Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người chiến sĩ ở lĩnh vực chính trị, cách mạng, ở quân sự, ngoại giao, ở văn hoá, tư tưởng, vừa là người nghệ sĩ ở lĩnh vực văn học nghệ thuật, Đông và Tây, t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
ĐẶC ĐIỂM KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
TP.HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
ĐẶC ĐIỂM KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH : VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy cô trong Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo Cao học của trường Đại học Vinh, trường Đại học Sài Gòn, các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường, Ban Giám Đốc TTGDTX Tân Bình, Ban Giám Hiệu trường THCS và THPT Nguyễn Khuyến Quận Tân Bình, các bạn đồng nghiệp và những người thân đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến Phó Giáo sư Tiến sĩ Đinh Trí Dũng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hình thành và hoàn chỉnh luận văn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm
Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 8
CHƯƠNG 1: THỂ LOẠI KÝ TRONG SỰ NGHIỆP THƠ VĂN NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH 10
1.1 Khái niệm ký và các đặc trưng cơ bản của ký 10
1.1.1 Khái niệm ký 10
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của ký 14
1.2 Thể loại ký trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 17
1.2.1 Những tác phẩm ký sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 19
1.2.2 Những tác phẩm ký sáng tác sau Cách mạng tháng Tám 23
1.2.3 Đánh giá chung về ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh 26
Chương 2: NỘI DUNG KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH 29
2.1 Đả kích, phê phán sâu cay bọn cướp nước và bè lũ bán nước 29
2.2 Phản ánh cuộc sống cơ cực của người dân thuộc địa 44
2.3 Những vấn đề khác của đời sống cách mạng 60
2.4 Phác thảo chân dung tinh thần người chiến sĩ cách mạng 69
2.4.1 Hình tượng Hồ Chí Minh qua Những mẩu chuyện về đời hoạt động của
Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên 75
2.4.2 Hình tượng Hồ Chí Minh trong Vừa đi đường vừa kể chuyện của T Lan 85
Chương 3: NGHỆ THUẬT KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH 90
3.1 Hình thức thể loại 92
3.2 Bút pháp 95
3.2.1 Giới thuyết khái niệm 95
3.2.2 Bút pháp trào lộng 96
3.2.3 Bút pháp trữ tình 101
3.3 Giọng điệu và ngôn từ 106
3.3.1 Giọng điệu 106
3.3.2 Ngôn từ 109
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
Trang 5ra văn nghệ là một thứ vũ khí vô cùng sắc bén và lợi hại, Người đã cho rằng:
“Cái bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng”
Và Người từng viết trong tập thơ Nhật kí trong tù rằng:
“Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi) Người dùng thơ văn nhằm đấu tranh chính trị, tiến công kẻ thù và theo sát những nhiệm vụ của cách mạng trên từng chặng đường lịch sử của dân tộc
và tất cả đều thống nhất trên tinh thần “thép” của một người chiến sĩ cách mạng vĩ đại Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người bước đầu đặt nền móng và mở đường cho nền văn học cách mạng Trong đó ký của Người là những tác phẩm mở đầu và góp phần đặt nền móng đầu tiên cho văn xuôi cách mạng Việt Nam Nhưng khi nghiên cứu về ký thì các công trình thường
Trang 62
nghiên cứu chung cả truyện và ký, còn bài nghiên cứu về riêng các tác phẩm
ký thì còn ít Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước, luận văn của chúng tôi nhằm mục đích tìm ra những đặc điểm nổi bật về phương diện nội dung và nghệ thuật để thấy được giá trị đặc sắc, sự độc đáo, sáng tạo về ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Đồng thời, luận văn
sẽ góp phần giúp người quan tâm đến thể loại ký hiểu hơn về ký Việt Nam nói chung và ký cách mạng nói riêng, giúp mọi người có cái nhìn toàn diện, phong phú hơn về sự nghiệp văn học của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị Cha già kính yêu của dân tộc
1.2 Là một trong những chiến sĩ cách mạng nổi tiếng ở thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhân dân thế giới vinh danh là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, là “Danh nhân văn hoá thế giới” Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người chiến sĩ ở lĩnh vực chính trị, cách mạng, ở quân sự, ngoại giao, ở văn hoá, tư tưởng, vừa là người nghệ sĩ ở lĩnh vực văn học nghệ thuật, Đông và Tây, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, nhân dân và giai cấp, phi thường và bình thường… Sự nghiệp văn học của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một khối đa dạng: phong phú về thể loại, đa dạng về bút pháp, phong cách sáng tạo đặc sắc, ngôn ngữ sáng tác bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và cả
tiếng Hán, chủ yếu trên các lĩnh vực: Văn chính luận, Truyện và ký, Thơ ca
Mỗi lĩnh vực đều có một sự đặc sắc riêng, một giá trị riêng Riêng thể loại ký, với bút pháp sáng tạo, lời kể chân thực tạo không khí gần gũi nhưng giọng văn lại sắc sảo, ngòi bút châm biếm, giàu chất trí tuệ và mang tính hiện đại, ngôn ngữ trong sáng với nhiều hình ảnh sinh động nên các tác phẩm của Người có giá trị văn học phong phú Chính giá trị văn học đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn, sự bền vững trong nhận thức và tác dụng tuyên truyền sinh động của tác phẩm Những tác phẩm ký của Người được viết vào những năm
20 của thế kỉ XX bằng tiếng Pháp và được đăng trên báo Nhân đạo (Hu
Trang 73
manite), Người cùng khổ (Le Parie) và một số tác phẩm sau này đến nay vẫn
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống về đặc điểm ký của Người
1.3 Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là một người chiến sĩ cách mạng vừa là một nghệ sĩ đa tài Người viết văn, làm thơ với nhiều đề tài khác nhau, nhiều thể loại khác nhau nhưng ở bất cứ phương diện nào Người cũng đạt được sự phong phú về thể loại, sự uyên bác về kiến thức, sự đặc sắc, điêu luyện về nghệ thuật
Ngoài văn chính luận, thơ ca đạt giá trị đặc sắc thì những nội dung, những vấn đề phản ánh trong các tác phẩm ký của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là những tác phẩm có giá trị, chân thật, đầy sáng tạo với tấm lòng nhân
ái và tâm hồn cao cả Văn thơ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nói chung và một số tác phẩm ký của Người nói riêng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình dạy ở các trường học Việc giảng dạy môn Văn ở trường phổ thông hiện nay đang có nhiều bất cập, một phần là do các em học sinh chưa thực sự hứng thú với việc học Văn nên giáo viên cũng mất dần cảm hứng truyền đạt cho học sinh Ở các tác phẩm thơ, tiểu thuyết hay truyện ngắn thì việc truyền đạt hứng thú hơn vì dễ tạo cảm hứng cho người dạy và người học Nhưng riêng đối với tác phẩm viết theo thể loại ký thì đòi hỏi người dạy phải nắm rõ các đặc điểm cơ bản của ký nếu không thì học sinh rất khó tiếp
nhận Với đề tài Đặc điểm ký Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào quá trình giảng dạy ký trong nhà trường đạt hiệu
quả cao hơn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Cuộc đời, sự nghiệp và con người Hồ Chí Minh luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Đặc biệt, trong những năm gần đây đã có một khối lượng lớn công trình trong nước và ngoài nước
Trang 84
viết về Người, về di sản tinh thần của Người với nhiều nhận xét và kết luận quý báu Chúng ta đều biết Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là một nhân cách lớn, một người nghệ sĩ, một chiến sĩ cách mạng không chỉ nhân dân trong nước kính trọng, biết ơn, thương yêu mà cả bạn bè năm châu đều ngưỡng mộ, tôn sùng Chỉ cần tổng kết qua thì cho tới thời điểm này giới nghiên cứu văn học và ngôn ngữ đã cho công bố hàng trăm bài luận văn, chuyên luận công phu góp phần “Nghiên cứu và học tập thơ văn Hồ Chí Minh” Thống kê theo
danh mục trong cuốn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh về tác gia và tác phẩm,
Nxb Giáo dục, 2007 cho đến nay các công trình nghiên cứu, phê bình lớn, nhỏ
về thơ văn của Người có đến gần 300 công trình Có thể thấy các công trình nghiên cứu về thơ văn của Người thường theo các nội dung cơ bản:
Thứ nhất, là những công trình nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp thơ
văn, phong cách và quan điểm văn học của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh Tiêu biểu là của các tác giả Hà Huy Giáp, Trần Thanh Mại, Đái Xuân Ninh, Phạm Huy Thông, Cù Đình Tú,…
Thứ hai, là những bài nghiên cứu, phê bình về thơ Hồ Chí Minh như Vài suy nghĩ nhỏ về tư tưởng mĩ học Hồ Chí Minh qua sáng tác thơ của
Nguyễn Đăng Mạnh, bài Tư duy nghệ thuật trong thơ Hồ Chí Minh của Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, bài Từ nguyên tác đến bản dịch Nhật kí trong tù
của Lê Trí Viễn Ngoài ra còn có các tác giả khác như Nguyễn Xuân Nam,
Đỗ Quang Lựu, Chế Lan Viên, Mã Giang Lân v.v…
Thứ ba, là các công trình nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh của các
bạn nước ngoài như Haririson S.Salisbury với bài Nhà thơ có tâm hồn một
con rồng, Anilenđu Sa cơra bôrôty với bài Hồ Chí Minh, con người giản dị và
ý chí sắt thép, Viên Ưng với bài Bác Hồ một nhà thơ lớn Và một số tác giả
khác như: Quách Mạt Nhược, Starôbin, Chia Xim, Macta Rôgiát,…
Trang 95
Thứ tư, là những công trình nghiên cứu, phê bình những tác phẩm văn
xuôi của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh hiện nay có khoảng 55 công trình
Trong đó Truyện và ký là đối tượng nghiên cứu của luận văn thì có khoảng trên 30 bài viết về các tác phẩm tiêu biểu như Bản án chế độ thực dân Pháp,
Nhật ký chìm tàu, Con người biết mùi hun khói, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch,…Các tác giả viết về
những tác phẩm này phải kể đến Phạm Huy Thông với Nghệ thuật viết văn
của Hồ Chủ Tịch qua Truyện và Ký; Hà Minh Đức với Tác phẩm văn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, Nxb Giáo dục, 1997; Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê,
Phùng Văn Tửu với Vị trí Truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc trong văn học
Việt Nam; Nguyễn Đình Chú, Đỗ Đức Hiểu, Xích Điểu, Hoàng Nhân với bài Dấu hiệu của văn chương tương lai trong “Truyện và ký” của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Nhân dân, ngày 13-5-1990; Lê Trí Viễn với bài Tìm hiểu
về Truyện và ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sở văn hoá – Thông tin Đồng
Tháp, xuất bản 1995; Nguyễn Nghiệp với bài “Truyện và ký” của Nguyễn Ái
Quốc mở ra một gia đoạn mới trong văn học yêu nước và cách mạng, tạp chí Tác phẩm mới, số 39, 1974 v.v…
2.2 Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại, một nhà văn hoá lỗi lạc, Người để lại một di sản văn chương đồ sộ, lớn lao về tầm vóc, đa dạng về thể loại, phong phú trong bút pháp thể hiện Di sản ấy thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình trong và ngoài nước Ở trong nước việc nghiên cứu phê bình văn thơ của Người mới chỉ bắt đầu từ Cách mạng tháng Tám nhất là sau năm
1960 Văn học Việt Nam rất đa dạng về thể loại nhưng ký là thể loại phức tạp, ranh giới giữa ký và truyện cũng không được phân định rạch ròi, nhất là trong văn của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh thì giữa truyện và ký thường có sự liên quan và tác động qua lại lẫn nhau Nhưng dù có những quan niệm khác nhau thế nào thì mọi người đều phải thừa nhận ký dù loại nào cũng mang đặc
Trang 106
trưng phản ánh những con người có thật, sự việc có thật Phong cách nghệ thuật trong thơ văn của Người là vậy, phản ánh người thật, việc thật với sự độc đáo, đa dạng và thống nhất, kết hợp sâu sắc và nhuần nhị giữa tư tưởng và nghệ thuật, giữa truyền thống và hiện đại Chính điều đó đã thể hiện tầm vóc của một nhà văn lớn, một nhà văn hoá lớn của dân tộc Việt Nam và thế giới Riêng thể loại ký thì đã có gần 30 bài nghiên cứu, phê bình mà tiêu biểu là các tác giả Phạm Huy Thông, Nguyễn Nghiệp, Phùng Văn Tửu, Hà Minh Đức, Phong Lê,…
Tác giả Nguyễn Nghiệp đã nhận xét trong bài Truyện và ký của Nguyễn
Ái Quốc mở ra một giai đoạn mới trong văn học như sau: “Sự cô đọng, súc
tích, nét bút mô tả chắc mà hoạt cũng là một đặc điểm chung của truyện và ký
Hồ Chủ tịch Khó mà tìm thấy được một đoạn thừa, một chi tiết thừa nào trong tác phẩm của Người”
Tác giả Hoàng Dung thì lại cho rằng: “Người đã viết những truyện và
ký như một ngòi bút phương Tây sắc sảo, điêu luyện rất Pháp Không hiểu điều đó, chúng ta sẽ hết sức ngỡ ngàng Ngòi bút của Người vốn giản dị Giản
dị vốn là phong cách hàng đầu của thơ văn Người” (Mấy suy nghĩ về giảng
văn và giảng thơ văn Bác Hồ)
Phạm Huy Thông trong Mấy lời nói đầu của tác phẩm Truyện và ký của
Nguyễn Ái Quốc nhận xét: “Bút pháp sở trường của Người ở đây là châm biếm Trong chừng mực nào nụ cười của Người xuất phát từ phong cách trào lộng của Người, trong chừng mực nào từ tính hài hước của người Pháp, mà phương châm sáng tác của Người vốn gọn, nhẹ, cho nên cách viết của Người
đã dễ chinh phục bạn đọc Lối chỉ trích của Người sắc sảo nhưng không đao
to búa lớn mà bằng cười ruồi, nói mát càng làm cho văn Người thu hút cảm tình” [47,14-15]
Trang 11Xích Điểu trong bài Văn châm biếm, đả kích địch qua một số bài viết
của Bác Hồ đã viết: “…Tiếng cười đả kích châm biếm của Bác Hồ bao giờ
cũng thanh nhã, dí dỏm nhưng vẫn rất mạnh mẽ sâu cay Đó là tiếng cười của
kẻ mạnh, của người có lòng tin sắt đá vào thắng lợi của chính nghĩa Nhờ vậy tác phẩm của Bác Hồ không những gây được lòng căm thù cho người đọc, làm họ khinh miệt kẻ địch mà còn giúp họ ý thức được sức mạnh của mình…” [62,311]
Nói tóm lại, khi nhận xét về ký Nguyễn Ái Quốc có rất nhiều ý kiến hay, xác đáng, tinh tế và nhìn chung thì tất cả những nhận xét đó đều cho rằng
ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã thể hiện được bản lĩnh, nghị lực và bút pháp rất riêng của con người Bác Với lối kể chân thực, gần gũi, lôi cuốn và sinh động, chất trí tuệ và tính hiện đại hoà quyện làm nên một phong cách đặc trưng giản dị và sâu sắc
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Đặc điểm ký Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh
3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Về phạm vi tài liệu: Luận văn dựa vào Bản án chế độ thực dân Pháp – Nguyễn Ái Quốc, Nxb Sự thật Hà Nội (1975); Pari (1922); Những mẩu
Trang 128
chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch (2008), Trần Dân Tiên, Nxb Nghệ
An; Vừa đi đường vừa kể chuyện (2007), TLan, Nxb Trẻ; Nhật ký chìm tàu
(1930), Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin; Truyện và ký (1974),
Nguyễn Ái Quốc, Nxb Văn học Hà Nội,…
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi đặt ra 3 nhiệm vụ chủ yếu:
4.1 Xác định vai trò, vị trí của thể loại ký trong sự nghiệp thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
4.2 Tìm hiểu những nét đặc sắc về nội dung ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
4.3 Tìm hiểu những nét đặc sắc về nghệ thuật ký Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh
Cuối cùng rút ra một số kết luận về đặc điểm ký nói riêng trong toàn
bộ phong cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nói chung Khẳng định thêm về tính hiện đại, tính chiến đấu mạnh mẽ
và nghệ thuật trào phúng sắc bén trong các tác phẩm ký của Người
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi kết hợp vận dụng những
phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.1 Đóng góp của luận văn
Trang 139
Luận văn góp phần một phần nhỏ làm rõ hơn đặc điểm nội dung và hình thức ký của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh trên một cái nhìn hệ thống, toàn diện
Hi vọng đây sẽ là tài liệu tham khảo cho những người giảng dạy và quan tâm đến thể loại ký
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Thể loại ký trong sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Ái Quốc -
Hồ Chí Minh
Chương 2 Nội dung ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Chương 3 Nghệ thuật ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Trang 14Nền văn học Việt Nam rất đa dạng và phong phú về thể loại, so với các thể loại của nền văn học hiện đại như truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, thơ,…thì riêng thể loại ký cũng được nhiều người chú ý quan tâm Ký gồm nhiều thể khác nhau như ký sự, phóng sự, tuỳ bút, bút ký, nhật ký,…Ký có khả năng bám sát cuộc sống, phản ánh linh hoạt hiện thực bằng nhiều dạng thức khác nhau Ký sự tái hiện những sự kiện phong phú của đời sống; hồi ký ghi lại những diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gian qua hồi tưởng; bút ký, tuỳ bút thể hiện một cách linh hoạt việc phản ánh cuộc sống khách quan và bộc lộ những suy nghĩ chủ quan của người viết; bút ký chính luận kết hợp hai hình thức tư duy: tư duy chính luận của các hoạt động nhận thức chính trị, triết học, xã hội,…tư duy nghệ thuật lại tạo nên những tác phẩm có màu sắc riêng, độc đáo
Hiện nay đang có nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về ký, để
có một định nghĩa tương đối chính xác về ký thì chúng ta cần giới hạn phạm
vi phản ánh của nó
Trang 1511
Có các quan niệm khác nhau về ký như theo Gulaiep thì đặc trưng của
ký là tính tổng hợp về đối tượng mô tả và người ta có thể tìm thấy ở đó những
số phận, những bức tranh về phong tục, về đời sống, kinh tế, chính trị, đặc trưng này có thể được xác định rõ nét hơn trong tiểu thuyết Có người quan niệm rằng đặc trưng của ký là ở tính chủ quan, điều này hiện ra rõ hơn trong tác phẩm trữ tình Cũng có người cho rằng ký chủ yếu phản ánh người thật, việc thật, điều này xuất phát từ quan niệm ký là thể loại có tính chất ghi chép… Các quan niệm trên cũng đã được nhiều người chấp nhận nhưng chưa
có sự lí giải thoả đáng, do ở ký có sự kết hợp nhiều thể loại khác nhau, mặt khác cũng do cách đặt tên tác phẩm của nhà văn nên để có cái nhìn chính xác
về thể loại ký và đưa ra một khái niệm đúng đắn là một việc tương đối khó
Vì vậy, chúng ta có thể liệt kê một số phạm vi giới hạn ký qua các hệ thống
phân loại như:
*Theo hệ thống Thơ - tiểu thuyết - kịch – ký:
Theo hệ thống này, ký bao hàm các loại văn xuôi còn lại, và nếu chấp nhận hệ thống trữ tình - tự sự - kịch thì có thể một số tác phẩm giàu chất trữ tình mà từ trước đến nay thường được gọi là ký tuỳ bút cần phải được xếp vào loại trữ tình Vì trong tuỳ bút, chủ yếu không phải là thông tin sự thực, mà sự thực ở đây chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tâm trạng, gửi gắm tâm tư, tình cảm của mình
*Theo hệ thống trữ tình - tự sự - kịch:
Hệ thống này đúng cho văn chương thẩm mỹ mà không bao gồm hầu hết các loại, vốn không phải là văn chương thẩm mĩ nhưng vẫn có giá trị nghệ thuật cao đó là các loại văn chính luận Tuy nhiên, không thể xếp văn chính luận vào ký như nhiều người nhận định từ trước đến nay vì văn chính luận chủ yếu không phải nhằm thông tin sự thật mà thông tin lí lẽ Cho nên, có thể
Trang 1612
xếp bút ký chính luận vào văn nghị luận Như vậy, ký không bao gồm tuỳ bút
và bút ký chính luận
Các giới thuyết trên cho thấy ký có thể phân biệt được với kịch, trữ tình
và chính luận Vì vậy, ký chỉ còn liên quan đến loại tự sự
Tóm lại, khi đưa ra khái niệm về ký thì theo xu hướng chung hiện nay
có các ý kiến như sau:
Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong
“Từ điển thuật ngữ văn học”: Ký (tiếng Nga: ocherk, tiếng Pháp: essai,
reportage) là “Loại hình trung gian nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký,… [16,111].Đối tượng nhận thức của thể ký thường là “Một trạng thái đạo đức – phong hoá xã hội”, hay “Một trạng thái tồn tại của con người hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng” [16, 111] Ký mang tính thời sự, phản ánh chân thực cuộc sống, phơi bày hiện thực xã hội Ký có quan điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu Nhà văn viết ký luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm Sự việc, con người trong ký phải xác thực hoàn toàn, có địa chỉ hẳn hoi
Theo Hà Minh Đức, ký văn học có thể chia làm 3 loại: ký tự sự (phóng
sự, ký sự, hồi ký, truyện ký,…); ký trữ tình (tuỳ bút, nhật ký,…); ký chính luận (các dạng tiểu phẩm văn học, tạp văn, tạp ký,…)
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa ký là một “Thể văn tự sự viết về người
thật, việc thật, có ý nghĩa thời sự, trung thành với hiện thực ở mức cao nhất”
Trong Thuật ngữ nghiên cứu văn học, thể loại ký được xem là “Một
loại hình văn học tái hiện cuộc sống qua sự ghi chép, miêu tả người thật, việc thật…Hình tượng của ký có địa chỉ của nó trong cuộc sống Do đó, tính chính xác tối đa là đặc trưng cơ bản của nó…”
Trang 17Ký ra đời rất sớm trong lịch sử văn học của nhân loại nhưng phải đến thế kỉ XVII đặc biệt từ thế kỉ XIX, khi đời sống lịch sử của các dân tộc ngày càng phát triển theo hướng tăng tốc, khi kĩ nghệ in ấn và báo chí phát triển, văn học mở cửa và thâm nhập vào các lĩnh vực hoạt động tinh thần khác, nhà văn ngày càng có ý thức tham gia trực tiếp vào những cuộc đấu tranh xã hội,
ký mới thực sự phát triển mạnh mẽ Từ sự phong phú và đa dạng của ký, chúng ta có thể nhận thấy rằng ký đã có một sự đóng góp không nhỏ đối với nền văn học của dân tộc.Ở nước ta, ký là một trong những thể văn có mặt đầu tiên và có vai trò quan trọng Có khá nhiều nhà văn thành công và để lại nhiều
tác phẩm ký có giá trị như Lê Hữu Trác với Thượng kinh ký sự, ký của Phạm
Đình Hổ, ký của Nguyễn Tuân, ký của Tô Hoài,…
Ký góp phần cho nền văn học hài hòa, đa dạng về màu sắc và ký giúp cho nhà văn thể hiện được lối viết chân thực, giàu cảm xúc, có sự sắc sảo, độc đáo trong cách viết của mình Sự hình thành và phát triển của ký ở nước ta là một quá trình lịch sử, đó là do nhu cầu của xã hội và những điều kiện, khả năng hoạt động văn hoá, báo chí, văn học,…
Trang 1814
1.1.2 Các đặc trưng cơ bản của ký
Các thể ký văn học luôn được mở rộng khả năng sáng tạo cho phù hợp với tính chất phong phú của đối tượng miêu tả, tuỳ theo hình thức khác nhau của đối tượng miêu tả, nghệ thuật ký có cách xử lý và tái hiện riêng cho phù hợp Ký cũng không gò bó người viết trong một phương thức biểu hiện và một phong cách duy nhất mà mở rộng, thừa nhận nhiều hình thức và nhiều phong cách sáng tạo Ký là một thể loại tự sự thiên về miêu tả, ghi chép sự thật như ký sự, phóng sự, du ký, nhật ký, bút ký,…Dù được hình thành và chọn lọc từ nguồn ghi chép và sáng tạo nào, ký văn học phải là nơi gặp gỡ của hai nhân tố quan trọng là sự thật của đời sống và giá trị sáng tạo nghệ thuật
Sự thật của đời sống ở những nét chắt lọc và tính chất tự nó cũng mang giá trị thẩm mỹ độc đáo và đặc biệt là phần đóng góp của người viết với những suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng phong phú và giàu tính nghệ thuật Ký là một sáng tác văn học, do vậy ký cần xây dựng chi tiết, nhân vật, sự việc điển hình,
để đạt mục đích đó ký không dùng hư cấu mà dùng các biện pháp khác Ký mang tất cả đặc điểm của thể loại tự sự nhưng có những đặc trưng riêng biệt sau:
*Tính chân thực (tiếng Pháp: véridicité)
Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi thì tính chân thực là khái niệm để chỉ “Phẩm chất tạo nên sức hấp dẫn, thuyết phục của văn học, thể hiện ở sự phù hợp sinh động giữa sự phản ánh của văn học với đối tượng phản ánh của nó, ở sự thống nhất giữa chân lí nghệ thuật và chân lí đời sống, giữa sự sáng tạo nghệ thuật với tất yếu lịch sử Tác phẩm văn học nào cũng có tính hiện thực nhưng chỉ những tác phẩm xây dựng hình tượng phản ánh được bản chất hoặc vài ba khía cạnh bản chất của hiện thực và phù hợp với tâm lí và thị hiếu thẩm mĩ của con người ở một giai đoạn lịch sử nhất định mới có được tính chân thực” [16,288]
Trang 1915
Như vậy, một tác phẩm văn học chỉ đạt đến tính chân thực khi nó khám phá được những nét bản chất, quy luật phát triển của cuộc sống con người Ký dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh động chứ không xây dựng các hình tượng mang tính khái quát
*Tính hiện thực (tiếng Pháp: réalité)
Với nghĩa rộng, thuật ngữ này biểu hiện một thuộc tính của văn học trong mối liên hệ với hiện thực, khẳng định sự phụ thuộc của văn học vào hiện thực khách quan
Là một hình thái ý thức xã hội, tất cả các yếu tố, các chỉnh thể văn học,
từ nội dung đến hình thức, từ trào lưu văn học đến phương pháp sáng tác, thể loại văn học đều bắt nguồn sâu xa từ hiện thực khách quan, từ đời sống xã hội Do vậy tính hiện thực là một thuộc tính tất yếu có ý nghĩa quy luật Điều này gần như là một điều kiện bắt buộc không thể thiếu trong một tác phẩm ký
Vì bản thân thể ký chính là sự phản ánh chân thực những sự việc, con người nêu ra trong tác phẩm có tên có tuổi, có địa chỉ trong cuộc sống hẳn hoi Nguyễn Ái Quốc đã nhận thức được điều này nên Người đã triệt để sử dụng trong các tác phẩm ký của mình Chính vì vậy, với khả năng tài tình, điêu luyện, những tác phẩm ký của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đạt được giá trị sâu sắc
*Tính hấp dẫn:
xã hội quan tâm và bên cạnh đó ký đã sử dụng bút pháp, kết cấu, ngôn ngữ đa dạng, sinh động Ký với cách sử dụng các biện pháp châm biếm, giọng điệu hài hước pha lẫn sự giễu cợt nhằm phê phán, lên án một con người, một hiện tượng xấu nào đó trong xã hội Ký cũng thể hiện thái độ xót xa thương cảm,đầy tinh thần trách nhiệm của người viết đối với những bất công, ngang trái trong cuộc đời Điều đó đã tạo nên sức hấp dẫn của các tác phẩm ký
Trang 2016
Ký không phải là báo chí nhưng có điểm gần giống với báo chí đó là tính xác thực, tính thời sự, tính chính luận Ký phản ánh sự việc và con người
có thật trong cuộc sống Trong ký, tính chính xác được thể hiện ở mức độ cao,
hư cấu chỉ giữ vai trò thứ yếu Vậy ký có cho phép hư cấu hay không? Đây là vấn đề mà còn có nhiều ý kiến, quan điểm chưa thống nhất Mặc dù ký viết về người thật, việc thật nhưng tác giả sẽ gặp những khó khăn trong việc xác định nội tâm nhân vật, cảm xúc trữ tình của nhân vật Vì thế, trong trường hợp nhà văn có tư tưởng, tình cảm hoàn toàn đúng đắn chỉ việc ghi chép lại thì trước khi ghi chép,ít nhất cũng phải nghe thấy, tức là nghe kể lại hoặc chứng kiến Trong trường hợp chứng kiến và viết lại, nhà văn vẫn không thể bao quát hết mọi sự việc hoặc nhớ hết mọi diễn biến một cách tường tận…Vì vậy, trước khi đặt bút viết, người viết ký chỉ có một mớ tư liệu lộn xộn, chưa móc nối logic các sự kiện với nhau…khi đó nhà văn phải sử dụng trí tưởng tượng và
hư cấu nhằm làm cho bức tranh trở lên hợp lí, liên tục và hấp dẫn Khi đó trong tác phẩm, tác giả có thể thêm những đoạn miêu tả cảnh sắc thiên nhiên, những nhân vật phụ …để làm sinh động thêm cho tác phẩm ký sẽ không vi phạm tính chân thực của thể loại ký Tóm lại, hư cấu trong ký thường ít và có mục đích góp phần tái hiện lại một cách xác thực người thật, việc thật
Ký phản ánh kịp thời và linh hoạt cuộc sống, kết hợp hài hoà các yếu tố
tự sự, chính luận, trữ tình Người viết ký cần phải chọn cho mình một hình thức ký thích hợp và cần thiết bằng một thứ ngôn ngữ hấp dẫn với những cảm xúc chân thành Nhân vật trong ký cũng thường bộc lộ những cảm xúc trữ tình Chính yếu tố trữ tình và chính luận gây lên sự phá vỡ cốt truyện ở các mức độ khác nhau Ký có thể có hoặc không có cốt truyện Những loại ký có cốt truyện theo lối kết cấu - cốt truyện với đầy đủ các thành phần, những loại
ký không có cốt truyện thì theo kết cấu – liên tưởng ở xen kẽ giữa các sự kiện, con người với những đoạn nghị luận, trữ tình khá lớn của nhân vật trần thuật
Trang 2117
Sự gia tăng yếu tố trữ tình, chính luận ở ký dẫn đến kết cấu cốt truyện tương đối rộng rãi, co giãn hơn so với tiểu thuyết, như nhận xét của Semetx: “Đặc trưng của thể loại truyện ký bộc lộ rõ rệt hơn trong kết cấu của nó, kết cấu này chủ yếu mang tính chất ghi chép và tự do hơn rất nhiều so với trong novella
và truyện đời tư”
Tất cả những đặc trưng trên đã tạo cho thể ký tính hấp dẫn, lôi cuốn người đọc trong suốt những thập kỉ qua Trong thời đại hiện nay, giữa cuộc sống đầy biến động và là thời đại của thông tin, trong đó có thông tin nghệ thuật thì ký càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ Và như vậy nhà văn phải làm sao cho những tác phẩm ký có sức sống lâu bền và có một tác dụng cũng như
vị trí quan trọng trong đời sống của con người
1.2 Thể loại ký trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã luôn theo đuổi một “đề tài” duy nhất đó là làm sao đánh đuổi được giặc ngoại xâm, giải phóng nhân dân khỏi kiếp nô lệ lầm than Vì vậy, ngoài văn chính luận, thơ thì Người đã biết được tác dụng của thể loại ký vì chính thể loại văn học này sẽ mang tính chiến đấu, tính nhân dân, tính chân thật cao Ký
có tính kịp thời bám sát những vấn đề của cách mạng, chĩa những mũi nhọn vào giặc ngoại xâm, lên tiếng đả kích, phê phán bọn thực dân cùng bè lũ tay sai bán nước hại dân Từ văn thơ, qua văn thơ mà chúng ta hiểu về con người Bác một cách rõ nét và sống động nhất Sự nghiệp của Người có thể nói là bao trùm tất cả mọi sự nghiệp Một sự nghiệp không giống bất cứ sự nghiệp nào của bất cứ ai, một sự nghiệp chỉ có Bác chứ không ai khác thực hiện được Đó chính là sự nghiệp cứu một đất nước ra khỏi ách nô lệ lầm than ngót
80 năm của chủ nghĩa thực dân và phục hưng một dân tộc sau hàng nghìn năm quân chủ Để có được sự nghiệp ấy Bác đã phải xa đất nước 30 năm và
Trang 2218
phải viết từ những năm 20 cho đến cuối đời Bác đã nhận thấy văn học chính
là một ưu thế để nói về tất cả mọi phương diện trong cuộc sống Vẫn biết thơ văn chỉ là một bộ phận nhỏ trong hoạt động của Bác và qua văn học chúng ta thấy được sự kết tinh và soi tỏ nhất chân dung Hồ Chí Minh - một con người vừa của dân tộc, vừa của nhân loại, con người của một sự nghiệp lớn nhất đối với dân tộc và cả nhân loại đau khổ lầm than
Hồ Chí Minh đã để lại một di sản văn chương vô cùng quý giá với nhiều bài học và giá trị tinh thần cao quý mà nổi bật nhất là tấm lòng yêu thương sâu sắc, tâm hồn cao cả, tinh thần đấu tranh đòi quyền sống, quyền độc lập tự
do của cả dân tộc Văn thơ của Người có tác dụng to lớn đến quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học và đời sống tinh thần dân tộc Riêng về những tác phẩm ký của Người có chung đặc điểm là ngôn từ ngắn gọn, kết cấu độc đáo, giàu chất trí tuệ, vừa có tính truyền thống vừa hiện đại, vừa có tính chiến đấu Khi vận dụng lối kể chân thực nhưng có khi lại châm biếm sắc sảo, hết sức thâm thúy Có được những tác phẩm tiêu biểu, sâu sắc trước hết là ở Người có một tấm lòng yêu nước thương dân vô bờ và tâm hồn cao cả của một người nhân danh người cùng khổ đấu tranh đòi quyền sống, nhân danh dân tộc bảo vệ sự độc lập, tự do, là tiếng nói của người cần lao.Đồng thời trong cuộc đời hoạt động đầy gian nan Người có sự tiếp xúc với văn hoá nhiều nước trên thế giới từ phương Đông đến phương Tây Người có hiểu biết sâu rộng các nền văn hoá của các nước Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mĩ,…Người đọc thông viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc Người làm nhiều nghề khác nhau và đến đâu cũng học hỏi, tiếp thu những cái hay, cái đẹp Người chứng kiến nhiều bất công ngang trái
do bọn thực dân gây lên và người dân phải chịu kiếp đời nô lệ Vì vậy, những tác phẩm ký của Người đã phản ánh chân thực bộ mặt của thực dân, của bọn tay sai bán nước Và Người hiểu được lợi thế của thể loại ký, vì đây là thể loại
Trang 2319
nói được những điều người viết cần truyền đạt bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau Bằng bút pháp hiện đại và nghệ thuật trần thuật linh hoạt, Nguyễn Ái Quốc đã tạo nên được những tình huống độc đáo, hình tượng sinh động sắc sảo Mục đích chính của Người khi viết ký là nhằm tố cáo tội ác dã man, bản chất tàn bạo, xảo trá của bọn thực dân và phong kiến tay sai đối với nhân dân lao động các nước thuộc địa đồng thời cũng nêu cao những tấm gương yêu nước và cách mạng
Bác khởi đầu sự nghiệp viết bằng văn báo chí và ký, truyện ngắn bằng
tiếng Pháp ở Pari Những truyện ký của Người mang hai phẩm chất là cách
mạng và hiện đại Chính hai phẩm chất cơ bản đó đã xác định sớm nhất
gương mặt mới của văn học Việt Nam trong bối cảnh thế giới và trong phân biệt với hàng ngàn năm văn học trung đại Văn thơ chỉ là một bộ phận trong
sự nghiệp viết của Bác Viết cũng chỉ là một cách thức, một phương tiện để hoạt động cách mạng Nó là vũ khí của “tiếng nói” nhưng chính thơ văn lại nói được rất nhiều về con người, về bộ mặt xã hội đó là do đặc trưng và phẩm chất của nó Thể ký với bố cục ngắn gọn, ngôn ngữ trong sáng, giản dị, dễ hiểu, nói theo cách nói của quần chúng và viết sao để quần chúng hiểu, chấp nhận như những gì của chính họ
1.2.1 Những tác phẩm ký sáng tác trước Cách mạng tháng Tám
Với Hồ Chí Minh, văn học trước hết phải là một vũ khí, một hoạt động cách mạng, nghĩa là mỗi bài văn, bài thơ viết ra phải hướng vào một đối tượng cụ thể nào đó, phải nhằm tới một mục đích thiết thực nào đó
Từ những năm hai mươi đầu thế kỷ, với nhiệt huyết của người thanh niên yêu nước và tấm lòng vì nước vì dân không ngại khó, ngại khổ Người đã
sử dụng ngòi bút như một vũ khí sắc bén tiến công thẳng vào dinh luỹ của kẻ thù
Trang 2420
Khi hoạt động ở Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã viết hàng loạt những bài ký
có giá trị, vốn tri thức uyên bác, hành văn biến hoá, dựng cảnh, dựng người gây ấn tượng đậm nét, nghệ thuật châm biếm sắc sảo, tinh thần chiến đấu
mãnh liệt Các tác phẩm như Bản án chế độ thực dân Pháp, hàng loạt các bài báo in trên các tờ báo Người cùng khổ (Le Paria), Nhân đạo (L’humanite’),
Đời sống thợ thuyền (La vie ouvrìere), Thư tín quốc tế (La correspondance
internationale), Sự thật (Pravđa), Tiếng còi, Công nhân Ba-kin-ski,v.v…Năm
1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời Bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, Người đã làm nhiều nghề, chịu nhiều cực khổ, gian lao, Người ở nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Phi, Châu Mĩ nhưng chủ yếu là ở Pháp Năm 1918, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng xã hội Pháp thành lập Hội những người Việt Nam yêu nước Năm 1919, thay mặt những người Việt Nam ở Pháp, người thanh niên yêu nước ấy gửi tới Hội nghị hoà bình họp ở
Vecxây (Pháp) bản yêu sách Quyền các dân tộc, kí tên Nguyễn Ái Quốc Năm
1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Trong thời gian ở Pháp, Người tích cực viết báo, viết sách tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa phong kiến và kêu gọi đoàn kết các dân tộc thuộc địa Người hiểu được rằng văn nghệ là một thứ vũ khí sắc bén và đồng thời không thể thiếu trong quá trình đấu tranh cách mạng Từ năm 1923 đến 1941, Nguyễn Ái Quốc chủ yếu hoạt động và học tập ở Liên Xô, Trung Quốc, Thái Lan Trong khoảng thời gian này, Người đã bộc lộ phẩm chất và nhân cách một con người vĩ đại, một người chiến sĩ yêu nước, một nhà văn hoá lớn của dân tộc Ngày 3-2-1930, tại Hương Cảng (Trung Quốc), Người thành lập Đảng cộng sản Việt Nam Năm 1941, Người về nước thành lập Mặt trận Việt Minh, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam Tháng 8 năm 1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên Hồ Chí Minh sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng chống Nhật của người Việt Nam ở bên đó Người bị chính quyền
Trang 2521
Tưởng Giới Thạch bắt giam, bị giải tới, giải lui khắp 13 huyện, qua mấy chục nhà lao hơn một năm trời Người chịu bao cực khổ, vất vả nhưng Người vẫn đau đáu một điều là làm sao sớm tìm được con đường cứu nước, cứu dân
thoát khỏi vòng nô lệ Chính thời gian này, tập thơ Nhật kí trong tù bằng chữ
Hán nổi tiếng ra đời, tập thơ đã thể hiện tư tưởng và tâm hồn cao cả của một người chiến sĩ cộng sản gang thép, một thi sĩ giàu tình thương và luôn lạc quan, tin tưởng, có ý chí và nghị lực phi thường Sự nghiệp văn thơ của Người phần lớn là truyện nhưng bên cạnh đó, Người còn viết những tác phẩm
ký có giá trị, chứng tỏ một tài năng quan sát sắc sảo, tinh tế, trí tưởng tượng phong phú, nghệ thuật kể chuyện linh hoạt, độc đáo, một ngòi bút châm biếm sâu sắc, hóm hỉnh có tác dụng chiến đấu cao
Mục đích và nội dung sáng tác của Người là lên án những chính sách tàn bạo của chế độ thực dân Pháp đối với nhân dân Đông Dương và các thuộc địa khác Đồng thời đó cũng là lời kêu gọi những người nô lệ bị áp bức đứng lên liên hiệp lại cùng đấu tranh chống thực dân Pháp, tố cáo đanh thép tội ác của chúng bởi chúng đã ép hàng vạn dân bản xứ đổ máu vì mẫu quốc trong đại chiến thế giới thứ hai, chúng bóc lột họ bằng sưu thuế, đầu độc họ bằng thuốc phiện và rượu, chúng còn tổ chức bộ máy cai trị bất chấp công lý và nhân quyền
Về nghệ thuật: Tác phẩm ký của Người thể hiện tính chân thật, cứ liệu
phong phú chính xác, nghệ thuật châm biếm, đả kích sắc sảo, tính trí tuệ cao, thể hiện tình cảm tha thiết mãnh liệt của Bác
Tác phẩm quy mô nhất là tập phóng sự điều tra Bản án chế độ thực dân
Pháp viết bằng tiếng Pháp được xuất bản năm 1925 với hình thức nghị luận
xen thể loại ký, là bản án nhằm kết án, phán xét, tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của dân tộc thuộc địa Đây là một tác phẩm có giá trị về nhiều mặt, là một cuốn sách công phu và
Trang 2622
tâm huyết, là một đòn tiến công quyết liệt vào chủ nghĩa đế quốc và bước đầu vạch ra con đường đấu tranh cách mạng đúng đắn cho nhân dân ta và các dân tộc bị áp bức Bản án chế độ thực dân Pháp đã đề cập đến nhiều vấn đề của thời đại Từ những sự việc giản dị hàng ngày, những mẩu chuyện tưởng như riêng lẻ, đã hình thành một kết cấu lôgic, một chỉnh thể, một bức tranh toàn diện phổ cập cho mọi người Đây cũng là một tác phẩm đánh dấu bước ngoặt quyết định của văn học chống chủ nghĩa thực dân Tác phẩm đã xây dựng hình tượng khái quát về chủ nghĩa thực dân ở Châu Á, Châu Phi bằng giọng cáo trạng dựa trên những chứng cớ sắc cạnh đầy sức thuyết phục người đọc, người nghe
Tác phẩm Pari được Nguyễn Ái Quốc viết năm 1922, đăng trên báo
Nhân đạo là câu chuyện thực về những cảnh đời ở một địa phương nhưng lại
mang ý nghĩa khái quát sâu sắc Ông Nguyễn tả đời sống thợ thuyền ở Pari
mà cũng là đời sống của ông lúc đó Pari bộc lộ khá rõ nét tính cách của tác
giả, qua cái tôi chân tình, nhạy cảm và giàu bản lĩnh Cái tôi ở đây là cái tôi chứng kiến cảnh ngộ, cái tôi như một đường dây dẫn chuyện, cái tôi khiêm tốn tự bộc lộ khá kín đáo trước cuộc đời chung
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều tài liệu Dù là tài liệu chỉ đạo hay tác phẩm văn chương đều có chung mục đích phục vụ cho hoạt động cách mạng Việt Nam, tiêu biểu như
một số quyển: Đường Kách mệnh, Con Rồng Tre, Nhật ký trong tù,…Và đặc biệt là tài liệu Nhật ký chìm tàu của Nguyễn Ái Quốc ra đời cuối năm 1930
đầu năm 1931 Tác phẩm ra đời khi Đảng Cộng sản Việt Nam vừa thành lập, cách mạng Việt Nam đang trong trứng nước, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bắt đầu bị thực dân Pháp và bè lũ phong kiến Nam triều thẳng tay nổ súng đàn
áp, tác phẩm đã đáp ứng kịp thời những gì Đảng viên quần chúng cách mạng
khao khát được nghe Nhật ký chìm tàu đã được lưu hành bí mật ở Việt Nam
Trang 2723
vào khoảng từ năm 1934 và được lưu hành khá phổ biến ở một số tỉnh nhất là Nghệ Tĩnh Do khó khăn trong việc thể hiện nên tác giả phải tưởng tượng thêm một số đường dây cốt truyện để nói về những sự việc có thật trong đời sống Tác phẩm đã thắp sáng trong lòng người đọc niềm tin vững chắc vào tiền đồ tươi sáng của cách mạng Việt Nam
Giá trị của những tác phẩm ký trước cách mạng không chỉ do tư liệu phong phú mà còn do cách diễn đạt ý và hành văn đầy nghệ thuật với những mệnh đề có sức khái quát lớn, với những bức ký họa sinh động về những loại
“Nhà khai hoá” kèm theo những chi tiết đặc tả về hành vi độc ác khủng khiếp của chính quyền thực dân Tất cả được viết với giọng châm biếm sâu cay và mãnh liệt như dùi đâm, roi quất Chính bút pháp đó đã làm nên một phong cách vô cùng đặc sắc trong các tác phẩm của Người
1.2.2 Những tác phẩm ký sáng tác sau Cách mạng tháng Tám
những bút danh khác nhau như Tân Sinh, LTT Lan, Chiến Sĩ, Trần Dân Tiên,
T Lan,…Từ 1945 trở đi, với cương vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, công cuộc khôi phục kinh tế sau chiến tranh, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ thắng lợi vẻ vang, thống nhất đất nước Những nhiệm vụ chiến lược, chiến thuật của cách mạng trong các giai đoạn lịch sử, các cao trào cách mạng của quần chúng đều gắn liền với những tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh Trên cương vị Chủ tịch nước, Người tự xác định rất cụ thể mối quan hệ giữa quần chúng cách mạng và cá nhân trong quá trình phát triển của lịch sử Với tâm huyết của một người chiến sĩ cách mạng một lòng vì dân vì nước, trong mối quan hệ riêng chung Người đã đề cập và giải quyết một cách mẫu mực, lời nói
tự nhiên, chân tình Người đã trả lời các nhà báo trong thời kỳ đầu Cách mạng
Trang 2824
Tháng Tám với những suy nghĩ sâu sắc và tình cảm xúc động: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng làm cũng như một người lính vâng mệnh lệnh quốc dân ra trước mặt trận Bao giờ đồng bào cho tôi lui thì tôi rất vui lòng lui Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ nơi có non xanh nước biếc, để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” Chính vì tấm lòng bác ái đó mà Người không bao giờ muốn nói nhiều về mình càng không muốn kể lể công lao với nhân dân Nhưng nhân dân trong nước cũng như bạn bè anh em trên thế giới đều ước ao có được những tư liệu, những bài viết chân thực và sâu sắc về con đường hoạt động cách mạng cũng như về đời sống cá nhân vị Chủ tịch nước nên với bút danh T Lan và Trần
Dân Tiên, Người đã cho ra đời hai tác phẩm ký Vừa đi đường vừa kể chuyện
và Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch Dù rằng chỉ với
khoảng ba trăm trang sách thì không thể nói hết cuộc đời và sự nghiệp vĩ đại của Người nhưng cũng phần nào đáp ứng được lòng mong mỏi của nhân dân, chiến sĩ và bạn hữu khắp năm châu
Tác phẩm Vừa đi đường vừa kể chuyện ( bút danh T Lan ), được tác giả
viết năm 1950, trên đường ra mặt trận trong chiến dịch Biên giới Trong cuốn sách này Hồ Chí Minh hoá thân thành một cán bộ trong đoàn tuỳ tùng (T Lan), đi công tác cùng với Hồ Chí Minh trong rừng núi Việt Bắc và được Hồ Chí Minh vui miệng kể chuyện cho nghe nhiều chuyện về đời hoạt động của Người ở nước ngoài, từ khoảng 1923 đến 1945 Các mẩu chuyện được kể lại dưới hình thức xen lẫn giữa mẩu chuyện kể quá khứ với việc miêu tả những khung cảnh của cuộc sống hiện tại Tác phẩm nói nhiều đến sức mạnh của
Trang 2925
nhân dân và bộ mặt độc ác của các loại kẻ thù, từ bọn phát xít Ý, Đức, đến bọn đế quốc Anh, bọn Tàu phản động, bọn thực dân Pháp, phát xít Nhật v.v…
danh Trần Dân Tiên) là những trang viết xúc động và chân thực, tác giả đã nói
về những chặng đường gian nan mà ông Nguyễn trải qua cùng hai bàn tay trắng, ở những xứ sở xa lạ nhưng đó là một chặng đường vinh quang và tự hào Ông Nguyễn lúc đó vừa làm việc để kiếm sống vừa hoạt động chính trị trên đất Pháp Tác phẩm viết về cuộc đời hoạt động của Người nhưng thực chất tác phẩm lại phác hoạ được những giai đoạn cách mạng với nhiều tư liệu,
sự kiện và cách đánh giá đúng đắn, sâu sắc Đúng như tác giả từng nói trong tác phẩm: “Một câu châm ngôn Trung Quốc nói: “Một nhà họa sĩ vẽ giỏi không bao giờ vẽ nguyên cả một con rồng, mà vẽ con rồng khi ẩn, khi hiện giữa những đám mây” Chúng tôi không phải là những họa sĩ có tài Chúng tôi không để những đám mây trong tiểu sử của Hồ Chủ tịch”
Giấc ngủ 10 năm (1948): Với bút danh Trần Lực, Người đã mượn một
cốt truyện, một đường dây sự kiện được xây dựng theo hư cấu tưởng tượng để
diễn đạt những tư tưởng và yêu cầu đấu tranh cách mạng Giấc ngủ 10 năm kể
về cuộc đời của một nông dân miền núi ở cả hai chặng đường trước và sau cách mạng Tác giả đã chọn một điển hình xã hội tiêu biểu, và mối các quan
hệ của nhân vật được xác lập vững chắc Tác phẩm đã nói đến ánh sáng cách mạng đã xua đi bao cảnh tăm tối, lầm than cho nhân dân Giặc Pháp thua trận, nhân dân ta xây dựng lại đất nước, phong trào thi đua sôi nổi ở khắp nơi, vết thương chiến tranh được hàn gắn và một cuộc sống mới vui tươi bắt đầu
Như vậy, chúng ta đều nhận thấy dù ở bất cứ cương vị nào, dù ở bất cứ thời điểm nào, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đều có những tác phẩm ký có giá trị, ký có vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn học của Người có lẽ vì
Người “có nhiều duyên nợ với báo chí” là như vậy
Trang 3026
Trong văn xuôi của Hồ Chí Minh, tác phẩm ký chiếm một vị trí quan trọng Người đã mượn hình thức ký để kể lại những sự việc đã xảy ra trong đời sống một dân tộc hoặc ghi lại những sự việc trên một hành trình công tác hoặc nói về cuộc đời hoạt động của bản thân Những tác phẩm này được Người vận dụng theo thể nhật ký, bút ký, hồi ký, truyện ký
Ký Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh rất đa dạng và phong phú Tuỳ từng hoàn cảnh khác nhau mà Người viết tác phẩm khi là hồi ký, khi viết phóng sự, khi lại ghi chép và có khi là hồi ký xen nghị luận Chính đặc điểm
đa dạng ở thể ký mà Người được coi là một cây bút rất tài hoa và độc đáo
Ký cơ bản là khác với truyện (truyện dài, truyện vừa,…)ở chỗ trong tác phẩm ký thì thường không có một xung đột thống nhất, nội dung ký thường thiên về miêu tả, trần thuật.Đề tài và chủ đề của ký thường đề cập đến những vấn đề kinh tế, chính trị hay các vấn đề về môi trường xã hội Những sáng tác văn học thuộc thể ký là một bộ phận không thể tách rời của các nền văn học trên thế giới nói chung và văn học dân tộc nói riêng
Ký Nguyễn Ái Quốc cũng theo những quy định sẵn có như vậy Các tác phẩm ký của Người thiên về tính báo chí, tính chính luận, những vấn đề liên quan đến sự sống còn của đất nước Ký của Người đậm chất tư liệu, tái hiện chính xác thực tại với những sự kiện có thực cùng với sự lí giải và đánh giá của tác giả Thường thì hồi ký gồm hai dạng: dạng thiên về tái hiện sự kiện và dạng thiên về miêu tả nội tâm
Nguyễn Ái Quốc viết ký trước hết là hướng về độc giả Việt Nam Những người Việt Nam sống trên đất Pháp và những người dân trong nước Ngoài ra Người cũng nhằm vào tầng lớp độc giả tiến bộ trong nhân dân Pháp, giai cấp công nhân Pháp, những trí thức giác ngộ Pháp, họ đều là những người bạn đồng minh của ta Ký cũng nhằm đến các độc giả An-giê-ri, Tuy-
Trang 3127
ni-di, Ma rôc,…đó là những nước thuộc địa cùng chung số phận với Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc viết ký với bút pháp sở trường là châm biếm, lối viết
đó luôn sinh động và lôi cuốn người đọc Viết để đấu tranh nên nghệ thuật châm biếm kết hợp với tính hài hước sẵn có của Người đã dễ dàng thuyết phục, tạo được sự quan tâm của nhiều người Đặc biệt ký của Nguyễn Ái Quốc mang tính dân tộc sâu sắc, tính chiến đấu mạnh mẽ, đồng thời mang đậm tính cổ điển nhưng cũng rất hiện đại Đó chính là một phong cách rất riêng của một người nghệ sĩ, người chiến sĩ Hồ Chí Minh
Những năm 20 của thế kỷ XX, Người viết ký với mục đích đánh những đòn mạnh mẽ vào kẻ thù, vào bọn thực dân và tay sai bán nước hại dân nên những tác phẩm ký của Người là những bản cáo trạng đanh thép, hùng hồn, giọng văn châm biếm, quyết liệt là âm hưởng chủ đạo Người dùng ngòi bút như một thứ vũ khí vô cùng lợi hại, như nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu từng nói:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Hay như:
Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền
Đến khi về nước, Người tiếp tục viết ký nhưng bút pháp, phong cách có thay đổi Tác phẩm ký của Người bớt đi tính uyên bác, thường trình bày tư liệu dưới hình thức truyện kể, thỉnh thoảng điểm xuyết mấy vần thơ lục bát, lẩy Kiều Giờ đây, Người viết ký để ca ngợi nhân dân đánh giặc và xây dựng đất nước nên giọng văn rất mực đôn hậu và vui tươi Tuy nhiên, để hấp dẫn người đọc, Người cũng dùng những thủ pháp linh hoạt và biến hoá Khi là lối viết thư, văn thông tin báo chí xen giọng trữ tình, đôi chỗ dùng cả thủ pháp
Trang 3228
đồng hiện, khi lại mô phỏng theo lối chương hồi, mỗi đoạn một khêu gợi đọc tiếp chương sau
Hơn 50 năm viết báo, viết văn gần như Người không bao giờ nghĩ đến
cá nhân mình Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, Người cũng luôn hướng về nhân dân, đất nước Bên cạnh hình ảnh một chiến sĩ cách mạng thì hình ảnh của một nhà văn, nhà thơ lớn luôn gợi sự cảm phục lẫn tự hào đối với tất cả chúng
ta Sự nghiệp văn học của Người nói chung và những tác phẩm ký nói riêng
đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp đấu tranh và giải phóng đất nước Trong thời chiến cũng như thời bình, văn chương của Người luôn là một di sản tinh thần quý báu của nhân loại Đó cũng là niềm vinh hạnh của dân tộc ta nói riêng và của nhân loại nói chung
Trang 3329
Chương 2 NỘI DUNG KÝ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
2.1 Đả kích, phê phán sâu cay bọn cướp nước và bè lũ bán nước
26/12/1920, Đồng chí Nguyễn Ái Quốc phát biểu: “Các đồng chí đều biết rằng chủ nghĩa tư bản Pháp đã vào Đông Dương từ nửa thế kỷ nay, vì lợi ích của nó, nó đã dùng lưỡi lê để chinh phục đất nước chúng tôi Từ đó, chúng tôi không những bị áp bức bóc lột một cách nhục nhã mà còn bị đầu độc một cách thê thảm nữa” Vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta sinh ra trong thời kỳ cả dân tộc đang rên xiết dưới ách đô hộ của thực dân Pháp Ách đô hộ đó đã đặt
ra trước những người ưu thời mẫn thế của dân tộc Việt Nam câu hỏi: làm thế nào để đánh đuổi thực dân Pháp, giành chủ quyền cho đất nước, đem lại hạnh phúc cho nhân dân?
Suốt cuộc đời hoạt động đấu tranh cho công cuộc giải phóng dân tộc,
kể từ ngày người thanh niên Nguyễn Tất Thành rời cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước, Người đã tham gia vào nhiều tổ chức cách mạng khác nhau Năm 1925, Người thành lập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức Á Đông Năm 1930, Người thành lập Đảng cộng sản Việt Nam Tháng 2-1941, Người về nước lãnh đạo cách mạng
và thành lập Mặt trận Việt Minh Năm 1945, Người lãnh đạo Tổng khởi nghĩa
Cách mạng tháng Tám thành công Ngày 2-9-1945, Người đọc bản Tuyên
được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, trực tiếp lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cho đến khi qua đời ngày 2-9-
1969 Thời gian Người sống ở Pháp cũng là khoảng thời gian có nhiều sự kiện
Trang 3430
chính trị đặc biệt Tại đây, Người đã tham gia vào phong trào công nhân xã hội chủ nghĩa ở Pháp Khi đó các nước đế quốc và thực dân tăng cường sự đàn áp, bóc lột ở chính quốc và các nước thuộc địa Trong suốt một chặng đường dài hoạt động cách mạng của mình, Người xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng Với những tác phẩm ký của mình Nguyễn Ái Quốc đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những người ở phương Tây còn bị chủ nghĩa thực dân mê hoặc, che đậy và xuyên tạc sự thật và thức tỉnh thế giới thuộc địa còn đang chìm vào đêm thẳm của sự bóc lột, khủng bố, của sự ngu dốt, tối tăm Văn thơ của Người cất lên tiếng nói mới của đời sống tinh thần của dân tộc Việt Nam ngay từ buổi đầu những năm hai mươi Một tiếng nói đầu tiên trong lịch sử cách mạng của dân tộc, vạch trần sự xuyên tạc và dối trá, đi sâu vào cội rễ nỗi đau của nhân loại.
Đồng thời Người cũng nhận rõ nguồn gốc sự đối lập đến cùng cực của thế giới bị phân đôi Sự đối lập của hai thế giới đó là thế giới của những kẻ “khai hoá”, những tên quan cai trị, của bọn thực dân, đế quốc, của bọn tay sai và bè
lũ bán nước và một bên là thế giới người dân nô lệ thuộc địa Tất cả đều là sự bất công vô lý, bọn thực dân đã ra sức vơ vét tài nguyên và đàn áp thẳng tay các phong trào yêu nước Trước thực tế đó, Nguyễn Ái Quốc đã cho ra đời
những tác phẩm ký đăng trên báo Nhân Đạo tại Pari nhằm hướng tới nhiều
độc giả trên khắp thế giới sau đó là chuyển về Việt Nam Chính những tác phẩm ký của Người đã có tiếng vang và ý nghĩa vô cùng to lớn trong công cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai phong kiến
Đầu tiên phải nói đến Bản án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái
Quốc, đây là một tác phẩm viết bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pari năm 1925, được in lại bằng tiếng Pháp tại Hà Nội năm 1994 Năm 1960, nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội in bản dịch ra tiếng Việt Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ
Trang 3531
lục, với cách hành văn ngắn gọn, súc tích, cùng với những sự kiện đầy sức thuyết phục đã gây được tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời, thức tỉnh lương tri của những con người yêu tự do, bình đẳng, bác ái, hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường của Cách Mạng tháng Mười Nga và chủ nghĩa Mác –
Lê nin, thắp lên ngọn lửa đấu tranh cho độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội của
dân tộc Việt Nam Tác phẩm này cũng như tờ báo Người cùng khổ (Le Paria)
nhằm mục đích tuyên truyền giải phóng những dân tộc thuộc địa, tố cáo trước
dư luận phương Tây và các nước thuộc địa về tội ác vô cùng tàn bạo của bọn thực dân và cũng là lời kết tội toàn bộ chế độ thực dân lúc bấy giờ
Bản án chế độ thực dân Pháp với những tài liệu và chứng cớ xác thực,
Nguyễn Ái Quốc đã viết lên một thiên phóng sự điều tra sinh động, đạt tới mức nghệ thuật cao Với tác phẩm này, Người đã phơi bày những sự thật tàn nhẫn ở các nước thuộc địa và đồng thời đã gây được lòng căm phẫn trong lòng người đọc phương Tây Chính họ đã kêu lên rằng: “Ô! Nhục nhã biết bao!Ô!Thật không thể tưởng tượng được! Tội ác của bọn thực dân tày trời!” Chính vì nhận thức được sự lợi hại của thứ vũ khí này mà Người đã biến những tài liệu này thành những tiếng nói phẫn nộ, những bức tranh linh hoạt, chứa chan xúc cảm Tất cả những con số, những sự kiện, chi tiết được sắp xếp, cấu tạo thành một tác phẩm văn học hoàn chỉnh Qua tác phẩm, Người đã phơi bày cho người đọc thấy bộ mặt của bọn thực dân khi đặt bộ máy cai trị ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX Cùng với bọn địa chủ phong kiến tay sai trong nước tiếp tay, thực dân Pháp đã ra sức bóc lột hết sức tàn ác, dã man nhân dân
ta khiến đất nước rơi vào cảnh nước mất nhà tan, đời sống bần cùng Trước tình hình đó nhân dân ta đã đứng dậy đấu tranh dưới nhiều hình thức đấu tranh khác nhau như chống bắt lính, bắt phu, chống sưu cao, thuế nặng, chống ách thống trị của chủ nghĩa thực dân Nhân dân chịu thống khổ chồng chất và trước sự đàn áp bất công, nhân dân càng nung nấu lòng căm thù và ý chí sục
Trang 3632
sôi chiến đấu, quyết tâm giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột Điều mà Người luôn trăn trở và nung nấu một quyết tâm đó là sự giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bất công Người đã nói: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng
và quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc” Bản án chế độ thực dân Pháp
có tác động lớn về nhiều mặt, trước hết, tác phẩm này ra đời giữa lúc mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là mâu thuẫn giữa các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc, giữa dân tộc ta với đế quốc Pháp và đạt tới điểm bùng
nổ, tinh thần và ý chí chống đế quốc của nhân dân ta và nhân dân bị áp bức ở các nước khác lên cao, đòi hỏi một ngọn cờ hướng đạo đúng đắn để đi vào một cuộc chiến đấu quyết định vận mệnh lịch sử của dân tộc Tiếp đó là tác phẩm đề cập đến những người thật, việc thật, những chuyện xảy ra hàng ngày,
“Mắt thấy tai nghe” ở những hoàn cảnh cụ thể nhưng có quan hệ mật thiết đến vận mạng của hàng chục triệu con người trong cái địa ngục trần gian gọi là
“xứ thuộc địa” Trong lần trả lời phỏng vấn tạp chí Ngọn lửa nhỏ ở Liên Xô
năm 1923, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nói: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem xét nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi
sẽ trở về giúp đồng bào tôi” Và chính trong những năm bôn ba ở hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy bộ mặt thật của thực dân Pháp ở Việt Nam, thể hiện sự phản đối thực dân Pháp ở Việt Nam Chính quyền thuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam là một chính quyền bất hợp hiến, cai trị theo một lối tuỳ
tiện, độc đoán Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp đã vạch trần bản chất
tuỳ tiện, chuyên chế chế độ cai trị thực dân: “Ở các tỉnh, người bản xứ bị trói tay trói chân, phải gánh chịu thói tuỳ hứng, chuyên quyền của các quan cai trị người Pháp và thói tham tàn của bọn làm tôi tớ ngoan ngoãn của chúng, bọn quan lại, sản phẩm của chế độ mới ấy là công lý bị bán đứt cho kẻ nào mua đắt nhất, trả hời nhất” Hay “như ở các tỉnh, một tỉnh Bắc Kỳ cũng có một vị
Trang 3733
công sứ Pháp…ông ta là Chủ tịch tỉnh, đốc lý, chánh án, mõ toà, chủ thầu Ông kiêm tất cả mọi quyền hành: tư pháp, thuế vụ, sinh mệnh và tài sản của người bản xứ, việc bầu cử những người cầm quyền bản xứ, quyền lợi của công chức,…”
Tác phẩm tố cáo bộ mặt tàn bạo, lố lăng, giả nhân giả nghĩa của những
cá nhân đại diện của chế độ thực dân Đồng thời, Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất phản dân chủ, vô nhân đạo, phản công lý của nền cai trị thực dân Bọn thực dân dùng mọi lời lẽ bịp bợm để ngụy trang dã tâm xâm lược của bọn chúng nhưng dưới con mắt tinh tường của Nguyễn Ái Quốc bản chất thực của chúng đã bị phơi bày Khi An-be Xa-rô, một tên Toàn quyền có tên tuổi ở Đông Dương tuyên bố trong Hạ nghị viện rằng: “Trung thành với sứ mệnh cao cả đã làm rạng danh nước Pháp trên thế giới và lịch sử, nước Pháp đầy lòng bác ái đang theo đuổi tại hải ngoại một sự nghiệp tiến bộ, chính nghĩa, sự nghiệp dìu dắt các chủng tộc, sự nghiệp khai hoá cao cả, tính chất cao quý của sự nghiệp đó đã làm cho truyền thống rực rỡ lâu đời của nước Pháp càng thêm phần rực rỡ” Ngay lúc đó Nguyễn Ái Quốc đã vạch mặt và đập tan luận điệu giả nhân giả nghĩa của chính quyền thực dân qua bức thư ngỏ gửi ông An-be Xa-rô như sau: “Thưa ngài, chúng tôi hoàn toàn hiểu rõ rằng, đối với dân bản xứ ở thuộc địa nói chung, và đối với nhân dân An Nam nói riêng, lòng thương yêu của ngài thật bao la rộng rãi Dưới quyền cai trị của ngài, dân An Nam đã được hưởng phồn vinh thực sự và hạnh phúc thực
sự, hạnh phúc được thấy nhan nhản khắp nơi trong nước, những ty rượu và những ty thuốc phiện, những thứ đó song song với sự bắn giết hàng loạt, nhà
tù, nền dân chủ và tất cả bộ máy tinh vi của nền văn minh hiện đại, đã làm cho người An Nam tiến bộ nhất Châu Á và sung sướng nhất trần đời”
Có thể nói rằng với giọng điệu châm biếm nhẹ nhàng, Nguyễn Ái Quốc
đã đánh một đòn tấn công mạnh mẽ vào chính quyền thực dân, vào sự lừa bịp
Trang 3834
nhân dân thuộc địa Phải nói rằng Nguyễn Ái Quốc quả là một bậc thầy trong
sử dụng bút pháp châm biếm nhẹ nhàng, sâu cay trong các tác phẩm của
mình
Bản án chế độ thực dân Pháp trước hết là một bản cáo trạng Nó tố cáo
tội ác của thực dân không chỉ ở Đông Dương, ở Việt Nam mà ở khắp các thuộc địa như An-giê-ri, Tuy-ni-di, Tây Phi,…Bản án đã lột mặt nạ của chủ nghĩa đế quốc bằng những chứng cớ, tang vật không thể chối cãi được Bằng những lý lẽ đanh thép và như những quan toà, tác phẩm đã lôi lũ thực dân, lũ cướp nước ra xét xử Tác phẩm vạch trần bản chất bóc lột tàn ác, dã man của
chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dân
Tội ác của thực dân khiến trời không dung, đất không tha, chúng tự cho mình là những kẻ đại diện cho “nước mẹ”, cho “tự do”, “công lý”, cho “sự nghiệp khai hoá” và “truyền bá văn minh” Chúng hoành hành khắp các nước thuộc địa Tất cả chúng, toàn quyền, thống đốc, khâm sứ, công sứ,… cho đến bọn đội lốt tôn giáo trong các giáo hội và bọn tay sai mạt hạng của chúng đều
là lũ phản động, vô liêm sỉ, tàn ác dã man
Sau Đại chiến thế giới thứ nhất, bọn đế quốc Pháp phản bội mọi lời hứa tốt đẹp đối với nhân dân thuộc địa Chúng đã ra sức bóc lột, đàn áp vô cùng
dã man những phong trào yêu nước của nhân dân trên tất cả các mặt như kinh
tế, chính trị, văn hoá,…Chúng dựng lên các hầm mỏ, đồn điền, nhà máy, xí nghiệp và chính nơi đây là địa ngục trần gian đối với người dân nô lệ Bên cạnh đó là hàng trăm thứ thuế khóa nặng nề, phi lý, rồi rượu cồn, thuốc phiện, giam hãm, bắt bớ, hãm hiếp xảy ra thường xuyên Bọn phong kiến tay sai trở thành công cụ đắc lực, chúng đi vào tận hang cùng ngõ hẻm dò la bắt bớ những người yêu nước, bóc lột tới tận cái khố rách của người dân thuộc địa Chúng thi hành mọi chính sách thâm hiểm và trắng trợn chống lại nền văn hoá dân tộc, chúng nấp dưới chiêu bài “Bình đẳng, Bác ái”, chúng muốn biến
Trang 3935
những dân tộc bị áp bức thành những dân tộc đời đời làm nô lệ Nhưng dù chúng có nấp dưới các chiêu bài nào đi chăng nữa thì chúng cũng bị ngòi bút sắc sảo và tinh tế của Nguyễn Ái Quốc vạch trần bộ mặt giả dối, lừa bịp của mình
Tội ác của thực dân và bọn tay sai phản động được tác giả nói đến
trong Chương I - Thuế máu ở phần Chiến tranh và “Người bản xứ”: Trước
chiến tranh (năm 1914), họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, hèn hạ, những tên” An nam mít “hèn hạ, nhưng khi đến khi cuộc chiến tranh vui tươi bùng
nổ thì họ lập tức biến thành những đứa “con yêu”, người “bạn hiền” của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí của cả các quan toàn quyền lớn, toàn quyền nhỏ nữa…để rồi họ - những “chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do” không được hưởng tí quyền lợi nào mà còn phải đột ngột xa lìa vợ con, phơi thây trên các bãi chiến trường Châu Âu, một số khác lại bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Ban – căng Một số khác thì phải lấy máu mình tưới lên những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm lên chiếc gậy của các ngài thống chế Và cuối cùng thì có tổng cộng bảy mươi vạn người bản xứ đã đặt chân lên đất Pháp trong số ấy, tám vạn người không bao giờ trông thấy mặt trời trên quê hương đất nước mình nữa
Trong Phần 2 - Chế độ lính tình nguyện, tác giả lại nói đến một sự áp
bức dã man khác của bọn thực dân Chúng bắt lính bằng cách nhanh và tiện nhất là lấy dây chăng ngang hai đầu con đường chính trong làng lại và như vậy tất cả những người da đen ở vào giữa đều coi như chính thức phải tòng quân Vậy mà chúng còn nói: “Các bạn đã tấp nập đầu quân, các bạn đã không ngần ngại rời bỏ quê hương xiết bao trìu mến để người thì hiến dâng xương máu của mình như lính khố đỏ, kẻ thì hiến dâng cánh tay lao động của mình như lính thợ” và những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra dịp để sinh chuyện với họ hoặc với gia đình họ, và nếu cần thì giam cổ họ lại cho đến khi
Trang 4036
họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: “đi lính tình nguyện hoặc xì tiền ra”…Nhưng để rồi sau đó khi chiến tranh kết thúc, họ trở về nước thì không còn nhà cửa, của cải gì cả, nhà cửa bị cướp phá và đốt sạch, và mặc nhiên họ lại quay trở lại với giống người hèn hạ và bị lột hết tất cả của cải của
họ, từ chiếc đồng hồ, bộ quần áo mới toanh mà họ bỏ tiền túi ra mua rồi người
ta cho họ ăn như lợn ăn và xếp họ như xếp lợn dưới hầm tàu ẩm ướt, không giường nằm, không ánh sáng, thiếu không khí,…còn một tên quan cai trị biết
ơn chào đón nồng nhiệt bằng một bài diễn văn yêu nước: “Các anh đã bảo vệ
Tổ quốc thế là tốt Bây giờ chúng tôi không cần đến các anh nữa, cút đi ”
Vậy đấy, sau khi đã tận dụng hết sức lực và của cải của người dân bản
xứ, bọn thực dân đã phủi tay không thương tiếc Bên cạnh đó, chúng bắt dân phá lúa trồng đay, trồng cao su, chúng lập nên nhiều đồn điền, nhà máy, hầm mỏ,…chúng bắt dân ta lao động, tạp dịch, khổ sai Chúng lập ra những thứ thuế khoá nặng nề, vô lý, chúng cho phép buôn bán thuốc phiện, rượu cồn nhằm mục đích đầu độc người dân bản xứ, chúng bóc lột bằng “thuế máu”, chúng thực hiện chính sách ngu dân khiến dân ta lâm vào cảnh chết đói cùng cực và ngu muội để họ không còn nghĩ đến chuyện đứng lên đấu tranh để thoát khỏi ách áp bức bất công nữa
Bản án nhằm trúng những kẻ thù chính của các dân tộc bị áp bức để kết án: bọn thống trị và Giáo hội Bọn thực dân khai hoá là những “anh hàng cháo” ở xóm la tinh, “nợ như chúa Chổm”, “sang Bắc Kỳ gỡ gạc lại bằng cách bắt bớ, giam cầm, làm tội người Việt Nam một cách độc đoán để bòn rút của họ” Những tên “khai hoá” ấy “đá một người phụ nữ có mang, làm cho chị truỵ thai, mấy hôm thì chết”, “vặt râu một thầy chùa, vô cớ nhốt ba mươi lăm người phụ nữ từ 12 đến 72 tuổi để hãm hiếp” Giáo hội hiển hiện trước mặt chúng ta như những tên gián điệp mở đầu cho việc xâm lược quân sự Tiếng nói của chúng là cướp vàng bạc, ruộng nương, hình ảnh của chúng là