàu các axit amin không thay thế như isoleucine, leucine, phenylalanine và histidine, còn hàm lượng lysine và methionine ở mức tương đối thấp so với một số lo i thức

ăn của động vật Các axit amin chứa lưu huỳnh trong lá và h t keo giậu ở mức thấp nhưng động vật nhai l i có khả năng tự tổng hợp những axit amin này, còn đối với động vật d dày đơn và gia cầm thì sự thiếu hụt các axit amin chứa lưu huỳnh phải bổ sung chúng vào trong khẩu phần (Garcia và cs, 1996 [59])

Keo giậu trồng t i Việt Nam có hàm lượng protein thô khá cao Lê Thị Hòa Bình và cs (1990) [2] cho biết, hàm lượng protein thô trong lá keo giậu trồng t i Việt Nam dao động từ 20,8 - 26,6 % VCK

* Lipit

Các kết quả nghiên cứu của Viện chăn nuôi quốc gia 1995 [42], cho thấy, BLKG chế biến b ng phương pháp phơi khô dưới ánh nắng m t trời có 4,30 lipit và giá trị năng lượng trao đổi của 1 kg BLKG ở gà là 2195 Kcal

Trang 27

Keo giậu được trồng ở các nước khác nhau có hàm lượng lipit khác nhau: Indonexia 5,0%; Philippin 6,4%; Thái Lan 4,6%; Malawi 4,7 ; Việt Nam 4,1 và trung bình trên thế giới là 5,3

Nguyễn Ngọc Hà và cs, (1993) [7], cũng cho biết, loài keo giậu

Leucaena leucocephala trồng t i Viện Chăn nuôi quốc gia, được chế biến

b ng phương pháp phơi kết hợp với sấy, cho thấy trong 1 kg vật chất khô BLKG có 48 g lipit

Từ Quang Hiển và cs, (2008) [11], cho biết, thành phần lipit của

BLKG Leucaena leucocephala ở các vùng sinh thái khác nhau của Việt Nam

có sự biến động tương đối thấp, như: Hà Nội 4,05 ; Huế 3,93 ; Thành phố

Hồ Chí Minh 5,58%; Thái Nguyên 4,71%

* Chất xơ

Keo giậu có hàm lượng chất xơ khá cao so với các lo i thức ăn ngũ cốc, nhưng thấp hơn nhiều lo i thức ăn xanh khác Do có hàm lượng chất xơ cao nên đã h n chế tỷ lệ tiêu hóa các chất dinh dưỡng có trong keo giậu, nhất

là đối với động vật d dày đơn và đ c biệt là gia cầm Hàm lượng xơ thô trong hỗn hợp cành, lá keo giậu trung bình là 35 dao động từ 32 - 38% VCK và trong bột lá là 19,2 VCK dao động từ 18,0 - 20,4% VCK) (Garcia và cs, 1996) [59] Damothiran và Chandrasekaran (1982) [55] cho biết, hàm lượng xơ thô trong lá keo giậu biến đổi từ 19,8 VCK ở giống

Hawaii lớn đến 23,2 VCK ở giống Jhansi, và hàm lượng xơ trong h t tươi

của keo giậu là thấp nhất 6,45 VCK

Ở Việt Nam, Nguyễn Ngọc Hà 1996 [8] cho biết, bột lá keo giậu có hàm lượng xơ trung bình từ 8,41 - 10,37 VCK, còn theo Từ Quang Hiển và

cs 2008 [11] thì tỷ lệ này dao động từ 8,97 - 9,25 % VCK

* Chất khoáng

Keo giậu là loài cây giầu các chất khoáng, đ c biệt là trong thân và lá

Trang 28

Hàm lượng các chất khoáng trong keo giậu có nhiều biến động, nó phụ thuộc vào các loài keo giậu và ngay trong cùng một loài cũng có sự biến động giữa các giống, các phần và các giai đo n sinh trưởng của cây, mùa vụ, giai đo n thu ho ch, vị trí địa lý và hàm lượng khoáng có trong đất

Garcia và cs (1996) [59] đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của 65 báo cáo khoa học cho biết, hàm lượng trung bình các chất khoáng có trong keo giậu như sau: canxi là 1,80 biến động từ 0,88 - 2,90 ; phốt pho là 0,26 biến động 0,14 - 1,38 ; lưu huỳnh là 0,22 biến động 0,14 - 0,29 %); magie là 0,33 % biến động từ 0,17 - 0,48 ; natri là 1,34 biến động 0,22 - 2,66 %); kali là 1,45 biến động từ 0,79 - 2,11 %) El - Ashry và cs (1993) [56] cũng cho biết, hàm lượng khoáng tổng số tăng lên với tuổi của cây, hàm lượng canxi, kali và magie tăng lên dần dần với sự tăng lên của tuổi cây, trong khi đó hàm lượng photpho, sắt, k m, mangan l i giảm đi khi tuổi của cây tăng lên

Hàm lượng khoáng phụ thuộc vào các phần khác nhau của cây Toruan

- Mathius và cs (1992) [95] cho biết, hàm lượng photpho của lá keo giậu non cao hơn so với lá trưởng thành Padmavathy và Shobha 1987 [82] cho biết,

h t keo giậu có hàm lượng canxi và photpho cao hơn so với lá

* Các chất sắc tố

Keo giậu là một loài cây giàu chất sắc tố mà chủ yếu là caroten và

xanthophyll Caroten là tiền vitamin A và hiệu suất chuyển hóa thành vitamin

A giữa các loài là khác nhau BLKG chứa nhiều xanthophyll mà đó là nguồn

cung cấp sắc tố cho động vật, nó có thể được dự trữ trong các mô cơ, da và

lòng đỏ trứng gia cầm Người ta đã chứng minh được r ng, xanthophyll được

dự trữ trong da, cơ và lòng đỏ trứng gia cầm có nguồn gốc từ thức ăn vì gia cầm không có khả năng tự tổng hợp nên sắc tố này Mầu đỏ của lòng đỏ trứng

gà và mầu vàng của da gà là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng

sản phẩm của gia cầm Hàm lượng caroten và xanthophyll phụ thuộc khá

Trang 29

nhiều vào phương pháp chế biến và bảo tồn sản phẩm keo giậu Các chất sắc

tố và caroten dễ dàng bị phân hủy bởi nhiệt độ cao, như sấy khô trong lò sấy

ho c phơi khô dưới ánh nắng m t trời Thời gian bảo quản càng dài thì hàm

lượng caroten và xanthophyll càng giảm

Wood và cs, (1983) [97], đã nhận thấy, hàm lượng caroten và đ t ở mức

cao trong BLKG được thu ho ch ở Malawi và chế biến b ng phương pháp phơi

khô dưới ánh nắng m t trời có thể chứa tới 480 mg caroten và 932 mg

xanthophyll/kg VCK D’Mello và Acamovic (1989) [54], cho biết, hàm lượng caroten trong BLKG giảm từ 19 - 40 mg kg tháng và hàm lượng xanthophyll

giảm từ 29 - 53 mg kg tháng Nếu phơi BLKG dưới ánh nắng m t trời thì các

carotenoid bền hơn các carotenoid sấy khô trong lò sấy

1.2.4 Đ tố tron lá keo u v p ươn p áp k đ tố

* Độc tố trong lá keo giậu

Ngoài các chất dinh dưỡng, keo giậu có h n chế do có các độc tố như: mimosin, tanin, antitrypsin, gôm galactan, falavon, hemagglutinin làm ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh trưởng của động vật Trong đó đáng chú ý nhất là độc tố mimosin, nó có hàm lượng cao trong trong keo giậu và độc tính m nh hơn các chất khác

Mimosin là một axit amin phi protein có trong thành phần của cây keo

giậu, hàm lượng mimosin biến động giữa các loài, giống, tuổi, các phần khác

nhau của cây, khoảng cách thu ho ch và phương pháp chế biến

Hauad và Foroughbakhch (1991) [62], cho biết, ngay trong cùng loài,

hàm lượng mimosin trung bình cũng rất biến động từ 3 - 9 VCK đối với loài L leucocephala; từ 1 - 2 VCK đối với loài L gregii, từ 2- 5 % VCK đối với loài L pulverulenta)

Chandrasekhran và Govindaswamy (1985) [49], cho thấy, loài L

diversifolia có hàm lượng mimosin trung bình từ 2,0 - 2,8 VCK là thấp hơn

Trang 30

so với loài L.lanceolata là 6,2 VCK, cây lai giữa loài L.diversifolia với loài

L.leucocephala có hàm lượng mimosin ở mức thấp từ 2,0 - 3,8 % VCK

Hauad và Foroughbakhch (1991) [62], nhận thấy, hàm lượng mimosine

có xu hướng tăng lên theo tuổi của cây và hàm lượng mimosin thấp nhất lúc

cây bắt đầu thời kỳ ra hoa

Gupta và cs (1992) [60], cho biết, hàm lượng mimosin tăng trong mùa

nóng và ẩm tháng 7 và 8 Hauad và Froughbakhch (1991) [62], cũng cho

biết, hàm lượng mimosin của keo giậu cao trong mùa hè tháng 6 đến 8 và

thấp trong mùa đông và đầu mùa xuân

Takahashi và Ripperton (1949) [90], cho biết, khoảng cách giữa các lần

thu ho ch càng lớn hàm lượng mimosin càng thấp và khi tuổi của cây tăng lên thì hàm lượng mimosin l i giảm

Akbar và cs (1984) [44], đã nhận thấy, hàm lượng mimosin của giống K8, loài L.leucocephala có 5,1 % VCK trong lá non, 3,1 % VCK trong lá

trưởng thành 2,2 VCK trong cành, 1,8 VCK trong cuống lá, 2,4 VCK trong vỏ quả tươi, 5,9 VCK trong h t, 4,9 VCK trong búp non và 3,7 VCK trong hoa

* Các phương pháp hạn chế và loại bỏ các chất độc của keo giậu

Để s dụng keo giậu trong chăn nuôi đ t hiệu quả cao thì việc lo i bỏ các chất độc h n chế tiêu hóa trong nó là rất quan trọng Do vậy việc tìm ra các biện pháp lo i bỏ độc tố của keo giậu rất đáng quan tâm Chất độc có hàm lượng và độc tính cao nhất trong keo giậu là mimosin, đồng thời trong quá trình lo i bỏ và h n chế tính độc của mimosin thì một số chất độc khác cũng

bị đào thải ho c h n chế tính độc

Mimosin dễ dàng bị phá hủy bởi các yếu tố lý, hóa học và vi sinh vật Trong tự nhiên nó có thể bị phá hủy bởi ánh nắng m t trời, nhiệt độ cao và một

Trang 31

số vi sinh vật Onwuka, 1997) [81] Có rất nhiều phương pháp h n chế và lo i

bỏ độc tính của mimosin, một số phương pháp thường được s dụng như sau:

Phương pháp sấy khô và phơi dưới ánh nắng m t trời và ngâm keo giậu trong nước là những phương pháp đơn giản nhất NAS 1977 [76] đã cho biết, hàm lượng mimosin trong thân, lá keo giậu giảm đáng kể khi được sấy khô ở nhiệt độ 70o

C Akbar và Gupta (1984) [44] đã cho biết, sấy lá keo giậu ở nhiệt độ cao ho c phơi dưới ánh nắng m t trời đã làm giảm đáng kể lượng mimosin trong bột lá

Ter Meulen và cs (1981) [93] cũng đã nhận thấy, ngâm lá keo giậu trong nước 36 giờ làm giảm đáng kể lượng mimosin X lý keo giậu b ng cách ngâm trong nước ở nhiệt độ phòng trong 12 giờ và sấy khô ở nhiệt độ 100o

C trong 12 giờ làm giảm hàm lượng mimosin trong BLKG giống Sababul nhiều hơn so với x lý b ng dung dịch FeSO4 2 ho c NaOH 0,05M

Người ta có thể s dụng một số hóa chất để lo i bỏ và h n chế độc tính của mimosin Hàm lượng mimosin trong h t keo giậu có thể giảm 80 khi

x lý với dung dịch ure và 88 sau khi s lý với dung dịch natri bicacbonat (Hossain và cs, 1991) [63]

Tawata và cs (1986) [92] đã cho biết, dùng dung dịch axetat natri là một trong những chất hóa học hiệu quả nhất mà có thể chiết suất tới 95 mimosin trong keo giậu

Ủ xanh cũng là một phương pháp hiệu quả Khattha và cs (1987) [71] cho biết, hàm lượng mimosin trong thân, lá keo giậu giảm liên tục với sự tăng lên của thời gian ủ từ 1 đến 60 ngày

Tangendjaja và cs (1984) [91] cũng cho biết, chọn lọc và t o các giống mới có hàm lượng mimosin thấp cũng là một giải pháp để h n chế hàm lượng và độc tính của mimosin trong keo giậu Người ta đã thành công trong việc t o ra

Trang 32

các cây lai có hàm lượng mimosin thấp và protein cao từ những giống keo giậu

khác nhau Cây lai giữa 2 giống L.leucocephala và L.pulverulenta là một thí dụ

1.3.G ớ t ệu ỏ Stylo

1.3.1 Tên ọ n u n ố p ân ố v đặ đ ểm s n v t ủa ỏ Stylo

* n gọi

Stylosanthes là một chi thực vật có hoa thuộc họ Fabaceae Nó thuộc

phân họ Faboideae và được APGII phân lo i như sau:

Giới (regnum): Phantae

Không phân h ng: Angiospermae

Không phân h ng: Eudicots

Không phân h ng: Rosids

Bộ (ordo): Fabales

Họ (familia): Fabaceae

Phân họ (subfamilia): Faboideae

Tông (tribus): Aeschynomeneae

Chi (genus): Stylosanthes Sw

Các giống stylo được s dụng rộng rãi làm thức ăn gia súc ở các vùng

nhiệt đới là: Stylosanthes guianensis (CommonStylo) và Stylosanthes scabra (Shrubby Stylo) là lo i cây lâu năm, Stylosanthes humilis (Townsville Stylo)

và Stylosanthes hamata (Caribbcan Stylo) là lo i cây hàng năm

* Nguồn gốc phân bố

Là lo i cỏ có nguồn gốc từ châu Mỹ La Tinh Cỏ được trồng phổ biến

ở Tây Ân Độ, Hawaii, và một số nước châu Phi như Kenya, Uganda, Nigieria, được phân bố rộng rãi từ Mexico đến Argentina

Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ, từ Brazil nhập vào

Australia những năm 1930, nhưng sau chiến tranh thế giới lần thứ II mới được chú ý đến Đây là lo i thức ăn gia súc được phát triển đáng kể ở nhiệt

Trang 33

đới và cận nhiệt đới, đã nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công Gô, Nam Trung Quốc Ở Việt Nam, cỏ Stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia

* Đặc điểm sinh vật của cỏ Stylo

Thân: thân thô, đứng ho c bò, cao tới 1m, ở khí hậu ẩm có thể tới 1,5m

Có khả năng ra rễ ở thân, khi già thường chuyển màu xanh sẫm ho c tím

Rễ: là lo i rễ chum

Lá: Lá chẻ ba, dài hẹp và nhọn, có lông, có nhiều ho c ít lông mềm Lá

dài 2 - 3 cm, rộng 5 - 10 mm

Hoa: hoa hình bông cuốn không sát nhau, thường có 70 - 120 chùm,

trên mỗi chùm có 5 - 9 hoa

Quả: Quả đậu không có cuống, gồm 7 - 8 h t có vỏ cứng

1.3.2 N n suất ất xan

Cỏ Stylosanthes được các nhà khoa học quan tâm trong thời gian gần đây Stylosanthes đến nay là cây thức ăn thô xanh họ đậu nhiệt đới thành công nhất trên toàn thế giới Stylosanthes có ý nghĩa trong hệ thống sản xuất nông nghiệp và môi trường Ở Việt Nam, Stylosanthes cũng được nghiên cứu từ

những năm trước đây, từ các nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào vùng chăn

nuôi, vào mức phân bón và nước tưới, đất đai, khác nhau Stylosanthes s cho

năng suất khác nhau

Hoàng Văn T o và cs, (2010) [31], cho biết Stylosanthes CIAT 184

trồng t i Nghĩa Đàn đ t sản lượng chất xanh từ 52,5 đến 65,2 tấn ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau Cùng nghiên cứu này trên cỏ Stylo Plus, Hoàng Văn T o và cs (2010) [31], cho biết năng suất chất xanh đ t từ 49,70 đến 62,00 tấn ha; năng suất chất khô đ t từ 11,70 đến 14,92 tấn ha; năng suất protein từ 1,99 đến 2,53 tấn ha ở 2 mức phân bón hóa học

và mức phân hữu cơ khác nhau

Trang 34

Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều lo i đất, ngay

cả ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải t o đất và che phủ đất, chống xói mòn Năng suất xanh đ t 40-50 tấn ha năm Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đ t từ 25 - 60 tấn ha 5 - 14,5 tấn chất khô ha năm Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24 , đ m thô 17 - 18 , xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10 , lipit 1,55 Với thành phần dinh dưỡng như vậy cỏ Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ, đ c biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [26]

Cỏ Stylo (Stylosanthes hamata): trồng một lần có thể thu ho ch 4-5 năm

Năng suất có thể đ t 90- 100 tấn ha năm nếu được chăm sóc, thâm canh tốt

Cỏ Stylosanthes trồng ở Brazil đ t năng suất chất xanh từ 15 - 20 tấn ha;

35 tấn ha năm ở Zaire T i Madagascar cỏ Stylosanthes trồng sau 1 năm đ t 43

tấn ha trên vùng đất cao và 70 tấn ha vùng đất thấp Ecoport, 2001 [100]

1.3.3 T n p ần óa ọ tron t ỏ Stylo:

* Protein

Theo Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn 2009 [12], cây đậu Stylo có năng suất không cao như một số giống hòa thảo nhưng có giá trị dinh dưỡng cao, tỉ lệ protein thô đ t 16,86 , tỉ lệ s dụng cỏ Stylo cũng tương đối cao 87,6 Theo Nguyễn Thị Mùi và cs, (2006) [21]: trên cả 3 vùng nghiên cứu Thái Nguyên, Ba Vì, Lâm Đồng hàm lượng protein bình quân ở cỏ Stylo Plus đ t

17 Theo Đ ng Thuý Nhung 2008) [24] cho biết: hàm lượng protein của thân lá cỏ Stylo khô là 16,3%

Đối với cỏ Stylosanthes cùng việc nghiên cứu năng suất các nhà khoa

học cũng tập trung đánh giá thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của nó

Hàm lượng nitơ của Stylosanthes guianensis vào khoảng 1,5 đến 3 tính theo

CK (Mannetje và Jone, 1992) [75]

Trang 35

Trong những năm gần đây, Stylosanthes cũng được trồng phổ biến t i Thái Lan và Lào Stylosanthes trồng t i Thái Lan có chứa protein thô 17,1%

(Kiyothong và wanapat, 2004a) [69] Thành phần hóa học của cỏ

Stylosanthes ở 4 lứa cắt tính theo CK dao động từ 16,7 - 18,1% protein thô

(CP) (Kiyothong và Wanapat, 2004b) [70] Một số kết quả phân tích cho

thấy: cỏ Stylosanthes tươi 40 - 45 ngày t i Lào chứa 20,2 CK; tính theo CK

có 19% protein thô (Phengsanvanh, 2003) [84] Theo Chanphone và Choke,

2003 [50], Stylosanthes có 22,3% CK; protein thô 19,3 Hàm lượng CK đ t

từ 20,0 - 28,0%; protein thô 13,3% (Toum Keopaseuht, 2004) [94]

* Lipit

Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều lo i đất, ngay

cả ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải t o đất và che phủ đất, chống xói mòn Hàm lượng lipit 1,55 Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đ c biệt

là có khả năng chế biến thành bột cỏ Lê Đức Ngoan và cs, 2005) [26]

Omole và cs, (2007) [80] cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng t i Nigeria có 1,34 lipit thô Cỏ Stylosanthes guianensis, khi trồng - các nước, các

vùng sinh thái khác nhau, thời gian thu mẫu, phương pháp phân tích khác nhau thì hàm lượng lipit trong cỏ cũng khác nhau: lipit dao động từ 1,34 - 2,7%

* Chất xơ

Theo Chanphone và Choke (2003) [50], Stylo CIAT 184 có hàm lượng xơ thô chiếm 30 VCK Hàm lượng CK đ t từ 20 - 28%; protein thô 13,3 ; xơ trung tính 16,9% tính theo CK Theo Kiyothong và Wanapat (2004a) [69] hàm lượng xơ trung tính 39,1 và xơ axit 56,8

Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4 lứa cắt tính theo CK dao

động từ 49,1 - 61,5 xơ trung tính (NDF); 34,1 - 47,3 xơ axit (ADF)

Trang 36

(Kiyothong và Wanapat, 2004b) [70] Một số kết quả phân tích cho thấy: cỏ

Stylosanthes tươi 40 - 45 ngày t i Lào chứa 20,2 CK; tính theo CK có 64,2

xơ trung tính Phengsanvanh, 2003) [84]

Omole và cs (2007) [80], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng t i

Nigeria có CK 19,75 ; 13,28 xơ thô Giá trị dinh dưỡng của cỏ

Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu ho ch ở Nigeria có 92,1 CK;

tính theo CK có 32,8 xơ thô CF Bamikole và Ezenwa, 1999) [47]

Cỏ Stylosanthes trồng t i Zaire, có thành phần dinh dưỡng biến động

từ 33-40 xơ thô 0,1-0,2% P, 0,8-1% Ca, 1,2-1,8% K, 0,3-0,8% Mg, 0,02%

Na và 0,1-0,8 Cl tính theo vật chất khô Ecoport, 2001 [10]

* Các chất khoáng

Theo Chanphone và Choke, (2003) [50], Stylo CIAT 184 có chứa 5,1 chất khoáng, trong đó khoáng Ca chiếm 0,2 và P chiếm 0,4

Thành phần hóa học của cỏ Stylosanthes ở 4 lứa cắt tính theo CK dao

động từ 6,3 - 8,7% khoáng (Ash) (Kiyothong và Wanapat, 2004b) [70]

T i Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày chứa 20,2 CK, còn chất khoáng tính theo CK có 5,5 Phengsanvanh, 2003 [84])

Omole và cs (2007) [80], cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng t i

Nigeria có CK 19,75 ; 9,38 khoáng tổng số Giá trị dinh dưỡng của cỏ

Stylosanthes guianensis khô 6 tuần sau thu ho ch ở Nigeria có 92,1 CK;

tính theo CK có 7,3% khoáng (Bamikole và Ezenwa, 1999) [47]

* Các chất sắc tố

Nhìn chung các sắc tố có trong cây họ đậu thì carotenoid là nhóm nhiều nhất và phổ biến rộng rãi của các sắc tố trong tự nhiên trong đó có

Stylo là một loài cây giàu chất sắc tố, chủ yếu là caroten và xanthophyll

Caroten là tiền vitamin A với hiệu suất chuyển hóa khác nhau tùy theo loài

động vật và mức độ thừa ho c thiếu vitamin A trong khẩu phần Xanthophyll

Trang 37

không có ho t tính của vitamin nhưng nó có thể được dự trữ trong các mô cơ,

Nhiệt độ thích hợp cho sắn mọc mầm và ra rễ từ 20-370C, còn tối thích hợp là từ 25-300C Nếu nhiệt độ nhỏ hơn 160C sắn s không mọc mầm Cây vẫn mọc mầm và ra rễ tốt khi nhiệt độ lên tới 300C và sau đó giảm dần khi nhiệt độ tăng đến 370C Cây sắn có thể sống được cả ở những nơi có lượng mưa dao động từ 500 - 5000 mm và ở những nơi có mùa khô từ 4-6 tháng Ở giai đo n cây mọc mầm và ra rễ đòi hỏi phải có độ ẩm từ 65 đến 75 Còn ở giai đo n sinh trưởng của thân và lá thì cũng yêu cầu về độ ẩm cao nhưng khi bị h n kéo dài thì diện tích lá giảm, năng suất thân lá giảm 38 , năng suất củ giảm 14 Trong điều kiện khô h n kéo dài, thiếu nước s làm tăng lượng HCN trong cây Ngược l i, lượng mưa cao có tác dụng làm giảm HCN Trần Ngọc Ngo n, 2007 [27])

Cỏ Stylo là lo i cây họ đậu thích nghi tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới

Là cây có khả năng thích nghi rộng với các vùng sinh thái, yêu cầu lượng mưa

từ 1.500 – 2.500 mm Cỏ có thể sống được ở những vùng có lượng mưa trung bình 890 mm Tuy nhiên với lượng mưa 650 mm cây vẫn có thể sống được nhưng sinh trưởng, phát triển kém Độ ẩm không khí thích hợp là 70-80 Cỏ Stylo có thể phát triển tốt khi nhiệt độ không khí 20-350C, khi nhiệt độ dưới

50C và trên 400C cây phát triển kém Khi thiếu ánh sáng cỏ Stylo bị giảm năng suất Cỏ Stylo có thể mọc được trên nhiều lo i đất khác nhau: chua nghèo dinh dưỡng và có thể trồng xen với các lo i cây ăn quả, chè, cà phê

Trang 38

Keo giậu là một loài cây có có biên độ sinh thái rộng, thích ứng với khí hậu vùng nhiệt đới Sorensson, 1994 [89] , có khả năng kết hợp với các loài

vi khuẩn Rhizobium và nấm Mycorrhiza cộng sinh nên có thể chịu h n, s

dụng có hiệu quả nước và muối khoáng n m sâu trong đất, cũng như nitơ trong không khí để t o ra bộ lá giàu protein, vitamin, khoáng vi lượng NAS,

1984 [77] Tuy nhiên trong điều kiện l nh và sương muối Shelton và Brewbaker, 1993 [87]; Shelton và Jones, 1994 [88] , nhiệt độ thấp hơn 10oC (Hutton và Gray, 1959 [64] Mùa đông ở các vĩ độ lớn hơn 30o Bắc và 30o Nam, cũng như trên núi cao hơn 1500 m so với m t biển ở vùng nhiệt đới thường có nhiệt độ thấp, không thích hợp với keo giậu M c dù vậy, ở nhiệt

độ -10 oC, keo giậu cũng chỉ chết phân trên m t đất, đến mùa mưa chồi l i được mọc lên từ gốc dưới m t đất NAS, 1984 [77] Ngay trong điều kiện nhiệt độ và pH thích hợp thì trong 2 tháng đầu keo giậu non sinh trưởng chậm, thường bị cỏ d i lấn át Shelton và Jones, 1994 [88] và không chịu được đất quá ẩm Sorensson, 1994 [89])

1.4.2 Ản ưởn của đất

Trong điều kiện nhiệt đới, môi trường đất là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng cỏ Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng,

do đó tính chất vật lý cấu tượng đất s ảnh hưởng đến độ ẩm đất, sự hấp thu các chất dinh dưỡng, sự phát triển của các hệ vi sinh vật trong đất và ảnh hưởng tới năng suất cây trồng

Cây sắn có khả năng chịu đựng tốt với đất nghèo dinh dưỡng, đất chua, đất có hàm lượng nhôm và mangan cao Do bộ rễ phát triển sâu tới 2,5 m và

có khả năng cố định cacbon trong điều kiện thiếu nước kéo dài Các tác giả Asher và cs (1980) [45], CIAT (1980) [52] đều cho biết: cây sắn hấp thu nhiều nhất N, sau đó là K, Ca, Mg, P và S Cứ 1000 kg củ sắn có 5,87 kg N; 0,98 kg P; 7,71 kg K; 1,18 kg Ca; 0,69 kg Mg Còn 1000 kg thân và lá sắn có

Trang 39

15,70 kg N; 1,99 kg P; 13,66 kg K; 7,16 kg Ca; 2,26 kg Mg Vì vậy, nếu trong thành phần dinh dưỡng đất thiếu nguyên tố nào thì s làm giảm khả năng sinh trưởng của cây và làm giảm năng suất của cây sắn

Với cây keo giậu, trong điều kiện đất chua, có pH<5,5 (Shelton và jones, 1994 [88]; NAS, 1984 [77] , thường thiếu Ca, P, K, Mg, Mo, nhưng l i nhiều Al s ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của cây Bởi vậy, trong điều kiện đất ít chua pH = 5-5,5 người ta thường bón vôi, lân, kali và đôi khi cả phân chuồng để nâng cao năng suất của keo giậu

Cỏ Stylo là lo i cỏ phù hợp với chân ruộng cao và là lo i cây chịu được khô h n, không chịu được đất bị úng ngập Đây là lo i cỏ có khả năng chịu bóng kém, vì vậy không nên trồng dưới tán các cây khác Cỏ này có thể thích nghi với nhiều lo i đất, nó có thể phát triển được trên đất có độ axít và có khả năng chịu úng tương đối tốt

1.4.3 Ản ưởn ủa phân bón

Phân bón là nguồn bổ sung chất màu cho đất Lượng phân bón cung cấp cho cây trồng nhiều hay ít và các lo i phân bón khác nhau s ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển, quá trình trao đổi chất của cây trồng Từ

đó s dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần dinh dưỡng của cây trồng Các nhà khoa học đã khẳng định “Phân bón quyết định trên 50% việc tăng năng suất cây trồng”

- Phân chuồng: Đối với cây sắn, mức bón phân hữu cơ dao động từ 5

đến 10 tấn ha, tùy thuộc vào hàm lượng các chất dinh dưỡng và tỷ lệ mùn trong đất cao hay thấp (Poungchompu và cs, 2001 [83]) Theo Nguyễn Thị Mùi và cs, 2007 [21] bón phân chuồng 20 -30 tấn ha đã tăng năng suất CK của keo giậu K636 và Stylo Plus từ 16,6-28,5%, 26,8-43,5%, 26-40% và 23,7-40,4 so với bón 10 tấn ha Hoàng Văn T o và Nguyễn Quang Toản

(2010) [31] cho biết năng suất chất xanh của cỏ Stylosanthes tăng lên khi tăng

Trang 40

mức phân hữu cơ từ 10 lên 30 tấn ha; Stylo CIAT 184 có năng suất từ 53-65 tấn ha

- Phân đạm: Đối với cây sắn thì tùy theo từng lo i đất khác nhau lượng

đ m bón tối ưu cũng khác nhau Những kết quả nghiên cứu khác nhau t i Ấn

Độ, Thái Lan, Indonexia, Philippin và Trung Quốc cho thấy mức bón đ m thích hợp cho sắn từ 60 đến 100 kg N ha Trần Công Khanh và Nguyễn Văn Long (1998) [14] cho biết trên đất nâu đỏ ở Bình Long, bón phân N cho sắn

có hiệu lực rõ rệt so với không bón phân, ở mức bón N cho 1 ha là 160 và 120

kg ha đem l i hiệu quả cao nhất Theo Trần Thị Hoan 2012 [13], Thí nghiệm bón phân đ m ở các mức 0, 20, 40, 60 và 80 kg N ha lứa cắt cho giống sắn

KM 94 đã rút ra được một số kết luận sau: Khi tăng mức bón đ m thì năng suất lá sắn lứa cũng tăng theo, nhưng đến mức bón 80 kg N thì năng suất l i giảm đi so với mức bón 60 kg N ha lứa cắt Khi tăng mức bón đ m từ 0 đến

60 kg N thì sản lượng lá sắn tươi, VCK và protein thô ha năm tăng theo Nhưng tăng đến mức bón 80 kg N thì sản lượng lá sắn tươi, sản lượng VCK, protein đều thấp hơn so với mức bón 60 kg N ha lứa cắt Theo Nguyễn Văn Quang và cs [2007a] [28] bón 60 kgN ha cho cỏ họ đậu khi giai đo n còn non đ t được năng suất CK là 13,7 tấn ha keo giậu K280 , 15,9 tấn ha Stylo CIAT 184 Cũng theo Nguyễn Văn Quang và cs [2007b) [29] bón 200 kg ure ha cho năng suất protein đ t 1,8 tấn lứa cho keo giậu K280; 2,4 tấn lứa cho Stylo Ciat 184 Nghiên cứu của Hoàng Văn T o và Nguyễn Quang Toản (2010) [31] s dụng 50-

70 kg ure cho cỏ stylo CIAT 184 đ t năng suất trung bình 58,8-58,9 tấn ha

- Phân Lân: Phân lân được bón cho sắn với mức bón từ 40 đến 80 kg

P2O5/ha là có hiệu quả nhất Trần Thị Hoan, 2012 [13]) Theo Nguyễn Văn Quang và cs, (2007a) [28] bón 80 kg P2O5 ha cho cỏ họ đậu đ t được năng suất protein là 3,4 tấn ha keo giậu K280 và 2,4 tấn ha Stylo CIAT 184 Đối với bón keo giậu K280 bón 400 kg Supelân ha cho năng suất chất xanh

Ngày đăng: 04/04/2016, 09:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Biểu đồ nhiệt độ trung bình từ năm 2014-2015 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, thành phần hóa học và giá thành sản phẩm bột lá của sắn, keo giậu và cỏ stylo
Hình 3.1. Biểu đồ nhiệt độ trung bình từ năm 2014-2015 (Trang 52)
Hình 3.2. Đồ thị sự phân bố lượng mưa trung bình từ năm 2014-2015 - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, thành phần hóa học và giá thành sản phẩm bột lá của sắn, keo giậu và cỏ stylo
Hình 3.2. Đồ thị sự phân bố lượng mưa trung bình từ năm 2014-2015 (Trang 52)
Hình 3.3. Biểu đồ chiều cao của cây thức ăn qua các thời điểm đo  Nhận xét: nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy giai đo n đầu chiều cao của - Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, thành phần hóa học và giá thành sản phẩm bột lá của sắn, keo giậu và cỏ stylo
Hình 3.3. Biểu đồ chiều cao của cây thức ăn qua các thời điểm đo Nhận xét: nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy giai đo n đầu chiều cao của (Trang 56)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w