Với những mong muốn nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Giúp học sinh lớp 5.1 Trường Tiểu học Quảng Minh A Quảng Trạch-Quảng Bỡnh phát triển kỹ năng sử dụng t
Trang 1A Phần mở đầu
I Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, ”, đó chính là niềm tự hào của mỗi một ngời dân
Việt Nam khi nói về tiếng mẹ đẻ của mình Tiếng Việt là một trong số các ngôn ngữ hết
sức phong phú, đa dạng và có sức biểu cảm “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Tiếng Việt là một ngôn ngữ có tính
thẩm mỹ cao, có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay”, nh nhà văn
Đặng Thai Mai đã từng viết Từ ngữ tiếng Việt rất tinh tế và giàu hình ảnh, do đó nếu biết cách sử dụng từ ngữ trong viết văn sẽ giúp ta truyền đạt đến ngời đọc những nội dung thông tin một cách có hiệu quả nhất Việc rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt đối với mỗi chúng ta là rất cần thiết
Trong chơng trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học công cụ, với nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tiếng mẹ đẻ, rèn cho các em các kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong nghe, nói, đọc, viết Tập làm văn là một phân môn của môn Tiếng Việt, thông qua phân môn Tập làm văn, học sinh đợc rèn luyện về khả năng dùng từ chính xác, độc đáo để từ đó các em có thể viết đợc bài văn hay, giàu tính sáng tạo và mang bản sắc riêng
Văn tả cảnh có thể coi là trọng tâm của thể loại văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn, nó có chức năng tái hiện sự vật, hiện tợng, hoạt động một cách sinh động Vì vậy việc sử dụng từ láy, tính từ, các biện pháp so sánh, nhân hoá giữ vai trò quan trọng trong việc diễn đạt t tởng tình cảm của ngời viết và phù hợp với việc biểu đạt đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tợng đó là một công cụ để tạo nên những bức tranh sinh
động với những gam màu ấn tợng bằng ngôn từ Nếu học sinh đợc rèn luyện kĩ năng sử dụng từ trong văn tả cảnh thì các em sẽ dễ dàng nhận thấy cái hay, cái đẹp chứa đựng trong các yếu tố ngôn ngữ đối với cách dùng từ, đặt câu Từ đó, các em sẽ biết cách dùng từ sao cho đúng, cho hay để miêu tả hình ảnh, sự vật một cách sinh động, gợi cảm
Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy chúng ta đều biết, với học sinh lớp 5 khả năng
sử dụng từ ngữ để viết văn tả cảnh vẫn còn hạn chế Mỗi khi chấm bài ta có thể phát hiện ra các lỗi cơ bản của các em đó là việc sử dụng từ không đúng nghĩa, không phù hợp với văn cảnh, dùng từ không có giá trị gợi cảm Vậy phải làm nh thế nào để giúp các em biết cách sử dụng từ ngữ đúng, sử dụng từ ngữ giàu hình ảnh trong khi viết văn nói chung và văn tả cảnh nói riêng, nuụi dưỡng và phỏt triển mối quan tõm của cỏc em với thiờn nhiờn, khơi dậy ở cỏc em lũng yờu cỏi đẹp, khả năng phỏt triển ngụn ngữ
Với những mong muốn nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Giúp học sinh lớp 5.1
Trường Tiểu học Quảng Minh A ( Quảng Trạch-Quảng Bỡnh) phát triển kỹ năng sử dụng từ ngữ trong làm văn tả cảnh”, Bài viết này sẽ giới thiệu một số lỗi cơ bản mà
học sinh lớp 5.1 thờng gặp khi sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh và cách khắc phục,
từ đó giúp các em có đợc kỹ năng sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh
II Mục đích nghiên cứu
- Giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung
- Giúp học sinh lớp 5.1 phát triển kỹ năng sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh
III Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Phân môn Tập làm văn lớp 5
- Học sinh lớp 5.1, Trường Tiểu học Quảng Minh A (Quảng Trạch-Quảng Bỡnh)
IV Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu, phân tích thực trạng việc học phân môn Tập làm văn nói chung và việc sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh ở học sinh lớp 5.1 nói riêng
- Làm rõ những cơ sở lý luận giáo dục liên quan đến phân môn Tập làm văn ở Tiểu học nói chung và ở lớp 5 nói riêng
- Đa ra một số lỗi cơ bản thờng gặp, nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh ở phân môn Tập làm văn lớp 5
1
Trang 2
V Phơng pháp nghiên cứu
- Phơng pháp nghiên cứu lý luận
- Khảo sát thực tế
- Dạy thực nghiệm Tập làm văn ở lớp 5.1
- Phơng pháp so sánh - đối chiếu
VI Cấu trúc đề tài
A Phần mở đầu
B Phần nội dung
Chơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài
Chơng 2: Một số sai lầm phổ biến của học sinh về việc sử dụng từ ngữ trong viết
văn tả cảnh và cách khắc phục
Chương 3: Một số biện phỏp giỳp học sinh phỏt triển kỹ năng sử dụng từ ngữ
trong văn tả cảnh và hiệu quả đạt được
C Phần kết luận - ý kiến đề xuất
b phần nội dung
chơng 1: cơ sở khoa học của đề tài
I Mục tiêu, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tính chất của phân môn Tập Làm Văn
I.1 Mục tiêu:
“Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,
đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong từng môi trờng hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy phân môn Tập làm văn, góp phần rèn luyện cho các em học sinh các thao tác t duy cơ bản nh sau: Phân tích tổng hợp, cung cấp cho các em những kiến thức đơn giản về xã hội, tự nhiên, con ngời, về văn hóa văn học của Việt Nam nhằm góp phần hỡnh thành thói quen giữ gìn nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, (GS Nguyễn Đăng Mạnh - NXB Giáo dục)
I.2 Vị trí:
Hoạt động lời nói gồm hai bình diện: sản sinh (tạo lập) và tiếp nhận (hiểu) ngôn
bản Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh các kỹ năng sản sinh ngôn bản Nó có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ, bởi vì:
- Thứ nhất, đây là phân môn sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác (Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và cõu) đã hình thành
- Thứ hai, phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó Tiếng Việt không chỉ xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp Nh vậy, phân môn này đã thực hiện mục tiêu cuối cùng, quan trọng nhất của dạy học tiếng mẹ đẻ là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt
để giao tiếp, t duy, học tập
I.3 Chức năng và nhiệm vụ:
- Giúp học sinh tạo ra đợc các ngôn bản nói và viết theo các phong cách khác nhau do chơng trình quy định, nói cách khác, chức năng và nhiệm vụ của dạy học Tập làm văn là hình thành, phát triển năng lực tạo lập ngôn bản ở học sinh Năng lực tạo lập
ngôn bản đợc phân tích thành các kỹ năng bộ phận nh : xác định mục đích nói, lập ý,
triển khai ý thành lời dới dạng nói, viết thành câu, đoạn, bài Phân môn Tập làm văn
sẽ cung cấp cho học sinh những kiến thức và hình thành, phát triển ở các em những kỹ năng này
- Ngoài nhiệm vụ cơ bản là rèn năng lực tạo lập văn bản, phân môn này đồng thời góp phần rèn luyện t duy và hình thành nhân cách cho học sinh : Rèn luyện t duy hình t-ợng, khả năng t duy lôgic đợc phát triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết
Trang 3đoạn văn ; Dạy cho cách c xử với mọi ngời, tạo cho các em sự hiểu biết và tình cảm, cảm xúc trớc đối tợng đợc viết
I.4 Tính chất của phân môn Tập làm văn:
Tập làm văn là một môn học mang tính tổng hợp Nó dựa trên kết quả nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau nh Tâm lí học, Tâm lí ngữ học, Ngôn ngữ học, Lí luận văn học Việc dạy Tập làm văn dựa trên kết quả của nhiều môn học khác, nhng quan trọng nhất là phương phỏp dạy học Tiếng Việt
Từ ngày cắp sách tới trờng, các em đã từng đợc học những vần thơ hay, đợc nghe
kể chuyện, đợc đọc những bài văn trong SGK Tiếng Việt
Nh vậy, các em đã đợc trau dồi từng bớc về kiến thức văn học, từ đó các em thêm yờu môn Tiếng Việt và ngợc lại, Tiếng Việt đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho các
em Trau dồi hứng thú khi học Tập làm văn cũng chính là rèn luyện cho mình có nhận thức đúng, tình cảm đẹp Từ đó học sinh đến với văn học một cách tự giác và đam mê
II Cơ sở của việc phát triển kỹ năng sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh
II.1 Thế nào là văn tả cảnh?
Đây là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho ngời đọc, ngời nghe có thể hình dung đợc một cách rõ nét và cụ thể về một cảnh vật nào đó xung quanh ta
Nh vậy văn tả cảnh có thể đợc xem là một văn bản nghệ thuật có sử dụng ngôn ngữ văn chơng để miêu tả sự vật, hiện tợng một cách cụ thể, sinh động Bất kỳ hiện tợng nào trong thực tế đời sống cũng có thể miêu tả đợc, tuy nhiên bằng những cảm nhận, cảm xúc khác nhau của mỗi ngời, mỗi hiện tợng lại đợc miêu tả với những cách thể hiện riêng thông qua việc sử dụng từ ngữ khác nhau
II.2 Một số đặc điểm của bài văn tả cảnh:
+ Đối tợng: là những cảnh vật quen thuộc xung quanh ta (một dòng sông, một
cánh đồng, một luỹ tre l ng, một con đ àng, một con đ ờng quen thuộc, )
+ Khi viết một bài văn tả cảnh cần đặc biệt tập trung tả những nét tiêu biểu của cảnh vật đó
+ Để bài văn đợc sinh động và hấp dẫn hơn đối với ngời đọc ta có thể lồng vào đó việc tả ngời, tả vật với những cảm xúc mạnh mẽ khác nhau
+ Ngôn ngữ trong bài văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh và có những nét riêng biệt Do đó cần lựa chọn từ ngữ gợi cảm có hình ảnh và mang lại cho vật đợc tả những gì đúng với thực tế vốn có của nó và phải có những điểm khác biệt với những sự vật khác
II.3 Một số yêu cầu về việc sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh:
Trong quá trình viết văn tả cảnh, một yêu cầu đặt ra đối với học sinh đó là phải dùng từ một cách chính xác tránh gây ra những nhầm lẫn cho ngời đọc Đặc biệt là đối với những từ có hình thức âm thanh và cấu tạo của các từ láy có thể làm thay đổi ý nghĩa của câu văn cần diễn đạt
Một bài văn tả cảnh của học sinh đợc coi là hay nếu trong bài viết không có hiện tợng lặp từ và thừa từ một cách vô nghĩa, thậm chí vô lý Vì lặp từ sẽ tạo ra cảm giác nhạt nhẽo của câu văn tạo sự khó chịu đối với ngời đọc, thừa từ sẽ làm giảm đi giá trị nghệ thuật của câu văn
Học sinh cần chọn những từ ngữ đúng với phong cách của một văn bản nghệ thuật
đó là những từ ngữ gợi hình, gợi cảm, từ đa nghĩa, các phơng tiện biểu hiện của ngôn ngữ văn học nh các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, đảo ngữ,
Sử dụng từ hay trong bài văn tả cảnh sẽ miêu tả sự vật đợc sinh động hơn, khắc hoạ sự vật đợc rõ nét hơn và khơi gợi đợc nhiều hơn những cảm xúc của ngời viết đối với sự vật, từ đó sẽ làm cho bài văn đợc hay hơn, hấp dẫn hơn đối với ngời đọc
II.4 Một số cách sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh:
II.4.1 Sử dụng tính từ tuyệt đối: Đó là những tính từ thờng chỉ có một tiếng thứ
nhất có nghĩa, còn tiếng thứ hai đợc tạo ra theo các hình tợng có tác dụng chỉ các sắc
thái khác nhau của tính chất do tiếng thứ nhất biểu thị nh: đỏ mọng, đặc sệt, trong
3
Trang 4-suốt, Trong bài văn tả cảnh thì tính từ tuyệt đối là yếu tố ngôn ngữ không thể thiếu
bởi vì các sự vật, hiện tợng, hoạt động chỉ trở nên sinh động, cụ thể và có hồn khi chúng gắn liền với các đặc điểm, thuộc tính riêng vốn có của chúng, mà tính từ tuyệt đối lại là từ có khả năng biểu thị những sắc thái riêng biệt của sự vật hiện tợng
Ví dụ: Hàng phi lao đợc trồng thẳng tắp, đang vơn mình trong nắng mới.
II.4.2 Sử dụng từ láy: Từ láy trong Tiếng Việt thờng có giá trị gợi tả, biểu cảm
rất lớn Chính vì vậy khi sử dụng từ láy trong viết văn tả cảnh sẽ làm cho ng ời đọc, ngời nghe cảm thụ và hình dung đợc một cách tinh tế và sống động hơn về sự vật hiện tợng
đ-ợc miêu tả
Ví dụ: Đợc đi giữa cánh rừng ríu ran tiếng chim nh chào đón, chuyện trò, trái tim
tôi rộn lên vì sung sớng.
II.4.3 Sử dụng biện pháp so sánh: So sánh thể hiện sự nhận thức chính xác, mới
mẻ; gợi những hình ảnh đẹp đẽ, sinh động; thể hiện sâu sắc thái độ tình cảm của con
ng-ời trớc sự vật hiện tợng đợc miêu tả và làm đẹp ngôn từ của ngng-ời sử dụng Trong văn tả cảnh nhờ có hình ảnh so sánh đã tạo nên hình ảnh sống động, gợi hình, gợi cảm, tạo ra cách nói mới mẻ, làm cho cách diễn đạt trở nên phong phú, uyển chuyển, tăng sức mạnh biểu cảm cho lời nói nghệ thuật
Ví dụ: Tôi ngoái nhìn hàng cây xanh đang vẫy lá nh những bàn tay bé xíu mềm mại chào tạm biệt
II.4.4 Sử dụng biện pháp nhân hoá: Nhân hoá là biện pháp miêu tả sinh động,
hấp dẫn các sự vật, hiện tợng; thể hiện sự kín đáo tình cảm, cảm xúc; là cách nói hình
ảnh về sự vật, hiện tợng Nhân hoá trong văn tả cảnh đợc dùng để miêu tả cảnh vật một cách sinh động, có hồn Sử dụng biện pháp nhân hóa để tăng thêm sự uyển chuyển, mềm mại, trữ tình trong diễn đạt
Ví dụ: Mặt trời từ từ lên ở phía đông tơi cời nhìn xuống cánh đồng lúa xanh mợt.
II 4.5 Lựa chọn từ và thay thế từ: Mỗi chi tiết miêu tả, thờng chỉ có một từ ngữ,
một hình ảnh thích hợp, nên việc lựa chọn từ ngữ miêu tả cần phải dựa trên những cơ sở
về nội dung cần biểu đạt, sự biểu hiện thái độ tình cảm của ngời viết trớc sự vật hiện t-ợng cần miêu tả Đó là việc cần thể hiện chính xác nhất nội dung cần biểu đạt, thích hợp với việc biểu hiện thái độ, tình cảm của ngời viết đối với nội dung cần biểu hiện và đối với ngời tiếp nhận, phù hợp hơn cả với các từ cùng có mặt trong ngôn bản, với phong cách ngôn ngữ văn bản
Ví dụ: Nếu viết “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Đờng làng em vào ngày mùa lúc nào cũng đông vui nhộn nhịp”,
ta sẽ có cảm giác câu văn cha có sức thuyết phục đối với ngời đọc, ngời nghe vì vậy cần lựa chọn các từ ngữ để thay thế sao cho câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn hơn, chẳng
hạn: “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Ngày mùa đến, từ sáng sớm đến tối khuya, trên con đờng làng quen thuộc ấy,
lúc nào cũng đầy ắp những tiếng nói cời vui vẻ của các cô, các bác xã viên vừa làm vừa trò chuyện rôm rã.”, Nh vậy với việc thay thế những từ ngữ thích hợp ta đã đa ngời
đọc đắm chìm trong cảnh ngày mùa thật đông vui nhộn nhịp
II.4.6 Sử dụng biện pháp đảo ngữ: Trong câu văn tiếng Việt trật tự xuôi chiều là
phổ biến (chủ ngữ đứng trớc, vị ngữ đứng sau ) Nhng trong văn thơ, để câu văn sinh
động, ý tứ đợc nhấn mạnh ta có thể dùng đảo ngữ.
Ví dụ: Thông thờng ngời ta viết: “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Giữa trời khuya tĩnh mịch một vầng trăng vằng vặc trên sông, một giọng hò du dơng trầm bổngvang lên từ một con đò đang xuôi dòng”,
Sử dụng biện pháp đảo ngữ, chẳng hạn: “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Vằng vặc một vầng trăng trên sông
giữa trời khuya tĩnh mịch, du dơng một giọng hò trầm bổng vang lên từ một con đò
đang xuôi dòng”,
III Thực trạng của việc sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh ở học sinh lớp 5
Trong quá trình dạy Tập làm văn ở lớp 5, đặc biệt khi chấm những bài văn tả cảnh của học sinh ta hay gặp việc các em sử dụng từ thiếu chính xác, dùng từ cha đúng, cha sát nghĩa hoặc cha hay, vì vậy hiệu quả làm bài không cao
Một trong những nguyên nhân cơ bản là do vốn từ của các em còn nghèo, bí từ, nên dùng từ một cách bừa bãi làm hỏng, sai ý của câu văn hoặc làm cho câu văn khô khan, đơn điệu, thiếu hình ảnh Các em cũng cha biết cách khai thác và sử dụng từ ngữ
Trang 5một cách độc đáo, sáng tạo để diễn tả những điều đã quan sát đợc, cha biết cách thể hiện những cảm xúc, suy nghĩ của mình trớc một sự vật, hiện tợng
Do khả năng hiểu từ, lựa chọn từ, sử dụng từ của học sinh còn nhiều hạn chế, do vậy các em sử dụng từ một cách tuỳ tiện Ngoài ra, các em không biết vận dụng các biện pháp nghệ thuật vì thế câu văn thiếu sinh động, nghèo có hình ảnh
Thông qua đợt khảo sát (tại lớp 5.1 với số lợng 23 học sinh) phục vụ cho tính khả
thi của đề tài, tôi đã thống kê những lỗi học sinh thờng gặp phải trong quá trình làm bài văn tả cảnh
Qua bảng thống kê trên, tỷ lệ học sinh mắc lỗi trong quá trình làm bài văn tả cảnh
chiếm số lợng không nhỏ Đòi hỏi mỗi giáo viên phải nắm đợc các lỗi này (có thể xem
là những sai lầm của học sinh) để biết cách khắc phục cho các em.
Chơng 2:
Một số sai lầm phổ biến của học sinh
về việc sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh
và cách khắc phục
Trong quá trình làm đề tài này, tôi đã tìm hiểu rất kĩ về đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, khảo sát thông qua chấm bài, trao đổi trực tiếp với học sinh và các giáo viên dạy lớp 5 khác, từ đó đã mạnh dạn đa ra các sai lầm phổ biến của học sinh về việc sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh và hớng khắc phục Cụ thể là:
* Dạng 1: Dùng từ sai về âm thanh và hình thức cấu tạo của từ:
+ Đó là việc sử dụng từ có âm thanh hoặc hình thức cấu tạo của từ gần giống với
âm thanh hoặc cấu tạo từ cần miêu tả làm cho ngời đọc, ngời nghe khó hiểu nội dung cần diễn đạt
+ Nguyên nhân: do đờng ranh giới giữa các âm của từ láy và tính từ tuyệt đối là
rất nhỏ, học sinh không nhớ chính xác hình thức ngữ âm của từ, vì vậy khi viết các em thờng dùng những từ có âm na ná nh sau, lẫn lộn với nhau, đồng thời còn do sự phát âm không chuẩn của một số vùng
Ví dụ:
a Những tiếng gió xào xạt ngoài kia khiến lòng tôi càng thêm lu luyến.
b Những luống rau xanh ngát trông thật thích mắt.
c Chiêng trống bắt đầu nổi nên tất cả mọi ngời đổ dồn về hớng mấy con voi đang
bắt đầu đua
d Cảnh vật ở đó càng thêm đẹp hơn bởi những giọt sơng xa.
Trong các câu trên, do không nắm đợc nghĩa của các từ có âm thanh gần giống
nhau nên học sinh đã sử dụng sai các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nên”, , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xa”, ở các câu c và d khiến cho ngời
đọc có thể hiểu sai nội dung cần diễn đạt
Chẳng hạn ở câu c, có thể hiểu là: Vì chiêng trống bắt đầu nổi nên tất cả mọi
ngời đổ dồn về phía mấy con voi Hoặc có thể hiểu câu d nh sau: Cảnh vật ở đó đẹp hơn là bởi vì trông xa sẽ thấy những giọt sơng xa xa lấp lánh
Nh vậy, ở câu c, d đều làm cho ngời đọc hiểu sai nội dung cần diễn đạt ở câu a
và câu b, việc viết sai hình thức cấu tạo của các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xào xạt”, , và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xanh ngát”, cũng làm
cho câu văn trở nên khác thờng và ngời đọc, ngời nghe khó hiểu nội dung cần diễn đạt của ngời viết
+ Hớng dẫn học sinh khắc phục: Khi gặp những lỗi này, giáo viên cần cho học
sinh nêu nghĩa của các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xào xạt”, , và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xanh ngát”, , từ đó giải thích cho các em hiểu
đ-ợc không có từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xào xạt”, và từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xanh ngát”, cũng là một từ chỉ màu xanh nhng không dùng để chỉ màu xanh của một luống rau, do đó cần thay thế các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xào xạt”, và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xanh
ngát”, thành các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xào xạc”, và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, xanh ngắt”, , đồng thời giải thích để các em hiểu đợc
5
Trang 6-nghĩa của các từ đó Đối với hai câu c và d, cũng làm tơng tự, cần cho học sinh nắm đợc
rằng “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nổi lên”, là một từ còn “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nổi”, và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nên”, lại là hai từ, “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, sơng xa”, cũng là một từ có nghĩa khác với “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, sơng sa”,
* Dạng 2: Dùng từ không đúng nghĩa: Đó là việc sử dụng từ ngữ tuỳ tiện do
không hiểu đợc rõ nghĩa của những từ cần miêu tả, từ đó cũng gây cho ngời đọc, ngời nghe khó hiểu trớc nội dung cần thể hiện của ngời viết Nguyên nhân của việc dùng từ không đúng nghĩa là do các em cha hiểu đợc nghĩa của từ mình đang dùng, nhầm lẫn giữa các từ cần tả, không nắm đợc ý nghĩa biểu thái của từ
Ví dụ:
a Lòng em cảm thấy mơn man khi ngày hè đang đến gần.
b Cảnh vật thiên nhiên tơi đẹp làm em cảm thấy quê hơng thật hoà bình.
c Không khí trong veo đã khiến tâm hồn em trở nên sảng khoái hơn.
d Dới luỹ tre xanh, làng tôi yên lặng trong tiếng ngân nga của những tiếng
chuông nhà thờ
+ Nguyên nhân: ở đây cũng do không nắm đợc nghĩa của các từ mà học sinh đã
tuỳ tiện sử dụng khi viết câu gây khó hiểu cho ngời đọc, ngời nghe đôi khi còn tạo ra
các yếu tố gây cời Trong câu a, học sinh đã hiểu nhầm động từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, mơn man”, thành tính
từ ở câu b, cho dù “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, hoà bình”, có gần nghĩa với “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, thanh bình”, nhng không thể dùng
“Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, hoà bình”, thay cho “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, thanh bình”, nh câu văn trên đợc ở câu c, rõ ràng học sinh đã không hiểu nghĩa của từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, trong veo”, và nhầm cho rằng nó có nghĩa giống nh là “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, trong
lành”, Tơng tự, ở câu d, học sinh cũng đã nhầm từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, yên lặng”, có nghĩa giống với từ
“Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, yên ả”,
+ Hớng dẫn học sinh khắc phục: Khi gặp những lỗi này, giáo viên có thể đa ra
những câu đúng trong đó có chứa từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, mơn man”, và có hỏi học sinh về từ loại của từ
này, từ đó cho học sinh hiểu đợc cách dùng từ nh vậy là sai, đồng thời giải thích cho các
em về nghĩa của câu văn và hớng dẫn các em có thể thay thế từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, mơn man”, bằng từ
đúng “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, man mác”, Đối với các câu còn lại, giáo viên cho học sinh nêu nghĩa của các từ
đó và yêu cầu các em đặt câu với mỗi từ đó và so sánh nghĩa của các vừa đặt với các câu
ở trên Từ đó yêu cầu học sinh tự sửa lại các câu đó bằng cách thay thế các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, hoà
bình”, , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, trong veo”, và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, yên lặng”, bằng các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, thanh bình”, , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, trong lành”, và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, yên ả ”,
* Dạng 3: Dùng từ sai do kết hợp
Khi viết, do không hiểu đợc ý nghĩa của các cặp từ chỉ quan hệ, các phụ từ mà học sinh cũng sẽ dễ sử dụng sai các từ ngữ khi kết hợp là cho câu văn trở nên sai về nghĩa hoặc vô nghĩa
+ Nguyên nhân: Do học sinh không nắm đợc nguyên tắc phối hợp từ, mối quan
hệ giữa hai vế câu ghép, mối quan hệ nội tại giữa các từ trong câu
Ví dụ: a Luỹ tre xanh làng tôi đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp nhng tôi
chẳng muốn dời xa quê
b Tuy con đờng làng rất đẹp nên đã khiến lòng tôi nao nao mỗi khi về làng.
c Bây giờ là mùa gặt, trên cánh đồng làng, bà con xã viên đã gặt lúa.
d Tôi đã bị lạc vào một khu vờn đầy hoa thơm, trái ngọt.
+Nguyên nhân: Trong các ví dụ trên, ở câu a, do không nắm đợc ý nghĩa của câu
ghép có cặp từ quan hệ chỉ nguyên nhân kết quả mà học sinh đã kết hợp sai từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nhng”, với từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, vì”, (đã bị ẩn đi) Tơng tự, ở câu b, học sinh cũng đã kết hợp sai từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, tuy”, với từ
“Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nên”, Đối với câu b và câu c, học sinh đã kết hợp sai các phụ từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, đã”, và “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, bị”, do không
hiểu đợc ý nghĩa của mỗi câu
+ Hớng dẫn học sinh khắc phục: Khi gặp những lỗi này, giáo viên cần yêu cầu
học sinh nhắc lại ý nghĩa của các cặp từ chỉ quan hệ trong câu ghép, từ đó giải thích cho
các em nắm đợc không có cặp từ chỉ quan hệ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Vì - nhng”, hay “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, tuy - nên”, , cũng cần
nhắc lại để HS nắm đợc cấu tạo của câu ghép Đối với câu c và d, giáo viên cần cho học
sinh nêu nghĩa của các câu trên, yêu cầu các em nêu cách dùng từ của mỗi từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, đã”, và
“Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, bị”, để học sinh nắm “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, đã”, dùng để nói về những sự việc đã qua nên không thể viết đã“Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”,
gặt lúa”, trong khi đang mùa gặt, còn “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, bị”, chỉ đợc dùng nh là một sự bắt buộc phải làm
một việc gì đó nên cũng không viết nh ở câu trên đây bởi vì “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, vờn cây với đầy hoa thơm,
trái ngọt”, chắc chắn ai cũng muốn đến chứ không phải bị bắt đến, có thể liên hệ cho các
Trang 7em hiểu đợc, tơng tự nh vậy ta cũng không dùng từ đ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, ợc”, để viết câu “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Tôi đợc mẹ mắng
một trận nên thân”,
* Dạng 4: Dùng từ sai về phong cách
Do học sinh không nắm đợc bản chất của văn bản nghệ thuật để sử dụng các từ gợi tả, gợi cảm từ đó dẫn đến việc dùng từ sai văn cảnh làm cho câu văn bị mất tính nghệ thuật, đôi khi làm cho câu văn bị hiểu sai đi về nghĩa
Ví dụ: a Trong buổi sáng mùa thu khai trờng, chúng em đã đợc nghe những lời cực kỳ hay của thầy hiệu trởng.
b Chị gà mái mơ xù lông, rớn cổ, mắt gờm gờm nhìn bác diều hâu hung ác.
c Tra nắng, dới giàn mớp, gà mẹ gọi con Những chú gà con ùa cả về Gà mẹ
cùng đàn con kiếm mồi
d Những chú gà con lông vàng đang thanh thản xơi những hạt thóc một cách
ngon lành
+ Nguyên nhân: Học sinh đã sử dụng từ sai về phong cách Những lời nói của
thầy hiệu trởng trong ngày khai trờng đó là những lời căn dặn động viên học sinh cho
nên không thể dùng “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, cực kỳ hay”, ; mắt của gà mái không “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, gờm gờm”, , mà cũng không thể gọi diều hâu hung ác bằng “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, bác”, đợc; cũng không thể dùng từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, thản nhiên xơi”,
thóc cho các chú gà con Đối với câu c, có thể nói đây là những câu văn không có từ gợi cảm do đó ngời viết không thể diễn tả cho ngời đọc, ngời nghe một hình ảnh sinh động của đàn gà mẹ con đang đi kiếm ăn trong một buổi tra hè dới giàn mớp
+ Hớng dẫn học sinh khắc phục: Khi gặp những lỗi này, giáo viên cần nhắc lại
nghĩa của mỗi từ hay cụm từ đợc sử dụng trong các câu đó và cho học sinh nắm đợc cần phải viết câu đúng về phong cách của văn bản nghệ thuật Do đó cần thay các từ viết sai
trên bằng những từ ngữ khác nhau nh: “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, những lời tâm sự, những lời khuyến khích
động viên ”, ; “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, mắt không dời nhìn gã diều hâu, mắt xoáy vào gã diều hâu ”, ; “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, chăm chỉ nhặt những hạt thóc, ăn ”, Đối với câu c, các em có thể viết lại để đợc một hình
ảnh sinh động hơn nh sau: “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, Tra nắng hè oi ả, dới giàn mớp, gà mẹ đang lục tục gọi
đàn con trở về bên đôi cánh của mình Những chú gà con nh những cục tơ vàng óng
đang lon ton trở về bên mẹ khi nghe tiếng mẹ gọi Gà mẹ lại bắt đầu công việc tìm kiếm thức ăn cho cả đàn con yêu dấu ”,
* Dạng 5: Dùng từ sai do lặp từ
Do vốn từ ngữ của học sinh còn nghèo nên các em cha biết sử dụng các từ đồng nghĩa, gần nghĩa thay thế cho các từ đã viết, vì vậy trong bài viết của mình các em thờng viết các từ lặp lại làm cho câu văn lủng củng không mạch lạc Có 2 dạng lặp từ đó là:
lặp từ hoàn toàn và lặp từ đồng nghĩa
Ví dụ: a Nghỉ hè, em đợc bố mẹ cho về quê nội chơi, quê nội em là một vùng quê
ven sông Gianh, quê nội em có một cánh đồng lúa rất rộng, quê nội em có một đầm sen
nở hoa thơm ngát
b Cánh đồng lúa quê em rộng bao la, bát ngát
c Con đờng làng em rất đẹp, con đờng làng em đã đợc rải nhựa nhẳn lì, con đờng làng em có hai hàng cây xanh mát
d Những hàng cây nhè nhẹ thổi rì rào
Trong các ví dụ trên, học sinh đã dùng các từ lặp đi lặp lại nhiều lần đó là “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, quê
nội em”, , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, con đờng làng em”, , các từ đồng nghĩa là “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, bao la, bát ngát”, ; “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nhè nhẹ, rì rào”, gây nhàm chán đối với ngời đọc, ngời nghe.
+ Hớng dẫn học sinh khắc phục: Khi gặp những lỗi này, giáo viên cần hớng dẫn
học sinh nhắc lại cách liên kết câu bằng phép thế bằng cách cho các em dùng các từ
khác mà có thể thay thế các từ “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, quê nội em”, , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, con đờng làng em”, mà nội dung của các câu đó không thay đổi Các em sẽ dễ dàng tìm đợc các từ khác thay thế đó là “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nơi đó”, ,
“Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nơi ấy”, , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, con đờng ấy”, , “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, nó”, , Tơng tự nh vậy ở câu b và d, giáo viên cần cho học
sinh tìm các từ khác thay thế một trong hai từ đồng nghĩa với từ còn lại hoặc có thể bỏ
đi một trong hai từ đó ở mỗi câu và giải thích để các em hiểu rằng, không nên viết các từ
đồng nghĩa trong cùng một câu vì nh vậy sẽ làm giảm đi hình ảnh đẹp của câu văn
Trong các câu này các em có thể tìm đợc các từ thay thế nh “Tiếng Việt rất giàu và rất đẹp”, thẳng cánh cò bay”, hay có
thể bỏ đi một trong hai từ mà ý của mỗi câu không hề thay đổi và làm cho câu văn ngắn gọn và dễ hiểu hơn
7
Trang 8-CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 5.1 PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG SỬ DỤNG TỪ NGỮ TRONG LÀM VĂN TẢ CẢNH
VÀ HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
Việc sửa lỗi chỉ là biện pháp trước mắt, điều quan trọng và mang lại hiệu quả lâu dài hơn là cần có những giải pháp giúp các em học tốt tập làm văn để góp phần nâng cao chất lượng học tập Để đạt được điều đó, bản thân tôi đã thực hiện ở lớp 5.1 những nội dung sau:
- Làm giàu vốn từ cho học sinh
- Hướng dẫn học sinh kỹ năng sử dụng từ ngữ
- Tập cho học sinh diễn đạt câu văn có hình ảnh, có sử dụng biện pháp tu từ
I GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
I.1 Làm giàu vốn từ cho học sinh:
* Do vốn từ của các em còn nghèo nàn, vì vậy các em thường viết những đoạn văn khô khan thiếu gợi tả, gợi cảm không hấp dẫn người đọc, người nghe Để bài tập làm văn đạt kết quả, khâu làm giàu vốn từ ngữ là không thể bỏ qua Song việc làm này
có thể thông qua các phân môn khác nhau của môn Tiếng Việt giúp học sinh tích lũy được vốn từ Chẳng hạn ở phân môn Tập đọc, các em có thể hiểu được nghĩa của một
số từ, cảm nhận được những từ ngữ gợi tả màu sắc, hình ảnh, âm thanh, những từ chỉ hoạt động cũng như nghệ thuật miêu tả
Ví dụ : Học bài “ Sắc màu em yêu” ( TV5 – tập 1) học sinh phát hiện được
những sắc màu gần gũi của cảnh vật xung quanh ta được phản ánh trong bài: Cảnh thiên nhiên ( nắng rực rỡ , bầu trời cao vời vợi ), cảnh đồng bằng, rừng núi, …
Học bài: “ Người thợ rèn’’( TV5 –tập 2 ) các em thấy được cái hay của nghệ
thuật miêu tả mà tác giả đã chọn Để tả bác thợ rèn tác giả chọn những vật quen thuộc trong lò rèn để so sánh: mắt trong ngời như thép, tiếng thở như nhịp thở phì phò của ống bễ, những chiếc xương sườn như cái lồng bằng sắt Tác giả sử dụng nghệ thuật
nhân hóa rất sáng tạo: búa “nhảy múa”, búa “in gót”, tiếng búa “tốc, tốc, tốc, tốc”.Qua
đó, trí tưởng tượng và khả năng cảm thụ hình tượng văn học của các em dần dần được hình thành và phát triển
* Giúp các em làm giàu vốn từ thông qua các giờ học mở rộng vốn từ của phân môn luyện từ và câu
Ví dụ: Cho học sinh tìm từ nói về vui, buồn, các em tìm được như sau:
+ Vui: phấn khởi, hồ hởi, hân hoan, khoan khoái, mừng rỡ, hớn hở, tung tăng… + Buồn: ủ rũ, rũ rượi, buồn rầu, bùi ngùi, tư lự, ỉu xìu, thở dài, buồn bã…
Bài: Mở rộng vốn từ: Thiên nhiên - Trang 87(TV5- tập1) các em sẽ biết được một
số từ ngữ thể hiện sự so sánh bầu trời: xanh như mặt nước mệt mỏi trong ao; từ ngữ thể hiện sự nhân hóa bầu trời: được rửa mặt sau cơn mưa, ghé sát mặt đất, cúi xuống lắng nghe để tìm xem,
* Làm giàu vốn từ theo các đề tài nhỏ Các đề tài cần gắn chặt với các thể văn đang học giúp các em có thêm hiểu biết về tự nhiên, xã hội và con người, mở rộng vốn
từ, nâng cao khả năng diễn đạt
Trang 9Ví dụ: Học văn tả cảnh: cho các em tìm những từ láy gợi tả âm thanh trên dòng
sông (bì bõm, lăn tăn, lao xao, ì ọp, ào ào, xôn xao…); tìm những hình ảnh so sánh để
so sánh với con sông (Dòng sông như dải lụa, dòng sông như người mẹ ôm ấp đồng lúa…)
* Ngoài ra nhằm giúp các em có vốn từ nhất định để học văn tốt, tôi động viên các em nên có sổ tay “vốn từ” và hình thành thói quen khi đọc sách, báo, bài văn gặp
từ hay thì ghi ngay vào sổ theo chủ đề Đồng thời, tôi kiểm tra hàng tháng, biểu dương những học sinh có sổ tay ghi chép được nhiều từ mới
I.2 Hướng dẫn học sinh kĩ năng sử dụng từ ngữ:
* Học sinh có được vốn từ nhưng sử dụng như thế nào để có hiệu quả khi viết các đoạn văn Do đó việc hướng dẫn các em sử dụng từ ngữ hay trong viết văn là một việc làm hết sức quan trọng Tôi hướng dẫn cho các em làm quen dần với các mức độ từ
dễ đến khó qua các dạng bài tập khác nhau Thông qua cách sử dụng các từ ngữ này học sinh biết diễn đạt các sự vật, hiện tượng được miêu tả bằng nhiều cách khác nhau
Ví dụ:
1/ Hãy chọn từ thích hợp trong các từ sau: ríu rít, líu lo, liếp chiếp, rộn ràng,
tấp nập, là là, từ từ, tíu tít, hối hả để điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau:
“Tiếng chim , báo hiệu một ngày mới bắt đầu Ông mặt trời nhô lên từ lũy tre làng Khói bếp nhà ai bay trong gió Đàn gà con gọi nhau theo chân mẹ Đường làng đã , người qua lại.”
2/ Em hãy thay thế những từ in nghiêng trong các câu văn sau bằng những từ đồng nghĩa có giá trị biểu cảm:
“Buổi chiều trên cánh đồng quê em đẹp và yên tĩnh Bầu trời xanh, đồng lúa
xanh, con đường nhỏ như dải lụa Thấp thoáng những đàn cò trắng Chúng em tung
tăng thả diều trên triền đê Đàn trâu từ từ gặm cỏ Hoàng hôn dần buông xuống Cảnh
vật chuyển mình chờ màn đêm đến”
3/ Tìm những từ gợi tả màu sắc của đồng lúa chín điền vào chỗ chấm trong đoạn văn sau: “Trước mắt chúng tôi là cánh đồng lúa chín những bông lúa đang chờ tay người đến gặt, hạt lúa căng tròn béo múp hứa hẹn một mùa no ấm bội thu.”
* Trong các giờ dạy, tôi luôn quan tâm đến việc chữa lỗi về dùng từ trong đoạn văn của các em Tôi dùng những câu hỏi gợi mở giúp các em tự phát hiện ra từ dùng thiếu chính xác, rồi dùng từ thích hợp để thay thế, không nên áp đặt cho học sinh
Việc rèn kĩ năng dùng từ cho các em là cần thiết Hoạt động này đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ thực hiện trong các tiết dạy của giáo viên Đồng thời nhắc nhở các em nắm vững đặc điểm của từng kiểu bài tập làm văn mà lựa chọn những động từ chỉ hoạt động, động từ chỉ trạng thái cho sát hợp; dùng những tính từ gợi tả hình ảnh, cảm xúc, những
từ gợi tả âm thanh, tượng hình cho thích hợp; dùng các hình ảnh so sánh, nhân hóa để vừa gợi tả cho cụ thể, vừa thể hiện được tình cảm của mình với đối tượng được miêu tả
Có như thế sẽ giúp cho các em không chỉ dùng từ đúng mà còn hướng tới cách viết hay, độc đáo, sáng tạo góp phần nâng cao chất lượng bài tập làm văn
I.3 Hướng dẫn học sinh diễn đạt câu văn có hình ảnh và có sử dụng một số
biện pháp nghệ thuật đã học:
Khi các em diễn đạt câu văn không có hình ảnh và không có sử dụng biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa thì câu văn trở nên khô khan, tẻ nhạt, khó thu hút
9
Trang 10-người đọc.Do đú trong cỏc tiết luyện từ và cõu tụi hướng dẫn kĩ cỏc em luyện tập qua cỏc bài tập rốn kĩ năng viết đoạn văn, tụi luụn gợi ý cỏc em lập ý trước khi cho học sinh viết thành lời văn cụ thể
Vớ dụ: *Bài tập 3- trang 88 (TV 5- tập 1)
Giỏo viờn gợi ý:
- Em chọn từ ngữ nào trong mẩu chuyện trờn
- Quờ em cú những hỡnh ảnh gỡ đẹp? (HS kể: lũy tre, con đờ, đồng ruộng )
- Em hóy đặt cõu cú sử dụng biện phỏp so sỏnh, nhõn húa và phải biết bộc lộ tỡnh cảm của mỡnh về quờ hương trong cõu văn
Đối với cỏc bài tập này, tụi luụn hướng dẫn sửa bài trờn bảng lớp để giỳp cỏc
em trỡnh bày và diễn đạt cỏc ý bằng nhiều cỏch khỏc nhau đồng thời bộc lộ được những cảm xỳc riờng của từng học sinh Cú như thế, bài làm cỏc em thờm phong phỳ và sinh động Từ đú giỳp cỏc em thờm hứng thỳ trong học tập
Ngoài ra trong cỏc tiết luyện tập tả cảnh, tụi hướng dẫn cỏc em liờn tưởng khi miờu tả biết kết hợp với những hỡnh ảnh gợi cảm Vớ dụ: Tả ngụi trường, gợi ý học sinh diễn đạt cỏc đặc điểm (cổng trường, ụ cửa lớp học, bỏc trống trường, ), miờu tả bằng những cõu văn cú hỡnh ảnh nhõn húa như: Cổng trường đang giang rộng vũng tay đún chỳng em vào lớp
Nếu học sinh diễn đạt chưa sử dụng biện phỏp nghệ thuật thỡ tụi gợi ý bằng cỏch chia thành cỏc ý nhỏ cho nhiều học sinh phỏt biểu sau đú chắt lọc, hướng dẫn cho cỏc em thấy cỏch nào được, cỏch nào chưa được để phỏt huy hay sửa chữa
Vớ dụ: Khi tả giờ ra chơi cú em nờu: “Từ cỏc lớp, học sinh ựa ra Sõn trường trở nờn ồn ào Những chiếc ỏo, khăn quàng bay nhộn nhịp.”
Nội dung cỏc em miờu tả là đỳng yờu cầu, cõu văn rừ ý Nhưng tụi gợi ý cỏc em nờn lựa chọn những hỡnh ảnh để so sỏnh tạo ra đoạn văn cụ thể, sinh động giỳp cho người đọc thờm thớch thỳ như: Cỏc em thấy khi ra chơi cỏc bạn ựa ra cú đụng khụng? Tụi gợi cho cỏc em liờn tưởng để tỡm được hỡnh ảnh để so sỏnh như đàn ong vỡ tổ, chim
sổ lồng, Từ đú, cỏc em sẽ viết được nội dung cỏc cõu văn sinh động
“Từ cỏc cửa lớp, học sinh ựa ra sõn như đàn ong vỡ tổ, sõn trường bỗng trở nờn
ồn ào nỏo nhiệt Những chiếc ỏo trắng, khăn quàng đỏ bay thật nhộn nhịp như những đàn bướm đủ màu sắc bay rập rờn.”
II. Những hiệu quả đạt đợc:
Trong đợt khảo sát tính khả thi của đề tài, bản thân đã tiến hành trao đổi, dự giờ một số tiết dạy của giáo viên trong khối cũng nh áp dụng thực tế tại lớp mình chủ nhiệm
II.1 Hiệu quả đối với giáo viên:
Giáo viên đều nhận thức đợc vai trò, tác dụng của việc phát triển kỹ năng sử dụng
từ ngữ trong viết văn tả cảnh của học sinh Trên cơ sở đó giáo viên có các hình thức dạy học phù hợp với thực tế của lớp và từng đối tợng học sinh
Thông qua bài viết của các em mà giáo viên có thể biết học sinh lớp mình gặp các sai lầm nào trong quá trình viết văn tả cảnh Tạo điều kiện cho giáo viên uốn nắn kịp thời, có biện pháp thích hợp để giúp học sinh biết sai lầm của mình và viết tốt hơn trong các bài tiếp theo
II.2 Hiệu quả đối với học sinh:
Đề tài này có tác dụng thực tiễn cao trong quá trình viết Tập làm văn cho học sinh lớp 5, việc các em nắm đợc các sai lầm cơ bản của mình cũng nh biết cách khắc phục để viết đợc những câu, đoạn, bài văn hay về thể loại văn tả cảnh