Phần mềm Powerpoint - Phần mềm thích hợp cho giảng dạy nâng cao chất lượng dạy học Ch-¬ng 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG CÁC LỚP CB
Trang 1CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
BGD&ĐT Bộ giáo dục và đào tạo
Trang 24 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIÊN CỨU
7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
8 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
Néi dung Ch-¬ng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC
1.1 1.1 Các khái niệm công cụ
1.2 1.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục
1.3.Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
1.4 Nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
1.5 Phần mềm Powerpoint - Phần mềm thích hợp cho giảng dạy
nâng cao chất lượng dạy học
Ch-¬ng 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
TRONG GIẢNG DẠY MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG CÁC LỚP CBQL
- TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
2.1 Vài nét về Bộ môn quản lý giáo dục
2.2 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy của giảng viên Bộ
3.2.1 Thiết kế giáo án điện tử:
3.2.2 Ưng dụng phần mềm Power Point vào biên soạn bài giảng điện tử và
các yêu cầu cần đạt về tính sư phạm:
3.2.3 Sử dụng một số công cụ tiện ích trong phần mềm Power Point nâng
cao chất lượng bài giảng điện tử
Trang 3MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHON ĐỀ TÀI
Trong xu thế hội nhập với thế giới của Việt Nam, mọi thành phần, tổ chức, ngành nghề trong nước cũng không đi ra ngoài xu hướng đó Lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt là giáo dục đại học, cũng không phải là ngoại lệ Điều quan trọng trong quá trình hội nhập này là bản thân chúng ta luôn cập nhật được những tiến bộ trong cách dạy, cách học và phương thức quản lý giáo dục tiên tiến trên thế giới Bên cạnh
đó, tùy theo hoàn cảnh cụ thể của đơn vị mà các nhà quản lý giáo dục áp dụng cho đơn
vị, tổ chức của mình
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của xu hướng giáo dục hiện đại là sự thay đổi trong mô hình giáo dục Trong triết lý giáo dục mới này, người học là trung tâm của mô hình giáo dục thay cho giảng viên như trong mô hình truyền thống của giáo dục Việt Nam Điều này có lẽ là sự thay đổi căn bản trong nhận thức đối với nền giáo dục Á Đông - nơi đề cao vị trí của người thầy Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập, hiệu quả vận hành của một tổ chức hay cá nhân được đánh giá dựa trên kết quả, chất lượng thì việc thay đổi tư duy giáo dục này là hợp lý, vì người học là sản phẩm của trường học, chất lượng người học chính là thước đo, tiêu chí đánh giá căn bản nhất đối với sự vận hành của đơn vị, tổ chức
Với xu thế thay đổi mô hình giáo dục như trên, trường học phải thay đổi môi trường giáo dục Mọi tài nguyên, nguồn lực trong mỗi trường học cần tập trung vào việc tạo lập một môi trường học tập cởi mở, sáng tạo cho người học Một môi trường giáo dục hiện đại sẽ cung cấp tối đa khả năng tự học, tìm kiếm thông tin cho mỗi người học; trong khi giảng viên chỉ hướng dẫn kỹ năng, phương pháp giải quyết công
việc Kỹ năng giải quyết công việc và xử lý thông tin chính là cốt lõi của phương
thức giáo dục này Để hiện thực hóa những giá trị cốt lõi trên, công nghệ thông tin (CNTT) là một công cụ hữu hiệu
Với sự thay đổi căn bản về mô hình giáo dục trong trường học ở trên, vai trò của CNTT trở nên đặc biệt quan trọng CNTT là công cụ cần thiết, phục vụ hiệu quả các qui trình quản lý trong trường học Đặc điểm nổi trội nhất là thông qua dữ liệu, thông tin được lưu trữ, xử lý, các tiêu chí trong quản lý nhà trường đang dịch chuyển
từ định tính sang định lượng Bên cạnh đó, với bản chất của CNTT, sự minh bạch hóa
và chia sẻ thông tin, dữ liệu giữa các thành viên cũng như tốc độ xử lý thông tin của
Trang 4máy tính sẽ làm tăng hiệu quả vận hành, quản lý nhà trường Các hiệu trưởng, vì vậy, cần quán triệt sự cần thiết phải ứng dụng CNTT trong nhà trường
- Công nghệ thông tin mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy học Những phương pháp dạy học theo cách tiếp cận kiến tạo, phương pháp dạy học theo dự án, dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề càng có nhiều điều kiện để ứng dụng rộng rãi Các hình thức dạy học như dạy học đồng loạt, dạy theo nhóm, dạy cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin
và truyền thông Chẳng hạn, cá nhân làm việc tự lực với máy tính, với Internet, dạy học theo hình thức lớp học phân tán qua mang, dạy học qua cầu truyền hình Nếu trước kia người ta nhấn mạnh tới phương pháp dạy sao cho người học nhớ lâu, dễ hiểu, thì nay phải đặt trọng tâm là hình thành và phát triển cho người học các phương pháp học chủ động Nếu trước kia người ta thường quan tâm nhiều đến khả năng ghi nhớ kiến thức và thực hành kỹ năng vận dụng, thì nay chú trọng đặc biệt đến phát triển năng lực sáng tạo của người học Như vậy, việc chuyển từ “lấy giảng viên làm trung tâm” sang
“lấy người học làm trung tâm” sẽ trở nên dễ dàng hơn
- Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg;
58 Hiện nay các trường từ phổ thông đến đại học điều trang bị phòng máy, phòng
đa năng, nối mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giảng viên sử dụng vào quá trình dạy học của mình
Do sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông mà mọi người đều có trong tay nhiều công cụ hỗ trợ cho quá trình dạy học nói chung và phần mềm dạy học nói riêng Những khả năng mới mẻ và ưu việt của công nghệ thông tin và truyền thông
đã nhanh chóng làm thay đổi cách sống, cách làm việc, cách học tập, cách tư duy và quan trọng hơn cả là cách ra quyết định của con người
Do đó, mục tiêu cuối cùng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập cho người học, tạo ra một môi trường giáo dục
Trang 5mang tính tương tác cao, người học được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học tập, tự rèn luyện của bản thân
Trong nh÷ng n¨m gÇn ®©y trường cao đẳng Sơn La nói chung Bộ môn quản lý giáo dục nói riêng đã nhiệt tình hưởng ứng phong trào ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Tuy nhiên, những gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn Khó khăn, vướng mắc và những thách thức vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn Chẳng hạn:
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giảng viên hoàn toàn trong các bài giảng
- Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giảng viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh
- Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập, chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
- Công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giảng viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giảng viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả
Mặt khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy tính trọn vẹn tích cực và tính hiệu quả của nó
Qua 2 năm ứng dụng và trãi nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng
dạy ở Bộ môn tôi có 1 số bài học kinh nghiệm chính vì thế tôi chọn đề tài Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy một số chuyên đề bồi dưỡng CBQL tại trường
Trang 6Cao đẳng Sơn La với mong muốn được chia sẻ một số kinh nghiệm cú thể giỳp đồng
nghiệp trong Bộ mụn ỏp dụng trong giảng dạy ở cỏc lớp CBQL trường học
2 Lịch sử nghiên cứu:
Vấn đề ứng dụng cụng nghệ thụng tin khụng cũn là mới mẻ đó cú rất nhiều tỏc giả
quan tâm nghiờn cứu, song cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu chủ yếu tập trung ở gúc độ ứng dụng trong giảng dạy phục vụ chủ yếu cho cấp học MN; TH; THPT , ngành học của từng đơn vị khỏc nhau VD:
- Cỏc đề tài: - Ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy mụn địa lý
- Ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy mụn lịch sử
- Ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy mụn ngữ văn
- Ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy mụn Toỏn
Tuy nhiờn việc nghiờn cứu ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy cỏc chuyờn đề bồi dưỡng CBQL tại trường Cao đẳng Sơn La ch-a có tác giả nào
đề cập
- Đõy là đề tài đầu tiờn nghiờn cứu nhằm Ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong
giảng dạy cỏc chuyờn đề bồi dưỡng CBQL tại trường Cao đẳng Sơn La - Đề tài hoàn
thành sẽ là tài liệu cú giỏ trị gúp phần nõng cao chất lượng hiệu quả hoạt động dạy học cho Bộ môn quản lý giáo dục - trường cao đẳng Sơn La
3 MỤC ĐÍCH NGHIấN CỨU
Trên cơ sở nghiờn cứu lý luận và trải nghiệm ứng dụng cụng nghệ thụng
tin trong giảng dạy cỏc lớp bồi dưỡng CBQL tại trường CĐ Sơn La tác giả sẽ trỡnh bày, một số kinh nghiệm ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy cỏc lớp bồi dưỡng CBQL tại trường CĐ Sơn La với mong muốn được chia sẻ với cỏc đồng nghiệp hi vọng sẽ được cỏc đồng nghiệp đún nhận và tham khảo
4 NHIỆM VỤ NGHIấN CỨU
Đề đạt được những mục tiờu trờn, đề tài đặt ra những nhiệm vụ nghiờn cứu cụ thể sau:
4.1 Nghiờn cứu cơ sở lý luận về cụng nghệ thụng tin - ứng dụng cụng nghệ
thụng tin trong dạy học
4.2 Tỡm hiểu thực trạng ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy cỏc lớp
bồi dưỡng cỏc lớp CBQL trường học ở trường cao đẳng Sơn La
Trang 74.3 Trỡnh bày kinh nghiệm ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy cỏc
chuyờn đề ở cỏc lớp BD CBQL trường học - trường cao đẳng Sơn La
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
5.1 Ph-ơng pháp nghiên cứu lý luận:
- Thu thập, đọc, phõn tớch và tổng hợp tài liệu
5.2 Ph-ơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Điều tra
- Trò chuyện
- Tổng kết kinh nghiệm
- Phương phỏp thực nghiệm 5.3 Ph-ơng pháp hỗ trợ:
- Ph-ơng pháp so sánh
- Ph-ơng pháp thống kê toán học
6 ĐỐI TƯỢNG PHẠM VI NGHIấN CỨU
6.1- Đối t-ợng nghiên cứu:
- Đề tài tập trung nghiờn cứu việc ứng dụng cụng nghệ thụng tin (chủ yếu là phần mềm powerpoit) trong giảng dạy cỏc chuyờn đề bồi dưỡng CBQL tại trường Cao
đẳng Sơn La
6.2 Phạm vi nghiên cứu:
Nghiờn cứu trong phạm vi giảng dạy một số chuyờn đề bồi d-ỡng CBQL trường học tại tr-ờng CĐ Sơn La
7 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI (Gồm 3 phần)
PHẦN 1: MỞ ĐẦU (đề cập một số vấn đề chung)
PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI (Gồm 3 chương)
- Chương 1: Cơ sở lý luận về cụng nghệ thụng tin - ứng dụng cụng nghệ thụng tin
trong dạy học
- Chương 2: Tỡm hiểu thực trạng ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy
cỏc lớp bồi dưỡng cỏc lớp CBQL trường học ở trường cao đẳng Sơn La
- Chương 3: Kinh nghiệm ứng dụng cụng nghệ thụng tin trong giảng dạy cỏc
chuyờn đề ở cỏc lớp BD CBQL trường học - trường cao đẳng Sơn La
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
8 KẾ HOẠCH NGHIấN CỨU
Trang 8Đề tài nghiên cứu trong thời gian 1 năm (Từ tháng 09/2011 đến tháng 06/2012)
- Tháng 06/2011: nghiên cứu, sưu tầm tài liệu Đăng kí đề tài Xây dựng đề cương chi tiết Nghiệm thu cấp cơ sở
- Tháng 07/ 2011: Nghiệm thu đề cương chi tiết cấp trường
- Tháng 09/2011 - 11/2011: Viết và hoàn thành chương I Cơ sở lý luận về công nghệ thông tin - ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- Tháng 12/2011 – 02/2012:
Tìm hiểu thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy các lớp bồi dưỡng các lớp CBQL trường học ở trường cao đẳng Sơn La - Viết và hoàn thành chương II
- Tháng 03/2012 - 06/2012: Viết và hoàn thành chương III: Kinh nghiệm ứng
dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy một số chuyên đề ở các lớp BD CBQL
trường học - trường cao đẳng Sơn La
Trang 9Néi dung Ch-¬ng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG GIÁO DỤC 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Công nghệ
Nhiều năm trước đây Công nghệ được coi là quá trình để tiến hành một công đoạn sản xuất hay thiết bị để thực hiện một công việc
Đầu năm 1970 Escap đã định nghĩa công nghệ là toàn bộ kiến thức kĩ năng; thiết
bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất…định nghĩa này đã mở ra một bước nguặt quan trọng vì đi cùng với nó công nghệ không chỉ là sản xuất vật chất mà nó còn
mở rộng ra tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội, những lĩnh vực mới mẻ dần trở thành quen thuộc như Công nghệ thông tin; công nghệ du lịch; công nghệ bán hàng…
Như vậy, công nghệ được hiểu là kiến thức có hệ thống về quy trình và kĩ thuật
dùng để chế biến vậy liệu và thông tin nó bao gồm toàn bộ kiến thức kĩ năng; thiết bị
và phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ
1.1.3 Công nghệ thông tin - ứng dụng công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin”Công nghệ thông tin (IT– Information Technology) là
ngành ứng dụng công nghệ quản lý và xử lý thông tin, là ngành sử dụng máy tính và các phần mềm của nó để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu nhập thông
tin Theo Nghị quyết 49/CP của Chính phủ ngày 4 tháng 8 năm 1993 thì “công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại- chủ yếu là kĩ thuật máy tính và viễn thông- nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội” Như vậy, công nghệ thông tin là tập
hợp các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại như máy tính, máy chiếu Projector, mạng Internet… để cung cấp nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, đa dạng cho mọi lĩnh vực trong đời sống con người và xã hội
Trang 10Cụ thể, CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền, và thu thập thông tin
Ở Việt Nam thì khái niệm Công nghệ thông tin được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển công nghệ thông tin của chính phủ
Việt Nam, như sau: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại - chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội."
Từ thập niên 90 của thế kỉ trước, vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI Ngoài ra, UNESCO còn dự báo: công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI
Trong hệ thống giáo dục Tây phương, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phổ thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng nội dung về CNTT
đã có ích cho tất cả các môn học khác Với sự ra đời của Internet mà các kết nối băng thông rộng tới tất cả các trường học, áp dụng của kiến thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực
Trước tình hình công nghệ thông tin với giáo dục trên thế giới như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam trong Nghị quyết TW2, khóa VIII đã nhấn mạnh:
"Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của người học, nhất là người học đại học Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất
là thanh niên"
Bên cạnh đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có Chỉ thị 29/CT-Bộ GD&ĐT về "Tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành GD - ĐT giai đoạn 2001 - 2005" và Chỉ thị 55/2008/CT-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong giáo dục giai đoạn 2008-2012 và chọn năm học 2008-2009 được chọn là "Năm học
đẩy mạnh ứng dụng CNTT", tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và
tạo tiền đề ứng dụng và phát triển CNTT trong những năm tiếp theo
Trang 111.2 Vai trò của công nghệ thông tin trong giáo dục
Công nghệ thông tin, cụ thể là Internet, được tạo ra đầu tiên nhằm mục đích quân
sự và công nghiệp, sau đó mới được ứng dụng vào GD Với công nghệ thông tin, trái đất chúng ta đã trở nên nhỏ bé và gần gũi hơn
- Cuộc cách mạng KHCN trong những năm gần đây đã làm thay đổi toàn bộ cuộc sống con người Sự tác động mạnh mẽ của CNTT đến muôn mặt của đời sống xã hội Hệ thống nhà trường cũng không nằm ngoài sự tác động mạnh mẽ đó Có một nhà Giáo dục đã nói rằng: “Một trong những điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là
sự xuất hiện của Internet Chính Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách địa lý đã bị san phẳng… và bạn có thể ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới để chọn bài giảng, chủ đề…, thậm chí là những giáo sư danh tiếng để học tập mà không phải trả tiền Đây sẽ là một sự thay đổi gốc rễ hệ thống giáo dục trong thời gian tới”
- Với tác động của công nghệ thông tin, môi trường dạy học cũng thay đổi, nó tác động mạnh mẽ tới quá trình quản lý, giảng dạy, đào tạo và học tập dựa trên sự hỗ trợ của các phần mềm ứng dụng, website và hạ tầng công nghệ thông tin đi kèm Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập cho người học, tạo ra môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không chỉ đơn thuần là thầy giảng, trò nghe, thầy đọc, trò chép như hiện nay, người học được khuyến khích và tạo điều kiện để chủ động tìm kiếm tri thức, sắp xếp hợp lý quá trình tự học Nhờ vậy, chúng ta sẽ đào tạo ra một đội ngũ trí thức đủ năng lực thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Sự phát triển của CNTT và sự phát triển kinh tế xã hội đặt ra những yêu cầu mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học Nhờ có sự hỗ trợ của CNTT mà giảng viên và người học có thể tăng hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng dạy học, tăng cường tính tích cực nhận thức cho người học
Công nghệ thông tin giúp cho giảng viên không những nâng cao chất lượng dạy
và học trong nhà trường đại học mà còn là công cụ, phương tiện để làm một cuộc
“cách mạng” trong việc đổi mới phương pháp dạy học Không còn lối truyền thụ một chiều, thầy đọc trò ghi mà CNTT đã làm tích cực hóa quá trình dạy học, mang đến một luồng sinh khí mới cho hệ thống các nhà trường hiện nay
- Công nghệ thông tin cũng làm cho vai trò của người dạy và người học thay đổi, GV là người hướng dẫn HS học tập chứ không đơn thuần chỉ là người rót thông
Trang 12tin vào đầu HS GV phải thường xuyên tự học để nâng cao trình độ sử dụng CNTT trong DH HS được tiếp cận với nguồn thông tin phong phú, đa dạng
Như vậy, không thể phủ nhận được vai trò và tầm quan trọng của việc sử dụng công nghệ thông tin trong GD Tuy nhiên, để sử dụng có hiệu quả, cần tận dụng các thế mạnh và ưu điểm nổi bật của CNTT và tránh những hiệu ứng ngược của nó
1.3.Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Hiện nay, các trường đại học, cao đẳng đã và đang chuyển dần sang phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ yêu cầu phải đổi mới phương pháp dạy - học; đó là chuyển từ cách dạy truyền thống thầy đọc - trò chép sang tích cực hoá quá trình dạy học, trong đó giảng viên phải truyền đạt được những kiến thức cốt lõi của học phần và hướng dẫn cho người học phương pháp tự học Do vậy, công nghệ thông tin sẽ mở ra triển vọng to lớn trong việc đổi mới các phương pháp và hình thức dạy, học
Những phương pháp dạy, học tích cực thường dùng như phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học kiến tạo, phương pháp hướng dẫn người học
tự học… càng có điều kiện để áp dụng Các hình thức dạy học như dạy học tập thể, dạy học cá nhân cũng có những đổi mới trong môi trường công nghệ thông tin Nhờ sự phát triển của công nghệ thông tin mà giảng viên và người học có thể tự sử dụng nhiều phần mềm phục vụ cho quá trình giảng dạy và học tập Nhờ có máy tính mà việc thiết
kế giáo án và giảng dạy trên máy tính trở nên sinh động hơn, tiết kiệm được nhiều thời gian hơn so với cách dạy theo phương pháp truyền thống Việc sử dụng bài giảng điện
tử với những hình ảnh, âm thanh sinh động làm cho người học dễ dàng tiếp thu, khắc sâu kiến thức và tăng hứng thú học tập của người học Thông qua bài giảng điện tử, giảng viên có nhiều thời lượng để đặt các câu hỏi gợi mở, tạo điều kiện cho người học hoạt động nhiều hơn trong giờ học Đó là những tiền đề thuận lợi để sau khi ra trường, người học sẽ tiếp thu và vận dụng sáng tạo những thành tựu của công nghệ thông tin trong quá trình dạy học của mình
1.3.1 Giảng dạy bằng bài giảng điện tử
Giảng dạy bằng bài giảng điện tử có ưu điểm là tạo hứng thú cho cả thầy và trò trong buổi học nhờ có sự truyền đạt và tiếp nhận bài giảng thông qua những hình thức phong phú, đa dạng như hình ảnh, âm thanh giúp cho người học tiếp nhận bài giảng
dễ hiểu hơn Giảng viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng, có điều kiện trao đổi, thảo luận với người học về những vấn đề nảy sinh Qua đó, người học được kích thích
Trang 13khám phá tri thức qua thông tin thu nhận được, có thể nêu câu hỏi với giảng viên, giúp cho giờ học thêm sinh động Giảng viên không phải soạn bài giảng nhiều lần mà chỉ cần đầu tư cho lần soạn đầu tiên và cập nhật, chỉnh sửa cho bài giảng tốt hơn vào những lần sau
Tuy nhiên, việc dạy và học bằng bài giảng điện tử cũng có những hạn chế nhất định Nếu tập trung vào thảo luận các vấn đề liên quan đến bài học, người học sẽ không có nhiều thời gian cho việc thực hành, vì vậy đòi hỏi giảng viên phải phân bố thời gian hợp lý Trên thực tế, việc dạy - học bằng bài giảng điện tử không thể áp dụng với tất cả các nội dung của từng bài học, có những tiết dạy sẽ không thể đạt hiệu quả tối đa nếu thiếu phương pháp dạy truyền thống, có những tiết học sẽ không giúp người học hiểu và nhớ lâu nếu không được hỗ trợ bằng hình ảnh, âm thanh, vì vậy giảng viên cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp giảng dạy bằng bài giảng điện
tử và cách dạy truyền thống để có thể phát huy tối đa hiệu quả của việc dạy và học Muốn có một tiết dạy với bài giảng điện tử có hiệu quả, người thầy giáo phải dành nhiều thời gian cho việc sưu tầm, chuẩn bị chu đáo về tài liệu, kiến thức để có được những hình ảnh minh hoạ, âm thanh phục vụ cho bài giảng Giảng viên phải biết
sử dụng thành thạo máy tính và một số phần mềm hỗ trợ cho việc soạn bài giảng điện
tử như PowerPoint, violet,… Giảng viên có thể tham khảo cách soạn giáo án điện tử trên một số trang web như: http://www.thuvienkho ahoc.com; http://el.edu.net.vn
Trong quá trình trình bày bài giảng, chúng ta tùy theo từng nội dung bài học cụ thể mà ứng dụng công nghệ thông tin với những mức độ và hình thức khác nhau Nhìn chung, chúng ta có thể trình bày bài giảng bằng máy vi tính (trình diễn show slide: text, âm thanh, hình ảnh, video clip ); dùng đèn chiếu, micro-loa,
Hiện nay, các trường đại học phần lớn đều đã trang bị phòng học multimedia, thư viện điện tử (máy tính có nối mạng), hệ thống mạng nội bộ, v.v , giảng viên có thể đưa tài liệu của mình lên mạng (nội bộ) để người học tìm đọc, trao đổi, thảo luận 1.3.2 Tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin trên mạng Internet
Ngày nay, cán bộ giảng dạy và người học phải có thói quen và khả năng tự học
để bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tích luỹ kiến thức Tuy nhiên, người dạy và người học thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin do các thư viên truyền thống chưa đáp ứng đủ nhu cầu học hỏi, tìm hiểu và nghiên cứu của họ Vì vậy, Internet và máy vi tính chính là một phương tiện giúp mỗi
Trang 14người tự học tốt nhất Giảng viên và người học có thể tìm kiếm, tra cứu tri thức về mọi lĩnh vực Hiện nay, có hai cách để tìm kiếm các thông tin trên mạng Internet: tìm kiếm tĩnh và tìm kiếm động Tìm kiếm tĩnh là sử dụng danh bạ website Chỉ cần gõ chính xác địa chỉ website là người dùng có thể truy cập vào trang thông tin điện tử để khai thác thông tin Tìm kiếm động là tìm kiếm trực tuyến, cách này sử dụng những địa chỉ website là công cụ tìm kiếm (Search Engine) Các website tìm kiếm hữu hiệu nhất hiện nay là các trang: http://www.google.com.vn, http://www.yahoo.com, Từ cửa sổ của các trang web đó, người truy cập chỉ cần gõ trực tiếp những từ hoặc cụm từ cần tìm và gõ phím Enter, các trang chủ sẽ kết nối (link) đến các địa chỉ chứa những từ hoặc cụm từ người sử dụng cần tìm Khi đó giảng viên và người học có thể in trực tiếp hoặc lưu trữ bằng cách down load các tài liệu liên quan
1.3.3 Tham khảo sách điện tử, giáo trình điện tử
Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên cứu là vấn đề bức thiết đặt ra cho mỗi nhà giáo và người học Để tăng cường tính chất nghiên cứu, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của người học, người dạy, với tư cách là người hướng dẫn quá trình cần phải chỉ ra cho người học cách tìm kiếm, khai thác những nguồn học liệu mở trên mạng công nghệ thông tin toàn cầu Hiện nay, phần lớn các thư viện, nhà xuất bản, viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng trong nước và nước ngoài đều đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học, các cuốn sách và giáo trình điện tử Giảng viên và người học có thể tham khảo hàng trăm, hàng nghìn cuốn sách và bài giảng khác nhau ở bất cứ thời gian và không gian nào Mỗi người có thể tìm cuốn sách và giáo trình mình cần một nhanh chóng, có thể tham gia diễn đàn và trao đổi những suy nghĩ của mình về một cuốn sách hay một vấn
đề quan tâm, có thể viết lại ghi nhớ, đánh dấu những thông tin quan trọng của cuốn sách, có thể chuyển từ trang sách này sang trang sách khác một cách đơn giản
1.3.4 Sử dụng các thiết bị điện tử vào quá trình dạy học
Quá trình dạy - học cho người học cần đẩy mạnh sử dụng các thiết bị nghe nhìn để tăng hiệu quả tiếp thu, ghi nhớ bài giảng của người học, giảm bớt việc ghi, đọc, chép của giảng viên và người học Các nghiên cứu giáo dục cho thấy người học chỉ nhớ được 10% những gì đã đọc, 20% những gì đã nghe và khoảng 50% những gì
họ nghe và thấy Một số thiết bị nghe thường dùng trong nhà trường là máy ghi âm (cassette); các thiết bị nhìn như máy đèn chiếu (slide projector), máy phóng hình
Trang 15(overhead projector), máy chiếu đa chức năng (multimedia projector)… người học được học tập thường xuyên trong môi trường có các thiết bị điện tử sẽ luôn tăng hứng thú học tập, phát huy khả năng tư duy sáng tạo Phương pháp dạy và học có sự tham gia nhiều hơn của người học bằng thảo luận nhóm, nêu ý kiến sẽ phát huy nhiều hơn tính chủ động trong tiếp nhận kiến thức Cùng một thời lượng như nhau, nhưng số lượng kiến thức và kỹ năng người học thu nhận lại nhiều hơn, cụ thể, sinh động, sâu sắc hơn Số lượng bài tập thực hành của người học cũng được rèn luyện nhiều hơn
Từ đó, kỹ năng tự học, tự nghiên cứu sẽ phát huy có hiệu quả cao hơn
1.3.5 Gửi, nhận văn bản bằng thư điện tử
Thư điện tử hay e mail (electronic mail) là một hệ thống chuyển nhận thư từ qua các mạng máy tính Một e mail có thể được gửi đi ở dạng mã hoá hay dạng thông thường và được chuyển qua các mạng máy tính, đặc biệt là mạng Internet Nó có thể chuyển mẫu thông tin (bằng chữ, hình ảnh, âm thanh, phim) từ một máy chủ tới một hay rất nhiều máy nhận trong cùng một thời điểm Điều này rất cần thiết trong việc trao đổi, liên lạc giữa cán bộ giảng dạy và người học Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng hệ thống e mail có tên miền @moet.edu.vn trên nền gmail để cung cấp cho các đơn vị, cơ sở giáo dục trong cả nước sử dụng thống nhất Hệ thống e mail
@moet.edu.vn được sử dụng trên nền gmail có khá nhiều ưu điểm: có thể truy cập ở mọi nơi, mọi lúc, giảng viên có thể cung cấp cho người học những tài liệu mình có bằng cách gửi qua e mail Ngược lại, người học nếu tìm được những tài liệu có giá trị thì cũng có thể chuyển cho thầy, cô giáo của mình Mỗi khi người học làm tiểu luận, viết bài báo… thì có thể gửi qua e mail để giảng viên góp ý, sửa chữa trực tiếp trên máy tính Một ưu điểm nữa là người học có thể viết thư điện tử xin phép các nhà khoa học, các nhà giáo để download các bài báo, các cuốn sách phục vụ cho việc học tập của bản thân
1.4 Nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
Theo quan điểm thông tin, học là quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có
sự tái tạo và phát triển thông tin Dạy là phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả
Theo quan điểm CNTT, để đổi mới phương pháp dạy học, người ta tìm những
“Phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và
Trang 16hiệu quả hơn” chính vì thế dạy và học theo quan điểm CNTT cần đảm bảo một số
nguyên tắc sau:
1 Đảm bảo tính sư phạm khi thiết kế giáo án điện tử
- Thứ nhất, tập trung được sự chú ý của học sinh vào bài giảng
- Thứ hai, màu sắc sử dụng cần hài hoà, phù hợp tâm lý học sinh và nội dung bài giảng
- Thứ ba, chữ viết đảm bảo mật độ, kích cỡ và kiểu dáng phù hợp
- Thứ tư, các minh hoạ cần tương thích với mục đích và nọi dung
- Thứ năm, nội dung và minh hoạ thể hiện được thái độ tích cực, sử dụng tốt
khả năng trình diễn thông tin Multimedia sẽ đảm bảo cho quá trình nhận thức của học
sinh theo quy luật “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”
2 Đảm bảo tính hiệu quả
- Xây dựng giáo án điện tử cần phải lấy tính hiệu quả làm tiêu chí hàng đầu
3 Đảm bảo tính mở rộng và phổ dụng
Xây dựng cấu trúc của bài giảng theo hệ thống các slide cũng chính là thực hiện việc phân nhóm các đơn vị kiến thức mà bài giảng có thể hỗ trợ Về phương diện kỹ thuật lập trình, đây chính là việc môđun hoá chương trình để dễ dàng cho việc thiết kế, cài đặt, bảo dưỡng, bảo trì và nâng cấp sau này
4 Đảm bảo tính tối ưu của cấu trúc cơ sở dữ liệu
Khi thiết kế một phần mềm nói chung, bài giảng điện tử nói riêng thì việc xây dựng cơ sở dữ liệu là một vấn đề rất quan trọng Dữ liệu ấy phải được cập nhật dễ dàng và thuận lợi, yêu cầu kích thước lưu trữ phải tối thiểu, truy cập nhanh chóng khi cần (nhất là đối với các dữ liệu Multimedia), dễ dàng chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữa nhiều người dùng
Đặc biệt với giáo dục, cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tới việc hình thành các thư viện điện tử trong tương lai, như thư viện các bài tập, đề thi; thư viện các tranh
ảnh, các phim học tập; thư viện các tài liệu giáo khoa, tài liệu giáo viên,…
Xây dựng các thư viện tư liệu cho môn học là vấn đề quan trọng đầu tiên cần phải làm, nó quyết định đến chất lượng của việc thiết kế, xây dựng bài giảng điện tử
5 Đảm bảo tính cập nhật nội dung kiến thức của bài giảng
Phải triệt để tận dụng khả năng lưu trữ, cập nhật thông tin của máy tính Việc cập nhật để chỉnh sữa, nâng cấp và ngày càng hoàn thiện hệ thống các bài giảng là việc
Trang 17làm có ý nghĩa trong việc hình thành các thư viện tư liệu điện tử, những tiêu chí chuẩn mực của một nền giáo dục điện tử trong tương lai
1.5 Phần mềm Powerpoint - Phần mềm thích hợp cho giảng dạy nâng cao chất lượng dạy học
Với sự bùng nổ thông tin như hiện nay, ngày càng có nhiều phần mềm phục vụ việc dạy và học.Sử dụng phần mềm dạy học hợp lý sẽ cho hiệu quả cao, bởi lẽ khi sử dụng phần mềm dạy học bài giảng sẽ sinh động hơn, sự tương tác hai chiều sẽ được thiết lập HS được gải phóng khỏi những công việc thủ công, vụn vặt, tốn thời gian nên có điều kiện để đi sâu vào bản chất bài học
Tuy nhiên, trong trường cao đẳng Sơn La nói chung và bộ môn quản lý Giáo dục nói riêng thì các giảng viên hiện nay chủ yếu đang ứng dụng chủ yếu là phần mềm Powerpoint Đây là phần mềm chuyên thiết kế để trình diễn, phần mềm này dễ khai thác và chỉ sử dụng để soạn bài giảng điện tử
Powerpoint là phần mềm trình diễn nổi tiếng của hãng Microsoft và đã được sử dụng rộng rãi tại rất nhiều nước trên thế giới Powerpoint là một ý tưởng rất độc đáo
và từ lâu đã trở hương tiện không thể thiếu cho các nhà diễn thuyết, hội nghị, hội thảo khoa học, các chuyên viên tiếp thị quảng bá sản phẩm,
Vào thời điểm này Powerpoint đã và đang được ứng dụng rộng rãi trong giáo dục Với nhiều tính năng mới được bổ sung, Powerpoint đang trở thành công cụ phổ biến nhất giúp các giáo viên biên soạn và trình diễn các bài trình giảng với sự trợ giúp của máy tính
Chức năng chính của Powerpoint là tạo ra bản trình diễn (Presentation) với chất lượng cao tùy theo khả năng của bạn Nó có khả năng hỗ trợ nhiều loại đối tượng như văn bản, đồ họa, hoạt hình, video, âm thanh, ngoài ra còn có thể liên kết , tích hợp nhiều sản phẩm từ các phần mềm khác một các dễ dàng và phong phú Lợi dụng các khả năng này, chúng ta có thể dùng nó như một công cụ để tạo ra một giáo án điện tử một cách dễ dàng và thuận tiện
Mặt khác Powerpoint rất dễ học và rất dễ dùng Khi làm việc với Powerpoint
bạn sẽ được tự do sáng tạo gần như tuyệt đối
Tóm lại: Powerpoint là sản phẩm phần mềm đỉnh cao và đang được ngành
Giáo dục - Đào tạo ở tất cả các nước trên thế giới khai thác ứng dụng vào việc đổi mới dạy học
Trang 181.5.1 Powerpoint là chương trình ứng dụng để thiết kế và trình chiếu thông tin
Sản phẩm được taọ ra là các Presentation (trình chiếu) Trong mỗi Presentation gồm các Slide như máy chiếu slide, chúng được sắp xếp theo một trình tự nhất định Mỗi Slide chứa nhiều loại thông tin khác nhau như chữ (text), hình ảnh (image), tranh vẽ (picture), âm thanh (sound), hình ảnh động (movie) Các slide xuất hiện tự động hoặc tuân theo điều khiển của người dùng Với khả năng chứa đựng nhiều dạng thông tin trong một slide, với sự sinh động khi chuyển đổi giữa các slide, với các công cụ tinh xảo, các biểu mẫu, biểu đồ có sẵn được dùng để tạo ra các áp phích tờ rơi, quảng cáo các biểu mẫu đồ họa trang trí đẹp mắt và các phim dương bản được kết nối tạo nên các trình phim biểu diễn các cơ chế, các quá trình Powerpoint thực sự là phần mềm hiệu quả trong việc thay đổi phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy học
Việc thiết kế và sử dụng Powerpoint giảng dạy bằng máy tính thực sự đơn giản
và tiện ích, không tốn kém nhưng khả năng phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ học lại đạt kết quả cao Các hình thức sử dụng hình ảnh động, biểu bảng, sơ đồ trong giảng dạy linh hoạt phong phú cho phép giáo viên dẫn dắt học sinh đi từ các chi tiết cụ thể đến khái quát hoặc ngược lại Ngoài ra với những kiến thức quan trọng cần nhấn mạnh và giành nhiều thời gian hơn thì khi thiết kế có thể hoàn toàn chủ động điều chỉnh bằng cách đặt chế độ tự động về thời gian, hay điều khiển các Slide bằng bàn phím hoặc con chuột, hoặc ghi toàn bộ phần mềm dạy học ra đĩa CD để sử dụng rộng rãi
Tóm lại, phần mềm Powerpoint có thể thực hiện các công việc cụ thể phục vụ cho học tập như sau:
* Tạo giáo trình, sách giáo khoa, sách tham khảo, sách hướng dẫn phục vụ giảng dạy, học tập trong nhà trường
* Tạo các trình phim biểu diễn đồ họa mang tính trực quan, phù hợp với tiến trình dạy - học cho các môn học, phục vụ hội thảo, triển lãm
* Thiết kế và tạo nội dung dạy - học đưa lên trang Web và Internet
* Dạy học bằng phần mềm Poerpoint có ưu điểm sau:
- GV chuẩn bị bài một lần thì có thể sử dụng được nhiều lần
- Tạo khả năng để GV trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhật các thông tin mới và sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại
Trang 19- Chuẩn hóa các bài giảng mẫu, đặc biệt đối với những phần khó giảng, những khái niệm phức tạp
- Giảm tính thụ động của SV, tăng cường tính tích cực trong các giờ học
1.5.2 Một số chức năng cơ bản của Powerpoint khi ứng dụng vào dạy - học
- Powerpoint cho phép thiết kế ở diện rộng phù hợp với các môn học chuyên ngành điện tử Giúp giáo viên trình bày nội dung một cách lôgic dẫn dắt học sinh đi sâu vào từng vấn đề cụ thể Giáo viên có thể dùng tư liệu thu được như băng hình, hình
vẽ, tranh ảnh cùng với chữ viết dưới dạng câu hỏi, bài tập cho xuất hiện lần lượt trên một phông nền có màu sắc đẹp, không gian ba chiều gây ấn tượng mạnh tới học sinh
- Giáo viên có thể cho các hình ảnh, sơ đồ, nội dung của các câu hỏi, bài tập lần lượt xuất hiện trên màn hình theo tiến trình dạy - học, cũng có thể sử dụng âm thanh, lời nói, nhạc nền phụ họa cho bài giảng
- Giáo viên có thể kết nối các slide trong từng phần của nội dung dạy - học để tạo thành một chương trình lôgíc theo hình thức tự động hóa hoàn toàn, hoặc theo hình thức tự điều khiển thông qua bàn phím hay con chuột giúp giáo viên hoàn toàn chủ động trong một tiết học để đạt được hiệu quả cao nhất
Tóm lại việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học cho người học chính là một
trong những hoạt động để đổi mới phương pháp dạy - học, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo trong thời kỳ hội nhập, tạo thuận lợi cho người học có thể tích luỹ dần kiến thức theo khả năng và điều kiện của mình Dưới tác động của công nghệ thông tin, quá trình kỹ thuật hoá hoạt động giảng dạy trong nhà trường đã diễn ra và có những kết quả đáng chú ý Tuy nhiên, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học
là một công việc lâu dài, khó khăn, đòi hỏi nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của đội ngũ giảng viên
Trang 20Ch-¬ng 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MỘT
SỐ CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG CÁC LỚP CBQL TRƯỜNG HỌC TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
2.1 Vài nét về Bộ môn quản lý giáo dục
Bộ môn QLGD tiền thân là Khoa Bồi dưỡng CBQL& Nghiệp vụ giảng viên, được tách và thành lập mới từ tháng 8 năm 2009
Số lượng giảng viên: 04 giảng viên
Cơ sở vật chất: được nhà trường trang bị đủ để phục vụ cho công tác quản lý hoạt động dạy học
Thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, với biên chế 04 giảng viên, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, song năm học nào Bộ môn QLGD cũng đều mở ít nhất 3 lớp bồi dưỡng CBQL trường Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở
Để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, Bộ môn sẽ cố gắng thực hiện tốt mục tiêu chất lượng và quản lý chất lượng theo QMS ISO 9001:2008 Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chuyên môn ; quản lý chặt chẽ việc thực hiện Qui chế chuyên môn tại đơn vị; cải tiến PPDH theo hướng tích cực hóa người học đáp ứng
"Yêu cầu khách hàng", góp phần nâng cao chất lượng Đào tạo và Bồi dưỡng của nhà
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo hiện nay đang ở những bước khởi đầu Phương tiện dạy học đối với hầu hết các giảng viên chỉ là cuốn giáo trình và viên phấn trắng Thỉnh thoảng mới có giảng viên sử dụng đồ dùng dạy học nhưng cũng chủ yếu là ở những tiết đánh giá hay thao giảng Việc sử dụng công nghệ thông tin chỉ như một công cụ dạy học, hỗ trợ quá trình dạy và học mới ở mức sử dụng các phương tiện nghe, nhìn như xem băng, đĩa hình các tiết dạy minh họa hoặc tư
Trang 21liệu hình ảnh Một số giờ dạy bước đầu có sử dụng giáo án điện tử Tỷ lệ giảng viên và người học dùng máy ví tính truy cập mạng Internet để tìm kiếm thông tin còn ít
Sở dĩ những thành tựu về công nghệ thông tin chưa được ứng dụng nhiều trong quá trình dạy - học cho người học là do các nguyên nhân chủ yếu sau:
Trước hết là do phần lớn giảng viên vẫn còn thói quen dạy học theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều Khi tiến hành đổi mới phương pháp dạy học, không ít giảng viên lo lắng, băn khoăn như khi áp dụng những phương pháp mới có thể không thành công bằng phương pháp thuyết giảng; sợ nêu nhiều câu hỏi cho người học trả lời sẽ không đủ thời gian thực hiện kế hoạch giảng dạy, ngại cho người học thảo luận, đối thoại những vấn đề “nhạy cảm” hoặc quá khó; một số giảng viên ngại bị đồng nghiệp đánh giá chưa đúng về mình, họ rất muốn áp dụng phương pháp dạy học mới nhưng ngại những giảng viên “cây đa”, “cây đề” vẫn dạy theo phương pháp truyền thống cho rằng mình “cầm đèn chạy trước ô tô” Khá nhiều giảng viên quan niệm không cần phải thay đổi phương pháp dạy học vì đã vào “biên chế nhà nước” là yên tâm làm việc đến lúc về hưu Với những trạng thái tâm lý nói trên, một bộ phận giảng viên đã áp đặt những kinh nghiệm, hiểu biết của mình tới người học Giảng viên là người độc thoại không quan tâm đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của người học cũng như việc chỉ ra cho người học con đường tích cực chủ động thu nhận kiến thức Nhiều giờ dạy được giảng viên tiến hành như một giờ diễn thuyết, thậm chí giảng viên còn đọc chậm cho người học chép lại những gì có sẵn ở giáo án Vì vậy, nhiều giảng viên không quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin; chưa đầu tư suy nghĩ nhiều về cách thức sử dụng phương tiện dạy học; chưa chịu khó sưu tầm và tự tạo ra các thiết bị dạy học phù hợp Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học vẫn chưa phát huy hiệu quả
Còn về phía người học, tồn tại lớn nhất là thói quen thụ động, quen nghe, quen chép, ghi nhớ và tái hiện lại một cách máy móc, rập khuôn những gì giảng viên đã giảng, chỉ biết những kiến thức mà giảng viên đã cung cấp Đa phần người học chưa
có thói quen chủ động tra cứu thông tin trên mạng Internet Bên cạnh đó, sự thiếu thốn
về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt là các phòng học đa phương tiện, các thiết bị nghe, nhìn để minh họa cho bài giảng của giảng viên đã khiến cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học gặp nhiều bất lợi, dẫn đến tình trạng dạy chay, học chay Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để
Trang 22Qua phân tích ở trên, đã phản ánh một cách tổng quát về thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy - học cho người học hiện nay ở Bộ môn quản
lý giáo dục Từ đó tìm ra những hình thức ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp trong quá trình dạy - học ở Bộ môn nhằm đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của người học Nhờ vậy, giảng viên sẽ không còn lúng túng trong quá trình soạn giáo án và giảng dạy, hướng dẫn người học học tập đem lại hiệu quả cao nhất cho giờ giảng Đúng như Luật Giáo dục đã quy định
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng năng lực tự học, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
- Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong một mức độ nào đó, thì công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ giảng viên hoàn toàn trong các bài giảng của họ Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ thuận lợi hơn cho người học, vì giảng viên sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối
mà không cần phải lật lại từng “slide” như khi dạy trên máy tính điện tử Những mạch kiến thức “ vận dụng” đòi hỏi giảng viên phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các phương pháp dạy học truyền thống mới rèn luyện được kĩ năng cho người học
2.3.1.1 MÆt m¹nh
Để đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT nhằm đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực học tập của người học, Bộ môn quản lý giáo dục yêu cầu mỗi giảng viên dạy trung bình ít nhất 1 tiết có ứng dụng CNTT/ kì, Bên cạnh đó Bộ môn chú trọng dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm và tổ chức sinh hoạt chuyên môn trao đổi về cách ứng dụng CNTT một cách chọn lọc, phù hợp với đối tượng, nhằm phát huy có hiệu quả tác dụng của phương tiện Phương tiện CNTT&TT ứng dụng cho bài giảng trên lớp thường gồm:
- Máy móc, thiết bị điện tử và phần mềm trình chiếu powerpoint (đơn giản và
thuận tiện nhất) Các hình thức sử dụng hiệu quả được nhiều giảng viên sử dụng là: dạy trình chiếu với cách thiết kế các sile về hình thức gần giống với bảng truyền thống (màu sắc, cách chia bảng, cách trình bày đầu bài, đề mục, ); sử dụng máy chiếu như
là phương tiện hỗ trợ cung cấp kênh chữ Kênh hình với nhiều hình ảnh sinh động mà
Trang 23không phải mang vác nhiều tranh ảnh, bảng phụ, CNTT với nhiều phần mềm tiện ích
là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong công tác soạn bài, quản lý điểm, đánh giá xếp loại người học… được tiện lợi và nhanh chóng
- Để phát huy khả năng của đội ngũ, nhà trường đã chủ động xây dựng websile riêng cho từng đơn vị nhằm:
- Tham gia lập và sử dụng “nguồn học liệu mở” về đề thi, giáo án, tài liệu tham khảo trên websile của Bộ môn, tài nguyên dùng chung trên websile của trường
- Đẩy mạnh việc khai thác tài nguyên trên mạng Internet phục vụ công tác quản
lý và giảng dạy của CBGV thông qua bồi dưỡng, tập huấn, cung cấp địa chỉ hoặc mở liên kết với trang web của trường
- Tăng cường việc khai thác sử dụng hệ thống thư điện tử để tăng tiện ích, hiệu quả trong trao đổi cập nhật thông tin Yêu cầu mỗi cán bộ giảng viên lập và đăng ký một địa chỉ mail cố định
- Xây dựng và triển khai kế hoạch tham gia thi giờ dạy có ứng dụng CNTT lần thứ nhất năm 2008
* Kết quả đạt được
Cái được đầu tiên phải kể đến đó chính là giảng viên đã có sự chuyển đổi về nhận thức, từ qui định (mang tính áp đặt) lúc ban đầu sang tâm thế thích thú với bài giảng ứng dụng CNTT Từ yêu thích đến chủ động học hỏi cho nên kỹ năng soạn giảng các tiết có ứng dụng CNTT của giảng viên không ngừng được nâng lên, chất lượng bài dạy cũng tốt hơn, hấp dẫn với người học hơn
- Hiện nay, 100% giảng viên Bộ môn có chứng chỉ Tin học văn phòng từ trình
độ A trở lên và đều soạn bài bằng máy vi tính; 4/4 giảng viên biết sử dụng kỹ thuật
trình chiếu hỗ trợ giảng dạy, sử dụng phần mềm powerpoint vào dạy học,
- Tổng số tiết ứng dụng CNTT trong HKI là 12 tiết/ 4 giảng viên;
- Trường xây dựng trang web 100% cán bộ giảng viên biết khai thác thông tin trên website của nhà trường
Trong những năm tới Bộ môn sẽ tiếp tục có kế hoạch bồi dưỡng nâng cao trình
độ tin học và kỹ năng ứng dụng CNTT cho toàn thể giảng viên
Tham mưu nhà trường đầu tư lắp đầu Projecter tại phòng học để tiện cho GV ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy
Trang 24Tổ chức thi giảng dạy có ứng dụng CNTT ở Bộ môn và chọn cử giảng viên dự thi cấp trường tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giảng dạy:
sử dụng các phần mềm do Bộ GD & ĐT cung cấp, soạn giảng bài giảng điện tử, khai thác và sử dụng có hiệu quả tài nguyên trên internet…
Phát huy hiệu quả của công tác thông tin liên lạc qua email, mạng internet 2.3.1.2 MÆt h¹n chÕ:
Vạn sự khởi đầu nan, ứng dụng CNTT vào giảng dạy ban đầu là một bài toán khó với giảng viên, nhưng qua một thời gian không dài, chủ trương này đã cho thấy hiệu quả tích cực khi CNTT mang lại cho cả người dạy và người học không gian mới tạo hứng thú trong lớp học Với sự hỗ trợ của máy tính và một số phần mềm dạy học cùng các thiết bị đi kèm, giảng viên có thể tổ chức tiết học một cách sinh động, các bài giảng không chỉ mang hơi thở cuộc sống hiện đại gần gũi hơn với người học mà còn giúp cả người dạy và người học được tiếp xúc với các phương tiện hiện đại, làm giàu thêm vốn hiểu biết của mình
Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học đó là một chuyển biến đáng mừng, đáng trân trọng, cần phát huy Song, không phải ai, không phải lúc nào tiết dạy bằng GA điện tử (như cách gọi quen thuộc hiện nay, tuy rằng xét từng biểu hiện cụ thể cách gọi này chưa chính xác) cũng phát huy hết hiệu quả
Biểu hiện phổ biến nhất trong các giờ gọi là dạy bằng GA điện tử của một số giảng viên là việc GV trình chiếu trên màn hình tất cả các sile được thiết kế trên các phần mềm PowerPoint, những sile này khá nhiều chữ, GV dựa vào đó đọc lại cho HV nghe, ghi, một số sile có chèn hình ảnh (ảnh tĩnh, ảnh động), âm thanh, videoclip, …
GV không hoạch định kế hoạch lên lớp Chưa xác định đơn vị kiến thức, kiến thức tích hợp, ít chú trọng đến phương pháp, phương tiện (nếu có chỉ là những câu hỏi được trình chiếu trên màn hình thay cho việc GV ghi trên bảng đen, như cách làm truyền thống), biến màn hình thay bảng đen phấn trắng Khi cho HV thảo luận nhóm,
HV trình bày xong, GV lại củng cố lại bằng những sile đã chuẩn bị sẵn, như vậy vô tình “buộc” HV hiểu theo cách mà GV đã hiểu Tranh luận, thảo luận trước đó vô tình biến hoạt động nhóm trước đó thành hình thức, khó thuyết phục HV
Hậu quả của việc làm ấy dẫn đến sự chuyển đổi hình thức từ đọc chép, ghi chép sang chiếu chép HV chỉ tiếp thu hiệu ứng công nghệ thông tin chứ thực sự vẫn chưa
Trang 25chủ động sáng tạo trong tiếp thu văn bản, khiến họ sơ cứng, “chịu” sự áp chế từ các sile trình chiếu được soạn sẵn
Nhận xét chung về ứng dụng CNTT trong dạy học ở bộ môn quản lý còn một số tồn tại sau:
+ Bài giảng còn nặng về "kênh chữ", chưa khai thác được "kênh hình" nên chưa khai thác được tính ưu việt của công nghệ trong dạy học Một số bài giảng còn trình bày thông tin trên máy tính thay bảng viết, người học khó nắm được bố cục bài giảng + Một số tính năng của PowerPoint có thể được sử dụng có hiệu quả trong thiết kế bài giảng nhưng chưa được giảng viên khai thác hiệu quả, ví dụ như sử dụng các công
cụ để vẽ hình, sử dụng các hiệu ứng cho các đối tượng, kỹ thuật chèn các ảnh video, thiết kế trò chơi nên bài giảng có sử dụng CNTT nhưng chưa sử dụng như một công
cụ hữu hiệu điều khiển tiến trình bài giảng
+ Kỹ năng khai thác thông tin trên Internet của giảng viên chưa được tốt nên các tư liệu đưa vào bài giảng điện tử chưa được phong phú
+ Việc ứng dụng CNTT vào dạy học mới dừng ở các bài giảng trình diễn trên lớp, chưa hỗ trợ người học tự học, tự đánh giá kết quả học tập, cũng như giúp người học tìm kiếm những kiến thức mới
Khi tiến hành điều tra về chất lượng bài giảng, chất lượng giờ dạy và mức độ hoạt động của người học trong giờ học có sử dụng công nghệ thông tin, kết quả như sau:
Bảng 1: Điều tra về chất lượng bài giảng và mức độ hoạt động của người học
trong giờ học có sử dụng công nghệ thông tin
Thiết kế các slide đẹp, khoa học,
Trang 26học sinh ghi được bài
Nhận xét: Như vậy có thể nói mặc dù đã có ứng dụng công nghệ thông tin trong
soạn giảng một số chuyên đề nhưng kết quả vẫn rất hạn chế thể hiện ở các ý kiến đánh giá
về chất lượng bài soạn chất lượng giờ dạy và mức độ hoạt động tích cực của học viên Có
40 % ý kiến đấnh gia là đạt mức độ cao còn lại cho rằng bình thường
2.3.2 Nguyªn nh©n
- Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng, nhiều tiết dạy còn mang nặng tính biểu diễn, GV chứng minh trình độ tin học của mình còn chất lượng giờ dạy … còn bỏ ngõ
- Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin còn lúng túng, chưa xác định hướng ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc đổi mới phương pháp dạy học bằng phương tiện chiếu projector, … còn thiếu và chưa đồng bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên chưa triển khai rộng khắp và hiệu quả
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giảng viên chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù tin học nên giảng viên chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng công nghệ thông tin trong lớp học một cách có hiệu quả
- Bên cạnh đó, do kiến thức, kỹ năng về công nghệ thông tin ở một số giảng viên vẫn còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh Mặc khác, phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự
uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được trong một thời gian tới
Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy phương pháp tư duy sáng tạo cho người học, cũng như dạy người học cách biết, cách làm, cách chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với giảng viên và đòi hỏi giảng
Trang 27viên phải kết hợp hài hòa các phương pháp dạy học đồng thời phát huy ưu điểm của phương pháp dạy học này làm hạn chế những nhược điểm của phương pháp dạy học truyền thống Điều đó làm cho công nghệ thông tin, dù đã được đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy hết tính tích cực và tính hiệu quả của nó
- Mặt khác số kinh phí dành cho công nghệ thông tin đó trong nhà trường bị dàn trải manh mún chưa có điều kiện trang bị đầy đủ máy tính cho các phòng học Số ít ỏi các máy tính trong phần lớn trường học chỉ có tính trình diễn hơn là đem lại một hiệu quả giáo dục cụ thể sử dụng các máy tính đó trong dạy học một cách hiệu quả Phần lớn số máy tính ở các phòng ban khoa tổ chỉ dừng lại ở mức sử dụng với tính cách máy tính đơn để xử lí văn bản hành chính Nói cách khác hiệu quả sử dụng công nghệ thông tin phục vụ dạy và học ở Bộ môn hiện nay là quá khiêm tốn
Việc kết nối và sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu;
sử dụng không thường xuyên do tốc độ đường truyền…
Mặc dù vậy không có lựa chọn nào khác Tạo ra môi trường dạy học trong đó
áp dụng những thành tựu công nghệ thông tin vào việc dạy học là lựa chọn có tính cách khẩn thiết và bắt buộc