1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la

56 451 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 541,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại các trang trại chăn nuôi gia cầm, ô nhiễm môi trường đã tạo ra mùi hôi, khí NH3, H2S, CO2, CO… thối độc phát tán và là môi trường thuận lợi cho ruồi, muỗi trong chuồng nuôi phát tri

Trang 1

đề dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, mức độ ô nhiễm môi trường khu vực

chăn nuôi gia cầm cũng tăng dần theo qui mô chăn nuôi

Ô nhiễm môi trường do chăn nuôi gây nên chủ yếu từ các nguồn chất thải rắn, chất thải lỏng, bụi, tiếng ồn, xác gia súc, gia cầm chết chôn lấp, tiêu hủy

không đúng kỹ thuật Tại các trang trại chăn nuôi gia cầm, ô nhiễm môi trường đã

tạo ra mùi hôi, khí NH3, H2S, CO2, CO… thối độc phát tán và là môi trường thuận lợi cho ruồi, muỗi trong chuồng nuôi phát triển, dễ phát sinh dịch bệnh do đó làm tăng chi phí thuốc thú y, con vật chậm lớn, làm giảm sức đề kháng vật nuôi tăng

tỷ lệ mắc bệnh, năng suất bị giảm chi phí thức ăn cao, chất lượng sản phẩm kém, hiệu quả kinh tế thấp và ảnh hưởng đến sức khỏe của người (Attar và Brake, 1988) [13] Sức đề kháng của gia súc, gia cầm giảm sút sẽ là nguy cơ gây nên bùng phát dịch bệnh Vì vậy, WHO 2005 [21] khuyến cáo phải có các giải pháp tăng cường việc làm trong sạch môi trường chăn nuôi, kiểm soát, xử lý chất thải, giữ vững được an toàn sinh học, tăng cường sức khỏe các đàn giống Các chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường do vi sinh vật (các mầm bệnh truyền nhiễm) đặc biệt nguy hiểm, vì nó sẽ làm phát sinh các loại dịch bệnh như ỉa chảy, lở mồm long móng, tai xanh, cúm gia cầm H5N1,

Hiện nay tại một số trang trại, gia trại đã có biện pháp xử lý ô nhiễm như thu gom chất thải hàng ngày, dọn rửa chuồng, sử dụng bể biogas, ủ phân, làm

Trang 2

thức ăn cho cá đã phần nào giải quyết được vấn đề phân và chất thải chăn nuôi Tuy nhiên, trong chăn nuôi trang trại, gia trại với số lượng lớn vấn đề ô nhiễm mùi

và các khí thải độc hại thì vẫn chưa được giải quyết triệt để Vì vậy, việc đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường trong chăn nuôi gia cầm nói chung và trong chăn nuôi gà nói riêng là cần thiết, đáp ứng được xu thế phát triển và bảo vệ môi trường

Một trong những giải pháp hiệu quả để xử lý phân, chất thải chăn nuôi một cách triệt để, tạo môi trường trong sạch, tiết kiệm chi phí về thuốc thú y, nhân công, không phải thực hiện vệ sinh hàng ngày là sử dụng chế phẩm vi sinh vật để

xử lý chất độn lót nền chuồng nuôi, nhằm làm giảm mùi hôi, phân huỷ phân, chất thải ngay tại chỗ Đây là một trong những công nghệ chăn nuôi sinh thái, đã và đang được áp dụng ở nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan… và một

số tỉnh ở trong nước như Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Dương, Bắc Giang…

Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Sử dụng vi

sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm

làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 Cò Nòi huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn

Trang 3

làm cho chuồng lợn, chuồng gà, nhà xí không còn ruồi nhặng, không hôi thối Đặc biệt, E.M có thể làm sạch môi trường không khí trong chăn nuôi, bảo đảm sức khoẻ và tăng tuổi thọ cho con người.Thành quả nghiên cứu về E.M đã gây xôn xao giới khoa học tại Hội nghị quốc tế nông nghiệp hữu cơ thế giới lần thứ 6

tổ chức ở California (Mỹ) năm 1986, rồi nhanh chóng phổ cập ở Braxin (1993), Pháp (1995), châu Phi (1997), Trung Quốc (1999), Nga (2001) và hiện được ứng dụng tại hơn 150 nước trên thế giới Giới khoa học đánh giá, đây là cống hiến

to lớn của giáo sư Higateruo, bởi kỹ thuật E.M sẽ cứu trái đất khỏi thảm họa môi

trường, tiêu diệt nạn đói nghèo, tạo ra một công viên sinh thái toàn cầu…Lời giải

cho bài toán “tam nông” [3], [23], [24], [25]

Một vài năm gần đây, tại Nam Ninh – Trung Quốc đang phổ biến công nghệ này và có công phát triển nó trong chăn nuôi gia súc, gia cầm trên nền đệm lót sinh thái Công nghệ này đơn giản, dễ áp dụng và đem lại lợi ích lớn

Năm 1989, tại Thái Lan đã tổ chức Hội nghị Quốc tế Nông nghiệp Thiên nhiên Cứu thế Các nhà khoa học đã thảo luận về giá trị của công nghệ E.M và tăng cường sử dụng nó Nhờ vậy, Mạng lưới Nông nghiệp Thiên nhiên Châu Á - Thái Bình Dương (APNAN) được thành lập, đã mở rộng hoạt động tại 20 nước trong vùng và tiếp xúc với tất cả các lục địa trên thế giới Đến nay, có khoảng 50 nước tham gia chương trình nghiên cứu ứng dụng EM và các nước : Mỹ, Trung Quốc, Braxin, Thái Lan…đã trực tiếp nhập công nghệ E.M từ Nhật Bản Hiện nay, E.M có thể sản xuất được tại trên 20 quốc gia trên thế giới [3], [4]

Chiang và Hsieh,1995 [3], [8] Sử dụng chế phẩm có chứa Lactobacillus

axitophilus, Streptococcus faecium và Bacillus subtilis có thể làm giảm hàm lượng

amoniac trong phân và chất độn chuồng trong chăn nuôi gà thịt thương phẩm

Chang và Chen, 2003 [24].Tiến hành bổ sung chế phẩm thương mại

Ecozyme có chứa các chủng vi khuẩn Lactobacillus sp vào thức ăn cho gà thịt 56

ngày tuổi đã làm giảm đáng kể hàm lượng khí amoniac trong chuồng nuôi và làm giảm độ ẩm ướt, độ pH của phân gà, dẫn đến giảm đáng kể mùi hôi thối trong chuồng nuôi

Trang 4

Theo Trương Khải Bình, 2009 (Người Trung Quốc) [25] Sử dụng “Kỹ thuật nuôi dưỡng bằng độn lót chuồng vi sinh hoạt tính“ cho thấy:

Những đặc điểm của độn lót chuồng lên men này là:

Số lượng vi sinh vật đạt rất cao trong độn lót: 5.107 CFU/g (lên men bằng chế phẩm vi sinh khác chỉ đạt 0,8.106

CFU);

- Các vi sinh vật trong độn lót có mối quan hệ cộng sinh, cộng tồn đã tạo nên sự cân bằng chắc chắn, liên kết tạo ra sự phân giải mạnh mẽ, hiệu quả ổn định trong giảm mùi hôi và giảm bệnh;

- Độn lót lên men không dễ bị lên mốc và biến chất; năng lực phân giải mạnh;

- Trong quá trình nuôi dưỡng, có thể sử dụng các xử lý tiêu độc bình thường

mà không ảnh hưởng đến công năng của chế phẩm;

- Cách tạo độn lót đơn giản, bảo dưỡng dễ;

- Tạo cho chuồng nuôi có được một tiểu khí hậu tốt: nhiệt độ, độ ẩm thích hợp, không khí trong lành, không có mùi thối và khí độc, giảm thiểu vi sinh vật gây bệnh

- Không cần phải thu dọn phân và tẩy rửa chuồng trong suốt quá trình nuôi

Từ đó đem lại hiệu quả tác dụng rất to lớn cho người chăn nuôi cũng như toàn xã

hội

2.2 Ở Việt Nam

Lại Thị Cúc (1994) [3] Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất độn lót

chuồng đến một số chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi gà 0 – 28 ngày tuổi đưa ra kết luận sử dụng độn lót nền chuồng lên men vi sinh vật giúp cho việc giảm thiểu

lượng khí độc trong chuồng nuôi (H2S, NH3, CO2 ) xuống thấp, đạt yêu cầu về tiểu khí hậu chuồng nuôi gà

Võ Thị Hạnh và cộng sự, 2007 [25] Nghiên cứu sử dụng chế phẩm sinh học VEM-K và BIO-F để xử lý mùi hôi và sản xuất phân hữu cơ vi sinh từ chất thải chăn nuôi tại huyện Trảng Bom Tỉnh Đồng Nai Kết quả phân lợn, gà sau khi được thải ra sẽ được xử lý ẩm độ, sau đó ủ với chế phẩm BIO-F Sau ba ngày, các

Trang 5

vi sinh vật hữu ích nói trên bắt đầu phát triển mạnh, phân giải và làm mất mùi phân Nhiệt độ trong khối ủ cũng tăng lên tới 60-700

C, tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh và trứng giun trong phân Sau 7-10 ngày, giai đoạn kết thúc và sản phẩm thu được là phân bón hữu cơ vi sinh chất lượng cao, có tác dụng phòng chống nấm hại cây trồng

Nguyễn Xuân Trạch, 2009 Đã thử nghiệm dùng chế phẩm vi sinh trong

chăn nuôi bằng đệm lót sinh thái ở trang trại của ông Nguyễn Văn Phúc, huyện

Sóc Sơn Hà Nội, Hải Dương, Nam điịnh, Kết quả bước đầu rất khả quan cho kết

quả xử lý rất tốt, về cảm quan giảm được mùi hôi thối, các chỉ tiêu ô nhiễm như COD, BOD, vi sinh vật gây bệnh giảm được 5- 6 lần so với khi không sử dụng chế

phẩm Môi trường chăn nuôi được cải thiện [25]

Lương Đức Kiên, 2011 [7] Nghiên cứu sử dụng độn lót nền chuồng lên men

vi sinh vật trong chăn nuôi gà thịt tại xã Liên Chung, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đưa ra kết luận:sử dụng độn lót nền chuồng lên men vi sinh vật giúp cho việc giảm thiểu lượng khí độc trong chuồng nuôi (H2S, NH3, CO2 ) xuống thấp, đạt yêu cầu về tiểu khí hậu chuồng nuôi gà theo QCVN 01-15: 2010/BNNPTNT, TCVN 6620: 2000 và TCVN 5938-1995, chuồng nuôi gà không có mùi hôi thối Nhiệt độ độn lót luôn dược duy trì trong khoảng 17,52 – 24,91oC, độ ẩm được khống chế dưới 30%, nhiệt độ không khí chuồng nuôi dao động trong khoảng 17,61 – 24,340C, độ ẩm không khí chuồng nuôi từ 65,12 – 78,05% là môi trường rất thuận lợi cho gà thịt sinh trưởng phát triển

2.3 Ở Sơn La

Tình hình sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi

gà ở tỉnh Sơn La: Có một số gia đình nuôi qui mô nhỏ ở thành phố Sơn La đã sử dụng chế phẩm vi sinh Balasa -N 01 để xử lý phân gà Tại địa phận Cò Nòi khu

vực nghiên cứu chưa có trang trại, gia trại nào sử dụng vi sinh vật lên men độn lót

nền chuồng đặc biệt thử nghiệm chế phẩm vi sinh BIOMIC II trong chăn nuôi gà

Chính vì thế mà chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này

3 Mục đích nghiên cứu

Trang 6

Nghiên cứu và thử nghiệm sử dụng men vi sinh vật BIOMIX II dùng làm

độn lót nền chuồng lên men vi sinh vật trong chăn nuôi gà lấy thịt ISAJA 57

nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tăng hiệu quả chăn nuôi, tại tiểu khu 4 Cò Nòi, huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Điều tra đánh giá việc xử lý các chất thải trong chăn nuôi tại tiểu khu 4

Cò Nòi huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La

- Đánh giá sự tác động của vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng đối với

môi trường qua theo dõi các chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng nuôi

- Đánh giá hiệu quả chăn nuôi của việc sử dụng vi sinh vật lên men độn lót

nền chuồng trong chăn nuôi gà lấy thịt ISAJA 57 thông qua ước tính hiệu quả

kinh tế trên độn lót lên men vi sinh vật tại tiểu khu 4 Cò Nòi huyện Mai Sơn - tỉnh

Sơn La

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp làm độn lót lên men

Chuẩn bị chế phẩm men: Lấy 1 lít chế phẩm vi sinh BIOMIX II gốc hoà

0,5kg đường để 1 tuần pha với nước thành 5 lít trộn đều với 5 kg bột ngô, cho

thêm 2 lít nước sạch vào xoa cho ẩm và tưới đều, sau đó cho vào túi hoặc thùng, đậy kín và để ở chỗ ấm để ủ trong khoảng 2 - 3 ngày

Cách làm độn lót:

Bước 1: Rải trấu và dăm bào theo tỷ lệ 1:1 lên toàn bộ nền chuồng, độ dầy từ

10 - 20cm tùy theo mùa

Bước 2: Rắc đều chế phẩm đã làm trước đó lên toàn bộ bề mặt lớp độn lót Bước 3: Xoa nhẹ cho đều lớp trên mặt của độn lót

Bước 4: Đậy kín bằng bạt hoặc ni-lông

Bước 5: Sau 3 - 5 ngày rỡ lớp phủ đậy, xoa nhẹ cho tơi lớp trên cùng, rắc thêm 1 kg chế phẩm vi sinh đều lên trên mặt (có thể trộn thêm với vài kg cám hoặc một loại bột nào đó để rắc cho đều), sau đó có thể thả gà vào ngay

Trang 7

- Khi gà vào giai đoạn đẻ trứng: chỉ khi nào chất độn chuồng mùi hôi thối mới dùng chế phẩm rắc nhắc lại (chỉ dùng chế phẩm rắc đều lên bề mặt nền

chuồng sau đó rắc một lớp trấu mỏng lên trên)

5.2 Bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được chia thành 2 đợt Đợt I từ tháng 11/2011đến hết tháng 1/2012 Đợt II từ tháng 2/2012 đến hết tháng 4/2012 Mỗi đợt gồm 2 lô: lô thí nghiệm (TN)

và lô đối chứng (ĐC) được chia ngẫu nhiên Mỗi lô 200 con gà 01 ngày tuổi Tổng

số gà thí nghiệm cả hai đợt là 2400 con gà 01 ngày tuổi

- Thí nghiệm đảm bảo đồng đều về chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng quản lý

- Thí nghiệm được tiến hành trên đàn gà từ 01 đến 45 ngày tuổi cho tất cả các

lô Các lô được sử dụng khay ăn đến một tuần tuổi sau đó thay dần bằng máng treo, các bình nước uống đầy đủ hàng ngày được vệ sinh sạch sẽ, các bóng điện cung cấp đủ nhiệt cho gà, cả 2 lô chuồng đều được vệ sinh sạch sẽ trước khi nuôi

Bảng 1: Bố trí thí nghiệm

Thời gian theo dõi 01 – 45 ngày tuổi 01 – 45 ngày tuổi

Yếu tố thí nghiệm:

Lên men vi sinh vật Thông thường,

Không lên men

Đợt thí nghiệm

Đợt I từ 11/2011– 7/1/2012 Đợt II từ 10/2 đến 23/4/2012 (2 đợt TN , mỗi đợt 200 con/ô x 3 ô chuồng nuôi x 2 dãy chuồng); tổng số gà = 1200 con x 2 lần = 2.400 con

5.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi

a Phương pháp xác định các chỉ tiêu về chất lượng độn lót và tiểu khí hậu chuồng nuôi

- Hàm lượng một số khí trong chuồng nuôi (CO 2 , H 2 S, NH 3) được xác định bằng máy đo khí độc IBRIDTM

MX6 của Mỹ

Trang 8

Phạm vi đo:

Hydrogen Sulfide (H2S): 0 - 500 ppm, giới hạn phát hiện 0,1 ppm

Amoniac (NH3) : 0 đến 100 ppm, giới hạn phát hiện 1 ppm

Carbon Dioxide (CO2): 0 đến 5% VOL, giới hạn phát hiện 0,01%

Đo ở vị trí vị trí giữa chuồng, đặt máy đo ngang đầu gà Mỗi tuần đo một đợt Mỗi đợt đo 3 ngày liên tiếp theo phương pháp mô tả của Gürdil và cs., (2001) [17]

Kết quả nghi ngờ sẽ được kiểm tra lại với Kít đo khí thương mại của hãng Komyo Rikagaku Kitagawa, Nhật (KITAGAMA - Gas detector tube system)

- Độ ẩm, nhiệt độ, tốc độ gió trong không khí chuồng nuôi: sử dụng máy đo

đa thông số LM – 8010 (Đài Loan)

+ Thang đo độ ẩm : 10 ~ 95%

+ Thang đo tốc độ gió : 0,4 ~ 30,0 m/s

+ Thang đo nhiệt độ : 0 ~ 50o

C

Vị trí đo: đo ở giữa chuồng, đặt máy ngang đầu gà Mỗi tuần đo 1 đợt, mỗi đợt

đo 3 ngày liên tiếp theo phương pháp mô tả của Akyuz và Boyaci (2010) [12]

- Nhiệt độ của lớp độn lót lên men vi sinh vật: sử dụng nhiệt kế thủy ngân,

thang nhiệt độ từ 0 - 100oC Đặt nhiệt kế ở độ sâu 10cm so với bề mặt của độn lót

Đo ở các vị trí, ở giữa và 4 góc chuồng Tính giá trị trung bình

- Độ ẩm của độn lót (%) được xác định bằng phương pháp sấy khô mẫu ở

105oC đến khối lượng không đổi

Nhiệt độ, độ ẩm của độn lót được theo dõi vào các thời điểm: giai đoạn làm độn lót (trước khi thả gà) xác định trong 3 ngày liên tiếp; sau khi thả gà mỗi tuần xác định 1 đợt, mỗi đợt xác định 3 ngày liên tiếp cho đến hết thời gian thí nghiệm

- Số lượng vi sinh vật tổng số của lớp độn lót: Thời gian lấy mẫu 0h, 12h,

24h, 48h, 72h, 96h trước khi thả gà Trong quá trình thí nghiệm, mỗi tuần lấy mẫu

1 lần Số lượng vi sinh vật tổng số được đếm bằng phương pháp pha loãng nồng

độ

Trang 9

b Ước tính sơ bộ hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi gà thịt sử dụng độn lót nền lên men vi sinh vật

Tính lợi nhuận kinh tế từ chăn nuôi trên đệm lót:

Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi

c Phương pháp điều tra

d Phân tích hoá sinh

Một số chỉ tiêu nhờ chuyên gia viện công nghệ khoa học môi trường Hà Nội phân tích

+ Gà thịt ISAJA 57 từ 01 đến 45 ngày tuổi

+ Độn lót nền chuồng lên men vi sinh vật: Bột ngô, trấu, mùn cưa

+ Men vi sinh BIOMIX II

+ Phân gà

6.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

- Trại gà thịt của gia đình Bà Nguyễn Thị Tươi : Tiểu khu 4 xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

7 Phạm vi nghiên cứu

- Giống gà lấy thịt ISAJA 57

- Men vi sinh BIOMIX II

8 Cấu trúc của đề tài

9 Kế hoạch thời gian

- Thời gian nghiên cứu: 15/ 8 năm 2011 đến tháng 05 năm 2012

10 Nội dung nghiên cứu

10.1 Đánh giá chất lượng lớp độn lót nền chuồng lên men vi sinh vật

- Nhiệt độ, độ ẩm, số lượng vi sinh vật tổng số

Trang 10

10.2 Đánh giá một số chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng nuôi

- Nhiệt độ, độ ẩm không khí, tốc độ gió

- Nồng độ một số khí độc: NH3, CO2, H2S

10.3 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của việc sử dụng độn lót lên men trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57

Trang 11

PHẦN II NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở của việc ứng dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi

Chăn nuôi sinh thái là phương pháp dựa trên nền tảng công nghệ lên men vi

sinh độn lót nền chuồng Với công nghệ này, toàn bộ phân và nước tiểu nhanh chóng được vi sinh vật phân giải và chuyển thành nguồn thức ăn protein sinh học cho chính vật nuôi Trong chuồng nuôi không có mùi hôi thối vì vi sinh vật hữu ích trong chế phẩm sử dụng đã cạnh tranh và tiêu diệt hết các vi sinh vật có hại và sinh mùi khó chịu Nhờ hệ vi sinh vật hữu ích tạo được bức tường lửa ngăn chặn các vi sinh vật gây bệnh, tạo môi trường trong sạch không ô nhiễm, ít ruồi muỗi, sức đề kháng của gia cầm cao Vì vậy, chăn nuôi theo công nghệ này hạn chế được tới mức thấp nhất sự lây lan bệnh tật giữa vật nuôi với nhau cũng như giữa vật nuôi với người Cũng nhờ những lợi thế về mặt vệ sinh và môi trường trên mà sản phẩm chăn nuôi

có độ vệ sinh an toàn thực phẩm rất cao

Do nuôi trên độn lót lên men phân và nước tiểu hầu như bị tiêu hủy nên người ta còn gọi là phương pháp chăn nuôi không chất thải

Về mặt kinh tế, đây là một công nghệ đưa lại hiệu quả cao nhờ tiết kiệm được 60% sức lao động chăn nuôi (không phải thay độn lót thường xuyên), giảm thiểu được chi phí thuốc thú y (do gà ít khi bị bệnh và chết)

Vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi đang được cả thế giới và trong nước ngày càng quan tâm Do vậy việc áp dụng công nghệ chăn nuôi sinh thái này

là hết sức có ý nghĩa Trước khi áp dụng, việc kiểm chứng những lợi ích về mặt năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế của phương pháp chăn nuôi này trong điều kiện Việt Nam là cần thiết

1.2 Đặc điểm của chăn nuôi sinh thái

Tạo cho chuồng nuôi có được một tiểu khí hậu tốt: nhiệt độ độ ẩm thích hợp, không khí trong lành, không có mùi thối và khí độc, giảm thiểu vi sinh vật gây bệnh không cần phải thu dọn phân và tẩy rửa chuồng trong suốt quá trình nuôi

Trang 12

Độn lót lên men không dễ bị lên mốc và biến chất, năng lực phân giải mạnh

1.3 Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật chăn nuôi sinh thái

Nguyên lý cơ bản của phương pháp chăn nuôi sinh thái là đảm bảo quyền sống của động vật, đem lại lợi ích trực tiếp cho động vật nuôi, đó là tạo một môi trường trong sạch không ô nhiễm, gần với tự nhiên làm khôi phục bản năng sống

tự nhiên của chúng: tự do đi lại chạy nhẩy, đào bới…do đó chúng có được tâm trạng thoải mái, không có áp lực về tâm lý, giảm căng thẳng tăng cường dinh dưỡng (nhờ được cung cấp một nguồn protein vi sinh vật có giá trị trong độn lót )

do đó tăng được tỷ lệ tiêu hóa hấp thu, tăng sức đề kháng, tăng sinh trưởng và sinh sản… Đó chính là thiết lập một môi trường chăn nuôi có được sự cân bằng sinh thái

1.4 Cơ chế hoạt động của đệm lót lên men

Thành phần cơ bản của độn lót lên men bao gồm: các chủng loại vi sinh vật

có lợi đã được tuyển chọn và nguyên liệu làm chất độn.(chất xơ)

Bảng 2.Thành phần trong chế phẩm vi sinh BIOMIC II

* Tiêu hủy phân và mùi hôi

Một số vi sinh vật hữu ích có khả năng phân giải và đồng hóa các chất thải động vật như phân, nước tiểu Quá trình phân giải này tạo thành các thành phần trao đổi chất có tác dụng khử mùi trong chuồng trại như axit hữu cơ (trung hòa và

cố định NH3), rượu (trung hòa mùi lạ và diệt virus…), các enzyme, các chất loại kháng sinh…Đặc biệt, vi sinh vật đồng hóa phân nước tiểu để tạo thành protein của chính bản thân chúng, nguồn protein vi sinh vật này được đông vật sử dụng

+ Sự lên men tiêu hóa phân

Trang 13

Các vi sinh vật có ích trong lớp độn lót sẽ bám quanh phân và tiết ra các

enzyme ngoại bào để thực hiện quá trình phân giải bằng sự oxi hóa và lên men Quá trình lên men phân giải phân trong chuồng nuôi đã làm cho các thành phần hydratcacbon và các hợp chất có chứa cacbon bị oxi hóa tạo ra năng lượng thông qua quá trình oxi hóa photphoryl hóa Năng lượng trong các mạch cacbon được giải phóng hoàn toàn và giải phóng ra CO2 và nước

Như vậy, có thể thấy một lượng nhỏ chất dinh dưỡng trong phân cần cho quá trình trao đổi chất tế bào sẽ được vi sinh vật hấp thu làm chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng phát triển của chúng, đặc biệt trong đó có sự sinh tổng hợp thành protein của tế bào, còn phần lớn các chất dinh dưỡng bị phân giải tạo năng lượng, giải phóng ra CO2, nước và một số hợp chất hữu cơ khác nhau

Các chất khí mà trong đó chủ yếu là khí CO2 và nước sẽ bị tán phát vào không khí Một lượng nhỏ hợp chất hữu cơ như các axit hữu cơ, rượu, aldehyd, ester…và một số chất khoáng hữu cơ sẽ tích lại trong đệm lót và dần cũng bị lợi dụng hoặc phân hủy

+ Sự khử mùi hôi và khí độc

Việc khử mùi hôi và khí độc trong độn lót là do tác dụng hấp phụ vật lý của độn lót và của ánh sáng, nhưng tác dụng khử mùi thối của vi sinh vật hữu ích sử dụng trong chế phẩm vi sinh tổng hợp mới là chủ yếu

Vấn đề khử mùi hôi và khí độc được đặt ra mạnh trong những năm gần đây khi chăn nuôi phát triển với tốc độ nhanh gây ô nhiễm lớn môi trường chăn nuôi Trong chuồng nuôi tích tụ nhiều khí độc như NH3, CH4, N2O, H2S, CO2 làm cho vật nuôi dễ sinh các bệnh đường hô hấp, ảnh hưởng đến sinh trưởng, tiêu tốn thức

ăn lớn, bị tổn thất về kinh tế, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người chăn nuôi và những người xung quanh (Blanes-Vidal và cs., 2008) [15]

Cơ chế hình thành chất gây thối: NH3 chủ yếu tạo ra từ sự phân giải ure và axit uric trong nước tiểu của các vi khuẩn và sự khử NH3 từ axit amin trong phân

do các vi khuẩn có hại và gây bệnh như các vi khuẩn gam âm có men khử NH3 của các axit amin như E.coli, Salmonella, tụ cầu… H2S được hình thành do vi khuẩn

Trang 14

khử axit amin xistin , xistein; Sự hình thành các amin hữu cơ rất độc và thối do các vi khuẩn lên men thối rữa đã khử cacboxin (CO2) một số loại axit amin để tạo thành

Sự giải phóng NH3 phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ, cấu trúc nền, mức độ vệ sinh chuồng trại, khẩu phần ăn…(Büscher và cs 1994 [14]; Kavolelis,

2003 [19] Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào độ pH, nếu độ pH trên 7 sự giải phóng nhanh, dưới 7 giải phóng chậm (độ pH phân gà lợn…khoảng 8,5 )

Sự khử các chất khí thối, độc trong chuồng nuôi của lớp độn lót lên men vi sinh vật là nhờ sự tác động của nhiều nhân tố Cụ thể là: Khống chế nguồn phát sinh khí: Sử dụng dịch lên men để lên men thức ăn gia súc sẽ tăng cường sự tiêu hóa hấp thu thức ăn, nên một mặt làm giảm lượng phân thải ra mặt khác làm giảm thải các chất dinh dưỡng (protein axit amin ) trong phân, do đó làm giảm sự hình thành các khí thối độc

+ Tác dụng khử khử mùi hôi và khí độc quan trọng nhất là do vi sinh vật Vi sinh vật có ích thực hiện sự giảm mùi theo hai cách:

+ Ức chế và khử vi khuẩn có hại, lên men gây thối trong độn chuồng do tác dụng cạnh tranh của vi sinh vật có lợi

Trong thành phần của tổ hợp vi sinh vật được đưa vào xử lý độn chuồng có những chủng có thể sử dụng các khí độc làm nguồn dinh dưỡng cho sự sinh trưởng phát triển của mình, do đó mà góp phần làm giảm nhanh khí độc trong độn lót (phân mới thải ra đã có nhiều khí thối độc do sự lên men của các vi khuẩn thối rữa trong ruột già động vật)

Sự lên men oxi hóa của vi sinh vật để phân giải phân thành các chất không

có mùi Đó là sự oxi hóa triệt để các chất dinh dưỡng trong phần để thu năng lượng và tạo ra CO2 và nước Nhờ đó mà có thể giảm lượng lớn khí độc trong chuồng nuôi

* Duy trì sự cân bằng sinh thái vi sinh vật trong chuồng nuôi

Các chế phẩm vi sinh sử dụng để xử lý phân và rác thải động vật thường bao gồm một tập hợp các vi sinh vật được chọn lọc rất nghiêm ngặt theo các tiêu

Trang 15

chí về đặc điểm sinh hóa học cụ thể Một trong những tiêu chí quan trọng là giữa chúng phải có được mối quan hệ cộng sinh và hỗ sinh để từ đó tạo ra sự cân bằng sinh thái trong môi trường mà chúng tồn tại

Nếu giữa các chủng vi sinh vật không có được mối quan hệ tương hỗ thì chắc chắn tổ hợp vi sinh vật được chọn lọc và tập hợp sẽ bị phá vỡ trong một thời gian ngắn Bởi lẽ sự phát triển độc lập của từng chủng trong môi trường nhiều chất thải sẽ chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có cả sự canh tranh ngay trong các chủng của tổ hợp với nhau và sự cạnh tranh của nhiêu vi khuẩn có hại có mặt trong chất thải Sự cân bằng sinh thái vi sinh vật trong chuồng nuôi sẽ ức chế các

vi khuẩn gây thối, vi khuẩn gây bệnh trong chuồng nuôi, làm giảm mùi hôi trong

chuồng và giảm bệnh cho gia súc

*Tiêu diệt vi khuẩn có hại và gây bệnh trong chuồng nuôi

Sử dụng chế phẩm vi sinh tổng hợp để xử lý chất thải vật nuôi, ngoài tác dụng phân giải phân, làm giảm mùi, giảm ô nhiễm thì nó còn có vai trò trong việc

ức chế các vi sinh vật có hại hoặc gây bệnh trong chuồng nuôi

+ Sự tăng cường sức kháng bệnh và khả năng miễn dịch

Nguyên nhân có thể là do môi trường sạch sẽ, không bị các phản ứng căng thẳng do tâm lý hay do môi trường, con vật có môi trường sống tự nhiên, khôi phục được bản năng sống nguyên thủy…nên sống khỏe mạnh tăng cường sức kháng bệnh và khả năng miễn dịch nhưng cơ bản nhất phải kể đến là sự lên men của các vi sinh vật có ích đã ức chế các vi trùng gây bệnh

+ Sự không thích ứng của các vi sinh vật có hại và gây bệnh, các vi rus trong môi trường đệm lót lên men:

Các vi sinh vật có hại và gây bệnh, các virus không thích ứng trong môi trường lên men, bị tiêu diệt do:

- Các vi sinh vật hữu ích tạo môi trường thiên về axit, pH thấp làm cho các

vi sinh vật có hại khó phát triển được Vi sinh vật có hại ra khỏi cơ thể động vật

Trang 16

thì chưa thích ứng với môi trường mới Vi sinh vật có ích được thuần hóa thích nghi với môi trường đệm lót có độ pH thấp, nhiệt độ cao nên khó bị tiêu diệt

- Khi lên men phân giải phân mạnh, một lượng CO2 sinh ra đọng lại ở giữa tầng độn lót gây ức chế một số vi khuẩn có hại

+ Sự áp đảo về số lượng các vi sinh vật có ích

Đó chính là việc tăng số lượng vi sinh vật có ích vượt trội so với các vi sinh vật có hại Sẽ làm phép tính đơn giản để xác định ưu thế của các vi sinh vật có ích

Mỗi gam phân nước tiểu có 0,1.106

tế bào vi khuẩn có hại thì 75 kg phân có 7,5 tỷ tế bào Đem chia cho khối lượng độn lót là 2.700 kg sẽ có 0,28.104

tế bào vi khuẩn có hại/g độn lót Vậy tỷ lệ giữa vi khuẩn có lợi và vi khuẩn có hại là: 3,7.107 / 0,28.104 hay là bằng 13200: 1

Đây là ưu thế vượt trội của vi sinh vật có ích so với vi sinh vật có hại để khẳng định vi khuẩn có hại sẽ bị tiêu diệt Nếu độn lót được bảo dưỡng tốt thì tỷ lệ này còn lớn hơn, là sự đảm bảo cho sự chiếm ưu thế vi sinh vật có ích để loại trừ

vi khuẩn có hại Điều này cho thấy nuôi gà trên độn lót lên men rất ít bị bệnh và nếu gà có ăn độn lót cũng sẽ không có hại gì Đây chính là nguyên tắc lấy số đông

để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, nhưng cần phải đảm bảo độn lót có độ dầy nhất định

Xét về tỷ số giữa vi sinh vật có ích và vi sinh vật có hại là một tỷ số áp đảo, chắc chắn vi sinh vật có hại bị tiêu diệt, môi trường sạch gà ít bị bệnh Vì vậy nếu

gà có ăn độn lót cũng không có hại trái lại có lợi do sinh kháng thể không đặc hiệu

từ vi khuẩn gây bệnh đã giảm hoạt lực

+ Sự lên men của các vi sinh vật có ích

Trang 17

Người ta đã từng lấy mẫu trong các bể biogas lên men tốt để phân lập thì không tìm thấy vi khuẩn gây bệnh ; Và từ thực tế nuôi dưỡng người ta nhận thấy

sử dụng các thức ăn lên men bằng các chế phẩm sinh học để chăn nuôi thì con vật rất ít bị bệnh, điều này có thể giải thích là do các vi sinh vật gây bệnh đã bị tiêu diệt trong quá trình lên men Vậy thì quá trình lên men trong độn lót của các vi sinh vật có ích đã tiêu diệt các vi sinh vật có hại và gây bệnh trong phân và từ ngoài nhiễm vào độn lót, làm giảm nguy cơ mắc bệnh cho con vật Quá trình tiêu diệt chúng do các tác nhân sau

*) Sự tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh do nhiệt độ :

Khi chế tạo độn lót lên men chúng ta cần dùng chế phẩm vi sinh Trong quá trình lên men, vi sinh vật sẽ trải qua những giai đoạn phát triển của chúng từ giai đoạn thích ứng đến tăng logarit, sau đó chuyển sang giai đoạn ổn định, già và thoái hóa

Ở giai đoạn tăng logarit, sự phát triển số lượng tế bào sẽ đạt đến giá trị lớn nhất bởi vậy có sự lên men tăng nhiệt mạnh, làm nhiệt độ của độn lót tăng cao có thể đạt tới 40-60oC (khi vượt quá 60oC).Tuy rằng quá trình lên men sinh nhiệt vượt qua 60o

C chỉ duy trì trong thời gian là không dài, chỉ có mấy giờ có thể xác định được nhiệt độ này nhưng hầu như các vi sinh vật có hại và gây bệnh đều bị tiêu diệt.Theo đúng nguyên lý khử trùng ở nhiệt độ thấp của Pasteur thì ở nhiệt độ 50-80o

C duy trì trong thời gian từ 4-12 giờ , các vi sinh vật có thể bị tiêu diệt

Các vi sinh vật gây bệnh bị diệt thì khó có thể khôi phục lại về số lượng, ngược lại các vi sinh vật có lợi trong độn lót sẽ tồn tại và duy trì được một số lượng khá lớn để thực hiện nhiệm vụ của chúng Bởi vì các chủng vi sinh vật trong chế phẩm dùng chế độn lót lên men đã được chọn lọc với nhiều tiêu chuẩn trong

đó có khả năng chịu nhiệt độ cao Khi gặp nhiệt độ cao trong một thời gian không dài có thể có một số lượng nhất định các vi sinh vật của chế phẩm cũng bị diệt chúng và một số lớn cũng sẽ bị ức chế nhưng sẽ dần hồi phục sau đó khi nhiệt độ môi trường xuống thấp, ngoài ra trong quá trình sử dụng độn lót chúng ta còn

Trang 18

không ngừng bổ sung thêm dịch lên men mà độn lót bảo tồn được một số lượng lớn các vi sinh vật có ích

Sau giai đoạn tăng mạnh tế bào, quá trình lên men chuyển sang giai đoạn ổn định Chúng ta chỉ cần đo thấy nhiệt độ ở độ sâu dưới 30 cm của độn lót chỉ vượt quá nhiệt độ phòng vài độ hay mùa đông có nhiệt độ đạt 25o

C là

có thể khẳng định quá trình lên men bắt đầu dừng Lúc này có thể đưa gà vào nuôi an toàn

* Sự tiêu diệt các vi sinh vật gây bệnh do các sản phẩ m của trao đổi chất

Trong quá trình lên men, các vi sinh vật có ích đã hình thành các axit hữu

cơ làm tăng độ axit của môi trường, sự hình thành các chất có hoạt tính kháng sinh

(bacterioxin) của Streptococcus lactis, Lactobacterium planetarium, Bacillus

licheniformis…; sự hình thành ethylic, H2O2 … đã tiêu diệt hầu như toàn bộ vi khuẩn có hại Đây chính là cơ chế của lên men diệt các vi khuẩn có hại, mà chỉ có thông qua sự lên men này mới có thể diệt được các nha bào của các vi khuẩn gây bệnh khó bị tiêu diệt

Tóm lại, chúng ta không sợ con vật nuôi trên độn lót lên men bị các bệnh vi khuẩn hay vi rut là do chúng có sức kháng tự nhiên và sức kháng này được tăng lên khi sống trong môi trường thoải mái; hơn nữa do tăng số lượng vi sinh vật có ích lên rất nhiều lần so với vi khuẩn có hại trong tự nhiên nên có sự tiêu diệt vi khuẩn có hại do tác dụng đối kháng giữa chúng

Các theo dõi cho thấy con vật rất ít bị bệnh cảm nhiễm vi khuẩn và các bệnh

do virus, nếu có mắc bệnh thì cũng không nặng, dễ chữa

Khi sử dụng vi sinh vật lên men độn lót chuồng, sẽ tạo ra vòng tuần hoàn sinh vật Trong quá trình chăn nuôi, gia súc thải ra các chất thải trên độn lót sẽ cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vật sử dụng Đồng thời, vi sinh vật phân giải phân và nước tiểu tạo thành các chất trao đổi và protein của bản thân chúng, cung cấp dinh dưỡng cho gia súc; trợ giúp quá trình tiêu hóa, nâng cao miễn dịch cho

Trang 19

con vật sử dụng Vi sinh vật sinh trưởng phát triển ở mức độ nhất định đảm bảo sinh ra một nhiệt lượng nhất định Vòng tuần hoàn được luân chuyển trong thời

gian dài tạo ra một môi trường không chất thải

b Vai trò của nguyên liệu làm độn lót

Tạo ra môi trường sống cho hệ vi sinh vật Yêu cầu của nguyên liệu phải có thành phần xơ cao, không độc và không gây kích thích Đặc biệt nguyên liệu phải bền vững với sự phân giải của vi sinh vật, đảm bảo thời gian sử dụng kéo dài

Khi sử dụng, độn lót vi sinh vật sẽ tạo ra vòng tuần hoàn sinh vật Con vật

ăn ở, đi lại và thải phân trên độn lót sẽ cung cấp dinh dưỡng cho vi sinh vật sử dụng Đồng thời, vi sinh vật phân giải phân và nước tiểu tạo thành các chất trao đổi và protein của bản thân chúng, cung cấp dinh dưỡng làm tăng dinh dưỡng cho con vật; trợ giúp quá trình tiêu hóa, nâng cao miễn dịch cho con vật sử dụng Vi sinh vật sinh trưởng phát triển ở mức độ nhất định đảm bảo sinh ra một nhiệt lượng nhất định để tránh sinh nhiệt lớn trong mùa hè, nhưng cũng đảm bảo nhiệt cung cấp đủ ấm cho động vật nuôi trong mùa đông Vòng tuần hoàn được luân chuyển trong thời gian dài tạo ra một môi trường không chất thải

+ Yêu cầu về nguyên liệu sử dụng làm chất độn lót:

Nguyên liệu sử dụng làm chất độn lót nền chuồng nuôi gia cầm phải thỏa mãn các điều kiện sau: khả năng hút ẩm tốt (khả năng hút ẩm từ 140 – 1200% so với khối lượng ban đầu của nó); Không bị nát vụn, không tạo nhiều bụi, không bị phân hủy bởi vi sinh vật; Giá rẻ, dễ kiếm [23] Một số nguyên liệu thường được sử dụng trong chăn nuôi gia cầm như mùn cưa (khả năng hút ẩm đến 420%), lõi ngô nghiền (hút ẩm 140-150%), rơm rạ, trấu (hút ẩm 240%), tuy nhiên rơm rạ, lõi ngô thường dễ bị nhiễm nấm mốc Trong thực tế, nguyên liệu sử dụng làm độn lót lên men vi sinh vật tốt nhất là mùn cưa, vì mùn cưa thỏa mãn tất cả các điều kiện trên

và ít bị mốc

Trang 20

Chương 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Vị trí địa lí - Địa hình

*Vị trí địa lí

Xã Cò Nòi, nằm ở toạ độ từ 200 52’ 30’’ đến 210 20’ 50’’vĩ độ Bắc; 1030 41’ 30’’ đến 1040

16’ kinh Đông, phía Bắc giáp xã Nà Bó – H.Bắc Yên, phía Đông giáp xã Trường Đông; huyện Yên Châu, phía Nam giáp xã Yên Sơn; huyện Yên

Châu, phía Tây giáp xã Trường Nương; xã Hát Lót và thị trấn Hát Lót

* Địa hình

Địa hình của xã chia cắt phức tạp chủ yếu là đồi núi đất xen kẽ với dãy núi

đá, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 700-800 m, độ dốc lớn trung bình

từ 9-250

rất khó khăn cho việc canh tác của bà con dân tộc

2.2 Khí hậu, thủy văn

Xã Cò Nòi, nằm trong vựng Tây Bắc – một vùng khí hậu có những điểm

khác biệt so với cả vùng khác ở Miền Bắc, do đó khí hậu của xã Cò Nòi, cũng mang những đặc điểm chung của vùng Tây Bắc, với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi Mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh khô có sương muối

và ít mưa

Khí hậu xã Cò Nòi, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhìn trung lượng mưa phân bố không đều, mưa nhiều, tập trung vào các tháng 6,7, 8 đạt 205.7 – 254,9 mm cường độ mưa lớn, lượng mưa giảm dần, thấp nhất vào mùa khô, đặc biệt tháng 12 và tháng 1, 2 đạt 3,9 – 9,5 mm Đại đa số diện tích đất của

xã thiếu nước nghiêm trọng thậm chí một số nơi thiếu cả nước sinh hoạt

Các chỉ tiêu khí hậu chính thu được tại trạm khí tượng thuỷ văn xã Cò Nòi

+ Tổng số giờ nắng cao: Số giờ nắng trung bình năm đạt trên 138,16 giờ/năm

Đặc biệt là số giờ nắng được phân bố tương đối đều trong các tháng, có tháng 01 trong năm có số giờ nắng rất ít 30 giờ

Trang 21

+ Chế độ Nhiệt độ: Nhiệt độ bình quân năm 260C biên độ nhiệt ngày đêm tương đối cao, nhiệt độ thấp nhất có năm xuống tới 0,5 0C nhất là trong mùa khô kết hợp với ẩm độ thấp, cho nên hầu như năm nào cũng xuất hiện sương muối nhẹ gây hại cho sản xuất nông nghiệp, tần suất xuất hiện sương muối gây chết cho cây trồng nông nghiệp, cây ăn trái và cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi gia súc, gia cầm khoảng 10 - 15 năm một lần

Bảng 3 Một số chỉ tiêu khí hậu xã Cò Nòi

(Nguồn: Trạm khí tượng xã Cò Nòi)

Xã Cò Nòi, vừa có chế độ nhiệt cao nguyên mát mẻ lại có khí hậu nóng vùng ven sông Đà Chế độ nhiệt này tạo điều kiện cho việc chăn nuôi

+ Chế độ gió: Do đặc điểm địa hình có những dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc

- Đông Nam nên ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc yếu dần vào tháng 12, tháng 1 gió thịnh hành trong năm gồm có: gió Đông nam, Tây nam, thổi theo lòng máng sông Đà Ngoài hướng gió đó thì xã Cò Nòi, còn chịu ảnh hưởng của gió Phơn Tây nam khô và nóng (gió lào) kéo dài từ tháng 3 đến tháng 9 (theo thống kê của trạm khí tượng Cò Nòi)

Xã Cò Nòi, là vùng có tổng lƣợng mƣa trung bình năm thấp Lượng mưa

cả năm chỉ đạt 970,4mm.Tuy nhiên do điều kiện tự nhiên thịnh hành làm khí hậu

Trang 22

có sắc thái riêng đó là: Mùa đông lạnh nhưng tương đối ẩm và khô hanh hơn, do tác động chặn gió mùa đông bắc của các dãy núi

2.3 Đá mẹ, thổ nhƣỡng:

Xã Cò Nòi là xã miền núi thuộc huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La của vùng Tây

Bắc – Việt Nam

Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 9.433 ha, trong đó:

- Đất nông nghiệp là 7.367,05 ha chiếm 78,1% tổng diện tích đất tự nhiên

- Đất phi nông nghiệp là 349,25 ha chiếm 3,7% tổng diện tích đất tự nhiên

- Đất chưa sử dụng là 1.716,7 ha chiếm 18,2% tổng diện tích đất tự nhiên Tổng diện tích đất lâm nghiệp của xã là 2.477,79 ha chiếm 33,63% diện tích đất nông nghiệp Trong đó: -Đất có rừng tự nhiên sản xuất là : 1.039,66ha

- Đất có rừng phòng hộ là : 1.438,13ha (Theo kết quả thống kê năm 2011)

2.4 Điều kiện kinh tế- xã hội, dân số, dân tộc

Cò Nòi là xã miền núi, nằm về phía Đông của huyện Mai Sơn Toàn xã có

40 Bản, tiểu khu Tổng diện tích tự nhiên 94,33 km2, dân số 14.619 người có mật

độ dân số đông so với các xã khác trong huyện

Cộng đồng các dân tộc trong xã đoàn kết, gắn bó chung sống từ lâu đời, trong đó chủ yếu là dân tộc kinh (chiếm 48,4%), các dân tộc khác như: Thái,

H’Mông…Dân số toàn xã năm 2006 là 14.619 người với 3.931 hộ, quy mô hộ 5 người/hộ và tỷ lệ tăng dân số là 1%, mật độ trung bình khoảng 150 người /km2

Tập quán canh tác chủ yếu phát nương làm rẫy, du canh, du cư Trình độ dân trí còn hạn chế Đa số thanh niên có học vấn phổ thông trung học cơ sở, số người tốt nghiệp phổ thông trung học ít, người có trình độ đại học, cao đẳng rất hiếm, sản xuất tự cung, tự cấp Đây là ảnh hưởng bất lợi của nhân tố con người đến phục hồi tài nguyên đất

Tuy nhiên trong những năm qua, kinh tế - xã hội có những bước phát triển khá toàn diện, đạt được nhiều thành tựu to lớn Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được nâng lên đáng kể Là một xã miền núi, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 17%, tổng sản lượng lương thực đạt 58.000 tấn, thu nhập bình quân đầu người trung bình đạt 7,3 triệu đồng/năm Số hộ có kinh tế khá, giàu 1.200 hộ, chiếm 41%; số hộ trung bình khá

Trang 23

1.540 hộ chiếm 53,5%; tỉ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới trên địa bàn xã là 157

hộ chiếm 5,4%; toàn xã không có hộ đói

Chính vì vậy, xã Cò Nòi đã có nhiều cơ hội để có thể phát triển kinh tế, bởi

có nhiều chương trình, dự án của nhà nước đang được triển khai ngày càng phát triển để áp dụng vào sản xuất và chương trình cho vay vốn với lãi xuất thấp của nhà nước

*Nhận xét: Với những số liệu đã nêu ở trên về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

cho thấy, huyện Mai Sơn nói chung, xã Cò Nòi nói riêng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, là nhân tố thuận lợi cho việc trồng trọt và chăn nuôi

Trang 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả điều tra thực trạng xử lý chất thải trong chăn nuôi gà

Kết quả điều tra một số gia trại, trang trại tại xã Cò Nòi của huyện Mai Sơn:

Bảng 4: Tình hình chăn nuôi của xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn trong năm

Qua số liệu điều tra tại bảng 4 cho thấy: tổng số gia cầm chăn nuôi của xã

là khá lớn Qua khảo sát địa bàn cho thấy, người dân đã nhận thức được việc phát triển chăn nuôi, cũng như vấn đề ô nhiễm do chất thải chăn nuôi gây ra Chính vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải chăn nuôi thải khá bức xúc

Hiện nay tại một số trang trại, gia trại đã có biện pháp xử lý ô nhiễm như thu gom chất thải hàng ngày, dọn rửa chuồng, sử dụng bể biogas, ủ phân đã phần nào giải quyết được vấn đề phân và chất thải chăn nuôi.Tuy nhiên, trong chăn nuôi trang trại, gia trại với số lượng lớn vấn đề ô nhiễm mùi và các khí thải độc hại thì vẫn chưa được giải quyết triệt để

3.2.Thử nghiệm dùng men vi sinh BIOMIC II trong chăn nuôi gà lấy thịt

ISAJA 57 tại Cò Nòi huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La

3.2.1 Đánh giá chất lượng vi sinh vật lên men lớp độn lót nền chuồng

3.2.1.1 Đánh giá chất lượng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trước thí nghiệm

Chất lượng của lớp độn lót nền lên men vi sinh vật có vai trò quyết định đến khả năng phân giải phân và giảm mùi trong chuồng nuôi Để đánh giá chất lượng của lớp độn lót lên men, chúng tôi dựa vào các chỉ tiêu kỹ thuật như đánh giá cảm quan, xác định nhiệt độ, độ ẩm, số lượng vi sinh vật tổng số của độn lót trước và sau khi thả gà Kết quả được trình bày ở bảng 5

Trang 25

Kết quả bảng 5 cho thấy: Ở cả hai đợt thí nghiệm, nhiệt độ của lớp độn lót tăng dần theo thời gian lên men và tỷ lệ thuận với sự tăng về số lượng vi sinh vật tổng số trong độn lót Điều này là do vi sinh vật trong quá trình lên men độn lót đã sản sinh một lượng nhiệt làm tăng nhiệt độ của lớp độn lót

Bảng 5 Chất lượng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trước khi thả gà

Đợt thí

nghiệm Chỉ tiêu theo dõi

Thời gian theo dõi (giờ)

27,44 ±3,22

32,65 ±1,48

32,13 ±2,68

30,27 ±2,41

76,17

±3,22

98,41 ±4,14

28,51

±1,94

34,74 ±1,42

34,143

±3,1

30,75 ±2,34

69,88

±2,24

106,10 ±4,82

89,47

±3,18 Kết quả bảng 5 cho thấy:

Ở cả hai đợt thí nghiệm, nhiệt độ của lớp độn lót tăng dần theo thời gian lên men và tỷ lệ thuận với sự tăng về số lượng vi sinh vật tổng số trong độn lót Điều này là do vi sinh vật trong quá trình lên men độn lót đã sản sinh một lượng nhiệt làm tăng nhiệt độ của lớp độn lót

Nhiệt độ của lớp độn lót tăng cao nhất ở thời điểm 72h sau đó có xu hướng giảm Cụ thể, nhiệt độ ở thời điểm 72h của đợt thí nghiệm I đạt 32,65o

C, của đợt thí nghiệm II đạt 34,74o

C Sự tăng nhiệt độ ở lớp độn lót là khi làm độn lót phải

Trang 26

sử dụng bột ngô để giúp tăng sinh số lượng tế bào và khi làm xong thì độn lót được phủ kín bạt để thực hiện quá trình lên men Bột ngô là nguồn dinh dưỡng có năng lượng lớn, thêm vào đó trong độn lót có một lượng oxi nhất định, có độ ẩm thích hợp và được phủ bạt để giữ nhiệt nên vi sinh vật trong độn lót có sự tăng sinh rất mạnh làm giải phóng năng lượng dưới dạng nhiệt làm cho nhiệt độ trong độn lót tăng lên Ở thời điểm 96 giờ, có nghĩa là sau 3 ngày lên men, nhiệt độ của độn lót đã bắt đầu giảm đi nhưng tốc độ giảm không lớn

Sự giảm nhiệt độ trong độn lót chủ yếu là do năng lượng trong bột ngô đã bị tiêu hao không còn bao nhiêu, quá trình sinh trưởng của vi sinh vật đã giảm nhiều cũng vì thế mà năng lượng nhiệt sinh ra không lớn, đồng thời nhiệt độ đã bắt đầu phát tán vào không khí nên nhiệt độ ở độn lót giảm đi

0 5 10 15 20 25 30 35 40

Hình 3.1 Nhiệt độ của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi

Độ ẩm của lớp độn lót có xu hướng giảm ở cả hai đợt thí nghiệm, cụ thể ở đợt thí nghiệm 1, độ ẩm độn lót giảm từ 38,45% tại thời điểm bắt đầu xử lý độn lót xuống 26,42 % ở thời điểm 96h, tương tự ở đợt thí nghiệm II giảm từ 40,05 % xuống 28,21% ở thời điểm 96h Thực tế độ ẩm ban đầu của độn lót là do chủ động khống chế khi làm độn lót ở mức 30-40% Nếu độn lót quá ẩm, trong điều kiện

Trang 27

hiếu khí thì sẽ nấm mốc sẽ phát triển Độ ẩm thấp và sự tác dụng của các vi sinh vật có ích sẽ tiêu trừ được mốc Độ ẩm của độn lót cũng giảm dần đi sau 4 ngày làm độn lót, đó là do nhiệt cao trong độn lót lên men làm bốc hơi nước

%

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45

Hình 3.2: Độ ẩm của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi

Độ ẩm không khí chuồng nuôi và độ ẩm của độn lót có ảnh hưởng lớn tới nồng độ khí ammoniăc trong chuồng gà do độ ẩm cao tạo điều kiện cho vi sinh vật yếm khí phân giải acid uric và tăng pH của độn lót Vì vậy, độ ẩm của độn lót nên giữ ở mức dưới 30% để hạn chế việc thải khí độc hại trong chuồng nuôi và đặc biệt giảm tỷ lệ mắc một số bệnh của gà như cầu trùng, tụ huyết trùng, viêm da bàn chân Glebocka, 2008[18]

Số lượng vi sinh vật trong chế phẩm ban đầu khi ủ với bột ngô để rắc lên lớp độn lót đếm được là 78,31 triệu TB/g (đợt TN I) và 69,25 triệu TB/g (đợt TN II) Ở thời điểm 12 giờ sau khi ủ độn lót, số lượng vi sinh vật tổng số đếm được là 42,36 triệu TB/g (đợt TN I) và 49,74 triệu TB/g (đợt TNII) Sở dĩ có sự giảm về số lượng như vậy có lẽ là do khi chuyển sang một môi trường mới một số vi sinh vật

Trang 28

không thích nghi sẽ chết, vi sinh vật cũng cần có một giai đoạn thích nghi, sau đó mới bắt đầu tăng trưởng Số lượng tế bào vi sinh vật đạt cao nhất ở thời điểm 72 giờ lên men với số lượng 98,41 triệu TB/g (đợt TNI) và 106,10 triệu TB/g (đợt TN II) Tại thời điểm này, lớp độn lót nền sờ ấm đều, có mùi của trấu, dăm bào, không

có mùi lạ như mốc, hắc, hôi thối Sau đó số lượng vi sinh vật bắt đầu giảm dần ở

cả hai đợt thí nghiệm có lẽ là vì nguồn dinh dưỡng vi sinh vật đã sử dụng từ bột ngô gần hết, khi bảo dưỡng độn lót xới không đều thiếu oxy làm cho một số vi sinh vật chết vì thế mà số lượng vi sinh vật giảm Như vậy, ở thời điểm này có thể thả gà vào được, không nên để thời gian ủ độn lót quá dài, dẫn đến hiện tượng số lượng vi sinh vật bị suy giảm quá lớn ảnh hưởng đến chất lượng của độn lót Trước khi thả gà vào nên bỏ bạt che và xới tơi lớp độn lót trước 1 hôm cho hơi nước bốc hơi bớt để độn lót không quá ướt làm ảnh hưởng tới sức khỏe của gà Sau khi thả gà một thời gian, số lượng vi sinh vật sẽ lại tăng lên do quá trình phân giải phân trong độn lót

Triệu/g

0 20 40 60 80 100

Ngày đăng: 01/04/2016, 12:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[11]. Amer AH., Pingel H., Hillig J., Soltan M., von Borell E. (2004), “Impact of atmospheric ammonia on laying performance and egg shell strength of hens housed in climatic chambers”, Archiv für Gefl ügelkunde, 68(3), pp. 120-125 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of atmospheric ammonia on laying performance and egg shell strength of hens housed in climatic chambers”, "Archiv für Gefl ügelkunde
Tác giả: Amer AH., Pingel H., Hillig J., Soltan M., von Borell E
Năm: 2004
[12].Akyuz A. and Boyaci S. (2010), “Determination of Heat and Moisture Balance for Broiler House”, Journal of Animal and Veterinary Advances, 9 (14), pp. 1899-1901 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determination of Heat and Moisture Balance for Broiler House”, "Journal of Animal and Veterinary Advances
Tác giả: Akyuz A. and Boyaci S
Năm: 2010
[13]. Attar, A.J. and J.T. Brake. (1988), “Ammonia control: Benefits and trade - offs”, Poultry Digest Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ammonia control: Benefits and trade - offs
Tác giả: A.J. Attar, J.T. Brake
Nhà XB: Poultry Digest
Năm: 1988
[14]. Büscher W., Hartung E., Kechk M. (1994), “Ammonia emission by different ventilation systems”, Animal waste management, Proceedings of the Seventh Technical Consultation on the ESCorEnA on Animal waste Management, Bad zwischenahn, Germany, pp 45-49, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ammonia emission by different ventilation systems
Tác giả: Büscher W., Hartung E., Kechk M
Nhà XB: Animal waste management
Năm: 1994
[15]. Blanes-Vidal V., M.N. Hansen, S. Pedersen, H.B. Rom. (2008),“Emissions of ammonia, methane and nitrous oxide from pig houses and slurry:Effects of rooting material, animal activity and ventilation flow”, J. Agriculture, Ecosystems and Environment, 124, pp. 237–244 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emissions of ammonia, methane and nitrous oxide from pig houses and slurry:Effects of rooting material, animal activity and ventilation flow
Tác giả: Blanes-Vidal V., M.N. Hansen, S. Pedersen, H.B. Rom
Nhà XB: J. Agriculture, Ecosystems and Environment
Năm: 2008
[16].Barnwell R. and Wilson M. (2005), “Importance of Minimum Ventilation”, International Poultry Production, 14, pp. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Importance of Minimum Ventilation
Tác giả: Barnwell R., Wilson M
Nhà XB: International Poultry Production
Năm: 2005
[17]. Gürdil G. A. K., Confined Space Hazards (1998), Air Contaminants in Livestock House. In: International Scientific Seminars: New Knowledge in Technological Equipment in Agricultural and Food Operations, TF ČZU, Praha, 2-3 Září, pp. 13-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Confined Space Hazards
Tác giả: Gürdil G. A. K
Nhà XB: TF ČZU
Năm: 1998
[18]. Kavolelis B., (2003), “Influence ventilation rate on ammonia concentration and emission in animal house”, Polish Journal of Environmental Studies, 12(6), pp. 709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influence ventilation rate on ammonia concentration and emission in animal house
Tác giả: Kavolelis B
Nhà XB: Polish Journal of Environmental Studies
Năm: 2003
[19]. McQuitty, J.B., Feddes, J.J.R. and .Leonard, J.J. (1985), “Air quality in commercial laying barns”, Canadian Agricultural Engineering, 27 (2), pp. 13-1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Air quality in commercial laying barns
Tác giả: McQuitty, J.B., Feddes, J.J.R., Leonard, J.J
Nhà XB: Canadian Agricultural Engineering
Năm: 1985
[20]. Ni, J.-Q., Heber, A.J., Diehl, C.A. and Lim, T.T. (2000), Ammonia, hydrogen sulphide and carbon dioxide release from pig manure in u nder-floor deep pits, J. Agric. Eng. Res, 77, tr.53-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ammonia, hydrogen sulphide and carbon dioxide release from pig manure in u nder-"floor deep pits
Tác giả: Ni, J.-Q., Heber, A.J., Diehl, C.A. and Lim, T.T
Năm: 2000
[22]. Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chăn nuôi trên nền đệm lót sinh thái. http://www.cucchannuoi.gov.vn/?index=h&id=924 28/9/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi trên nền đệm lót sinh thái
Tác giả: Cục Chăn nuôi – Bộ Nông nghiệp và PTNT
Năm: 2009
[23].Đệm lót sinh thái - lời giải cho ô nhiễm trong chăn nuôi. http://www.thiennhien.net/news/147/ARTICLE/13511/211-01-30.html 30/1/2011. Đai học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đệm lót sinh thái - lời giải cho ô nhiễm trong chăn nuôi
Nhà XB: Đai học Vinh
Năm: 2011
[24.] Hoàng Kim Giao, chăn nuôi trên nề đệm lót sinh thái. Tạp chí Chăn nuôi, 9/2009. www.lrc-tnu.edu.vn:8080/gsdl/collect/tchicnuo/index/assoc/.../doc.pdf[25].http://www.vietlinh.com.vn/lobby/agriculture_livestock_news_show.asp?ID=2045 Studies, 12(6), pp. 709 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chăn nuôi trên nề đệm lót sinh thái
Tác giả: Hoàng Kim Giao
Nhà XB: Tạp chí Chăn nuôi
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Bố trí thí nghiệm - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 1 Bố trí thí nghiệm (Trang 7)
Hình 3.1 Nhiệt độ của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.1 Nhiệt độ của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi (Trang 26)
Hình 3.2: Độ ẩm của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.2 Độ ẩm của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi (Trang 27)
Bảng 6. Chất lƣợng độn lót nền lên men sau khi thả gà lấy thịt  ISAJA 57 ở lô  thí nghiệm - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 6. Chất lƣợng độn lót nền lên men sau khi thả gà lấy thịt ISAJA 57 ở lô thí nghiệm (Trang 29)
Hình 3.4: Nhiệt độ đợt I ở các thời điểm theo dõi - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.4 Nhiệt độ đợt I ở các thời điểm theo dõi (Trang 30)
Hình 3.5. Nhiệt độ đợt II ở các thời điểm theo dõi - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.5. Nhiệt độ đợt II ở các thời điểm theo dõi (Trang 31)
Hình 3.6. Độ ẩm của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.6. Độ ẩm của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi (Trang 33)
Hình 3.7. Số lƣợng VSV của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.7. Số lƣợng VSV của lớp độn lót ở các thời điểm theo dõi (Trang 33)
Bảng  7. Kết quả xác định một số chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng  nuôi về nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
ng 7. Kết quả xác định một số chỉ tiêu về tiểu khí hậu chuồng nuôi về nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió (Trang 37)
Hình 3.9. Nồng độ khí CO 2  (%)  trong chuồng nuôi đợt II - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.9. Nồng độ khí CO 2 (%) trong chuồng nuôi đợt II (Trang 40)
Hình 3.8. Nồng độ khí  CO 2 (%) trong chuồng nuôi đợt I - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.8. Nồng độ khí CO 2 (%) trong chuồng nuôi đợt I (Trang 40)
Bảng 8. Kết quả xác định nồng độ một số khí độc trong chuồng nuôi - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 8. Kết quả xác định nồng độ một số khí độc trong chuồng nuôi (Trang 41)
Hình 3.10. Nồng độ khi NH3( ppm) chuồng nuôi đợt I - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.10. Nồng độ khi NH3( ppm) chuồng nuôi đợt I (Trang 43)
Bảng 9.  Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế - Sử dụng vi sinh vật lên men độn lót nền chuồng trong chăn nuôi gà thịt ISAJA 57 nhằm làm giảm ô nhiễm môi trường tại tiểu khu 4 cò nòi huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 9. Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w