Christopher Baughn Department of Management, College of Business and Economics, Boise State University, Boise, Idaho, USA, and Thi Thanh Lam Dao Business School, National Economics Unive
Trang 1SME exporting challenges in transitional and developed economies (Những thách thức trong hoạt động xuất khẩu
của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các nền kinh tế chuyển đổi và phát triển)
Kent E Neupert
International Business Programs, College of Business and Economics,
Boise State University, Boise, Idaho, USA
C Christopher Baughn
Department of Management, College of Business and Economics,
Boise State University, Boise, Idaho, USA, and
Thi Thanh Lam Dao
Business School, National Economics University, Hanoi, Vietnam
(Tóm tắt nghiên cứu)
Mục tiêu - Nghiên cứu này tìm cách mở rộng công việc trước đó của Scharf và các cộng sự
(2001) đó là xem xét những thách thức mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt trên con đường hội nhập quốc tế Cụ thể là đánh giá quá trình quốc tế hóa của các nền kinh tế chuyển đổi và phát triển
Thiết kế / phương pháp luận/ cách tiếp cận - Phương pháp luận nghiên cứu trọng tâm cho
bài viết này là sử dụng phương pháp định tính bao gồm cả việc điều tra chuyên sâu về một
"sự cố nghiêm trọng" Sự cố được nói đến này là "cơn ác mộng tồi tệ nhất " hoặc "thách thức lớn nhất" trong hoạt động kinh doanh quốc tế của công ty Đối tượng điều tra được yêu cầu "tường thuật lại" các "sự cố nghiêm trọng" đó, tính chất và hậu quả của chúng
Những phát hiện- Các nhà xuất khẩu vừa và nhỏ trong các nền kinh tế đang phát triển thì
gặp phải một số vấn đề xuất khẩu liên quan đến việc đáp ứng chất lượng sản phẩm và công tác quản trị logistic
Trang 2Trong khi đó, các nhà xuất khẩu vừa và nhỏ trong các nền kinh tế phát triển lại phải đối mặt với các vấn đề như sự khác biệt của các quốc gia, rủi ro trong kinh doanh nói chung, và hoạt động logistic
Hạn chế/ ý nghĩa của nghiên cứu- Phương pháp nghiên cứu nêu trên có cả những ưu điểm
và cả những hạn chế Cách nghiên cứu chuyên sâu “sự cố nghiêm trọng” này chỉ thích hợp với cỡ mẫu nhỏ, trong bài viết này là 29 trường hợp Hạn chế của nghiên cứu này là việc phải khái quát hóa những phát hiện được tìm thấy do cỡ mẫu nhỏ Ưu điểm là phương pháp này mang lại một sự hiểu biết sâu sắc về các thách thức mà các nhà xuất khẩu vừa và nhỏ phải đối mặt
Tính Độc đáo hay giá trị của nghiên cứu này- Bài viết này mở rộng một nghiên cứu trước
đó trong việc đánh giá những thách thức mà các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ phải đối mặt bằng cách so sánh những kinh nghiệm của các nhà quản trị doanh nghiệp trong hai môi trường kinh tế khác nhau từ đó tìm ra sự khác biệt trong các thách thức tương ứng của họ
Từ khóa: Kinh doanh quốc tế, xuất khẩu, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Việt Nam, Phương
pháp định tính
Dạng bài viết: Bài viết nghiên cứu
(Giới thiệu)
Nghiên cứu này phát triển công việc trước đó của Scharf và các cộng sự (2001) trong việc xem xét những thách thức mà các SME phải đối mặt trên con đường hội nhập quốc tế Công trình của Scharf và cộng sự được chú ý bởi họ đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như là phương tiện để rút ra những kiến thức hữu ích từ các kinh nghiệm quản lý Nhóm tác giả áp dụng phương pháp truyền thống này trong việc xem xét những vấn đề mà các nhà xuất khẩu vừa và nhỏ phải đối mặt ở cả hai nền kinh tế khác nhau, chuyển đổi và phát triển, mà đại diện là hai nước, Việt Nam và Mỹ
Các nhà xuất khẩu vừa và nhỏ trong nền kinh tế chuyển đổi gặp phải các vấn đề xuất khẩu
có liên quan đến việc đáp ứng chất lượng sản phẩm và quản trị logistic Trong khi đó, các
Trang 3nhà xuất khẩu vừa và nhỏ tại những nền kinh tế phát triển lại phải đối mặt với những thách thức khác như sự khác biệt giữa các quốc gia và rủi ro kinh doanh nói chung
(Tổng quan lý thuyết)
Một thực tế phải nhìn nhận rằng các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần đáng kể vào hoạt động xuất khẩu của các quốc gia trên thế giới (theo Fletcher, 2004) Các doanh nghiệp nhỏ không những tăng trưởng nhanh trên quy mô toàn cầu mà còn thâm nhập vào thương trường thế giới sớm hơn so với một vài thập kỷ trước đó ( Andersson và cộng sự, 2004) Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu có thể phải đối mặt với những thách thức đau đầu làm hạn chế đi khả năng nhận ra các cơ hội phát triển cho mình Các doanh nghiệp càng nhỏ và càng trẻ thì càng dễ bị ảnh hưởng trước các rào cản xuất khẩu, chặng hạn như sự hạn chế về nguồn lực
và tổ chức bộ máy quản lý có thể làm tăng khả năng gặp nguy cơ của các doanh nghiệp này ( Katsikeas và Morgan, 1994; Miesenbock, 1988)
Khi xem xét nhiều tài liệu khác có liên quan đến toàn cầu hóa, khởi nghiệp kinh doanh và
sự quản lí các doanh nghiệp nhỏ, về cơ bản có ít tài liệu nghiên cứu được thực hiện dựa trên quá trình hoạt động của các nhà xuất khẩu vừa và nhỏ khi họ tiến ra thương trường thế giới Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp này được đánh giá là phân khúc có tốc độ phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế của nhiều quốc gia Những công ty quy mô nhỏ đóng vai trò chủ yếu trong hoạt động xuất khẩu và tạo công ăn việc làm tại các nước đang phát triển (Arinaitwe, 2006) Tuy nhiên các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại đang phải đối mặt với các rào cản xuất khẩu của các tổ chức lớn đặt ra ở Bắc Mỹ và Châu Âu Nghiên cứu cách vượt qua các rào cản xuất khẩu mà các SME phải đối phó ở các quốc gia đang phát triển đến nay vẫn còn hạn chế (Leonidou, 2004)
Trong bài viết của mình, Leonidou (2004) cho rằng phân tích các rào cản xuất khẩu có thể
là yếu tố quyết định cho các nhà quản lý doanh nghiệp nhỏ, các nhà hoạch định chính sách công và các giảng viên kinh tế cũng như những nghiên cứu về xuất khẩu sẽ làm phát triển các mô hình toàn diện trong lĩnh vực nghiên cứu này Mục đích của nghiên cứu này nhằm đóng góp vào những phân tích như vậy khi so sánh các rào cản mà doanh nghiệp phải đối
Trang 4mặt trong các bối cảnh kinh tế xã hội khác nhau.Những thách thức mà các doanh nghiệp nhỏ trong nền kinh tế chuyển đổi đối mặt so với các nền kinh tế phát triển có khả năng sẽ dẫn đến sự tác động khác nhau hay những hàm ý khác nhau đối với các nhà lãnh đạo, các nhà hoạch định chính sách công và các giáo viên trong bối cảnh đó Hơn nữa, bằng việc mở rộng việc nghiên cứu bên ngoài khu vực các quốc gia phát triển sẽ giúp chúng ta mở rộng sự hiểu biết về mục tiêu và tầm quan trọng của các rào cản thương mại
Những nghiên cứu trước đây về xuất khẩu đã cung cấp nền tảng cho việc nhận biết những khía cạnh riêng biệt của chiến lược quốc tế hóa và những vấn đề liên quan hỗ trợ cho các nhà quản trị doanh nghiệp Rất nhiều nhà nghiên cứu đã và đang nghiên cứu rất tỉ mỉ những khó khăn mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt Bilkey (1978) cho rằng sự yếu kém về tài chính, quy định khắt khe của chính phủ nước ngoài, sự giới hạn kiến thức về thực hành thương mại quốc tế , sự mất cân đối trong phân phối và yếu kém trong việc tìm kiếm thị trường nước ngoài là những khó khăn chung của xuất khẩu Xuất khẩu cũng bị hạn chế bởi
sự giới hạn về nguồn lực, trình độ quản trị, khác biệt ngôn ngữ, văn hóa và tín ngữơng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( Fletcher, 2004 ; Miesenbok, 1988, o’Farrel và cộng sự, 1998)
Tesar và Tarelton (1982) đã chỉ ra những khác biệt giữa các khó khăn khi mới bắt đầu xuất khẩu và các khó khăn xuất hiện trong quá trình điều hành hoạt động xuất khẩu Họ cho rằng các sự cố ban đầu thường liên quan đến việc nhận thấy cơ hội xuất khẩu, tài liệu xuất khẩu, chi phí ban đầu trong khi đó các sự cố trong quá trình xuất khẩu liên quan đến đại lý/ công
ty đại diện, các dịch vụ ở thị trường nước ngoài, sự khác biệt của người tiêu dùng và những chuẩn mực, an toàn trong thanh toán, và các chi phí Những nhận định này cũng được sự đồng tình từ Albaum (1983) và Bannock ( 1987)
Leonidou (2004) đã phân loại rào cản xuất khẩu bao gồm những rào cản nội tại (những rào cản này liên quan đến nguồn lực của tổ chức xuất khẩu, năng lực và khả năng tiếp cận xuất khẩu) và những rào cản ngoại biên (rào cản từ môi trường nước chủ nhà, bao gồm thông lệ quốc tế, những quy định, hàng rào thuế quan, và sự khác biệt hành vi tiêu dùng) Những rào cản nội tại được phân chia ra thành những rào cản marketing, chức năng và thông tin, trong
Trang 5khi đó các rào cản bên ngoài được chia thành rào cản về thủ tục, thể thức, rào cản chính phủ, rào cản nghĩa vụ và rào cản môi trường
Sullivan và Bauerschmidt (1989) lại tập trung vào những khác biệt địa lý trong các doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ Cụ thể, bên cạnh những vấn đề liên quan đến quy mô thị trường nội địa, họ còn cho rằng các doanh nghiệp nhỏ ở US và Châu Âu có những điểm tương đồng với các đối tác lớn hơn của họ Lấy cơ sở từ sự khác biệt các vùng của quốc gia, Bell (1997)
đã nghiên cứu các hãng ở Norway, Finland và Ireland và nhận thấy rằng có rất ít sự khác biệt về tự nhiên, cách biệt trong những khó khăn trong xuất khẩu liên quan đến địa điểm Scharf và các cộng sự (2001) đã sử dụng những nghiên cứu trước đó làm nền tảng phát triển những hiểu biết sâu sắc hơn về kinh nghiệm của các nhà xuất khẩu vừa và nhỏ Cách tiếp cận vấn đề của họ là sử dụng phương pháp luận tập trung vào “sự cố nghiêm trọng” mà các nhà quản lý phải đối mặt (theo Bitner et al., 1985) Đây là phương pháp phỏng vấn có dạng
cấu trúc “lỏng”, chuyên sâu, trực tiếp, được sử dụng thống nhất ở Ireland và Australia Kết quả cho thấy việc tìm kiếm trung gian thích hợp, kênh phân phối, sự thích nghi của sản phẩm và tài chính là những vấn đề chính mà các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ gặp phải Scharf và cộng sự (2001) cũng phân biệt giữa những khó khăn ở giai đoạn hình thành
và giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp, trong giai đoạn hình thành là sự yếu kém về kinh nghiệm và kiến thức, còn trong quá trình hoạt động là những khó khăn liên quan đến việc thâm nhập sâu vào thị trường nước ngòai Họ cũng ghi nhận những khó khăn liên quan đến gia công và hàng hóa thành phẩm Dựa trên nền tảng lý thuyết mà nghiên cứu này đã xác định, nó như một phương tiện để mở rộng phương pháp luận và sự hiểu biết tại những quốc gia khác trong nổ lực tìm ra những điểm tương đồng, những khác biệt và sự thấu hiểu hơn nữa
(Bối cảnh đất nước)
Trong bài viết này chúng ta sẽ nghiên cứu những kinh nghiệm xuất khẩu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở 2 địa điểm phân biệt, đó là Việt Nam và Bang Idaho (Mỹ) Nhìn chung nền kinh tế của 2 vùng đều bắt đầu từ thời kì quá độ chuyển từ hình thái kinh tế cổ điển sang hình thái kinh tế mới Việt Nam đi lên từ một nền kinh tế nhà nước bao cấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp tiến lên nền kinh tế định hướng thị trường trong đó xuất khẩu giữ vai
Trang 6trò quan trọng Trong khi đó, bang Idaho lại phát triển từ một vùng tự cung tự cấp về nông nghiệp với các nguồn tài nguyên tự nhiên khác trở thành tiểu bang có nền sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng khoa học So sánh hoạt động thương mại của 2 khu vực này giúp chúng ta phát hiện ra những nét tương đồng đáng kể cũng như những điểm tương phản đáng chú ý
Vietnam
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia và Vịnh Thái Lan, vịnh Tonkin, và bờ biển Nam Trung Hoa Với hơn 84 triệu dân sống trên 329.560 Km2 Việt Nam có bề dày lịch sử về thương mại quốc tế với các quốc gia trong và ngoài khu vực Đầu thập niên 70, Việt Nam đã hợp nhất miền Bắc và miền Nam Việt Nam thành một nền kinh tế kế hoạch tập trung Tuy nhiên những năm gần đây, Việt Nam đã bắt đầu áp dụng định hướng thị trường vào phát triển kinh tế Cải cách, đổi mới- vào giữa thập niên 80- đã mang lại sự thay đổi rộng khắp trong lĩnh vực kinh tế và chính trị Cùng với những thay đổi
về hệ thống pháp lý đã giúp tạo ra môi trường kinh doanh thông suốt cho các doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân phát triển, khuyến khích việc tuyển dụng và cho phép họ tiếp cận với thị trường và làm ăn với các công ty ngoài nước (Baugh và đồng sự, 2004; Harvie
và Tran,1997; Wolff,1999)
Trong thời kì 1991-2000, GDP của Việt Nam tăng 200% Lĩnh vực công nghiệp bao gồm xây dựng tăng từ 22.7 lên 36.6% và dịch vụ từ 38.6 lên 39.1% của GDP, trong khi đó lĩnh vực nông nghiệp giảm từ 22.7% xuống 24.3% của GDP Hơn 1 triệu công việc làm đã được tạo ra trung bình mỗi năm (Văn Kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần IX, 2001) Hầu như
sự phát triển này là do sự chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước (SOEs) sang gần như là sở hữu tư và sự gia tăng số lượng các DN tư nhân vừa và nhỏ Xuất khẩu 2005 của Việt Nam ước khoảng 36.9 tỉ đô la Mỹ Nguồn xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, thủy sản, lúa gạo, cà phê, cao su, trà, quần áo, giày dép (CIA, 2006) Xuất khẩu sang Mỹ gấp đôi trong năm 2002
và 2003, chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2005
Năm 1990, Việt Nam đã thông qua nhiều đạo luật khác nhau nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh mới cho khu vực kinh tế tư nhân tư nhân phát triển Kết quả là trong vòng 8 năm
Trang 7hơn 35000 doanh nghiệp đã được thành lập 61% những doanh nghiệp mới nổi lên này được xem như nền tảng của thời kì phục hồi về kinh tế giai đoạn 1993-1995 Để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á cuối thập niên 90, những điều luật này đã được điều chỉnh và thông qua vào năm 1999 với nỗ lực khuyến khích phát triển kinh tế mới (Baughn và đồng
sự, 2004) Mặc dù nội dung của cuộc cải cách là thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng nó lại đem một môi trường kinh tế mang đặc trưng của 2 hệ tư tưởng, một hệ thống luật pháp còn non yếu và một nền kinh tế tiền mặt (Nguyên, 2005)
Trong khi cuộc cải cách này đã đem lại những ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của kinh
tế Việt Nam, thì truyền thống của đất nước xã hội chủ nghĩa đã hạn chế sự phát triển của các nhà quản lý có năng lực ở khu vực tư nhân Tuy nhiên, dẫu sao Việt Nam cũng đã có được một số lượng vừa đủ những nhà quản lý được đào tạo phù hợp, và đó là điều kiện mấu chốt
để hoàn thành mục tiêu phát triển kinh tế Là một nước chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế định hướng thị trường, minh chứng đã chỉ ra nhiều nhà quản lý ở Việt Nam chưa
có đủ những kĩ năng và sự hỗ trợ cần thiết để cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng khốc liệt (Neupert và đồng sự, 2005; Steer, 2001)
Idaho, USA
Bang Idaho là vùng phía bắc của nước Mỹ Giáp với Washington, Oregon, Nevada, Utah, Wyoming, Montana và Canada, có biên giới 138,187 km2 , dân số 1,3 triệu người Các ngành công nghiệp sản xuất lớn nhất của Idaho bao gồm ngành sản xuất công nghệ cao, nông nghiệp và chế biến thực phẩm, và sản phẩm từ gỗ Công nghiệp dịch vụ dẫn đầu là thương mại bán lẻ, dịch vụ du lịch, lữ hành, y tế và thương mại kinh doanh (Bộ Thương Mại
Mỹ, 2006) Idaho cũng từng chuyển nền kinh tế có lịch sử phụ thuộc vào nông nghiệp và các nguồn tài nguyên tự nhiên sang nền kinh tế có phần lớn tổng sản phẩm do ngành sản phẩm kĩ thuật cao tạo ra.Trong khi đó không phải tất cả các bang của USA đều như vậy, Idaho chỉ đại diện cho một khuynh hướng ở các bang phía đông của Mỹ, khuyến khích công nghệ cao cho sự phát triển kinh tế trong tương lai (Perry, 2002)
Giá trị xuất khẩu của Idaho tăng hơn gấp đôi từ năm 1998-2005 từ 1,5 tỉ USD đến 3,2 tỉ USD Trong năm 2004 danh mục sản phẩm xuất khẩu dẫn đầu là những sản phẩm kĩ thuật cao (71%), trong khi nông nghiệp đứng thứ 2 ở mức 11,7% (Estrella, 2006) Hầu như sự
Trang 8tăng trưởng này là do các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho những ngành công nghiệp này Do đó, công việc của bang hỗ trợ cho sự phát triển và thành công của các doanh nghiệp xuất khẩu vừa và nhỏ như thể đó là nguồn gốc của
sự tăng trưởng kinh tế
Methodology
Phương pháp luận
Phương pháp nghiên cứu chính của dự án là phương pháp tiếp cận định tính, cụ thể bằng việc điều tra sâu “sự cố nghiêm trọng” Sự cố này có thể được xem như là “cơn ác mộng tồi tệ” hay là “thách thức lớn nhất” trong quá trình kinh doanh quốc tế
Những doanh nghiệp này được yêu cầu “tường thuật lại” về “sự cố nghiêm trọng” đó, tính chất và hệ quả của nó để lại (Eisenhardt, 1991) Phương pháp tiếp cận này đã giúp bộc tả được bối cảnh xung quanh các thách thức gặp phải và giúp trang bị kiến thức thấu đáo về bản chất vấn đề mà người lãnh đạo phải đối mặt (Neupert và al., 2005; Loane và cộng sự, 2004; Loane và Bell, 2002)
Trong nghiên cứu này, các nhà quản lý được phỏng vấn dựa trên một bộ câu hỏi chuẩn như sau:
(1) Trải nghiệm thách thức nghiêm trọng nhất hay “cơn ác mộng tồi tệ nhất” của bạn trong quá trình kinh doanh quốc tế là gì?
(2) Các hành động hay nguồn lực nào được bạn hoặc doanh nghiệp của bạn đánh giá
là khả thi nhất đã được vận dụng để giải quyết vấn đề đó?
Nhìn chung, các buổi phỏng vấn diễn ra từ 45 – 90 phút Ở Idaho, cuộc phỏng vấn được triển khai bằng tiếng Anh Tại Việt Nam, phỏng vấn được tiến hành bằng tiếng Việt và được hai nhà nghiên cứu song ngữ dịch sang tiếng Anh Tất cả các cuộc phỏng vấn đều được ghi
âm lại Văn bản được hai nhà nghiên cứu xem xét và nhóm chúng theo từng đề mục riêng Trường hợp có bất kỳ điểm nào đó chưa thể thống nhất sẽ nhờ đến nhà nghiên cứu thứ ba Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đã thống nhất việc nhóm các đề mục đã đưa ra từ buổi phỏng vấn và có sự mô tả, giải thích chi tiết trong các câu trả lời cho những thách thức xuất khẩu mà các nhà lãnh đạo doanh nghiệp vừa và nhỏ đang phải đối mặt
Trang 9(Mẫu nghiên cứu)
Nhóm tác giả đã phỏng vấn 16 nhà quản lý xuất khẩu ở Idaho và 13 nhà quản lý xuất khẩu ở Việt Nam Tại Idaho, các doanh nghiệp được chọn lọc từ danh bạ thương mại các doanh nghiệp xuất khẩu của bang Tại Việt Nam, doanh nghiệp được chọn ra từ danh sách các công ty công bố ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Ở Idaho, các doanh nghiệp chế tạo và sản phẩm công nghệ cao, nông nghiệp và các trang thiết bị nông nghiệp là những lĩnh vực được
ưu tiên trong lựa chọn Đại diện cho Việt Nam là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và sản xuất sản phẩm Cuộc phỏng vấn tại Việt Nam được tiến hành ở 2 trung tâm thương mại chính là TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Còn tại Idaho chúng diễn ra tại nhiều địa điểm
trong bang (xem Bảng I)
Bảng I: Đặc điểm của các công ty
Mỹ
Nhà XK vừa & nhỏ Việt Nam
Thâm niên công ty
Số lượng nhân viên
Doanh thu hàng năm
Thâm niên kinh doanh xuất
khẩu
Lĩnh vực kinh doanh
24 năm
99 nhân viên 4,568,571$
13 năm Công nghệ chiếm 50%
Nông nghiệp chiếm 50%
18 năm
124 nhân viên 6,891,769$
10 năm
Dệt & thủ công mỹ nghệ chiếm 62%
Nông nghiệp chiếm 23% Tài nguyên thiên nhiên chiếm 15%
Những phát hiện
Tại Idaho, các doanh nghiệp xuất khẩu vừa & nhỏ mắc phải những vấn đề phát sinh trong giai đoạn “hình thành” và giai đoạn “vận hành” hoạt động xuất khẩu Các vấn đề được chú ý nhiều nhất là việc huấn luyện đào tạo cho khách hàng, kiến thức logistic trong hoạt động giao nhận hàng hóa, các tiêu chuẩn đo lường quốc tế, chứng từ hải quan v.v…hết thảy đều liên quan mật thiết đến kết quả xuất khẩu ở giai đoạn đầu Nhưng hầu hết, một khi đã vấp
Trang 10phải vấn đề nào, các nhà quản lý đã không để chúng được lặp lại do họ đã nhanh chóng điều chỉnh lại các chính sách & thủ tục
Đối lập với những vấn đề trên là các vấn đề liên quan đến người đại diện/ đại lý, nạn tham nhũng của các chính phủ nước ngoài, sự khác biệt về văn hóa, sự cạnh tranh quốc tế, vấn đề rủi ro trong kinh doanh… phát sinh trong quá trình hoạt động doanh nghiệp Dù rằng các doanh nghiệp có thể điều chỉnh các chính sách & thủ tục nhưng họ vẫn thật sự không có cách nào để ngăn chặn các vấn đề đó Điều mà các nhà lãnh đạo đã học được không phải là làm thế nào để ngăn chặn mà là làm như thế nào để xử lý một cách hiệu quả khi chúng đã xảy ra Trong các vấn đề đó, cũng có vấn đề thuộc về chất lượng sản phẩm Trong một ví dụ này như sau, một doanh nghiệp đã gửi một hệ thống quan sát (camera) tinh vi đến vị khách hàng ở Nhật và đã được họ chỉ ra lỗi của sản phẩm Khi ấy, doanh nghiệp đó đã sửa chữa và tìm cách thay thế cho khách hàng, từ đó họ đã rút ra bài học quan trọng về chất lượng sản phẩm trên thương trường quốc tế
Ứng dụng công trình của Leonidou (2004), phân biệt giữa rào cản nội biên và rào cản ngoại biên, hầu hết các trở ngại mà doanh nghiệp Idaho gặp phải đều được phân loại vào “trở ngại đến từ bên ngoài” Đó là trở ngại có liên quan đến các quy định, luật lệ giữa các nước, sự khác biệt về nền văn hóa- xã hội, sự khác nhau của các quy trình thủ tục Nhìn chung, thách thức mà các doanh nghiệp xuất khẩu vừa & nhỏ ở Idaho gặp phải thường liên quan đến quá
trình vận hành hoạt động xuất khẩu hơn là xuất phát từ chất lượng của chính sản phẩm (xem bảng II)
Bảng II: Bản chất của vấn đề
* Sự khácbiệt quốc gia
-Nạn quan liêu chính phủ nước ngoài (ID 4 máy móc nông nghiệp)
Những khác biệt về văn hóa và chính sách (ID 7 Ngành chế tạo thiết bị công
nghệ cao)
Những khác biệt quốc tế trong việc hành xử hợp pháp (ID 9 Máy móc nông
nghiệp)
Vấn đề ngôn ngữ (ID 13 Sản xuất nông nghiệp)
31