1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng

90 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo đến khả năng sinh trưởng của gà.... Ảnh hưởng của các cách bổ sung bột cỏ Stylo đến mức độ tiêu tốn năng lượng trao đổi ME và protein thô

Trang 1

- -

NGUYỄN VĂN LỰC

XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ CỦA CÁC CÁCH THỨC

BỔ SUNG BỘT CỎ STYLO VÀO KHẨU PHẦN

GÀ THỊT GIỐNG LƯƠNG PHƯỢNG

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60 62 01 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TỪ QUANG HIỂN

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài luận văn của tôi là một phần đề tài của NCS Từ Quang Trung, chúng tôi hợp tác cùng nhau thực hiện Các kết quả công bố trong luận văn này đã được sự đồng ý của nghiên cứu sinh và chưa được bất kỳ tác giả nào công bố trước đó Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Tác giả

Nguyễn Văn Lực

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; Trại Giống gia cầm Thịnh Đán tỉnh Thái Nguyên; Viện Chăn nuôi Quốc gia; Viện Khoa học

sự sống, Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên cùng các em sinh viên Khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu này

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo, giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn khoa học, GS.TS Từ Quang Hiển trong suốt quá trình thực hiện luận văn Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc và gửi tới thầy lời chúc tốt đẹp nhất

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các đồng chí Lãnh đạo và đồng nghiệp tại Trung tâm Phát triển chăn nuôi Hà Nội - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện về thời gian và công việc để tôi hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin trân trọng gửi tới các thầy cô giáo, các quý vị trong Hội đồng chấm luận văn Trường Đại học Thái Nguyên lời cảm ơn chân thành

và lời chúc sức khỏe, thành đạt

Thái Nguyên, tháng 12 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Văn Lực

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Giới thiệu về cây cỏ Stylo 3

1.1.1 Tên, nguồn gốc phân bổ của cỏ Stylo 3

1.1.2 Năng suất chất xanh 4

1.1.3.Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo 6

1.2 Sắc tố trong thực vật, tác dụng của sắc tố đối với vật nuôi 9

1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố 9

1.2.2 Sắc tố trong thực vật 9

1.2.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi 11

1.2.4 Ảnh hưởng của sắc tố đối với vật nuôi 12

1.3 Ảnh hưởng của năng lượng trao đổi và protein trong thức ăn đối với gia cầm 14 1.3.1 Ảnh hưởng của năng lượng trao đổi trong thức ăn đối với gia cầm 14

1.3.2 Ảnh hưởng của protein trong thức ăn đối với gia cầm 17

1.3.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ năng lượng / protein đến đến sinh trưởng của gia cầm 18

1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng, khả năng cho thịt và tiêu tốn thức ăn của gia cầm 20

1.4.1 Khả năng sinh trưởng 20

1.4.2 Khả năng cho thịt 21

1.4.3 Tiêu tốn thức ăn 24

1.5 Nguồn gốc và vài nét về giống gà Lương Phượng 25

1.6 Các kết quả nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo trong chăn nuôi tại Việt Nam và trên thế giới 26

Trang 5

1.6.1 Nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo trên thế giới 26

1.6.2 Nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo trong nước 27

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 29

2.2 Nội dung nghiên cứu 29

2.3 Phương pháp nghiên cứu 29

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 29

2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 33

2.3.3 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 33

2.3.4 Xử lý số liệu 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 37

3.1 Ảnh hưởng của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo đến khả năng sinh trưởng của gà 37

3.1.1 Ảnh hưởng của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo đến tỷ lệ nuôi sống 37

3.1.2 Ảnh hưởng của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo đến sinh trưởng tích lũy của gà 38

3.1.3 Ảnh hưởng của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo đến Sinh trưởng tuyệt đối của gà qua các giai đoạn 41

3.1.4 Ảnh hưởng của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo đến sinh trưởng tương đối của gà qua các giai đoạn 44

3.2 Ảnh hưởng của các cách bổ sung bột cỏ Stylo đến thu nhận và chuyển hóa thức ăn46 3.2.1 Ảnh hưởng của các cách bổ sung bột cỏ Stylo đến khả năng thu nhận thức ăn của gà quan các giai đoạn 46

3.2.2 Ảnh hưởng của các cách bổ sung bột cỏ Stylo đến mức độ tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng của gà 48

3.2.3 Ảnh hưởng của các cách bổ sung bột cỏ Stylo đến mức độ tiêu tốn năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) cho 1 kg tăng khối lượng của gà 51

3.3 Ảnh hưởng của các cách bổ sung bột cỏ Stylo đến năng suất và chất lượng thịt gà 55

3.3.1 Khả năng cho thịt của gà 55

3.3.2 Một số chỉ tiêu lý, hóa học của thịt gà 56

Trang 6

3.4 Ảnh hưởng của các cách bổ sung bột cỏ đến hiệu quả kinh tế kỹ thuật của đàn gà 60

3.4.1 Chỉ số sản xuất PI (Performance Index) Chỉ số kinh tế EN (Economic Number) của đàn gà 60

3.4.2 Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của việc bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần thịt gà 61

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65

PHỤ LỤC 76

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

AA/ME : Tỷ lệ axit amin trên năng lượng trao đổi

ME : Năng lượng trao đổi

ME/P : Tỷ lệ năng lượng trao đổi trên protein

TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam

TTTA : Tiêu tốn thức ăn

TN1 : Thí nghiệm 1

TN2 : Thí nghiệm 2

VCK : Vật chất khô

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Trang

Bảng 1.1 Thành phần một số axit amin của cỏ Stylo CIAT 184 (g/kg) 8

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 31

Bảng 2.2 Công thức và giá trị dinh dưỡng của KPCS và KPTN1 32

Bảng 2.3 Công thức và giá trị dinh dưỡng KPTN2 33

Bảng 3.1 Tỷ lệ nuôi sống của các lô gà qua các giai đoạn (%) 37

Bảng 3.2 Sinh trưởng tích lũy của các lô gà qua các giai đoạn (g/con) 39

Bảng 3.3 Sinh trưởng tuyệt đối của gà TN ở các giai đoạn (g/con/ngày) 41

Bảng 3.4 Sinh trưởng tương đối của gà TN qua các giai đoạn (%) 44

Bảng 3.5 Tiêu thụ thức ăn trung bình của gà qua các giai đoạn (g/con/ngày) 46

Bảng 3.6 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của gà (kg/kg) 49

Bảng 3.7 Tiêu tốn ME cho 1 kg tăng khối lượng (kcal) 52

Bảng 3.8 Tiêu tốn protein cho 1 kg tăng khối lượng (g) 54

Bảng 3 9 Khả năng cho thịt của các lô thí nghiệm 55

Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu lý, hóa học của thịt ngực 57

Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu lý, hóa học của thịt đùi và hàm lượng Caroteniod trong gan 58

Bảng 3.12 Chỉ số sản xuất (PI) và chỉ số kinh tế (EN) của các lô gà 60

Bảng 3.13 Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của việc bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần thịt gà 62

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà Lương Phượng 40 Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà Lương Phượng 43 Hình 3.3 Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà Lương Phượng qua các giai đoạn 45 Hình 3.4 Tiêu thụ thức ăn trung bình của gà qua các giai đoạn 48 Hình 3.5 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của gà 51

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Sử dụng bột lá trong chăn nuôi đặc biệt là chăn nuôi gia cầm đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu Tuy nhiên, ảnh hưởng của cách thức bổ sung bột lá vào khẩu phần còn ít được nghiên cứu

Bột lá thường có năng lượng trao đổi (ME) thấp hơn so với tiêu chuẩn

ME trong thức ăn hỗn hợp của gà thịt Ví dụ: Tiêu chuẩn ME/1 kg thức ăn hỗn hợp của gà thịt lông màu khoảng từ 3000 - 3100 kcal/kg Trong khi đó, năng lượng trao đổi của bột lá chỉ có khoảng từ 1600 - 2200 kcal/kg Tiêu chuẩn protein thô trong thức ăn hỗn hợp của gà thịt lông màu khoảng từ 19 - 21%, còn tỷ lệ protein trong bột lá có thể cao hơn (22 - 29%), cũng có thể thấp hơn (16 - 20%) Vì vậy, bổ sung bột lá vào khẩu phần theo các cách khác nhau thì khẩu phần sẽ có giá trị năng lượng trao đổi và tỷ lệ protein khác nhau Thông thường có hai cách phối hợp bột lá vào khẩu phần như sau:

Cách thứ nhất: Xây dựng công thức thức ăn, trong đó bột lá là một trong các thành phần nguyên liệu; công thức thức ăn này bảo đảm khẩu phần

có chứa năng lượng trao đổi và tỷ lệ protein đúng theo tiêu chuẩn Cách này tuy bảo đảm được dinh dưỡng cho gà nhưng lại bất cập trong điều kiện sản xuất nông hộ Mặt khác, việc dùng dầu thực vật để bù đắp năng lượng cho bột

lá sẽ làm cho giá thành thức ăn tăng lên

Cách thứ hai: Thay thế một phần thức ăn hỗn hợp (khẩu phần cơ sở) bằng bột lá với khối lượng tương ứng Trong trường hợp này, khẩu phần mới thường có ME thấp hơn khẩu phần cơ sở, còn tỷ lệ protein có thể cao hơn hoặc thấp hơn

Thay thế một phần thức ăn hỗn hợp (khẩu phần cơ sở) bằng bột lá thì năng suất của gà thịt có thể chỉ ngang bằng so với gà được ăn KPCS Tuy nhiên, cách phối hợp này sát với thực tiễn sản xuất và nó mang lại các lợi ích sau: i) Đơn giản, dễ làm, dễ áp dụng trong điều kiện nông hộ, ii) Vẫn làm tăng

Trang 11

độ đậm màu của da và thịt gà, đáp ứng được thị hiếu người tiêu dùng hiện nay, iii) Do không phải bổ sung dầu thực vật để bù đắp sự thiếu hụt năng lượng của bột lá nên giá thành thức ăn hỗn hợp thấp hơn so với thức ăn ở cách

bổ sung thứ nhất

Để làm rõ các vấn đề nêu trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Xác định

hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống Lượng Phượng”

2 Mục đích của đề tài

Xác định được hiệu quả của hai cách bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần đối với gà thịt, từ kết quả thu được, khuyến cáo cách bổ sung bột cỏ

stylo thích hợp vào khẩu phần của gà thịt

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

* Ý nghĩa khoa học

Đề tài sẽ bổ sung thêm kiến thức về sử dụng bột cỏ stylo trong chăn nuôi gà Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng cho giảng viên, sinh viên, cán bộ nghiên cứu tham khảo trong nghiên cứu các đề tài tương tự

* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Tạo cơ sở để đưa ra khuyến cáo cho người chăn nuôi gà thịt nên bổ sung bột cỏ Stylo theo cách nào là phù hợp nhất, cách nào cho hiệu quả chăn nuôi cao nhất

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu về cây cỏ Stylo

1.1.1 Tên, nguồn gốc phân bổ của cỏ Stylo

* Tên gọi

Stylo là cây cỏ thuộc Bộ Đậu (Fabales), họ đậu (Fabaceae), thuộc phân

họ Faboideae, chi Stylosanthes và được APGII (2003) [42] phân loại như sau:

Giới (regnum): Plantae (không phân hạng) Angiospermae (không phân hạng): Eudicots (không phân hạng) Rosids

Họ (familia): Fabaceae

Phân họ (subfamilia): Faboideae

Tông (tribus): Aeschynomeneae

Chi (genus): Stylosanthes Sw

Stylosanthes đến nay là cây thức ăn thô xanh họ đậu nhiệt đới thành

công nhất trên toàn thế giới Stylosanthes có ý nghĩa trong hệ thống sản xuất

nông nghiệp và môi trường (Cameron và cs, 2004) [51]

Bốn loài Stylosanthes là S Scabra (cây lâu năm), S Hamata (cây hàng năm), S Humilis (cây hàng năm) và S Guianensis (cây lâu năm) được sử dụng

rộng rãi làm thức ăn gia súc ở các vùng nhiệt đới (Kazan và cs, 1993) [67]

Trong chi Stylosanthes có Stylo CIAT 184 là loài đậu lưu niên ngắn,

Trang 13

được chọn tạo từ Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT) Chúng mọc thành bụi nhỏ với vài cành hóa gỗ, có tiềm năng năng suất chất xanh và

hàm lượng protein cao Stylo CIAT 184 thích nghi rộng với các loại đất và khí

hậu, mọc tốt trên đất cằn cỗi, axit nhưng sẽ không mọc trên đất quá kiềm (pH

> 8) Stylo CIAT 184 có khả năng chống chịu tốt đối với bệnh nấm cổ rễ ở Đông Nam Á Một đặc điểm nổi bật của Stylo CIAT 184 là có ít lông và mềm hơn so với các loài Stylosanthes trước đây Cỏ là thức ăn bổ sung tốt cho hầu

hết động vật, bao gồm gia cầm, lợn và cá (Guptan và Singh, 1983) [61] Ngoài ra, nó còn có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn và ngăn chặn cỏ dại một cách hiệu quả (Horne và Stür, 1999) [65]

* Nguồn gốc

Là một loại cỏ thuộc bộ đậu, có nguồn gốc từ Châu Mĩ La Tinh Cỏ được trồng phổ biến ở Tây Ấn Độ, Hawaii, và một số nước Châu Phi như:

Kenya, Uganda, Nigieria Stylosanthes phân bố tự nhiên ở Trung và Nam Mỹ,

từ Brasil nhập vào Australia năm 1930 Đây là loại cây được sử dụng làm thức ăn cho gia súc được phát triển đáng kể ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,

đã được nhập vào nhiều nước như: Malaysia, Công Gô, Nam Trung Quốc Ở Việt Nam cây cỏ stylo nhập vào lần đầu vào năm 1967 từ Singapore, Australia

1.1.2 Năng suất chất xanh

Năng suất chất xanh là toàn bộ khối lượng chất xanh thu được trên một đơn vị diện tích Những điều kiện ngoại cảnh và các yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng của cỏ như khí hậu, vị trí địa lí, điều kiện phân bón…

Trong điều kiện nhiệt đới, môi trường đất là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng cỏ Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng,

do đó nó ảnh hưởng đến sự hấp thu các chất dinh dưỡng, sự phát triển của các

hệ vi sinh vật có trong đất và ảnh hưởng đến năng suất cây trồng

Ở Việt Nam, Stylosanthes cũng được nghiên cứu từ những năm trước

Trang 14

đây Từ các nghiên cứu cho thấy, tùy thuộc vào vùng chăn nuôi, vào mức

phân bón và nước tưới, đất đai khác nhau Stylosanthes sẽ cho năng suất

khác nhau

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Ngoạn (2007) [21], Sản lượng chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha/năm (5 - 14,5 tấn chất

khô/ha/năm), Stylo là nguồn thức ăn bổ sung rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ,

đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ để bổ sung cho các loài khác như gia cầm; Tại Đắk Lắk, năng suất chất xanh của cỏ stylo CIAT 184 đạt 12,34 tấn/ha/lứa; cho năng suất 3,08 VCK/ha/lứa (tương ứng với 21,56 tấn/ha/năm) cao hơn so với trồng ở các vùng sinh thái khác của Việt Nam (Lê Hòa và cs (2009) [7])

Lượng phân bón cung cấp cho cây trồng nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, phát triển, quá trình trao đổi chất của cây trồng Từ đó dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần dinh dưỡng Theo Hoàng Văn Tạo và cs (2010) [26], cho

biết Stylosanthes CIAT 184 trồng tại Nghĩa Đàn đạt sản lượng thức ăn xanh từ

52,5 đến 65,2 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác

nhau Cùng nghiên cứu này trên cỏ Stylo Plus, Hoàng Văn Tạo và cs (2010)

[26] cho biết năng suất chất xanh đạt từ 49,70 đến 62,00 tấn/ha; năng suất chất khô đạt từ 11,70 đến 14,92 tấn/ha; năng suất protein từ 1,99 đến 2,53 tấn/ha ở 2 mức phân bón hóa học và 3 mức phân hữu cơ khác nhau

Cỏ Stylo rất ít bị sâu bệnh và có thể phát triển trên nhiều loại đất, ngay

cả ở vùng đất đồi cao Chính vì vậy, ngoài tác dụng làm nguồn thức ăn chất lượng cao cho gia súc nó còn được trồng để cải tạo đất và che phủ đất, chống xói mòn

Năng suất xanh đạt 40-50 tấn/ha/năm Năng suất chất xanh của cỏ Stylo đạt từ 25 - 60 tấn/ha (5 - 14,5 tấn chất khô/ha/năm) Hàm lượng các chất dinh dưỡng: vật chất khô 23 - 24%, đạm thô 17 - 18%, xơ thô 28 - 31%, khoáng tổng số 8 - 10%, lipit 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ, đặc

Trang 15

biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ Cỏ Stylo (Stylosanthes

hamata): trồng một lần có thể thu hoạch 4 - 5 năm Năng suất có thể đạt 90 -

100 tấn/ha/năm nếu được chăm sóc, thâm canh tốt (Lê Đức Ngoan và cs, 2006) [20]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi và cs (2008) [19] cho biết cỏ

Stylo Plus cho năng suất VCK từ 13,6 đến 19,2 tấn/ha/năm, cao hơn năng suất

của giống Stylo.Cook (12,5 tấn VCK/ha/năm) trong nghiên cứu của Trương Tấn Khanh (1999) [12], tương đương với giống cỏ Stylo.Cook trồng trên đất

xám Bình Dương của Lê Hà Châu (1999) [1]

Các giống Stylosanthes khác nhau cũng được nghiên cứu ở Thái Lan Satjipanon và cs (1995) [86], Hare và cs (2007) [62] cho biết: Stylo CIAT 184 cho năng suất 12 - 17 tấn VCK/ha/năm Stylo Ubon và Stylo CIAT 184 sản

xuất 13; 18 và 17 tấn VCK/ha/năm, tương ứng cho năm thứ nhất, thứ hai và

năm thứ ba Trong khi đó Stylo Seca có khả năng sản xuất thấp hơn trong 3 loài Stylosanthes lâu năm, nó đạt 4,7; 10,6 và 6,7 tấn VCK/ha/năm, tương ứng

cho năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba

1.1.3.Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo

1.1.3.1 Thành phần hóa học của cỏ Stylo

Nguyên, Ba Vì, Lâm Đồng) hàm lượng protein bình quân ở cỏ stylo Plus đạt

17% Theo Đặng Thuý Nhung (2008) [23] cho biết: Hàm lượng protein của thân lá cỏ Stylo khô là 16,3%

Trang 16

Stylo CIAT 184 trồng tại Thái Lan có chứa protein thô 17,1%

(Kiyothong và cs, 2004a) [68] Còn ở Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày có 20,2% VCK, protein thô tính theo VCK là 19% (Phengsanvanh,

2003) [83]) Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [53], Stylo CIAT

184 có 22,3% VCK, protein thô 19,3% Hàm lượng VCK đạt từ 20 - 28%,

protein thô 13,3% tính theo VCK (Toum Keopaseuht, 2004 [91])

Theo Satjipanon và cs, 1995 [86] Thành phần hóa học của cỏ Stylo

CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo VCK dao động từ 16,7 - 18,1% protein thô

* Lipit

Hàm lượng lipit 1,55% Với thành phần dinh dưỡng như vậy cây Stylo

là nguồn thức ăn bổ sung protein rất có giá trị cho gia súc ăn cỏ đặc biệt là có khả năng chế biến thành bột cỏ (Lê Đức Ngoan và cs) [20]

Omole và cs (2007) [92] cho biết cỏ Stylosanthes guianensis trồng tại Nigeria có 1,34% lipit thô Cỏ Stylosanthes guianensis, khi trồng - các

nước, các vùng sinh thái khác nhau, thời gian thu mẫu, phương pháp phân tích khác nhau thì hàm lượng lipit trong cỏ cũng khác nhau: lipit dao động

từ 1,34% - 2,7%

* Chất xơ

Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [53], Stylo CIAT 184 có

hàm lượng xơ thô chiếm 30% VCK Hàm lượng VCK đạt từ 20 - 28%; protein thô 13,3%; xơ trung tính 16,9% tính theo VCK (Toum Keopaseuht,

2004 [91]) Theo Kiyothong và cs (2004a) [68] hàm lượng xơ trung bình 39,1% và xơ axit 56,8%

Thành phần hóa học của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo chất

khô dao động từ 49,1 - 61,5% xơ trung tính; 33,41 - 47,3% xơ axit (Kiyothong và cs, 2004b) [69]

Cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày tại Lào có 20,2% VCK; tỷ lệ chất

xơ trung tính tính theo VCK là 64,2% (Phengsanvanh, 2003) [83])

Trang 17

* Các chất khoáng

Theo Chanphone Keoboualapheth và cs (2003) [53], Stylo CIAT 184 có

chứa 5,1% chất khoáng, trong đó khoáng Ca chiếm 0,2% và P chiếm 0,4%

Thành phần chất khoáng của cỏ Stylo CIAT 184 ở 4 lứa cắt tính theo

chất khô dao động từ 6,3 - 8,7% (Kiyothong và cs, 2004b) [69]

Tại Lào cỏ Stylo CIAT 184 tươi 40 - 45 ngày chứa 20,2% VCK, còn

chất khoáng tính theo VCK có 5,5% (Phengsanvanh, 2003) [83])

* Các chất sắc tố

Nhìn chung các sắc tố có trong cây họ đậu thì carotenoit là nhóm nhiều nhất và phổ biến rộng rãi của các sắc tố trong tự nhiên trong đó có Stylo là

một loài cây giàu chất sắc tố, chủ yếu là caroten và xanthophyll Caroten là

tiền vitamin A với hiệu suất chuyển hóa khác nhau tùy theo loài động vật và

mức độ thừa hoặc thiếu vitamin A trong khẩu phần Xanthophyll không có

hoạt tính của vitamin nhưng nó có thể được dự trữ trong các mô cơ, da và lòng đỏ trứng của gia cầm

1.1.3.2 Giá trị dinh dưỡng của cỏ Stylo

Theo Viện Chăn nuôi (2001) [34] bột thân lá Stylo cho gia cầm có hàm lượng vật chất khô tương đối cao trung bình 87,40% VCK, hàm lượng protein đạt 16,5% VCK, xơ đạt 24,3 % VCK; lipit thô 1,9% VCK; canxi 1,52 % VCK; photpho 0,21% VCK và năng lượng trao đổi 1568 kcal/kg

Phân tích thành phần các axit amin cho biết cỏ Stylo chứa tương đối đầy đủ

các loại axit amin, hai loại axit amin có hàm lượng thấp nhất là tryptophan và

cysteine

Bảng 1.1 Thành phần một số axit amin của cỏ Stylo CIAT 184 (g/kg)

Tên axit amin Cỏ stylo cắt

sớm (12 tuần)

Cỏ stylo tái sinh (6 tuần sau lần cắt đầu tiên)

Cỏ stylo cắt muộn (18 tuần)

Trang 18

Omole và cs (2007) [92] công bố nghiên cứu về cỏ Stylosanthes

guianensis CIAT 184 tại Châu Phi cho rằng trong cỏ tươi có thành phần hóa

học như sau: VCK chiếm 19,75% các chất tính theo %VCK như sau CP: 19,91%; xơ thô 13,38%; lipit 1,34%; khoáng tổng số 9,38% và NFE 56,03%

1.2 Sắc tố trong thực vật, tác dụng của sắc tố đối với vật nuôi

1.2.1 Giới thiệu chung về sắc tố

Sắc tố trong thực vật gồm có bốn nhóm (chlorophyll, carotenoid,

flavonoid và betalain) Rất khó đánh giá vai trò sinh học của sắc chất ở trong

thực vật, nhưng người ta đã biết chlorophyll là sắc chất quan trọng nhất đối với thực vật Chlorophyll và carotenoid là những chất quan trọng cho chức năng quang hợp; Flavonoid có vai trò chủ yếu trong tương tác giữa thực vật

và động vật như tín hiệu để thụ phấn và phát tán hạt

1.2.2 Sắc tố trong thực vật

Sắc tố trong thực vật được chia thành các nhóm sau: Chlorophyll,

carotenoid (carotene và xanthophyll), flavonoid (chalcone, anthocyanin, flavone, flavonol) và betalain (betaxanthin, betacyanin) Người ta đã phát

hiện được khoảng 750 loại caroteinoid, 7.000 flavonoid và hơn 500

Trang 19

anthocyanin (Davies, 2004 [55]) Sắc tố tồn tại ở các bộ phận khác nhau của

thực vật, flavonoid và carotenoid tồn tại ở hầu hết các mô thực vật như lá, củ, hoa, quả và hạt nhưng anthocyanin hay chlorophyll chỉ tồn tại ở một số bộ

phận nhất định

Chlorophyll ở thực vật có hai loại đó là chlorophyll a màu xanh nhạt và chlorophyll b màu vàng xanh Số lượng loại này phụ thuộc vào loài thực vật,

điều kiện ánh sáng và điều kiện dinh dưỡng khoáng magie Hàm lượng

chlorophyll a thường gấp từ 2 - 4 lần so với chlorophyll b (Dzugan, 2006 [94])

Carotenoid tồn tại ở sắc lạp và lục lạp ở màng tế bào thực vật Chỉ có một vài loại carotenoid là tiền vitamin A, còn những chất khác không có hoạt

tính như vitamin A Tuy nhiên, người ta đã chứng minh rằng chúng có khả năng chống oxy hóa rất mạnh (Britton và cs, 2004 [49]) Ngoài ra, trong thực

vật còn có các tiền chất của axit abscisic (ABA), phytohormone; các chất này

có khả năng điều chỉnh sinh trưởng và quá trình stress của con vật (Koornneef, 1986 [70])

Sắc tố trong carotenoid được chia thành 2 nhóm: carotene màu đỏ da cam và xanthophyll vàng da cam

dung môi hữu cơ Trong thực vật thường có 4 loại tiền vitamin A là: β, α, γ

caroten và kriptoxantin Nếu cắt đôi phân tử β caroten ta có 2 phân tử vitamin

A, nên β caroten được xem là tiền vitamin A (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976 [36]) Trong đó β caroten chiếm trên 90 % trong tổng số các

carotenoid ở thực vật Các carotenoid không chỉ cung cấp tiền vitamin A, mà

còn có tiềm năng chống oxy hóa, chống ung thư Hàm lượng β caroten trong

cỏ tươi tự nhiên: 150 - 250 mg/kg VCK, cây ngô già: 15-60 mg/kg VCK, của

cà rốt: 150 - 200 mg/kg VCK, rơm rạ: 4 mg/kg VCK (Từ Quang Hiển và cs,

2001 [5]) Tác giả Scott và cs (1969) [87] cho biết β caroten trong bột lá keo

giậu từ 227-248 mg/kg VCK

Trang 20

Xanthophyll là nhóm sắc tố vàng sẫm Công thức hóa học của chúng là

C40H56On (n từ 1-6) Vì số lượng nguyên tử oxy có thể từ 1 đến 6 nên có nhiều

loại xanthophyll: Kriptoxantin (C40H56O1), lutein (C40H56O2), violacxantin

(C40H56O4), (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976 [36]) Trong đó

violaxanthin và lutein chủ yếu tạo ra màu sắc vàng của lá cây, cỏ trong mùa

các sắc tố thuộc nhóm flavonoid thì anthocyanin là phổ biến nhất và tạo ra các

màu đỏ tươi, đỏ, xanh và màu tím cho hoa, quả và thân cây Màu của

anthocyanin bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nhân tố Một trong các nhân tố đó là

số lượng nhóm hydroxyl và methoxyl Nếu nhiều gốc OH thì màu sắc có màu xanh Nếu xuất hiện nhiều gốc OCH3 thì màu sắc chủ yếu là đỏ (Grotewold,

2006 [59]) Các loại sắc tố này có màu đỏ khi ở pH axit và có màu xanh khi ở môi trường kiềm Ngoài ra, màu sắc còn phụ thuộc vào các nguyên tố khoáng như Al, Fe, Mg ở một số loài thực vật

Betalain là các chất thay thế anthocyanin ở các loài caryophyllale

Chúng cũng có thể tìm thấy ở một số loại nấm Betalain có nguồn gốc từ

tyrosine Chúng được chia thành 2 nhóm là betaxanthin có màu vàng và betacyanin có màu đỏ, màu tím

1.2.3 Sắc tố trong thức ăn chăn nuôi

Trong thức ăn chăn nuôi chỉ đề cập đến một trong bốn nhóm sắc tố thực

vật nói trên, đó là carotenoid Khi nói đến hàm lượng sắc tố trong thức ăn, có

ý nghĩa là nói đến carotenoid tổng số Nó gồm hai nhóm là xanthophyll và

caroten

Trang 21

Xanthophyll còn có tên gọi là oxy - carotenoid Nó cũng có hai nhóm là

carotenoid không màu và có màu Carotenoid không màu có các đại diện

chính là cryptoxanthin, violaxanthin, citranaxanthin, capxanthin

(capsorubin), và astaxanthin Chính vì vậy, khi nói đến hàm lượng

xanthophyll trong thức ăn, có nghĩa là nói đến xanthophyll tổng số, chứ không

phải là sắc tố cụ thể nào trong nhóm này

Carotenoid có đại diện là anpha (α), beta (β), gama (γ), caroten, lycopen và phytofluen Vì vậy, khi nói tới hàm lượng caroten trong thức ăn,

có nghĩa là nói đến caroten tổng số chứ không phải là một sắc tố cụ thể

1.2.4 Ảnh hưởng của sắc tố đối với vật nuôi

Người tiêu dùng thường có thói quen lựa chọn màu sắc của thực phẩm,

do đó màu sắc quyết định sự lựa chọn hay loại bỏ một loại thực phẩm nào đó

Ở một số nước và một số dân tộc, người tiêu dùng quan tâm đặc biệt tới màu sắc của da, thịt và lòng đỏ trứng (Hencken, 1992 [63]) Chính sở thích này đã khiến cho các nhà nghiên cứu và người chăn nuôi bổ sung sắc tố vào khẩu phần của gà thịt cũng như gà trứng để làm tăng độ đậm của da, lòng đỏ trứng gia cầm và làm tăng tính hấp dẫn của sản phẩm (Hencken, 1992 [63], Liufa và

cs, 1997 [78], Vũ Duy Giảng, 2007 [3]) Sắc tố dùng để làm thức ăn bổ sung

hầu hết thuộc nhóm carotenoid

Động vật hoàn toàn không có khả năng tự tổng hợp carotenoid nên bắt

buộc phải được cung cấp từ thức ăn (Liufa và cs, 1997 [78]) Đối với khẩu

phần ăn thông thường thì nguồn carotenoid sử dụng để tạo màu da và lòng đỏ trứng gia cầm là xanthophyll hay oxycarotenoid của ngô, gluten ngô và bột lá thực vật (Latscha, 1990 [73]) Khi cho gia cầm ăn thức ăn giàu xanthophyll thì có thể tìm thấy xanthophyll ở trong máu, cơ, gan, chất béo, da, lông của chúng (Goodwin, 1986 [57]) Ở gà đẻ, xanthophyll tích trữ ở cơ, da sẽ được

huy động mạnh mẽ vào buồng trứng khi thành thục và một phần được chuyển vào lòng đỏ (Goodwin, 1986 [57] ) Sau khi thu nhận được sắc tố có từ thức

Trang 22

ăn thì gà đẻ có thể huy động từ 20 - 60 % tổng lượng sắc tố thu nhận vào lòng

đỏ (Bornstein và Bartov, 1966 [48]) Do đó màu sắc tự nhiên của lòng đỏ

chính là màu sắc của xanthophyll (Sirri và cs, 2007 [88) Ngày nay, các

oxycarotenoid được phân lập từ thực vật, tảo và nấm được sử dụng nhiều

trong khẩu phần ăn của gia cầm và được đánh giá là rất tốt, còn các loại sắc tố tổng hợp thì ít được sử dụng và thậm chí còn bị cấm ở một số nước Khi sử dụng ngô đến 50 % khẩu phần thì sắc tố có trong ngô có thể cho màu sắc lòng

đỏ đạt từ 5,6 - 7 điểm và tương đương với lòng đỏ ở mức bình thường theo thang điểm màu của Roche Nhưng yêu cầu của các nước châu Mỹ thì màu sắc lòng đỏ phải đạt thang điểm từ 7-10, còn châu Âu và châu Á là 10-14 theo thang điểm của Roche (1988) [85] Như vậy, nếu chỉ sử dụng khẩu phần tự nhiên để cung cấp sắc tố cho lòng đỏ thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu nêu

trên, ngoài ra oxycarotenoid còn dễ bị biến tính do tác động của các nhân tố

gây oxy hóa như ánh sáng, nhiệt độ hay quá trình khử hydro và điều kiện bảo quản, nên việc thiếu hụt sắc tố trong thức ăn và trong sản phẩm chăn nuôi là khó tránh khỏi

Đối với gà thịt, sắc tố apocarotenoic acid ethyl ester là một carophyll

có màu vàng khi bổ sung có tác dụng tăng màu sắc của da gà (Latscha, 1990

[73]) Khi các carotenoid tích lũy đầy đủ thì hương vị của thịt tăng, do đó làm

tăng chất lượng của thịt gà (Josephson, 1987 [66]), cải thiện độ vàng da ngực

và thành phần axit béo của thịt (Mourão và cs, 2008 [81]) Nhưng trong chăn nuôi gà công nghiệp, gà bị nuôi nhốt và được ăn thức ăn hỗn hợp không đủ lượng sắc tố nên đã làm giảm màu sắc da và thịt gà, làm mất đi hương vị thơm ngon của thịt gà (Latscha, 1990 [73])

Aquis và cs (2001) [43] cho biết: Trong khẩu phần ăn của cá hồi không

có sắc tố astaxanthin thì thịt của chúng sẽ xuất hiện màu xám Thị hiếu người

tiêu dùng thì lại thích màu thịt hồng đậm Vì vậy, khi nuôi nhiều loài thủy

sản, sắc tố astaxanthin được đưa vào khẩu phần ăn của chúng với mục đích

Trang 23

làm cho cá tăng tính ngon miệng và để tăng thị hiếu người tiêu dùng Nhưng

có một lý do khác khiến cho người ta sử dụng astaxanthin nhiều hơn là: Nếu không có sắc tố astaxanthin trong thức ăn của cá hồi thì chỉ có 17,00 % cá bột

còn sống sót đến trưởng thành Khi các nhà nghiên cứu tăng lượng sắc tố

astaxanthin trong khẩu phần từ 0,4 ppm đến 1,0 ppm và cao nhất lên đến 13,7

ppm, tỷ lệ cá con sống sót đã tăng lên Trong thực tế, khi tăng từ 0 đến 1,0 ppm, số lượng cá sống sót tăng từ 17,00 % lên 70,00 %, nếu tiếp tục tăng lên thì tỷ lệ này lên đến 87,00 %, và khi sử dụng mức tối đa là 13,7 ppm, tỷ lệ sống tăng lên trên 98,00 %

Để giải quyết vấn đề thiếu hụt sắc tố trong thức ăn và cải thiện độ vàng của lòng đỏ trứng, da, thịt, đồng thời làm tăng hương vị thịt của gia cầm, người ta đã bổ sung sắc tố tổng hợp hoặc bột thực vật giàu sắc tố vào thức ăn Sắc tố tổng hợp, tuy cải thiện được màu của lòng đỏ trứng và da gà, nhưng không cải thiện được hương vị thịt, bên cạnh đó một số sắc tố tổng hợp còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Vì vậy, người ta hướng tới việc sản xuất bột lá thực vật giàu sắc tố hoặc chiết xuất sắc tố từ thực vật, nấm bổ sung vào thức ăn của gia cầm Các loại bột lá cây thức ăn xanh thường được sản xuất là bột hoa cúc, bột cỏ stylo, bột lá keo giậu, bột cỏ alfalfa, bột cỏ medicago, bột cỏ mục túc, bột lá sắn…

1.3 Ảnh hưởng của năng lượng trao đổi và protein trong thức ăn đối với gia cầm

1.3.1 Ảnh hưởng của năng lượng trao đổi trong thức ăn đối với gia cầm

Trong dinh dưỡng gia cầm năng lượng thường được xem là nguồn dinh dưỡng giới hạn nhất vì nhu cầu lớn so với các chất dinh dưỡng khác Nhu cầu năng lượng của gia cầm có thể được xác định là mức năng lượng cần thiết cho sinh trưởng hoặc cho sản xuất trứng và cho duy trì mọi hoạt động sống của cơ thể Thiếu năng lượng dẫn đến sự suy giảm các quá trình trao đổi chất và các

Trang 24

hoạt động chức năng cơ thể gây nên tình trạng còi cọc, chậm lớn, năng suất giảm ở gia cầm sinh sản

Mức năng lượng trong khẩu phần cao hay thấp có ảnh hưởng đến hiệu suất lợi dụng thức ăn Mức năng lượng trong khẩu phần, nhiệt độ môi trường

và lượng thức ăn thu nhận có mối quan hệ chặt chẽ Gia cầm trước hết ăn để thỏa mãn nhu cầu năng lượng, khi nhu cầu năng lượng được thỏa mãn thì gia cầm sẽ không thu nhận thêm thức ăn mặc cho nhu cầu các chất như protein-axit amin, vitamin và chất khoáng còn thiếu

Nồng độ năng lượng của khẩu phần là yếu tố quan trọng chi phối thu nhận thức ăn hàng ngày Khẩu phần có nồng độ năng lượng cao thì gia cầm

sẽ ăn ít hơn khẩu phần có nồng độ năng lượng thấp Nếu nồng độ các axit amin trong thức ăn là không đổi thì khẩu phần có nồng độ năng lượng cao, lượng thức ăn thu nhận giảm, nhu cầu về axit amin có thể không được thỏa mãn Vì thế, khi khẩu phần có nồng độ năng lượng tăng thì cũng cần tăng hàm lượng axit amin

Nồng độ năng lượng của khẩu phần thấp hơn so với nhu cầu cơ thể thì trước tiên cơ thể gia cầm sẽ huy động glucose trong cơ thể, tiếp theo là lipit, cuối cùng là protein để bù đắp lượng năng lượng thu nhận còn thiếu

Lượng ăn vào của gà tương quan nghịch với mức năng lượng trao đổi trong khẩu phần, chẳng hạn gà sẽ tiêu thụ nhiều thức ăn hơn với khẩu phần thấp năng lượng, ngược lại gà tiêu thụ ít thức ăn hơn với khẩu phần cao năng lượng (Summers, 2000) [90] Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Brue và cs (1985) [50] cho thấy gà giò nuôi thịt tiêu thụ nhiều năng lượng hơn khi ăn khẩu phần năng lượng cao so với gà được nuôi bằng khẩu phần năng lượng từ thấp tới vừa Bên cạnh đó, gà có thể tự điều chỉnh năng lượng ăn vào nhưng không chính xác, nên khi ăn khẩu phần cao năng lượng gà sẽ tích lũy mỡ trong cơ thể, từ đó lượng ăn vào giảm dẫn đến thiếu dưỡng chất khác và giảm tăng trọng (NRC, 1994) [82] Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001) [17] cho

Trang 25

biết, năng lượng không bị bài thải ra ngoài khi lượng tiêu thụ năng lượng của

gà dư thừa mà nó được tích lũy vào cơ thể dưới dạng mỡ Tuy nhiên, gà thịt điều hòa lượng ăn vào chính xác hơn khi được nuôi bằng khẩu phần năng lượng thấp (Latshaw và cs, 1990) [74]

Theo khuyến cáo của Trần Công Xuân và cs (1999) [38] thì khẩu phần

của gà nuôi thịt chăn thả vườn là 3.100 kcal/kg thức ăn đã cho năng suất tốt nhất Đồng thời, tác giả Nguyễn Bá Thuyên (1998) [28] đề nghị sử dụng khẩu phần có hàm lượng dinh dưỡng cho gà Tàu Vàng nuôi ở thành phố Hồ Chí Minh với năng lượng trao đổi là 3.000 kcal/kg thức ăn

Nhu cầu năng lượng của gà thịt trên 44 ngày tuổi là trên 3.200 kcal ME/kg, vì khi năng lượng khẩu phần ở mức 3.400-3.600 kcal/kg thì lượng ăn vào cũng tăng (Araújo và cs, 2005 [44]) Khi gà được nuôi bằng khẩu phần năng lượng thấp (3.300 kcal năng lượng trao đổi/kg thức ăn) đã cho tăng trọng thấp, mặc dù hiệu quả chuyển hóa của năng lượng vào cơ thể cao hơn (Summers và cs, 1984) [89] Hơn nữa, lượng ăn vào của gà thịt giai đoạn vỗ béo giảm, nhưng chuyển hóa thức ăn được cải thiện khi năng lượng trao đổi của khẩu phần tăng từ 2.700 lên 3.300 kcal năng lượng trao đổi/kg thức ăn (Leeson, 1996) [75] Tương tự, năng suất gà thịt không bị ảnh hưởng khi tăng năng lượng khẩu phần từ 2.600 lên 3.200 kcal/kg, mặc dù lượng ăn vào giảm nhưng khi năng lượng tăng lên đã cải thiện chuyển hóa thức ăn (Waldroup và

cs, 1990) [93] Holsheimer và Veerkamp (1992) [64] cho rằng gà tăng trọng cao hơn 4,2 % và chuyển hóa thức ăn cải thiện 12,1 % khi tăng năng lượng trao đổi

Ngoài ra trong nghiên cứu của Holsheimer và Veerkamp (1992) [64] cũng chỉ ra, khi tăng năng lượng trong khẩu phần thì năng suất ở các phần thân thịt không tăng, nhưng tỉ lệ mỡ bụng tăng Leeson (1996) [75] cũng cho rằng gà tiêu thụ năng lượng thấp hơn có khuynh hướng tích lũy mỡ trong thân thịt ít hơn Mabray và Waldroup (1981) [79] đã giải thích rằng lượng mỡ cao

Trang 26

là do tỉ lệ năng lượng so với protein trong khẩu phần là cao, mất cân bằng axit amin và loại mỡ được dùng trong khẩu phần

1.3.2 Ảnh hưởng của protein trong thức ăn đối với gia cầm

Nhu cầu protein của khẩu phần thực chất là nhu cầu đối với các axit amin bởi các axit amin là thành phần cấu tạo cơ bản của protein Nhu cầu của gia cầm về các axit amin chủ yếu là các axit amin không thay thế Sự tổng hợp protein của cơ thể chỉ có thể tiến hành được khi thu nhận đủ những axit amin từ thức ăn, như vậy cung cấp protein cho gia cầm ngoài việc đảm bảo protein tổng

số, còn phải cân đối các axit amin không thay thế

Dinh dưỡng protein trong nuôi dưỡng gia cầm là một chỉ số dinh dưỡng quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, sức sản xuất và chất lượng sản phẩm, nhờ có protein sẵn có trong thức ăn, gia cầm mới có thể tổng hợp được protein của cơ thể và các sản phẩm phục vụ con người Ngoài ra còn tổng hợp các chất có hoạt tính sinh học cao như enzyme, hormone, cùng các hợp chất khác đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh lý của cơ thể

Mức protein thô trong khẩu phần có ảnh hưởng đến thu nhận axit amin, mức protein trong khẩu phần dư thừa gây ra quá trình phân giải protein cho năng lượng đã sinh ra một lượng lớn các chất độc hai cho cơ thể Protein thừa khi xuống đến manh tràng bị vi sinh vật lên men gây thối làm viêm sưng ruột, tiêu chảy Ngược lại mức protein trong khẩu phần thấp hơn so với nhu cầu thì dẫn đến rối loạn quá trình sinh tổng hợp protein của cơ thể, quá trình sinh trưởng và phát triển của gia cầm biến đổi (chậm lớn, còi cọc), thành thục về tính bị kéo dài

Tỷ lệ Protein và axit amin trong khẩu phần ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và năng suất của gà Nếu tỷ lệ protein cao trong khẩu phần sẽ làm giảm tính thèm ăn và phát sinh một số bệnh lý Còn tỷ lệ protein quá thấp sẽ làm giảm năng suất thịt và giảm lượng thức ăn ăn vào của gà thịt

Trang 27

Dương Thanh Liêm và cs (2006) [14] cho biết: Sự quá dư thừa protein dẫn đến nồng độ đạm cặn, axit amin trong máu tăng cao, làm giảm tính thèm

ăn của gia cầm Cơ thể tiêu hóa không hết protein, gây ra sự lên men thối ở ruột già, manh tràng, có thể dẫn đến tình trạng viêm ruột tiêu chảy Dư thừa protein dẫn đến phản ứng deamin quá mạnh, thải ra nhiều axit uric có hại cho gan, cho thận Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) [9] nhu cầu protein trong thức ăn gà thịt thương phẩm thường cao hơn các nhóm khác

từ 2 - 4 % và ở mức 20 - 22 % protein thô Đặc biệt một số giống siêu tăng khối lượng, tỷ lệ protein giai đoạn khởi động có thể lên tới 24 % Moran và

cs, (1992) [80] và Bartov (1996) [46] cho biết: Thức ăn nuôi gà thịt có protein thô thấp làm giảm năng suất thịt và làm tăng tích lũy mỡ Bổ sung protein thô

và axit amin (Met, Lys và Thr) trong khẩu phần vượt mức trung bình làm năng suất thịt ức tăng (Bartov và Plavnik, 1998 [47]) Nhóm tác giả Trần Quốc Việt và cs (2000) [35] cho biết: Trong điều kiện nuôi nhốt, gà Tam Hoàng nên sử dụng khẩu phần với 19 - 18 - 17 % protein thô tương ứng với các giai đoạn 0 - 4; 5 - 8 và 9 tuần tuổi đến khi xuất chuồng Đối với gà Kabir mức protein thích hợp là: 21 - 19 và 18 %

1.3.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ năng lượng / protein đến đến sinh trưởng của gia cầm

Gia cầm nuôi thịt chỉ có thể tăng khối lượng ở mức cao khi tỷ lệ năng lượng trên protein (ME/P) nằm trong khả năng tự điều chỉnh của chúng Vì vậy, tỷ lệ ME/P trong thức ăn quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng lớn đến tăng khối lượng, sử dụng các chất dinh dưỡng của thức ăn và chất lượng sản

phẩm Aletor và cs (2000) [41] cho biết tỉ lệ năng lượng/protein trong khẩu

phần thấp protein làm năng lượng tiêu thụ thức ăn của gà tăng, dẫn đến tăng tiêu thụ axit amin Một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lượng và protein cho biết: Tỷ lệ ME/P trong thức ăn của gà thịt giai đoạn sinh trưởng là

124 đã giảm tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lượng 14 % và tăng khối lượng

Trang 28

cao hơn 1,1 % so với gà ăn thức ăn có tỷ lệ ME/P là 137 Tỷ lệ ME/P trong thức ăn của gà thịt giai đoạn kết thúc tăng từ 170 lên 192 đã làm tăng tỷ lệ mỡ bụng từ 4,57 lên 5,64 %, hàm lượng lipit trong máu tăng từ 1,943 mg% lên 2,657 mg%, hàm lượng lipit gan tăng từ 8,69 % lên 11,54% Người ta khuyến cáo rằng: Để tránh sự tích lũy mỡ bụng cao thì tỷ lệ ME/P < 175 và tỷ lệ protein trong thức ăn > 18 % (Nguyễn Duy Hoan và cs, 1999 [8]) Các nước thường quy định tỷ lệ ME/P vào khoảng 130 - 150 cho gà thịt giai đoạn đầu

và 160 - 170 cho giai đoạn sau (nuôi theo 2 giai đoạn) Nguyễn Đức Hưng và Trần Sáng Tạo (2004) [10] nghiên cứu trên một số giống gà thả vườn tại Thừa Thiên Huế cho biết: tiêu tốn thức ăn là không đổi nếu trong khẩu phần tăng protein nhưng lại giảm năng lượng, tuy nhiên với khẩu phần như vậy thì tỷ lệ protein trong thân thịt tăng lên và tỷ lệ lipit giảm xuống

Nghiên cứu của (Corzo và cs, 2005) [54] cho thấy khẩu phần thấp axit amin làm mỡ bụng cao, năng suất thịt ức thấp và khối lượng cơ thể giảm Gà Ross trống giai đoạn 28 - 42 ngày tuổi được nuôi bằng khẩu phần thừa axit amin dẫn đến gà đạt khối lượng cao nhất và hệ số chuyển hóa thức ăn giảm (Lilly và cs, 2011) [76]

Từ Quang Hiển và cs, 2013 [6] cho biết: tỷ lệ ME/P trong thức ăn hỗn hợp của gà thịt giai đoạn mới nở đến 10 hoặc 14 ngày tuổi thường từ 125 -

140, tương ứng với 3100 Kcal ME và 22 - 25 % protein thô Tỷ lệ axit amin trên năng lượng (AA/ME gam/Mcal) cao, lysin khoảng 3,5 - 4,5; methionin + cystin: 3,0 - 3,5; thronin: 2,5 - 3,0; tryptophan: 0,6 - 0,8 Tỷ lệ ME/P trong thức ăn hỗn hợp của gà ở giai đoạn sinh trưởng vào khoảng 140 - 150, tương ứng với 3100 - 3200 Kcal ME và 21 - 23 % protein thô Tỷ lệ AA/ME của lysin, methionin + cystin, thronin và tryptophan lần lượt là: 3,0 - 4,0; 2,0 - 3,0; 2,3 - 2,7 và 0,55 - 0,65 Ở giai đoạn kết thúc tỷ lệ ME/P là 155 - 165, tương ứng với 3150 - 3250 Kcal ME và 19 - 21 % protein thô Tỷ lệ AA/ME

Trang 29

của lysin, methionin + cystin, thronin và tryptophan lần lượt là: 2,5 - 3,5; 2,0 -

3,0; 2,0 - 2,5; 0,5 - 0,6

1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng, khả năng cho thịt và tiêu tốn thức ăn của gia cầm

1.4.1 Khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) [18] cho biết: Midedorpho (1967) là người đầu tỉên phát hiện ra quy luật sinh trưởng theo giai đoạn của gia súc, cho rằng gia súc non phát triển mạnh nhất sau khi mới sinh, sau đó tăng khối lượng giảm dần theo từng tháng tuổi

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là

sự tăng chiều dài, chiều cao, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn bộ

cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là sự tích luỹ dần các chất mà chủ yếu là Protein

Champer (1990) [52], đã định nghĩa sinh trưởng là sự tổng hợp các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không những khác nhau về tốc

độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Sự tăng trưởng thực

sự khi các tế bào mô cơ có sự tăng thêm về khối lượng, số lượng và kích thước các chiều đo

Trong thực tế nuôi gia súc gia cầm lấy thịt cho thấy, trong giai đoạn đầu của sự sinh trưởng, thức ăn được dùng tối đa cho sự phát triển của xương,

mô cơ, một phần rất ít dùng lưu trữ trong cấu tạo của mỡ Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng nguồn chất dinh dưỡng vẫn được sử dụng nhiều để nuôi

hệ thống cơ xương nhưng hai hệ thống này tốc độ phát triển đã giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ chất dinh dưỡng để cấu tạo mỡ

Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm nhiều nhất: 42 - 45% khối lượng cơ thể Khối lượng cơ con trống luôn lớn hơn khối lượng cơ con mái (không phụ thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm)

Trang 30

Giai đoạn 70 ngày tuổi khối lượng tất cả các cơ của gà trống đạt 530g, của gà mái đạt 467g (Ngô Giản Luyện, 1994 [15])

Sự sinh trưởng của sinh vật được bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến lúc cơ thể trưởng thành và được chia hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai (giai đoạn trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (giai đoạn ngoài cơ thể mẹ) Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình: tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Theo Phùng Đức Tiến (1996) [30], trong quá trình sinh trưởng thì trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng trưởng của tế bào để tạo nên sự sống

Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục vì hai quá trình này diễn ra trên cùng một cơ thể vật nuôi: Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các

bộ phận của cơ thể, phát dục của cơ thể con vật bắt nguồn từ khi trứng thụ tinh và trải qua nhiều giai đoạn phức tạp mới đến trưởng thành

Khối lượng cơ thể thường được theo dõi qua từng tuần tuổi và đơn vị tính là g/con hoặc kg/con Để xác định khối lượng cơ thể ở các khoảng thời gian khác nhau người ta còn biểu thị khối lượng thông qua đồ thị sinh trưởng

Sinh trưởng của vật nuôi nói chung và sinh trưởng của gà nói riêng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, quan trọng nhất là yếu tố giống, tính biệt, thức ăn

và các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng khác

1.4.2 Khả năng cho thịt

Khả năng sản xuất thịt là khả năng tạo nên khối lượng cơ ở độ tuổi mà đem giết thịt đạt hiệu quả kinh tế cao Khả năng cho thịt của gà Broiler được đánh giá qua năng suất và chất lượng thịt

Năng suất thịt

Năng suất thịt là chỉ tiêu quan trọng và thông dụng để đánh giá sức sản xuất thịt của gia cầm Năng suất thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, mà tính

Trang 31

trạng này lại phụ thuộc vào kích thước các chiều đo cơ thể (dài lườn, rộng ngực, dài đùi ) Năng suất thịt có thể biểu thị bằng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ giữa các bộ phận như: Nạc, mỡ, da Ở gà Broiler các tỷ lệ thường được tính là: Tỷ

lệ thịt xẻ, tỷ lệ cơ đùi, tỷ lệ cơ ngực, tỷ lệ mỡ bụng Năng suất thịt cao hay thấp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: Giống, dòng, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tính biệt, phương thức nuôi, thú y phòng bệnh

Ngô Giản Luyện (1994) [15], khi khảo sát năng suất thịt của 3 dòng V1, V3 và V5 trong giống gà Hybro cho thấy giữa các dòng có sự khác nhau

rõ rệt Trong cùng một dòng: tỷ lệ thân thịt gà trống cao hơn gà mái và thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống

Đỗ Xuân Tăng (1980) [25], cho biết tỷ lệ thịt đùi của gà trống thường cao hơn gà mái, còn tỷ lệ thịt ngực của gà mái cao hơn gà trống, hàm lượng protein ở thịt gà mái cao hơn gà trống, sự tích luỹ protein ở gà mái kéo dài đến 90 ngày tuổi sau đó giảm đi theo sự già nua của cơ thể

Theo Đào Văn Khanh (2000) [11], cho biết gà Broiler Tam Hoàng ở 63 ngày tuổi có tỷ lệ thịt xẻ cao nhất trống 79,20%, mái 78,61% càng về các giai đoạn sau tỷ lệ thịt xẻ có xu hướng giảm dần, lúc 84 ngày tuổi con trống đạt 70,26%, con mái đạt 70,11% Ngược lại tỷ lệ cơ ngực và cơ đùi lại có chiều hướng tăng lên ở các giai đoạn tuổi sau, thấp nhất lúc 70 ngày tuổi và đạt cao nhất lúc 84 ngày tuổi (trống đạt 40,30%, mái đạt 38,59%) Tỷ lệ mỡ bụng của

cả gà trống và gà mái đều có xu hướng tăng dần theo tuổi và đạt cao nhất ở ngày tuổi 77 và 84

Trần Công Xuân và cs (2000) [39], nghiên cứu lai kinh tế giữa gà Kabir

và Lương Phượng hoa cho thấy tỷ lệ thân thịt 72,4% - 72,32%; tỷ lệ thịt đùi 20,64% - 21,43%; tỷ lệ thịt ngực 20,68% - 20,80%

Trần Công Xuân và cs (1999) [38], mổ khảo sát gà Tam Hoàng và gà

Ri lúc 15 tuần tuổi cho biết tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực/thân thịt ở gà Tam Hoàng

là 45 - 54% và ở gà Ri là 43%

Trang 32

Chất lượng thịt

Khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thị hiếu của con người ngày càng khắt khe hơn, các sản phẩm thịt gà ngoài việc phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng còn phải đáp ứng cả tính cảm quan hấp dẫn đối với người tiêu dùng

Chất lượng thịt được phản ánh thông qua thành phần hoá học của thịt Chất lượng thịt thường được đánh giá qua hàm lượng vật chất khô, tỷ lệ protein, lipit, khoáng tổng số

Vật chất khô thể hiện độ chắc của thịt, protein thể hiện giá trị dinh dưỡng, mỡ thể hiện độ béo của thịt, khoáng tạo nên độ đậm đà Giá trị của thịt còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như hàm lượng và tỷ lệ các acid amin, hàm lượng vitamin, khoáng đa lượng, các hoạt chất sinh học

Thịt gà không chỉ chứa hàm lượng protein cao, mà hàm lượng vitamin

và khoáng cũng lớn, hàm lượng mỡ thấp nhưng lại chứa đầy đủ lượng các acid béo cần thiết

Chất lượng thịt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Loài, giống, dòng, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, đặc điểm bệnh tật và quy trình vệ sinh thú y áp dụng đối với gia cầm

Theo Proudman J.A và cs (1970) [84], những dòng gà Plymouth trắng khi cho ăn tự do và mổ khảo sát lúc 6 tuần tuổi, phân tích thịt cho thấy nhóm sinh trưởng nhanh tỷ lệ nước 68,1%, protein 20,7%, mỡ 6,9% và khoáng 3% Các nhóm sinh trưởng chậm có tỷ lệ tương ứng là 69,8%; 20,6%; 4,8%; và 3,1%

Trần Công Xuân và cs (1999) [37], thịt gà Tam Hoàng 882 nuôi đến 13 tuần tuổi, ở con trống thịt ngực có tỷ lệ Protein 24,13%; mỡ 0,38 % và khoáng tổng số 1,26%, thịt đùi có tỷ lệ protein 20,07%; mỡ 1,37% và khoáng tổng số 1,08% Đối với con mái thịt ngực có các giá trị tương ứng là 24,72%; 0,306% và 1,31%, thịt đùi có các giá trị tương ứng là 20,91%; 1,673% và khoáng tổng số 1,26%

Trang 33

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) [8], cho biết khi nghiên cứu đặc điểm của tổ chức cơ của dòng thuần và con lai, thấy có sự vượt trội về hàm lượng vật chất khô và protein của con lai so với dòng thuần, trong cùng một giống gà trưởng thành có tỷ lệ phần ăn được, tỷ lệ mỡ và trị số Kalo cao hơn

so với gà Broiler từ 1 - 3%, nhưng tỷ lệ protein thì ngược lại

Grey và cs (1986) [58], cho rằng khi mà cả Protein và năng lượng tập trung trong chế độ ăn của gia cầm giảm đi, thịt có vẻ mềm hơn ở những gia cầm lớn nhanh, nhưng dai hơn những gia cầm lớn chậm

Flfadil và cs (1996) [56], cho rằng những điều kiện nuôi dưỡng ảnh hưởng đến chất lượng thịt và sự tăng mật độ nuôi làm xuất hiện những nốt trên da

1.4.3 Tiêu tốn thức ăn

Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng phản ánh quá trình chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả chăn nuôi càng cao và ngược lại Tiêu tốn thức ăn/tăng khối lượng

là tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được 1 kg tăng trọng Nếu khối lượng tăng càng nhanh thì khả năng trao đổi chất cao, khả năng đồng hoá thức ăn lớn, do

đó hiệu quả chuyển hoá thức ăn cao và dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng Tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng phù thuộc vào rất nhiều yếu tố: Giống, tuổi, tính biệt, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, tình trạng sức khoẻ của đàn gia cầm

Trong chăn nuôi gia cầm thì ngoài vấn đề tạo ra các giống mới có năng suất cao, thì nhà chăn nuôi không chỉ phải chú ý đến nguồn thức ăn cân bằng đầy đủ các chất dinh dưỡng, phù hợp với đặc điểm sinh vật học của gia cầm

và phù hợp với mục đích sản xuất của từng dòng, từng giống khác nhau, và từng giai đoạn phát triển của cơ thể, mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế, vì trong chăn nuôi thức ăn chiếm 70% giá thành sản phẩm

Theo Phùng Đức Tiến (1996) [30], hệ số tương quan giữa khối lượng

Trang 34

cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn đã được Chambers (1984) xác định là

- 0,5 đến - 0,9 Tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là âm và thấp từ (- 0,2) đến (- 0,8) Trần Công Xuân và cs (1999) [38], cho biết gà Tam Hoàng khi nuôi thịt đến 15 tuần tuổi tiêu tốn 3,609 kg thức ăn/kg tăng trọng

Gà Tam Hoàng Jiangcun tiêu tốn 3,652 - 3,911 kg thức ăn/kg tăng trọng

Trần Công Xuân, Nguyễn Huy Đạt (2006) [40], khi nghiên cứu chọn tạo một số dòng gà chăn thả Việt Nam năng suất và chất lượng cao đã đưa ra kết luận Tổ hợp lai 3/4 máu Lương Phượng và 1/4 máu Sasso X44 tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 2,54 - 2,68kg

Bùi Đức Lũng (1992) [16] cho biết rằng gà lai V135 tiêu tốn thức ăn /kg tăng khối lượng ở các độ tuổi như sau: 4 tuần tuổi là 1,91; 5 tuần tuổi là 1,98; 6 tuần tuổi là 2,01; 7 tuần tuổi là 2,13; 8 tuần tuổi là 2,26kg

1.5 Nguồn gốc và vài nét về giống gà Lương Phượng

Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1999) [8] cho biết gà Hoa Lương Phượng hay Lương Phượng hoa, thường được gọi tắt là gà Lương Phượng do xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài Gà Lương Phượng đã được giám định kỹ thuật của Ủy ban khoa học thành phố Nam Ninh Gà Lương Phượng có dáng

bề ngoài gần giống với gà Ri của Việt Nam lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa Sở dĩ gọi là Lương Phượng hoa vì trong đàn gà có rất nhiều màu lông khác nhau như một vườn hoa Mào, yếm mào, mặt và tích tai màu đỏ Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cong chân cao vừa phải Gà mái đầu nhỏ, thân hình chắc, chân thấp Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn, thơm ngon Tỷ lệ nuôi sống gà thương phẩm xuất chuồng đều đạt 95% trở lên Gà trống ở độ tuổi trưởng thành có khối lượng cơ thể 2700g, gà mái đạt khối lượng 2100g lúc vào đẻ Gà bắt đầu đẻ vào 24 tuần

Trang 35

tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130

gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 70 ngày tuổi đạt 1500g - 1600g Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2, 6 kg thức ăn/kg tăng trọng Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao, có thể nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), bán công nghiệp (vừa nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả ở vườn, ngoài đồng, trên đồi

Bộ nông nghiệp và PTNT đã công nhận 3 dòng gà LV1, LV2, LV3 đạt cấp giống ông bà theo quyết định số 953 QĐ/BN - KHCN ngày 16/4/2004 Gà Lương Phượng hiện nay đang là giống gà được ưa chuộng và phát triển nuôi rộng rãi trong khắp mọi vùng của đất nước ta trong đó có tỉnh Thái Nguyên

1.6 Các kết quả nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo trong chăn nuôi tại Việt Nam và trên thế giới

1.6.1 Nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo trên thế giới

Stylo là một cây họ đậu được trồng để làm thức ăn thô xanh và sản xuất bột lá Nó được sử dụng như là nguồn protein thực vật cho lợn, vịt, và gà tại Trung Quốc (Guptan và cs, 1983) [61] Stylo được sử dụng ở Trung Quốc từ những năm 1990 và Ấn Độ năm 2000 Trong quá trình sử dụng cho thấy bột

cỏ stylo có tính đa dụng và tăng giá trị thương mại (Liu Guodao và cs, 2004) [77] Nó giàu protein, vitamin và dưỡng chất khác, bao gồm cả “dưỡng chất chưa biết, nhân tố sinh trưởng” mà có thể thúc đẩy tăng trưởng của vật nuôi (Bai Changjun và cs, 2004) [45]

Một số thử nghiệm được tiến hành trên gà đã chỉ ra rằng bột cỏ

Stylosanthes có thể thay thế bột cá trong khẩu phần cho gia cầm để tăng hiệu

quả kinh tế (Gupta và cs, 1992) [60], (Bai Changjun và cs, 2004) [45]

Ở Trung Quốc, một nghiên cứu cho thấy bột cỏ Stylosanthes có thể

thay thế nguyên liệu đắt tiền trong khẩu phần ăn lên đến 6%, mà không có bất

kỳ ảnh hưởng xấu đến sản phẩm cuối cùng Da và màu sắc chân của gà thịt

hấp dẫn hơn khi ăn khẩu phần có chứa bột cỏ Stylosanthes (Bai Changjun và

cs, 2004) [45]

Trang 36

Ở Ấn Độ, một nghiên cứu đã tiến hành sử dụng 3%, 6% và 9% bột cỏ

Stylosanthes trong khẩu khẩu phần ăn của gà thịt Kết quả cho thấy tăng khối

lượng ở nhóm sử dụng 3% bột cỏ Stylosanthes cao hơn nhóm sử dụng 6 và 9% Tăng từ 3 - 9% bột cỏ Stylosanthes trong khẩu phần thì cường độ sắc tố

của chân và da cũng tăng lên Trong một thí nghiệm khác, sử dụng 2,5%, 5%

và 7,5% bột cỏ Stylosanthes trong khẩu phần của gà thịt Ven lùn cho thấy 2,5

- 5% bột cỏ Stylosanthes trong khẩu phần đạt hiệu quả nhất (Bai Changjun và

cs, 2004) [45] Theo Krishna Daida và cs (2008) [72]: trong số 9 mức thí

nghiệm thay thế bột cỏ Stylosanthes trong khẩu phần ăn thì có 6 mức thay thế

được ghi nhận là chi phí thức ăn mang lại lợi nhuận kinh tế hơn so với khẩu phần đối chứng

Trong bột cỏ bột lá có chứa nhiều beta caroten, protein, vitamin nên việc sử dụng nó bổ sung vào khẩu phần ăn của gà thịt có tác dụng rất tốt Không những làm tăng khả năng sinh trưởng, tăng năng suất mà đặc biệt là tăng chất lượng thịt, độ cảm quan đối với thịt, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

1.6.2 Nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo trong nước

Ở Việt Nam, trong khoảng ít năm trở lại đây việc nghiên cứu sử dụng bột cỏ Stylo trong chăn nuôi đã được quan tâm nhiều hơn và cũng ghi nhận được một số kết quả nhất định về hiệu quả của việc sử dụng bột cỏ Stylo trong chăn nuôi

Dương Thanh Liêm (1981) [13] cho rằng, bột lá sử dụng tỷ lệ thích hợp trong khẩu phần có ảnh hưởng tốt tới sinh trưởng nói chung, làm tăng hiệu suất chuyển hoá thức ăn, giảm chi phí giá thành chăn nuôi, mở ra khả năng tận dụng các nguồn thức ăn để nuôi gia súc, gia cầm giải quyết nhu cầu vitamine cho vật nuôi trong điều kiện chăn nuôi phân tán nhỏ lẻ

Theo Nguyễn Đức Trân và cs (1977) [33], cỏ khô nghiền nhỏ thành bột dùng nuôi lợn và gia cầm rất tốt, nhất là để nuôi súc vật non, vì trong bột cỏ khô có nhiều chất đạm, nhiều sắc tố, tiền vitamin A, vitamin D2 và canxi

Trang 37

Theo Nguyễn Khánh Quắc và cs (2002) [24] cho biết: sử dụng bột cỏ khô hỗn hợp trong thức ăn cho gia cầm, lợn, trâu, bò rất tốt, vừa phòng trừ

giun sán lại vừa đỡ công chăn nuôi

Theo Hồ Thị Bích Ngọc (2012) [22] cho biết: sử dụng 0 - 8% bột cỏ

Stylo CIAT 184 trong khẩu phần nuôi gà thịt không ảnh hưởng đến sức khỏe

và tỷ lệ nuôi sống của gà (95,56% trở lên) Khẩu phần có chứa bột cỏ thì tăng

khối lượng đạt cao nhất (2321,5g/con) Bột cỏ Stylo CIAT 184 không ảnh

hưởng đến thành phần hóa học của thịt Chất lượng thịt được cải thiện đặc biệt là màu sắc thịt Xét về hiệu quả kinh tế, tăng khối lượng và tiêu tốn thức

ăn/kg tăng khối lượng có thể sử dụng 2 - 4% bột cỏ Stylo CIAT 184 trong

khẩu phần cho gà Lương Phượng nuôi thịt

Theo Nguyễn Văn Chung (2013) [2] Sử dụng bột bột cỏ Stylo vào khẩu

phần ăn của gà thịt Lương Phượng giai đoạn từ 1 - 70 ngày tuổi đã cho kết quả tỷ lệ nuôi sống ngang bằng hoặc cao hơn, lông bóng mượt hơn, da chân

gà vàng óng hơn, mào gà trống đỏ hơn, khối lượng lớn hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn so với khẩu phần không có bổ sung

So sánh giữa sử dụng bột lá sắn và bột cỏ Stylo thì gà được ăn thức

ăn có bột lá sắn đạt được các chỉ tiêu nêu trên tốt hơn so với bột cỏ Stylo

nhưng không có sự sai khác rõ rệt (P > 0,05), riêng chi phí thức ăn cho 1

kg tăng khối lượng giảm 3,2 %, còn độ đậm màu của da chân gà thì lớn hơn 0,6% điểm

Lý Hồng Hạnh (2014) [4] khi nghiên cứu ảnh hưởng của khẩu phần

có bổ sung bột cỏ Stylo được và không được cân đối lại năng lượng và protein đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ Lương Phượng cho rằng, cách bổ sung bột cỏ Stylo được cân đối lại năng lượng và protein cho hiệu quả tốt hơn cách bổ sung không cấn đối lại năng lượng và protein, cả hai cách bổ sung đều cho năng xuất và chất lượng trứng tốt hơn khẩu phần không có bột cỏ Stylo

Trang 38

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

* Đối tượng

Gà nuôi thịt giống Lương Phượng;

Cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các nội dung sau:

Nghiên cứu ảnh hưởng của cách thức bổ sung bột cỏ Stylo vào khẩu phần đến khả năng sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà thịt Lương Phượng ;

Nghiên cứu ảnh hưởng của cách thức bổ sung bột cỏ Stylo vào khẩu phần đến một số chỉ tiêu lý học, hóa học của thịt gà ;

Nghiên cứu ảnh hưởng của cách thức bổ sung bột cỏ Stylo vào khẩu phần đến một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của gà thí nghiệm

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí với 270 gà thịt từ 1 - 70 ngày tuổi, chia làm 3

lô, mỗi lô có 90 con hỗn hợp trống mái, trong đó có lô đối chứng (ĐC), lô thí nghiệm 1 (TN1) bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần theo cách thứ nhất và lô thí nghiệm 2 (TN2) bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần theo cách thứ hai

Trang 39

Gà của mỗi lô (90 con) được chia thành 9 nhóm, mỗi nhóm 10 con, xử

lý các kết quả theo giá trị trung bình của nhóm (n = 9)

* Thức ăn thí nghiệm

Xây dựng công thức thức ăn hỗn hợp của KPCS và khẩu phần thí nghiệm 1 (bổ sung bột cỏ stylo theo cách thứ nhất - bổ sung bột cỏ có cân đối lại mức năng lượng và protein) được phối hợp trên phần mềm Brill Formulation; Nguyên liệu thức ăn bao gồm: bột ngô đỏ, cám mỳ, khô dầu đậu tương, bột cá, dầu thực vật, bột cỏ stylo… và các chất bổ sung khác Khẩu phần cơ sở không chứa bột cỏ stylo, còn khẩu phần thí nghiệm 1 có chứa 2%

và 4% bột cỏ stylo, tương ứng với các giai đoạn 15 - 42 và 43 - 70 ngày tuổi

Cả hai khẩu phần này có cùng mức ME là 3000 kcal và tỷ lệ protein là 20% ứng với các giai đoạn 15 - 42 ngày tuổi, và 3050 kcal ME, 19% protein ứng với giai đoạn 43 - 70 ngày tuổi (tiêu chuẩn của gà lông màu)

Khẩu phần thí nghiệm 2 (bổ sung bột cỏ stylo theo cách thứ 2 - bổ sung bột cỏ không cân đối lại mức năng lượng và protein, bổ sung bằng cách thay thế một phần khẩu phần cơ sở) được thiết lập như sau:

98% KPCS + 2% bột cỏ stylo, ứng với giai đoạn 15 - 42 ngày tuổi, 96% KPCS + 4% bột cỏ stylo, ứng với giai đoạn 43 - 70 ngày tuổi

Giai đoạn nuôi úm, cả 3 lô gà được ăn cùng một loại thức ăn hỗn hợp không có bột cỏ stylo, có 2950 kcal ME/kg và tỷ lệ protein 22% Sơ đồ bố trí thí nghiệm được thể hiện ở bảng 2.1

Trang 40

9 nhóm, mỗi nhóm 10 con

Tuổi khảo nghiệm

và tỷ lệ protein là 20%)

tỷ lệ protein là 19%

Khẩu phần có 4%

với ME là 3050 kcal/1kg thức ăn,

tỷ lệ protein là 19%

Ngày đăng: 04/04/2016, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hà Châu (1999), Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của một số giống cỏ trồng tại miền Đông Nam bộ, Báo cáo khoa học, Hội đồng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất của một số giống cỏ trồng tại miền Đông Nam bộ
Tác giả: Lê Hà Châu
Năm: 1999
2. Nguyễn Văn Chung (2013), So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn, bột cỏ Stylo đến năng suất và chất lượng sản phẩm gà thịt Lương Phượng nuôi tại Trại gà Đán, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh ảnh hưởng của bột lá sắn, bột cỏ Stylo đến năng suất và chất lượng sản phẩm gà thịt Lương Phượng nuôi tại Trại gà Đán, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Năm: 2013
3. Vũ Duy Giảng (2007), Thức ăn bổ sung cho Gia súc Gia cầm, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 233 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn bổ sung cho Gia súc Gia cầm
Tác giả: Vũ Duy Giảng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
4. Lý Hồng Hạnh (2014), Ảnh hưởng của khẩu phần có bổ sung bột cỏ Stylo được và không được cân đối lại năng lượng và protein đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ Lương Phượng, Luận văn Thạc sĩ Nông nghiệp, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của khẩu phần có bổ sung bột cỏ Stylo được và không được cân đối lại năng lượng và protein đến năng suất và chất lượng trứng của gà đẻ Lương Phượng
Tác giả: Lý Hồng Hạnh
Năm: 2014
5. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Nguyễn Thị Liên, Ngôn Thị Hoán (2001), Giáo trình Thức ăn dinh dưỡng gia súc, NXB Nông nghiệp, tr. 15 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thức ăn dinh dưỡng gia súc
Tác giả: Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Nguyễn Thị Liên, Ngôn Thị Hoán
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
6. Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Phan Đình Thắm, Trần Thanh Vân, Từ Trung Kiên (2013), Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi - hệ tiến sỹ, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi - hệ tiến sỹ
Tác giả: Từ Quang Hiển, Trần Văn Phùng, Phan Đình Thắm, Trần Thanh Vân, Từ Trung Kiên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2013
7. Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn (2009), “Năng suất chất lượng một số giống cây thức ăn gia súc (Pennisetum perpereum, Panicum maximum, Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis) trồng tại Đắc Lắc”, Tạp chí khoa học và phát triển 2009: Tập 7, số 3: 276 - 281, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất chất lượng một số giống cây thức ăn gia súc (Pennisetum perpereum, Panicum maximum, Brachiaria ruziziensis, Stylosanthes guianensis) trồng tại Đắc Lắc”, "Tạp chí khoa học và phát triển 2009
Tác giả: Lê Hòa, Bùi Quang Tuấn
Năm: 2009
(1999), Chăn nuôi gia cầm (Giáo trình dành cho cao học và NCS ngành chăn nuôi), NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm (Giáo trình dành cho cao học và NCS ngành chăn nuôi)
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
9. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm hệ đại học, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm hệ đại học
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
10. Nguyễn Đức Hưng, Trần Sáng Tạo (2004), “Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu thả vườn tại Thừa Thiên Huế”. Tạp chí Nông nghiệp và PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của một số giống gà lông màu thả vườn tại Thừa Thiên Huế”
Tác giả: Nguyễn Đức Hưng, Trần Sáng Tạo
Năm: 2004
11. Đào Văn Khanh (2000), Nghiên cứu năng suất thịt gà Broiler giống Tam Hoàng 882 nuôi ở các vụ mùa khác nhau của vùng sinh thái Thái Nguyên, Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập trường ĐHNL, NXB Nông nghiệp, tr. 40 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu năng suất thịt gà Broiler giống Tam Hoàng 882 nuôi ở các vụ mùa khác nhau của vùng sinh thái Thái Nguyên
Tác giả: Đào Văn Khanh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2000
12. Trương Tấn Khanh (1999), Tuyển chọn và sản xuất mở rộng một số giống cỏ hòa thảo và cỏ họ đậu tại vùng M’Drak, Tuyển tập nghiên cứu chăn nuôi, Phần dinh dưỡng và thức ăn, tr. 144 - 155 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và sản xuất mở rộng một số giống cỏ hòa thảo và cỏ họ đậu tại vùng M’Drak
Tác giả: Trương Tấn Khanh
Năm: 1999
13. Dương Thanh Liêm (1981), Sản xuất và sử dụng bột cỏ giàu sinh tố trong chăn nuôi nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu KHKT (1976- 1980)- Trường đại học Nông nghiệp IV - Tp. Hồ Chí Minh, tr. 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất và sử dụng bột cỏ giàu sinh tố trong chăn nuôi nông nghiệp
Tác giả: Dương Thanh Liêm
Năm: 1981
14. Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc, Dương Duy Đồng (2006), Thức ăn và dinh dưỡng động vật. NXB Nông nghiệp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và dinh dưỡng động vật
Tác giả: Dương Thanh Liêm, Bùi Huy Như Phúc, Dương Duy Đồng
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
15. Ngô Giản Luyện (1994), Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5, giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam, Luận án phó Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần chủng V1, V3, V5, giống gà thịt cao sản Hybro trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Ngô Giản Luyện
Năm: 1994
16. Bùi Đức Lũng (1992), Nuôi gà Broiler năng suất cao, Báo cáo chuyên đề quản lý kỹ thuật ngành gia cầm TP Hồ Chí Minh, tr. 1 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi gà Broiler năng suất cao
Tác giả: Bùi Đức Lũng
Năm: 1992
17. Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận (2001), Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn và nuôi dưỡng gia cầm
Tác giả: Bùi Đức Lũng và Lê Hồng Mận
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2001
19. Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đông (2008), “Xác định tỷ lệ thích hợp trong cơ cấu sản xuất cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây cỏ chủ yếu cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau”, Tạp chí KHCN Chăn nuôi, số 10/2008 tr. 59 - 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định tỷ lệ thích hợp trong cơ cấu sản xuất cây thức ăn xanh và phương pháp phát triển cây cỏ chủ yếu cho chăn nuôi bò sữa ở một số vùng sinh thái khác nhau”, "Tạp chí KHCN Chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Văn Quang, Lê Xuân Đông
Năm: 2008
20. Lê Đức Ngoan, Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn (2006), Thức ăn cho gia súc nhai lại trong nông hộ miền trung, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thức ăn cho gia súc nhai lại trong nông hộ miền trung
Tác giả: Lê Đức Ngoan, Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2006
21. Trần Ngọc Ngoạn (2007), Giáo trình cây sắn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 40 – 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây sắn
Tác giả: Trần Ngọc Ngoạn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Thành phần một số axit amin của cỏ Stylo CIAT 184 (g/kg) - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 1.1. Thành phần một số axit amin của cỏ Stylo CIAT 184 (g/kg) (Trang 17)
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (Trang 40)
Bảng 2.2. Công thức và giá trị dinh dưỡng của KPCS và KPTN1 - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 2.2. Công thức và giá trị dinh dưỡng của KPCS và KPTN1 (Trang 41)
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích lũy của các lô gà qua các giai đoạn (g/con) - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 3.2. Sinh trưởng tích lũy của các lô gà qua các giai đoạn (g/con) (Trang 48)
Hình 3.1. Đồ thị  sinh trưởng tích lũy của gà Lương Phượng - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Hình 3.1. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà Lương Phượng (Trang 49)
Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của gà TN ở các giai đoạn (g/con/ngày)  Ngày - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 3.3. Sinh trưởng tuyệt đối của gà TN ở các giai đoạn (g/con/ngày) Ngày (Trang 50)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà Lương Phượng - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của gà Lương Phượng (Trang 52)
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà Lương Phượng - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Hình 3.3. Biểu đồ sinh trưởng tương đối của gà Lương Phượng (Trang 54)
Hình 3.4. Tiêu thụ thức ăn trung bình của gà qua các giai đoạn - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Hình 3.4. Tiêu thụ thức ăn trung bình của gà qua các giai đoạn (Trang 57)
Hình 3.5. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của gà - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Hình 3.5. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng của gà (Trang 60)
Bảng 3.7. Tiêu tốn ME cho 1 kg tăng khối lượng (kcal) - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 3.7. Tiêu tốn ME cho 1 kg tăng khối lượng (kcal) (Trang 61)
Bảng 3. 9. Khả năng cho thịt của các lô thí nghiệm  Chỉ tiêu  Đơn vị  Lô ĐC  Lô TN1   Lô TN2 - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 3. 9. Khả năng cho thịt của các lô thí nghiệm Chỉ tiêu Đơn vị Lô ĐC Lô TN1 Lô TN2 (Trang 64)
Bảng 3.11. Một số chỉ tiêu lý, hóa học của  thịt đùi - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 3.11. Một số chỉ tiêu lý, hóa học của thịt đùi (Trang 67)
Bảng 3.13. Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của việc bổ sung bột cỏ stylo vào - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
Bảng 3.13. Hiệu quả kinh tế - kỹ thuật của việc bổ sung bột cỏ stylo vào (Trang 71)
Phụ lục 2: Bảng giá thành các nguyên liệu thức ăn dùng trong TN. - Xác định hiệu quả của các cách thức bổ sung bột cỏ stylo vào khẩu phần của gà thịt giống lượng phượng
h ụ lục 2: Bảng giá thành các nguyên liệu thức ăn dùng trong TN (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w