1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la

74 583 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 890,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển, năng suất của 2 giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè: .... Tại Sơn La, người dân do thiếu hiểu biết

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

-****** -

KS QUÀNG THỊ VÂN THẢO

GV KHOA NÔNG LÂM

“ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN TRÊN MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU XANH TRỒNG VỤ HÈ TẠI XÃ CHIỀNG MUNG, HUYỆN MAI

SƠN, TỈNH SƠN LA”

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NĂM HỌC 2012 - 2013

SƠN LA - 2013

Trang 2

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

-****** -

KS QUÀNG THỊ VÂN THẢO

GV KHOA NÔNG LÂM

“ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN TRÊN MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU XANH TRỒNG VỤ HÈ TẠI XÃ CHIỀNG MUNG, HUYỆN MAI

SƠN, TỈNH SƠN LA”

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NĂM HỌC 2011 – 2012

CỘNG TÁC VIÊN: LÊ THỊ THẢO

GIẢNG VIÊN KHOA NÔNG LÂM

SƠN LA - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 3

2.1 Nghiên cứu đậu xanh trên thế giới: 3

2.2 Nghiên cứu đậu xanh trong nước: 7

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 11

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 11

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 11

5.1 Thí nghiệm 1: 11

5.2 Thí nghiệm 2: 12

5.3 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm : 13

5.3.1 Thời vụ và mật độ 13

5.3.2 Phương pháp bón phân 13

5.4 Các chỉ tiêu theo dõi : 14

5.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển 14

5.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất 14

5.4.3 Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu 15

5.5 Phương pháp xử lý số liệu: 16

6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 16

7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 16

8 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI: 16

9 KẾ HOẠCH THỜI GIAN: 16

NỘI DUNG 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 17

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 19

2.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu trên thế giới: 19

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam: 20

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

Trang 4

3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển, năng suất của 2 giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè: 25 3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh thí nghiệm (đơn vị: ngày) 25 3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm hình thái của hai giống đậu xanh thí nghiệm: 26 3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của hai giống đậu xanh thí nghiệm: 28 3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng tích lũy chất khô của 2 giống đậu xanh 30 3.1.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến số lượng và khối lượng nốt sần của hai giống đậu xanh thí nghiệm: 31 3.1.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm sâu bệnh của hai giống đậu xanh thí nghiệm 32 3.1.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất của hai giống đậu xanh thí nghiệm 34 3.1.8 Ảnh hưởng của mật độ đến năng suất của 2 giống đậu xanh 36 3.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng phát triển, năng suất của 2 giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè: 38 3.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh thí nghiệm: 38 3.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến đặc điểm hình thái của hai giống đậu xanh thí nghiệm: 39 3.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chỉ số diện tích lá của 2 giống đậu xanh 41 3.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến khả năng tích lũy chất khô của

2 giống đậu xanh 42 3.2.5 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến sự hình thành nốt sần của hai giống đậu xanh thí nghiệm: 44 3.2.6 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh của 2 giống đậu xanh 46

Trang 5

3.2.7 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến số các yếu tố cấu thành năng

suất của 2 giống đậu xanh 47

3.2.8 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến năng suất của 2 giống đậu xanh: 49

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52

4.1 Kết luận: 52

4.2 Kiến nghị: 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

AVRDC Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau quả Châu Á

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

IRRI Viện nghiên cứu lúa quốc tế

Trang 7

phẩm có thời gian sinh trưởng ngắn (63 – 75 ngày), dễ trồng, đặc biệt ở ĐB SCL

có thể trồng đậu xanh luân canh trên đất lúa Trồng đậu xanh còn giúp bồi dưỡng và cải tạo đất tốt nhờ xác bã, thân, lá để lại cho đất (tương đương 8 – 15 tấn/ha phân xanh) và các nốt sần ở rễ cung cấp đạm cho cây (tương đương 20 –

40 kg N/ha, hay 42 – 85 kg phân Ure/ha) Nhờ đó mà sau mùa đậu đất càng trở nên màu mỡ hơn (Dương Minh, 1999) [14]

Về phương diện dinh dưỡng, hạt đậu xanh có chứa nhiều chất dinh dưỡng như: protein (21 – 24%), lipid (1 – 4%), đường bột (57 – 58%), 4 – 5% các chất khác và các sinh tố nhóm B Giá đậu xanh (1 kg đậu hạt có thể ủ được 7 – 8 kg giá) còn chứa nhiều sinh tố B và các sinh tố khác nên có giá trị để thay thế một

số rau tươi và các mùa vụ thiếu rau, giá đỗ lại có thể tồn trữ và sản xuất dễ dàng Hạt đậu xanh là loại nông sản quen thuộc được dùng rộng rãi trong nhân dân để làm thực phẩm (chè, xôi, cháo, bánh ếch, bánh tét, bún tàu (miến), kẹo, bánh, rau sống (giá đậu), bánh mì (Điêu Thị Mai Hoa, 2007) [8]

Protein đậu xanh chứa đầy đủ các axit amin không thể thay thế và là nguồn protein thực vật dễ tiêu hóa Bằng kết quả nghiên cứu chế biến, các nhà khoa học thuộc trường Đại học Kaset sart (Thái Lan) cho rằng đậu xanh có thể chế biến thành các hỗn hợp thực phẩm giàu protein có giá trị dinh dưỡng cao với giá thành hạ nhất Sự kết hợp của bột đậu xanh với bột gạo, bột mì, vừng và các gia vị khác có thể tạo thành các món ăn cao cấp thay cho các sản phẩm chế biến

từ sản phẩm chăn nuôi Vì vậy thực phẩm chế biến từ đậu xanh có giá trị kinh tế cao đối với sức khỏe con người Do có giá trị dinh dưỡng cao nên đậu xanh dùng để sản xuất nhiều loại thực phẩm cho người già, trẻ em suy dinh dưỡng Trong nhiều trường hợp đậu xanh còn được sử dụng làm thuốc và giải độc (Đỗ Tất Lợi, 1977) [13]

Trong hạt đậu xanh, các phân tử protein chiếm khoảng 23 - 28% và được chia thành hai nhóm: nhóm protein đơn giản và nhóm protein phức tạp Trong nhóm

Trang 8

2

protein đơn giản chủ yếu là globulin, chiếm từ 60 - 80%, còn lại là albumin và một số loại khác Chức năng chính của protein dự trữ là cung cấp amino acid và nitơ cho quá trình nảy mầm của hạt Protein đậu xanh có chứa đầy đủ các tính chất chung nhất của protein Ngoài ra, protein đậu xanh còn có một số tính chất riêng biệt như khả năng hút nước và dầu tạo nhũ tương, khả năng hoà tan trong nước Đó là một trong những yếu tố quan trọng trong nghiên cứu và công nghệ sản xuất các sản phẩm từ đậu xanh (Nguyễn Xuân Thành, 1989 – 1991) [20]

Protein đậu xanh được đánh giá là có chất lượng tốt do có chứa đầy đủ các amino acid không thay thế và hàm lượng của chúng tương đối trùng với tiêu chuẩn dinh dưỡng dành cho trẻ em do tổ chức nông lương thế giới (FAO)

và tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra (Vander Maesen L J G, 1996) [31]

Lipid là những hợp chất hữu cơ có trong tế bào sống, không hoà tan trong nước nhưng tan trong các dung môi hữu cơ không phân cực như ether, petroleum ether, benzen Lipid cũng là thành phần cấu tạo quan trọng của màng sinh học, là nguồn dự trữ nhiên liệu cung cấp năng lượng cho cơ thể Lipid cùng với protein và polysaccarid cung cấp năng lượng cho sự nẩy mầm của hạt Tuy hàm lượng lipid trong hạt đậu xanh chiếm tỷ lệ thấp (trung bình khoảng 1,3%), nhưng đó lại là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá phẩm chất

và khả năng bảo quản hạt (Trần Đình Long, 1998) [12]

Cây đậu xanh có thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng được trên nhiều loại đất khác nhau Đây là cây trồng dễ tính, có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á Do ưu thế và chu kỳ sinh trưởng ngắn ngày, kỹ thuật thao tác đơn giản, nên đậu xanh dễ tham gia vào các cơ cấu luân canh tăng vụ, trồng xen, trồng gối với nhiều loại cây trồng khác nên ngày càng được phát triển mạnh ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới Ở khu vực Đông Nam Á, cây đậu xanh được phát triển mạnh ở Ấn Độ, Thái Lan, Philippin, Đài Loan,…Cây đậu xanh ngày càng được quan tâm và phát triển ở Việt Nam cũng như toàn thế giới do giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao Nước ta gần đây cơ bản đã giải quyết xong vấn đề đói lương thực, nhưng vấn đề dinh dưỡng protein vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn nên đòi hỏi chúng ta phải có hướng giải quyết đúng đắn bằng con đường protein thực vật mà trước hết là cây họ đậu (Nguyễn Hữu Quán, 1994) [18]

Trang 9

3

Hiện nay, hạt đậu xanh tiêu thụ rất mạnh ở các nước như Đài Loan, Philippin, Ấn Độ, Thái Lan và nhất là nước ta Đối với khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, diện tích cây đậu hàng năm khoảng 10.000 ha Mặc dù, diện tích sản xuất cây đậu xanh ở các tỉnh duyên hải miền Trung và Tây Nguyên không thể so sánh với cây lạc và đậu tương, tuy nhiên đậu xanh cũng là cây thực phẩm đem lại hiệu quả kinh tế cao Năng suất đậu xanh bình quân toàn vùng đạt khoảng 12 - 13 tạ/ha Do nhiều công dụng và dễ sử dụng nên đậu xanh được trồng rộng rãi trong nhân dân (Dương Minh, 1999) [14]

Muốn trồng và sản xuất đậu xanh có hiệu quả kinh tế cao, cần phải có các giống mới năng suất và chất lượng cao, đồng thời áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh hợp lý Tại Sơn La, người dân do thiếu hiểu biết về giá trị dinh dưỡng của đậu xanh, chưa có sự đầu tư thâm canh hợp lý, vì vậy năng suất và sản lượng trồng đậu xanh còn thấp, cũng do chưa áp dụng đúng các biện pháp kỹ thuật như bố trí mật

độ, phân bón hợp lý cho từng giống đậu xanh vì thế chưa phát huy hết tiềm năng của các giống.Trong thực tế đã có những kết quả nghiên cứu về mật độ và phân bón cho một số giống đậu xanh phổ biến, song với mục đích so sánh để có lựa chọn về mật

độ và liều lượng phân bón thích hợp cho giống mới đưa vào sản xuất tại địa phương góp phần cải thiện năng suất đậu xanh của huyện Mai Sơn nói riêng và của toàn tỉnh Sơn La nói chung, từ thực tế đó tôi tiến hành thực hiện đề tài:

''Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên

một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã Chiềng Mung,

huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La''

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

2.1 Nghiên cứu đậu xanh trên thế giới:

Hiện nay trên thế giới có nhiều trung tâm, cơ quan, viện nghiên cứu đã và đang nghiên cứu về cây đậu xanh Đặc biệt trung tâm AVRDC là trung tâm có tập đoàn đậu xanh lớn nhất thế giới (khoảng 250.000 mẫu), AVRDC đã nghiên cứu ảnh hưởng mật độ đến năng suất và cho rằng: “ những giống có tỷ lệ đẻ nhánh thấp sẽ được trồng dày lên, nghĩa là tăng mật độ trong quần thể dẫn đến năng suất” Chương trình AVRDC có những tập hợp khác nhau về nguồn vật liệu dùng cho đậu xanh thích ứng với các vùng khác nhau Mục tiêu của AVRDC là chọn ra giống có tính thích ứng rộng, năng suất cao, chín sớm, tập chung, nâng cao chất

Trang 10

4

lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh Theo hướng này mà các tổ hợp lai của AVRDC thường có giá trị cao về năng suất, do đó các giống đã được chọn lọc và trồng khắp nơi trên thế giới của AVRDC và các dòng chiếm 70% các giống cải tiến ở Châu Á Hiện nay AVRDC đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trong việc tạo ra nguồn vật liệu quý cho các nước trong khu vực, nhanh chóng đáp ứng giống mới cho sản xuất (http://avrdc.org/) [35]

Năm 1972 Trường Đại học Missouri thành lập mạng lưới thử nghiệm đậu xanh quốc tế (IMN), cơ sở này đã đánh giá được sự tương tác giữa giống

và môi trường Kết quả thử nghiệm đã thu được 1 số kiểu gen có năng suất cao, thích ứng rộng và trường Đại học Missouri đã lai tạo được giống có tỷ lệ đâm nhánh năng suất cao (Lin Y.H, Yao W.H, 1996) [27]

Năm 1990 – 1992 Thái Lan đã đưa ra giống chín tập chung, thu hoạch 1 lần, đây được coi là một bước đột phá trong công tác chọn giống đậu xanh nhằm đưa cơ giới hóa vào sản xuất cũng như việc mở rộng diện tích trồng đậu xanh (Lairunggreang.C,1990) [26]

Ở Philippin, Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) và Đại học Nông nghiệp đã nghiên cứu, lai tạo các giống đậu xanh thích hợp với điều kiện canh tác trên đất lúa, đưa cây họ đậu ngắn ngày vào chế độ luân canh vùng lúa, tạo điều kiện nâng cao năng suất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân (SURADIO.VN, 1986) [30]

Bên cạnh các nghiên cứu lai tạo các giống đậu xanh năng suất cao, chín tập chung, phòng trừ sâu bệnh,… thì cũng có một số nhà khoa học đã nghiên cứu tỉ mỉ về cây đậu xanh, về các đặc điểm như sinh thái học, khả năng chống chịu, khả năng cố định nitơ phân tử và nhiều đặc tính khác,… Ngoài ra nghiên

cứu về vi khuẩn Rhizobium Vigna cộng sinh với rễ đậu cũng là một bước tiến

mới trong việc nghiên cứu về cây đậu xanh, góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất hạt (Nguyễn Xuân Thành, 1989 – 1991) [20]

Năm 1982 – 1984 Ấn Độ đã thí nghiệm nhiễm khuẩn cho đậu xanh trên đất có pH 4,8 – 5,6 (có bón vôi), kết quả cho thấy làm tăng năng suất đậu xanh lên 0,14 tấn/ha, tăng lượng đạm trong cây lên 4% so với đối chứng nhiễm khuẩn (Rathose S.S etall, 1980) [29]

Trang 11

5

Năm 1988 – 1989 ở Indonexia đã nghiên cứu hiệu quả của việc nhiễm khuẩn cho đậu xanh, làm tăng năng suất hạt lên 0,16 tấn/ha và làm tăng hàm lượng protein cho hạt lên 1,27% Nhờ khả năng cộng sinh với vi khuẩn cố định nitơ phân tử mà cây họ đậu sẽ để lại cho đất từ 60 – 300 kg N/ha/năm (Ignacimutthu and CR Babu, 1991) [25]

Vander Maesen L J G (1996) [31] cho rằng trong điều kiện dài ngày, cây đậu xanh có thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực cân đối, dễ cho năng suất cao, nhất là gặp điều kiện dài ngày và nhiệt độ không khí cao Đây là một trong những nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến năng suất đậu xanh AVRDC cho rằng năng suất của cây tăng lên cùng với

sự tăng lên của bức xạ

Khi nghiên cứu thành phần dinh dưỡng của hạt, thân, lá và công dụng của cây đậu xanh trong hệ thống trồng trọt, các tác giả phương tây đã ví đậu xanh như thịt cho người nghèo bởi lẽ nó có cho nguồn protein nhanh nhất mà

số lượng lại cao Cứ 100g đậu xanh có 24,42g protein; 1,3g lipit; 60,2g gluxit; cung cấp 340 calo, ngoài ra còn chứa các loại muối khoáng như Ca, P, Fe, Na,

K và các vitamin như A, B1, B2, C, PP với hàm lượng tương đối lớn (Trần Đình Long, 1998) [12]

Ở Ấn Độ người ta khẳng định rằng trồng cây đậu xanh xen cao su có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn, cố định được lượng đạm lớn cung cấp cho cây cao su trong thời kỳ trồng mới và kiến thiết cơ bản Cây đậu xanh là cây trồng xen tốt với ngô, cùng mật độ ngô nhưng sử dụng khoảng cách trồng xen đậu xanh thì năng suất thu được 24,9 tạ ngô và 3,3 tạ đậu xanh so với trồng không là 19,2 tạ ngô/ha (Rathose S.S etall, 1980) [29]

Để phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai thì hướng nghiên cứu chủ yếu là chọn lọc, cải tạo, để tạo ra giống có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chín tập chung phù hợp với hệ canh tác đa canh, luân canh, tăng vụ Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau mầu Châu Á hiện lưu giữ gần 30000 giống đậu xanh Mỗi năm đưa ra khảo nghiệm trên mạng lưới khảo nghiệm giống quốc tế hàng trăm dòng lai thuộc nhóm năng suất cao, chín sớm, chịu hạn, chống chịu bệnh,… Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau mầu Châu Á

Trang 12

6

hiện là cơ sở nghiên cứu đậu xanh lớn nhất Châu Á Tại đây đã tạo ra các giống đậu xanh cho năng suất cao 2 – 3 tấn/ha nếu thâm canh tốt, điển hình là dòng lai VC2768A là kết quả lai kép của 4 giống Năm 1982 dòng này được tuyển chọn

và đưa vào mạng lưới khảo nghiệm quốc tế của AVRDC và là một trong hai dòng lai có năng suất cao nhất trong tập đoàn Ở các thí nghiệm khu vực, VC2768A luôn là dòng ưu tú có năng suất cao, năm 1983 ở Newzealand, Pakistan, Nepan cũng thử nghiệm và đánh giá đây là một dòng có triển vọng và VC2768A nhanh chóng được một số nước chọn lọc tạo thành giống của mình như Thái Lan (psu 1), Việt Nam (044) Việc hợp tác giữa các nước và trung tâm nghiên cứu phát triển rau màu Châu Á có vai trò quan trọng trong việc tạo ra giống đậu xanh thích hợp với từng vùng sinh thái với năng suất cao và thời gian gieo trồng ngắn Ví dụ như ở Pakistan đã tạo ra được giống đậu xanh có năng suất 2,5 tấn/ha và thời gian sinh trưởng khoảng 60 – 70 ngày (http://www.wisard.org) [33]

Theo một báo cáo gần đây của trung tâm nghiên cứu và phát triển rau mầu Châu Á về việc Trung Quốc phát triển được giống đậu xanh có năng suất rất cao so với năng suất truyền thống trước đây, giống mới có năng suất từ 1,8 – 2,2, tấn/ha, cao gấp 4 lần so với năng suất bình quân trước đây (http://www.Avrdc.org.vn/news/04greenpearl.htm) [34]

Ngoài ra Viện nghiên cứu cây trồng nhiệt đới bán khô hạn (ICRISAT) và viện khoa học nông nghiệp Ấn Độ chủ yếu nghiên cứu giống đậu xanh chịu hạn

để cung cấp cho những vùng sản suất đậu xanh không được tưới, vùng khô hạn

Ấn Độ đều là những trung tâm nghiên cứu lớn về đậu đỗ Họ đã đạt được khá nhiều thành tựu về lĩnh vực này, không những trên đất khô cằn mà còn nghiên cứu trên cả đất lúa (Ignacimutthu and CR Babu, 1991) [25]

Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã tập chung nghiên cứu chọn tạo giống đậu xanh thích hợp với chế độ luận canh của vùng sản xuất Phippin , theo hướng này một số giống chịu ẩm đã được chọn tạo Đồng thời tác giả cũng đề xuất mô hình các giống thích hợp với mô hình canh tác lúa – đậu Việc trồng xem giữa lúa cạn và đậu xanh đã thu được kết quả tương đối khả quan, năng suất lúa xen đậu đạt 73 – 87%, đậu xanh đạt 59 – 99% so với lúa trồng thuần

Trang 13

7

Tại Nhật Bản thì các nhà chọn giống chú ý đến những giống cho năng suất giá

đỗ cao, giàu chất dinh dưỡng (Lairunggreang.C ,1985) [26]

2.2 Nghiên cứu đậu xanh trong nước:

Theo Nguyễn Mạnh Chính, Nguyễn Mạnh Cường (2008) [1], thực tế ở nước ta cuộc cách mạng về giống đậu xanh được bắt đầu từ khi nhập nội các giống, các dòng của AVRDC Nhập nội giống có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác giống cây trồng, thông qua các thao tác nhập nội giống sẽ làm cho nguồn giống trong nước phong phú thêm nhiều chi, nhiều loài Thời kỳ 1976 – 1978 bắt đầu có vài giống của AVRDC tham gia trong tập đoàn giống đậu xanh nhập nội Viện Cây lương thực đã giới thiệu giống ĐX102 là dòng cho năng suất cao của AVRDC Một tập đoàn giống đậu xanh phong phú được thu thập vào năm 1988 với 51 dòng lai chủ yếu của AVRDC và một số nước Đông Nam Á (Thái Lan, Philippin, Indonexia, ) Điều này đã thúc đẩy diện tích trồng đậu xanh, tạo điều kiện cho cây đậu xanh tham gia nhiều chế độ luân canh, trồng xen,… tăng hiệu suất sử dụng đất, tăng năng suất, nâng cao hiệu quả Hiện nay nước ta có nhiều trung tâm nghiên cứu lớn về cây đậu đỗ trong đó có đậu xanh như:

+ Trung tâm đậu đỗ thuộc Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam + Viện nghiên cứu ngô thuộc Viện khoa học nông nghiệp kỹ thuật Việt Nam + Bộ môn đậu đỗ thuộc Viện khoa học nông nghiệp kỹ thuật Việt Nam + Trường Đại học nông nghiệp Hà Nội

+ Bộ môn đậu đỗ thuộc Viện nghiên cứu rau quả

Hướng nghiên cứu tập chung chủ yếu vào chọn lọc và nhập nội các giống đậu xanh mới, ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng thích ứng rộng với điều kiện Việt Nam

Bên cạnh việc chọn lọc, nhập nội và lai tạo, các nghiên cứu về đặc điểm sinh học thời vụ, cố định đạm của cây đậu xanh đã góp phần vào việc cải thiện giống đậu xanh của nước ta hiện nay

Với mục đích muốn phát triển đậu đỗ để tăng sản lượng 500000 –

600000 tấn/năm giai đoạn 1986 – 1985 đã có 4 đề tài cấp Nhà nước được triển khai về chọn tạo giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh đậu đỗ Quá trình chọn tạo giống được tiến hành ở nhiều trung tâm nghiên cứu từ bắc vào nam

Trang 14

8

Một số giống đậu xanh đã được tạo ra đáp ứng tốt yêu cầu về năng suất cũng như điều kiện canh tác Một trong số đó phải kể đến giống đậu xanh ĐX044 do Tiến Sĩ Nguyễn Thế Côn – Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội và các cộng tác viên chọn lọc cá thể từ giống đậu xanh nhập nội 2768A của Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau mầm châu á, giống đậu xanh ĐX044 được công nhận là giống quốc gia năm 1990, thời gian sinh trưởng của giống là 75 –

90 ngày, hạt hình bầu dục, màu xanh vàng bóng, năng suất trung bình 11 – 13 tạ/ha (Nguyễn Thế Côn, 1994) [2]

Bên cạnh việc nghiên cứu các giống mới và việc cải tiến các biện pháp kỹ thuật thì việc bảo tồn nguồn gen và sự đa dạng của các giống địa phương cũng rất quan trọng, nó là nguồn vật liệu quý giá để phục vụ công tác an ninh lương thực lâu dài Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam cũng đang có dự án về bảo tồn các nguồn gen cây trồng trong đó có đậu xanh nhằm xác định các vùng phong phú về

đa dạng sinh học nông nghiệp ở mức loài và quần thể nhằm cải thiện việc quản lý nông dân và các cộng đồng địa phương: đưa ra các chiến lược bảo tồn phù hợp với tình trạng và mô hình đa dạng cụ thể đối với các loài bản địa khác nhau cũng như các họ hàng hoang dại của chúng, khôi phục các kiến thức cổ truyền, xây dựng các kỹ thuật xác định tính đa dạng sinh học và tăng cường việc quản lý đa dạng sinh học nông nghiệp trong các cộng đồng nông nghiệp và các cơ quan liên quan đến việc bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp, thiết lập các chính sách, các tiêu chuẩn và cơ chế riêng để bảo tồn đa dạng sinh học nông nghiệp tại các vùng được bảo vệ, trên các cánh đồng nông nghiệp và các vùng quan trọng khác, tạo ra các công cụ giám sát tài chính và bảo vệ đa dạng sinh học nông nghiệp (http://www.undp.org.vn) [36]

Cùng với việc nghiên cứu các biện pháp trồng trọt và bảo tồn nguồn gen đậu xanh thì việc nghiên cứu các giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của các sản phẩm được chế biến từ đậu xanh cũng rất quan trọng Đó là các thực phẩm như bánh đậu xanh, sữa đậu xanh, miến,… các sản phẩm được chế biến từ đậu xanh

từ lâu đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,… Công ty Acecook Việt Nam đã nghiên cứu và điều chỉnh các sản phẩm được làm từ đậu xanh sao cho phù hợp với thị hiếu người tiêu dung không chỉ

Trang 15

Khi theo dõi về chiều cao cây, Bùi Việt Nữ, 1995 [17] cho rằng trong vụ

hè và vụ đông chiều cao cây cho năng suất tối ưu thường dao động trong khoảng 55 đến 70cm Khi nghiên cứu chiều cao cây của đậu xanh ở miền bắc Việt Nam, (Trần Đình Long, 1998) [12] cho rằng chiều cao cây cho năng suất cao nhất khoảng 50cm

Cũng từ một số mô hình trồng xen với ngô, cách 1 – 2 hàng ngô giống mới (BH2, ngô lai BL2) xen với 4 – 6 hàng đậu xanh (HL93 - E3) Mỗi ha thu được 1,8 – 3,5 tấn ngô hạt khô và từ 0,6 – 1 tấn hạt đậu xanh Đây là một hướng mới cho sản xuất đậu xanh ở nước ta, mô hình này vừa tăng được hệ số

sử dụng đất, vừa đảm bảo được năng suất, lợi nhuận tăng rõ rệt so với việc trồng thuần ngô hoặc đậu xanh, ít bị rủi ro của thiên tai và biến động của thị trường (Hoàng Kim và cộng sự, 1994) [10]

Đào Quang Vinh và CTV, 1993 [24] kết luận số quả trên cây có tương quan chặt với năng suất, nhưng biến động lớn theo điều kiện môi trường Còn Bùi Việt Nữ, 1995 [17] cho rằng, chọn giống đậu xanh nên chú ý đến số quả vì

Trang 16

10

chúng tương quan chặt với năng suất

Nguyễn Hữu Quán, 1994 [18] còn đề cập và nghiên cứu một số bệnh chính ở cây đậu xanh như:

+ Thối rễ do nấm Sekevitium

+ Mốc sương do nấm Erisili polygoni

+ Gỉ sắt do nấm Uromyces appendiculatas

+ Đốm lá do nấm Lerospara spp và Maerophomia Seabi

+ Bệnh vàng lá, xoăn lá, hoa lá, chuột hoa do Virus gây ra

Nguyễn Thế Côn, 1994 [2] đã nghiên cứu điều kiện sinh thái một số vùng đồng bằng, trung du bắc bộ Các nghiên cứu về khảo sát giống, so sánh giống có ưu thế về năng suất để chọn lọc và đưa vào sản xuất thí điểm các thời

vụ trồng đậu xanh hợp lý ở các vụ xuân, hè, hè thu Trên cơ sở giải quyết một

số khâu kỹ thuật như giống, thời vụ, nhằm khai thác các điều kiện tự nhiên, nâng cao năng xuất đậu xanh trong sản xuất và đề ra một số công thức luân canh cho cây ở vụ hè, hè thu ( đây là vụ thích hợp nhất cho cây trên đất 3 vụ) Ông đã đưa ra một số thời vụ thích hợp cho cây đậu xanh như:

+ Vụ xuân gieo khoảng 8 – 20/3

+ Vụ hè gieo khoảng 25/5 – 15/6

+ Vụ đông gieo khoảng 15 – 25/9

Những vụ gieo sớm vào đầu tháng 3, do nhiệt độ thấp dẫn đến kéo dài thời gian sinh trưởng, tỷ lệ cây con bị lở cổ rễ cao Gieo muộn tháng 4 đậu xanh bị giảm năng suất do bị ngập mưa lớn (tháng 5, 6) làm giảm số hạt trên quả và số quả trên cây

Thực hiện chính sách “ đổi mới quản lý nông nghiệp” trong 10 năm gần đây, nông nghiệp Việt Nam đã có những bước tiến bộ vượt bậc Nước ta từ một nước thường xuyên phải nhập khẩu lương thực mà nay đã là nước xuất khẩu đứng thứ 2 trên thế giới Trong thành tựu chung này có phần đóng góp tích cực của phân bón nói chung và phân hóa học nói riêng Hiện nay theo chủ trương của Đảng và Nhà nước sản xuất nông nghiệp cần tập chung theo hướng vừa có sản phẩm nhiều về số lượng vừa phải chú ý nâng cao chất lượng Trong sản xuất để đạt được mục tiêu này việc sử dụng phân bón cân đối và hợp lý giữ vị

Trang 17

11

trí rất quan trọng

Trong nhóm cây họ đậu thì cây đậu xanh là một trong những cây có giá trị về dinh dưỡng cũng như có giá trị về kinh tế, đây cũng là cây có tác dụng cải tạo đất mà thời gian sinh trưởng lại ngắn Cũng như các cây họ đậu khác cây đậu xanh cần được cung cấp đủ về lượng và đúng tỷ lệ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết Việc cung cấp một lượng đạm và lân nhất định cho cây đậu xanh ngay từ giai đoạn đầu rất có ý nghĩa, vì đây là những điều kiện cần để giúp vi khuẩn nốt sần hoạt động có hiệu quả Khi nghiên cứu khả năng cộng sinh của vi khuẩn nốt sần, Nguyễn Xuân Thành, (1989 – 1991) [20] cho rằng nếu nhiễm khuẩn thì số nốt sần hữu hiệu tăng lên, năng suất chất xanh cũng như năng suất hạt tăng lên rõ rệt

Theo Trần Văn Lài và cộng sự, 1993 [11] sử dụng Nitrazin cho đậu xanh làm tăng năng suất từ 17 – 20%, ở đất bạc màu trên nền bón lân, kali đầy đủ, nhiễm khuẩn có hiệu lực cao nhất khi bón đạm ở 20 – 30 kg/ha, làm năng suất tăng từ 39,5 - 47,9%

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Đề tài nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu xanh nhằm xác định được mật độ trồng và liều lượng phân bón hợp lý cho một số giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè tại xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống đậu xanh

- Đánh giá ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng, phát triển

và năng suất của một số giống đậu xanh

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

5.1 Thí nghiệm 1:

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống đậu xanh ĐX 208 và ĐX11 trong điều kiện vụ hè trên đất Chiềng Mung, Mai Sơn, Sơn La

- Giống đậu xanh thí nghiệm: sử dụng 2 giống đậu xanh phổ biến là ĐX

Trang 18

- Thời gian gieo trồng: tháng 6/2012

- Cách bố trí thí nghiệm: thí nghiệm 2 nhân tố, gồm 4 công thức, bố trí theo phương pháp split - plot với 3 lần nhắc lại

Nhân tố chính là mật độ (ô nhỏ) gồm các mức mật độ:

+ MĐ1: mật độ 25 cây/m2

(đối chứng) + MĐ2: mật độ 35 cây/m2

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến sinh trưởng phát triển

và năng suất của giống đậu xanh ĐX208 và ĐX11 trong điều kiện vụ hè trên đất Chiềng Mung, Mai Sơn, Sơn La

- Giống thí nghiệm: sử dụng 2 giống là ĐX208 và ĐX11

- Thời gian gieo trồng: tháng 06/2012

- Phân bón nền cho 1ha: bón 8 tấn phân chuồng + 400kg vôi bột/1ha

- Cách bố trí thí nghiệm: thí nghiệm 2 nhân tố, với 4 công thức, bố trí theo kiểu Spit - plot với 3 lần nhắc lại

Trang 19

Nhân tố chính là phân bón (ô nhỏ): với các mức bón:

+ PB1: nền (phân chuồng: 8 tấn/ha; vôi bột 400 kg/ha) (ĐC)

Trang 20

14

K2O+ 400kg vôi bột/1ha

+ Thí nghiệm 2: bón theo các công thức đã thiết kế

- Cách bón: bón lót toàn bộ phân chuồng + phân lân + vôi bột

- Bón thúc khi cây ra 2 – 3 lá thật : bón toàn bộ lượng phân đạm và phân kali

5.4 Các chỉ tiêu theo dõi :

5.4.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển

- Thời gian gieo đến mọc (ngày): xác định khi có 50% cây trên ô mọc có 2

- Thời gian từ thu lần 1 đến tận thu (ngày): Tính từ khi bắt đầu thu hoạch lần 1 đến khi thu hoạch hết

- Chiều cao thân chính (cm): đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn, đo tại 5 điểm/ô, mỗi điểm đo 2 cây đại diện (mỗi ô đo 10 cây mẫu) Đo khi chuẩn bị thu hoạch đo tại đốt trên lá mầm, đo tại 5 điểm/ô, mỗi điểm đo 2 cây đại diện Đo cùng với đo chiều cao thân chính

- Chỉ số diện tích lá (m2 lá/ m2 đất): lấy ngẫu nhiên 5 cây ở mỗi công thức, tiến hành bằng phương pháp cân nhanh ở 3 thời kỳ bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ

và quả mẩy

- Tích lũy chất khô (g): cho cây mẫu vào tủ sấy trong 9 - 12 giờ sau đó đem cân lần 1, 30 phút sau đem cân lần 2 thấy hiện số lần 1, lần 2 không đổi là đạt Tiến hành lấy mẫu xác định ở 3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ và quả mẩy

- Nốt sần: đếm tổng số nốt sần, nốt sần hữu hiệu ở 3 thời kỳ bắt đầu ra hoa, thu lần 1 và tận thu mỗi ô lấy 5 cây đại diện để xác định Tính trung bình

5.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất

Trước khi thu hoạch mỗi ô thu 10 cây để đo đếm

Trang 21

15

- Tổng số cành cấp 1 trên cây: xác định vào thời kỳ thu hoạch, đếm số cành mọc từ thân chính của 10 cây mẫu/ô sau đó tính trung bình / cây

- Tổng số quả trên cây: đếm xác định tổng số quả của 10 cây mẫu/ô, sau

đó tính trung bình trên /cây

- Số quả chắc/cây (quả): đếm số quả chắc trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình 1 cây

- Xác định khối lượng 1.000 hạt (g): cân mỗi công thức 2 mẫu và mỗi mẫu cân

500 hạt rồi tính trung bình, cân xác định ở độ ẩm 12% và lấy 1 chữ số sau dấu phẩy

- Năng suất cá thể (g/cây): khối lượng hạt trung bình của 10 cây mẫu Năng suất cá thể = Khối lượng hạt 10 cây/10

- Năng xuất lý thuyết (tạ/ha)= Năng suất cá thể x mật độ x 10.000m2

- Năng suất thực thu (tạ/ha)= (Năng suất ô thí nghiệm/10m2) x 10.000m2

5.4.3 Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu

- Mức độ nhiễm sâu hại: được đánh giá theo 10TCN 468- 2005

+ Sâu cuốn lá: Tỷ lệ lá bị hại = Số lá bị cuốn/tổng số lá điều tra Điều tra

ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc

+ Sâu đục quả: Tỷ lệ quả bị hại = Số quả bị hại/tổng số quả điều tra Điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc

+ Sâu ăn lá: theo dõi như đối với sâu cuốn lá

- Mức độ nhiễm bệnh: được đánh giá theo 10TCN 468 - 2005

+ Bệnh gỉ sắt: đánh giá theo cấp bệnh từ 0-5

Cấp 0: là không bị bệnh Cấp 1: 1 - 5% diện tích lá bị bệnh Cấp 2: 6 - 10% diện tích lá bị bệnh Cấp 3: 11 - 25% diện tích lá bị bệnh Cấp 4: 26 - 50% diện tích lá bị bệnh Cấp 5: >50% diện tích lá bị bệnh + Bệnh lở cổ rễ (%): được tính bằng số cây bị bệnh/số cây điều tra (điều tra toàn bộ số cây/ô)

+ Bệnh đốm nâu, đốm đen: điều tra 10 cây/ô theo 5 điểm chéo góc vào thời điểm trước thu hoạch, phân cấp bệnh :

Rất nhẹ - cấp 1 < 1% diện tích lá bị hại

Nhẹ - cấp 3 1-5% diện tích lá bị hại

Trung bình - cấp 5 > 5 - 25% diện tích lá bị hại

Trang 22

6 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

* Giống đậu xanh: gồm 2 giống: Giống ĐX11: do trung tâm đậu đỗ,

viện cây lương thực thực phẩm chọn tạo; Giống đậu xanh cao sản ĐX208: được tuyển chọn từ giống địa phương ở miền Nam (công ty cổ phần giống cây trồng miền Nam)

* Phân bón: - Phân đạm ure (46% N)

- Phân lân lâm thao (Supe lân 16% P2O5)

- Kaliclorua (60% K2O)

- Phân chuồng hoai mục

7 PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

* Địa điểm nghiên cứu: xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

* Điều kiện đất đai: thí nghiệm được bố trí trên đất đồi tại xã Chiềng Mung, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La

8 CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài thực hiện theo đúng cấu trúc và trình bày đề tài NCKH cấp trường của phòng QLKH&QHQT

9 KẾ HOẠCH THỜI GIAN:

Thời gian thực

hiện

Nội dung

6/2012 Thiết kế mô hình thí nghiệm

6/2012 – 9/2012 Tiến hành các bước trồng, chăm sóc mô hình thí nghiệm 6/2012 – 10/2012 Điều tra, thu thập số liệu thí nghiệm 1

6/2012 – 10/2012 Điều tra, thu thập số liệu thí nghiệm 2

11/2012 – 3/2013 Viết bản thảo báo cáo

4/2013 – 5/2013 Sửa và nộp báo cáo

Trang 23

17

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

Cây đậu xanh là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đứng hàng thứ ba sau đậu tương và lạc Về dinh dưỡng, hạt đậu xanh là nguồn thực phẩm giàu đạm (khoảng 24 - 28%), ngoài ra, còn có lipid khoảng 1,3%, glucid 60,2%

và các chất khoáng như Ca, Fe, Na, K, P… cùng nhiều loại vitamin hoà tan trong nước như vitamin B1, B2, C Protein hạt đậu xanh chứa đầy đủ các amino acid không thay thế như leucine, isoleucine, lysine, methyonine, valine… Hạt đậu xanh không chỉ phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước

mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tinh rút protein (Trần Đình Long, 2011) [12]

Hạt đậu xanh được dùng để chế biến ra nhiều loại thực phẩm ngon, bổ, hấp dẫn như các loại bột dinh dưỡng, các loại bánh, chè, xôi đỗ và một số đồ uống… Lá non và ngọn của cây đậu xanh có thể được dùng để làm rau, muối dưa Thân lá xanh của cây đậu xanh dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, còn thân

lá già đem phơi khô, nghiền nhỏ làm bột dự trữ cho gia súc (Phạm Văn Thiều, 2001) [21]

Ngoài ra, đậu xanh còn có giá trị trong y học Hạt đậu xanh có vị ngọt, tính mát, không độc nên có tác dụng giải nhiệt, giải bách độc (Đỗ Tất Lợi, 1977) [13]

Cây đậu xanh có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng sinh trưởng mạnh, mỗi chu kỳ sinh trưởng kéo dài từ 60 - 90 ngày Mặt khác, yêu cầu kỹ thuật canh tác đơn giản, vốn đầu tư ít, thu hồi nhanh, có thể trồng nhiều vụ trong một năm Do đó, cây đậu xanh có thể được trồng xen, trồng gối, luân canh trên nhiều loại đất canh tác khác nhau (Phạm Văn Thiều, 2001) [21]

Trồng cây đậu xanh còn có tác dụng trong cải tạo và bồi dưỡng đất Đậu xanh là nguồn đạm sinh học quan trọng trong cơ cấu cây trồng luân canh bởi hệ rễ đậu xanh có các nốt sần chứa các vi khuẩn cộng sinh có khả năng cố định nitơ từ khí trời, cung cấp một phần đạm cho cây và để lại lượng đạm đáng kể trong đất sau khi thu hoạch Vì vậy, đất sau khi trồng đậu xanh sẽ trở nên tơi xốp và giàu dinh

Trang 24

18

dưỡng hơn (Nguyễn Xuân Thành, 1989 – 1991) [20]

Sơn la là một tỉnh trung du miền núi, diện tích đất chủ yếu là đồi núi, loại đất chủ yếu là đất feralit vàng đỏ nghèo dinh dưỡng, nên việc đưa cây đậu xanh vào sản xuất là cần thiết, tuy nhiên trên thực tế sản xuất đậu xanh ở đây còn nhiều hạn chế nên hiểu quả thu được từ cây đậu xanh chưa cao, điều này là do chưa có nhiều các giống mới thích hợp được đưa vào sản xuất, bên canh đó trình

độ thâm canh của người dân còn nhiều hạn chế như việc bố trí thời vụ, bố trí mật

độ khoảng cánh trồng, cũng như bón phân cho cây đậu xanh chưa hợp lý nên việc nghiên cứu để lựa chọn bộ giống mới, cũng như nghiên cứu đầy đủ về quy trình thâm canh đối với cây đậu xanh là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay đối với tỉnh Sơn La nói chung và huyện Mai Sơn nói riêng

Trang 25

19

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

2.1 Thực trạng vấn đề nghiên cứu trên thế giới:

Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau quả Châu Á (AVRDC) đã có tập đoàn giống đậu xanh lớn nhất thế giới với hơn 5000 mẫu giống, trong đó có giống cho năng suất 18 - 25 tạ/ha và thâm canh có thể đạt gần 40 tạ/ ha Mặt khác, giá trị sinh học của đậu xanh rất quan trọng, Lin Y.H (1996) [ 27] cho rằng phân đạm mà cơ thể cây đậu xanh hấp thụ và giữ lại được là 40,66% nên

có tác dụng rất tốt trong cải tạo, bồi dưỡng đất, vì sau khi trồng đậu xanh đất được tơi xốp và tăng được một lượng đạm khoảng 30 - 70 kg/ha Tuy nhiên, năng suất của cây đậu xanh rất thấp, khoảng 6 - 8 tạ/ha vì chưa được đầu

tư đúng mức nên gần đây nhiều nước đã chọn được giống cho năng suất bình quân 10 - 12 tạ/ha với các ưu điểm là hạt to, màu đẹp, thời gian sinh trưởng ngắn, chín tập trung, chống chịu một số sâu bệnh hại chính

Ngày nay, các nhà chọn giống đang nghiên cứu tạo ra giống đậu xanh

có thể cải thiện năng suất và tính kháng bệnh Ấn Độ có 22 trung tâm khắp cả nước nghiên cứu về cây đậu xanh Thái Lan cũng có nhiều trung tâm và các viện, trường tham gia nghiên cứu về cây đậu xanh Đậu xanh đứng thứ 3 trong các cây họ đậu và đứng đầu trong các cây thuộc chi Vigna về diện tích và sản lượng, diện tích đậu xanh trên thế giới khoảng 3,4 – 3,6 triệu ha với sản lượng 1,4 – 1,8 triệu tấn (Niên giám thống kê, 2005) [16]

Trên thế giới, đ ậ u xanh phát triển mạnh ở khu vực Nam Á và Đông Nam Á như Ấn Độ, Thái Lan, Philipin, Miến Điện, Indonesia,…Và gần đây, đậu xanh được phát triển rộng rãi hơn đến một số vùng ở ôn đới như ở Châu

Âu, lục địa Châu Mỹ Về diện tích gieo trồng, đậu xanh được gieo trồng trên thế giới khoảng 1 triệu ha, sản lượng hàng năm ước đạt 6,8 triệu tấn, trên 58 nước khác nhau (Bùi Việt Nữ, 1995) [17]

Theo Dương Minh (1999) [14] diện tích trồng đậu xanh trên toàn thế giới từ năm 1985 đến năm 1995 đã tăng lên trên 1 triệu ha, với năng suất tăng từ 0,57 – 0,66 tạ/ha, sản lượng tăng từ 15,15 – 17,94 triệu tấn Trong đó

Ấn Độ có diện tích trồng đậu xanh lớn nhất thế giới; Mỹ, Nhật Bản, Indonexia là những nước có năng suất và sản lượng cao (năng suất trên 1

Trang 26

20

tạ/ha, sản lượng từ 1 – 8 triệu tấn)

Bảng 2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh trên thế giới và một số

nước qua các năm 2008 – 2011 Nước

Diện tích (1000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (1000 tấn)

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam:

Ở nước ta, cây đậu xanh đã được trồng lâu đời ở nhiều vùng đồng bằng đến các tỉnh trung du, miền núi, suốt từ Nam chí Bắc Mặc dù vậy, nó vẫn bị xem là cây trồng phụ, trồng xen, gối, nhằm tận dụng đất, tranh thủ lao động, cho nên về năng suất đậu xanh tại Việt Nam chưa được cao so với trên thế giới (Phạm Văn Thiều, 2001) [21] Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh ở nước ta có nhiều thay đổi được thể hiện qua bảng 2.2

Giai đoạn 1996 – 1998, đậu xanh tăng nhanh cả về diện tích, năng suất, sản lượng Sản lượng tăng từ 120 nghìn tấn lên đến 130 nghìn tấn từ năm

1996 đến năm 1997, và đến năm 1998 là 144,1 nghìn tấn Đây là những năm

có diện tích trồng đậu xanh cao nhất trong thập niên vừa qua Năng suất đậu xanh cũng tăng dần từ 6,3 tạ/ha các năm 1996, 1997 và 6,5 tạ/ha năm 1998 Năm 1999, nhờ ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nên năng suất đậu xanh tăng lên 7,2 tạ/ha, nhưng về diện tích có giảm đi so với trước Đến năm 2000, gieo

Trang 27

sự biến động lớn trong sản xuất đậu xanh, về diện tích giảm 8,1 nghìn ha so với năm 2001, năng suất còn 7,1 tạ/ha, và sản lượng còn 144,1 nghìn tấn

Việc cải thiện năng suất đậu xanh của những năm 2003 trở về sau tăng lên đáng kể, đạt bằng mức cao nhất (7,6 tạ/ha năm 2001) là nhờ áp dụng nhiều hơn các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất và những năm sau đó, năng suất đậu được ổn định mức 7,5 – 7,6 tạ/ha (năm 2004 và năm 2005)

Ở Việt Nam, đậu xanh đã được trồng lâu đời, khắp nơi trong cả nước, nhưng bị xem là cây trồng phụ tận dụng đất đai, lao động nên năng suất rất khiêm tốn Đậu xanh chiếm diện tích khoảng 40 nghìn ha, năng suất trung bình

6 - 7 tạ/ha Các nhà tuyển chọn giống đậu xanh đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận với nhiều giống mới như: ĐX044, ĐX06, ĐX92-1, V87-13, HL89-E3,

Trang 28

22

V91-15…là những giống ngắn ngày, chín tập trung cho năng suất khi thâm canh đạt 15 - 17 tạ/ha, tiềm năng năng suất đậu xanh của chúng ta khá lạc quan Tuy nhiên vì là cây chống đói, lấp vụ, xen canh nên ít được đầu tư đúng mức, vì vậy cần thiết phải xây dựng qui trình kỹ thuật thâm canh tổng hợp để trong tương lai gần Việt Nam sẽ đứng đầu về kinh nghiệm canh tác đậu xanh Như vậy có thể xem đậu xanh là cây trồng dân dã nhưng giá trị kinh tế cao vì là nguồn thực phẩm có nhiều dinh dưỡng, đa dạng trong đời sống, thích hợp với tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Ngoài hạt, lá non và ngọn của cây đậu xanh có thể làm rau, muối dưa, thân lá xanh làm thức ăn chăn nuôi (Đào Quang Vinh, Chu Thị Ngọc Viên, 1993) [24]

Từ năm 1983, diện tích, năng suất và sản lượng tăng nhưng chậm

và không liên tục Năng suất đậu xanh thời kỳ 1981 - 1985 là 5,5 tạ/ha, 1986 -

1991 là 5,9 tạ/ha Năm 1999 là năm có năng suất cao nhất: 8,2 tạ/ha nhờ sự chuyển đổi giống mới Năng suất đậu xanh ở các tỉnh phía Nam thường cao hơn các tỉnh phía Bắc, một số vùng ở An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang đã đạt gần

20 tạ/ha trong vụ Đông Xuân vì có nhiều điều kiện thích hợp cho canh tác đậu xanh (Trần Thị Trường và CTV, 2005) [22]

Theo Nguyễn Vũ Thanh Thanh (2008) [19] ngoài các giống địa phương thường cho năng suất kém, dễ bị nhiễm sâu bệnh, từ năm 1984 trường Đại học Cần thơ đã khu vực hóa một số giống đậu xanh ở ĐB SCL như ĐX91, ĐX102a, ĐX135

có thời gian sinh trưởng từ 62 – 75 ngày, chiều cao cây 30 – 80 cm, khả năng khánh sâu bệnh khá, khối lượng 1000 hạt đạt từ 50 -70g, màu xanh mỡ, thích hợp trồng trên nhiều loại đất khác nhau và cho năng suất đạt từ 1,0 đến 2,7 tấn

Những yếu tố làm hạn chế năng suất đậu xanh là: Giống sử dụng là các giống cũ của địa phương không được chọn lọc, đậu xanh thường được trồng trên đất xấu không thể trồng cây lương thực vì thiếu nước, đất tranh thủ, trồng xen, gối với các loại cây trồng khác nên không có điều kiện thâm canh, quan niệm là cây trồng phụ nên được mùa là tốt, nếu không cũng ít quan tâm bằng cây trồng chính, vì thế tất cả các khâu chọn giống, chăm sóc xới xáo, tưới nước, bảo

vệ thực vật không đúng phương pháp khoa học, nông dân nghèo vùng sâu vùng

xa còn thiếu thông tin, chưa có điều kiện tiếp cận những thành tựu về cây đậu

Trang 29

23

xanh Tuy có những thành tựu lớn về giống, về giá trị kinh tế nhưng diện tích trồng đậu xanh vẫn còn hạn chế so với các cây họ đậu khác Hầu hết diện tích trồng đậu xanh trong nước đều nhỏ lẻ, manh mún, thường được trồng xen, gối

vụ với các cây trồng khác Năng suất đậu xanh còn hạn chế so với năng suất các cây trồng khác (điển hình là đậu nành) trên cùng 1 diện tích Đậu xanh khá mẫn cảm với một số loại sâu bệnh nên chi phí cho thuốc bảo vệ thực vật còn cao, công đoạn thu hoạch còn gặp nhiều khó khăn, thường thì thu hoạch từ 2 - 4 lần, nên gặp khó khăn về công lao động (lao động nông thôn hiện nay rất khan hiếm), chưa có cơ giới hoá trong công đoạn thu hoạch đậu xanh, hiện nay công đoạn thu hoạch và tách hạt thường chỉ thực hiện thủ công, rất khó khăn cho việc trồng với diện tích lớn (Hoàng Kim và CTV, 1994) [10]

Cây họ đậu nói chung và cây đậu xanh nói riêng với đặc điểm ở bộ rễ

hình thành nốt sần với sự xâm nhập của vi khuẩn Rhizobium viagna để tạo

nên hệ thống rễ cố định nitơ, nhờ vậy đã cung cấp một lượng đạm đáng kể góp phần cải tạo và nâng cao độ phì cho đất Những loại cây này đặc biệt có ý nghĩa trong việc cải tạo đất nông nghiệp bị rửa trôi và phong hóa nhanh, hàm lượng mùn và dinh dưỡng thấp, nhất là đất bạc màu, đất phù sa cổ, đất dốc tụ Ở nước ta, đậu xanh được trồng nhiều ở các vùng đồng bằng và trung du Khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ, diện tích cây đậu xanh hàng năm khoảng 10.000 ha (Nguyễn Xuân Thành, 1989 – 1991) [20]

Bởi vì trong sản xuất nông nghiệp qua một giai đoạn lịch sử khá dài, con người phải chống chọi lại với nạn đói, từ đó sản xuất lương thực đã trở thành nhu cầu cấp thiết nhất để cứu đói con người Từ đó các quốc gia và các nhà khoa học đã tập trung sức nghiên cứu, sản xuất về cây lương thực nhiều hơn Đến những năm 70 của thế kỷ XX cây đậu xanh mới được xác định là cây trồng quan trọng và từ đó vườn thử nghiệm đậu xanh quốc tế (IMN) và trung tâm nghiên cứu Rau màu Châu Á (AVRDC) được thành lập, đồng thời nhiều chương trình nghiên cứu về cây đậu xanh đã được khai triển ở một số nước như Ấn Độ, Philipin, Thái Lan, Mỹ, Australia (Viện bảo vệ thực vật, 1983) [23]

Tuy nhiên, việc tập trung sản xuất cây lương thực vẫn còn là tập quán

Trang 30

24

của nhiều vùng, cây đậu xanh vẫn được coi là cây trồng phụ dùng để tận dụng đất đai, lao động…và thường được trồng trên đất xấu, điều kiện canh tác không đảm bảo, giống đậu xanh sử dụng là các giống cũ của địa phương không được chọn lọc, đó là những nguyên nhân chính làm hạn chế sự phát triển của cây đậu xanh trong những năm qua Để chuyển đổi dần dần cơ cấu cây trồng nông nghiệp ngắn ngày theo hướng có lợi cho sản xuất, an toàn cho môi trường, việc đưa cây đậu vào luân canh, xen canh, tăng vụ là hướng đi đúng đắn Từ đó nhiều quốc gia tập trung nghiên cứu và tạo ra nhiều giống đậu xanh mới có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt, thích ứng rộng để cung cấp cho sản xuất Nhưng do vì chưa được thử nghiệm, tuyển chọn cho từng vùng sinh thái và các biện pháp kỹ thuật kèm theo, nên việc phát triển các giống đậu xanh tốt, năng suất cao vào sản xuất còn rất chậm, việc đầu tư thâm canh cũng chưa được nghiên cứu kỹ, nhất là công tác bảo vệ thực vật, thời vụ gieo trồng và đầu tư phân bón Nông dân rất thiếu thông tin, do đó mà năng suất đậu xanh ở nước ta thời điểm đó rất thấp, chỉ đạt 5 – 6 tạ /ha (Đường Hồng Dật, 2006) [3]

Trang 31

25

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số mật độ trồng đến sinh trưởng phát triển, năng suất của 2 giống đậu xanh trong điều kiện vụ hè:

3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh thí nghiệm (đơn vị: ngày)

Thời gian sinh trưởng của đậu xanh ngắn hay dài có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí mùa vụ, bố trí các cây trồng trong các công thức luân canh tăng

vụ Thời gian sinh trưởng của đậu xanh ngắn hay dài phụ thuộc vào các yếu tố như: giống, thời vụ, điều kiện chăm sóc Vì vậy, mật độ gieo trồng là một trong các biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng Kết quả theo dõi

sự ảnh hưởng của mật độ trồng tới thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh được trình bày ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh thí

nghiệm (đơn vị: ngày)

Giống M Độ

Thời gian

từ gieo – mọc

Thời gian mọc - ra hoa

Thời gian

ra hoa – thu lần 1

Thời gian thu lần 1 – tận thu

Thời gian ST

Trang 32

26

* Thời gian từ mọc đến ra hoa : Đây là thời kỳ có ý nghĩa quyết định đến

năng suất của đậu xanh Sau mọc vài ngày lá thật hình thành, lúc này cây chuyển từ sinh trưởng dị dưỡng sang sinh trưởng tự dưỡng Khi đó cây bắt đầu tổng hợp chất hữu cơ để hoàn thiện các cơ quan, bộ phận (rễ, thân, lá, ) và tích lũy dinh dưỡng chuẩn bị cho quá trình sinh trưởng sinh thực Thời kỳ này cây đậu xanh chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đặc biệt là độ ẩm Kết quả theo dõi cho thấy thời gian từ mọc đến ra hoa của hai giống ở các mật

độ khác nhau là có sự chênh lệch nhưng sự chênh lệch là không nhiều Tuy nhiên có xu hướng tăng khi tăng mật độ, thời gian từ mọc đến ra hoa của hai giống biến động từ 29 – 32 ngày

* Thời gian từ ra hoa đến thu lần 1: Do đậu xanh có thời gian ra hoa kéo dài

và quả chín rải rác nên thời gian thu hoạch kéo dài vì phải thu hoạch nhiều lần Thời gian thu hoạch có ý nghĩa rất lớn trong sản xuất, nếu chín sớm và tập chung sẽ tiết kiệm được công lao động, rút ngắn được thời vụ và giảm sự mất mát năng suất

do thời gian kéo dài trên đồng ruộng Thời gian này còn có ý nghĩa quyết định đến số quả và tỷ lệ quả chắc trên cây đồng thời quyết định đến độ lớn của hạt, đây là các yếu tố quan trọng quyết định năng suất của cây đậu xanh

Số liệu theo dõi cho thấy trên cả hai giống ở mật độ gieo khác nhau thì thời gian từ ra hoa đến thu lần 1 là khác nhau, theo quy luật khi tăng mật độ từ

25 cây/m2 – 55 cây/m2 thì thời gian này có xu hướng ngắn lại Thời gian từ ra hoa đến thu lần 1 của giống ĐX208 biến động từ 19 ngày – 21 ngày, của giống

ĐX 11 biến động từ 22 ngày – 24 ngày

* Thời gian từ thu hoạch lần 1 đến tận thu: số liệu theo dõi cho thấy khi tăng mật độ từ 25 cây/m2

– 55 cây/m2 thì thời gian này có xu hướng ngắn lại Thời gian từ thu lần 1 đến tận thu của giống ĐX208 và ĐX11 đều biến động trong khoảng từ 22 ngày – 24 ngày

* Tổng thời gian sinh trưởng: Thời gian sinh trưởng của hai giống đậu

xanh có sự biến động ở các mật độ trồng, cùng một mật độ trồng thì thời gian sinh trưởng của giống ĐX208 luôn ngắn hơn giống ĐX11 từ 1 đến 3 ngày

3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm hình thái của hai giống đậu xanh thí nghiệm:

Trang 33

27

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến đặc điểm hình thái

của hai giống đậu xanh thí nghiệm

thân chính (cm)

Chiều cao đóng quả (cm)

Đường kính thân chính (cm)

Số cành cấp 1 (cành/cây)

* Chiều cao thân chính

Là chỉ tiêu quan trọng phản ánh sự sinh trưởng, phát triển của quần thể đậu xanh, là yếu tố có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề bố trí mật độ hợp lý nhằm để quần thể đậu xanh nhận được ánh sáng và dinh dưỡng tốt nhất tránh cây mọc vống, đồng thời tránh sâu bệnh hại

Mật độ trồng ảnh hưởng đến chiều cao thân chính của hai giống thí nghiệm theo xu hướng khi mật độ trồng cao thì chiều thân chính tăng lên Tăng mật độ trồng từ 25 cây/m2 lên 35 cây/m2 thì chiều cao cây tăng không rõ, nhưng tiếp tục tăng mật độ trồng lên mức 45 cây/m2 thì chiều cao cây tăng mạnh

Trang 34

28

* Chiều cao đóng quả

Số liệu nghiên cứu cho thấy ở cùng mật độ trồng thì giống khác nhau có chiều cao đóng quả khác nhau, chiều cao đóng quả trung bình của giống ĐX208

là 31,10 cm, còn của giống ĐX11 thấp hơn, đạt 30,05 cm

Chiều cao đóng quả của hai giống cao lên khi tăng mật độ trồng, chiều cao đóng quả của giống ĐX208 từ 21,72 cm ở mật độ trồng 25 cây/m2 tăng lên 40,72 cm ở mật độ trồng 55 cây/m2, của giống ĐX11 từ 20,43 cm ở mật độ trồng 25 cây/m2 tăng lên 38,12 cm ở mật độ trồng 55 cây/m2

* Đường kính thân chính

Cùng với chiều cao thân chính thì đường kính thân chính liên quan đến tính chống đổ của cây đậu xanh Nếu chiều cao cây thấp kết hợp với đặc điểm đường kính thân lớn và vị trí đóng quả thấp sẽ tăng khả năng chống đổ cho cây Kết quả theo dõi cho thấy giống ĐX208 có đường kính thân trung bình là 0,54

cm, còn giống ĐX11 nhỏ hơn, đạt 0,50 cm

Mật độ trồng ảnh hưởng đến đường kính thân của hai giống thí nghiệm, khi mật độ trồng cao lên thì đường kính thân chính có xu hướng nhỏ đi Khi tăng mật

độ trồng từ 25 cây/m2

lên 55 cây/m2 thì đường kính thân chính của giống ĐX208

giảm từ 0,58 cm xuống 0,50 cm, của giống ĐX11 từ 0,56 cm xuống 50,45 cm

* Số cành cấp 1/thân chính

Trung bình của các mật độ có số cành cấp1/thân chính biến động từ 4,12 đến 4,79 cm Mật độ trồng ảnh hưởng đến số cành cấp 1/thân chính, khi tăng mật độ trồng thì số lượng cành cấp 1/thân chính ít đi Mật độ trồng 25 cây/m2 có số cành cấp 1/thân chính cao nhất, cao hơn so với các mật độ trồng 35 cây/m2, 45 cây/m2 và 55 cây/m2

3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá của hai giống đậu xanh thí nghiệm:

Chỉ số diện tích lá là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quang hợp quần thể cây trồng nói chung và cây đậu xanh nói riêng Diện tích lá của một cá thể cho thấy khả năng tiếp nhận ánh sáng của cá thể ấy Những dòng giống nào có diện tích lá rộng hơn sẽ tiếp nhận được nhiều ánh sáng hơn Diện tích lá của các giống đậu xanh phụ thuộc chủ yếu vào bản chất di truyền của từng giống, ngoài ra còn chịu tác động của các yếu tố khí hậu, chế độ dinh dưỡng và các biện pháp canh tác khác nhau

Trang 35

29

Những cây có số lá nhiều, kích thước lá lớn, phiến là phẳng và rộng, màu lá xanh, sinh trưởng tốt là những giống có khả năng sinh trưởng khỏe, khả năng tổng hợp chất hữu cơ cao, số quả nhiều hơn giống có diện tích lá nhỏ Trong giới hạn nhất định chỉ số diện tích lá tăng thì năng suất của cây trồng cũng tăng theo

Kết quả theo dõi cho thấy chỉ số diện tích lá của hai giống đậu xanh thí nghiệm tăng dần qua các thời kỳ Thời kỳ bắt đầu ra hoa chỉ số diện tích lá trung bình của giống ĐX208 không có sự sai khác rõ so với giống ĐX11 ở cùng mật độ trồng và cùng thời kỳ theo dõi

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá

của hai giống đậu xanh thí nghiệm ĐVT (m 2

Mật độ trồng ảnh hưởng đến chỉ số diện tích lá của hai giống thí nghiệm,

ở cả ba thời kỳ theo dõi khi tăng mật độ trồng thì chỉ số diện tích lá tăng Chỉ số diện tích lá trung bình thời kỳ ra hoa đạt 2,79 m2lá/m2đất ; ở thời kỳ ra hoa rộ là

Trang 36

30

3,67 m2lá/m2đất ; và ở thời kỳ thời kỳ quả mẩy đạt 5,04 m2

lá/m2đất đối với giống ĐX208 Tương tự chỉ số diện tích lá trung bình của giống ĐX11 ở 3 thời

kỳ trên đạt 2,80 m2lá/m2đất ; 3,52 m2

lá/m2đất và 4,86 m2

lá/m2đất Trong đó ở mật độ trồng 25 cây/m2 chỉ số diện tích lá thấp nhất Thời kỳ quả mẩy có chỉ số diện tích lá trung bình của mật độ trồng 25 cây/m2 thấp hơn so với các mật độ 35 cây/m2, 45 cây/m2 và 55 cây/m2

3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng tích lũy chất khô của 2 giống đậu xanh

Bảng 3.4 Khả năng tích lũy chất khô của hai giống đậu xanh thí nghiệm

ở các mật độ trồng khác nhau ĐVT: (g/cây)

bắt đầu ra hoa

Thời kỳ ra hoa rộ

Thời kỳ Quả mầy

Tích lũy chất khô trung bình của mật độ ở thời kỳ bắt đầu ra hoa biến động

từ 3,52 g/cây – 4,27 g/cây, thời kỳ ra hoa rộ biến động từ 7,93 g/cây – 10,85 g/cây, thời kỳ quả mẩy biến động từ 13,50 g/cây – 20,11 g/cây đối với giống ĐX208; thời kỳ bắt đầu ra hoa biến động từ 3,31 g/cây – 3,44 g/cây, thời kỳ ra

Trang 37

31

hoa rộ biến động từ 7,77 g/cây – 9,60 g/cây, thời kỳ quả mẩy biến động từ 12,50 g/cây – 19,36 g/cây đối với giống ĐX11 Trong đó mật độ trồng 25 cây/m2 tích chất khô trung bình đạt cao nhất, thấp nhất ở mật độ trồng 55 cây/m2 Tích lũy chất khô trung bình của hai giống ở mật độ trồng 25 cây/m2 cao hơn so với các mật độ trồng 35 cây/m2, 45 cây/m2 và 55 cây/m2

Tích lũy chất khô của cả hai giống tăng dần qua các thời kỳ theo dõi và đạt giá trị cao nhất ở thời kỳ tận thu

3.1.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến số lượng và khối lượng nốt sần của hai giống đậu xanh thí nghiệm:

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến số lượng nốt sần

của hai giống đậu xanh thí nghiệm ĐVT: (nốt/cây)

bắt đầu ra hoa

Thời kỳ ra hoa rộ

Thời kỳ Quả mầy

Ngày đăng: 01/04/2016, 12:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Mạnh Chính, Nguyễn Mạnh Cường (2008), Trồng đậu xanh, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội, tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng đậu xanh
Tác giả: Nguyễn Mạnh Chính, Nguyễn Mạnh Cường
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2008
2. Nguyễn Thế Côn (1994), Thời vụ trồng đậu xanh vụ xuân với giống đậu xanh ĐX044 ở Đồng Bằng và TRung du Bắc bộ, Kết quả nghiên cứu KH trồng trọt 1991 – 1992, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu KH trồng trọt 1991 – 1992
Tác giả: Nguyễn Thế Côn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1994
4. Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Tập 2, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục các loài thực vật Việt Nam
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội - Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường, Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
5. Trương Đích (2002), 265 giống cây trồng mới, NXB Nông Nghiệp Hà Nội 6. Kết quả nghiên cứu khoa học đậu đỗ 1991 - 1995 (1996), Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Việt Nam, tr. 4 - 188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 265 giống cây trồng mới", NXB Nông Nghiệp Hà Nội 6. "Kết quả nghiên cứu khoa học đậu đỗ "1991 "- 1995
Tác giả: Trương Đích (2002), 265 giống cây trồng mới, NXB Nông Nghiệp Hà Nội 6. Kết quả nghiên cứu khoa học đậu đỗ 1991 - 1995
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp Hà Nội 6. "Kết quả nghiên cứu khoa học đậu đỗ "1991 "- 1995 "(1996)
Năm: 1996
9. Điêu Thị Mai Hoa, Nguyễn Văn Mã (1995), “Ảnh hưởng của phân vi lượng tới khả năng chịu hạn và hoạt động quang hợp ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau của cây Đậu Xanh”, Tạp chí Sinh học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phân vi lượng tới khả năng chịu hạn và hoạt động quang hợp ở các thời kỳ sinh trưởng và phát triển khác nhau của cây Đậu Xanh”
Tác giả: Điêu Thị Mai Hoa, Nguyễn Văn Mã
Năm: 1995
11. Trần Văn Lài, Trần Nghĩa, Ngô Quang Thăng, Lê Trần Trung, Ngô Đức Dương (1993), Kỹ thuật gieo trồng đậu lạc vừng, NXB NN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gieo trồng đậu lạc vừng
Tác giả: Trần Văn Lài, Trần Nghĩa, Ngô Quang Thăng, Lê Trần Trung, Ngô Đức Dương
Nhà XB: NXB NN
Năm: 1993
12. Trần Đình Long, Lê Khả Trường (1998), Cây đậu xanh, NXB Nông nghiệp, 128tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đậu xanh
Tác giả: Trần Đình Long, Lê Khả Trường
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1998
13. Đỗ Tất Lợi (1977), Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, NXBKH và KT HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: NXBKH và KT HN
Năm: 1977
14. Dương Minh (1999), Giáo trình môn Hoa màu (Bắp - Đậu xanh – Khoai lang), ĐH Cần Thơ. NXB ĐH Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình môn Hoa màu (Bắp - Đậu xanh – Khoai lang)
Tác giả: Dương Minh
Nhà XB: NXB ĐH Cần Thơ
Năm: 1999
15. Đoàn Thị Thanh Nhàn (chủ biên), Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Bùi Xuân Sửu (1996), Giáo trình cây công nghiệp, NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình cây công nghiệp
Tác giả: Đoàn Thị Thanh Nhàn (chủ biên), Nguyễn Văn Bình, Vũ Đình Chính, Nguyễn Thế Côn, Bùi Xuân Sửu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1996
17. Bùi Việt Nữ: “ Nghiên cứu các giống đậu xanh nhập nội và hiện có trong công tác chọn tạo giống cho vùng Đông Nam Bộ” – Luận án TS khoa học nông nghiệp Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các giống đậu xanh nhập nội và hiện có trong công tác chọn tạo giống cho vùng Đông Nam Bộ
18. Nguyễn Hữu Quán: Phát triển nguồn lợi đậu đỗ và cây bộ đậu nhiệt đới, NXB Khoa học kỹ thuật, HN, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: triển nguồn lợi đậu đỗ và cây bộ đậu nhiệt đới
Nhà XB: NXB Khoa học kỹ thuật
20. Nguyễn Xuân Thành, Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của vi khuẩn Rhizobium cộng sinh với cây đậu xanh và hiệu lực của chế phẩm vi khuẩn này đối với đậu xanh trên một số loại đất ở miềm bắc Việt Nam, Luận án TS khoa học nông nghiệp, 1989 – 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án TS khoa học nông nghiệp
22. Trần Thị Trường, Trần Thanh Bình, Nguyễn Thanh Bình (2005), Sản xuất đậu tương, đậu xanh năng suất cao, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất đậu tương, đậu xanh năng suất cao
Tác giả: Trần Thị Trường, Trần Thanh Bình, Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
23. Viện bảo vệ thực vật. 1983. Kết quả bước đầu diều tra côn trùng ký sinh ở vùng Chèm Hà Nội. Báo cáo khoa học của nhóm côn trùng có ích. Viện bảo vệ thực vật, trang 72 – 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khoa học của nhóm côn trùng có ích
24. Đào Quang Vinh, Chu Thị Ngọc Viên, Sự di truyền tính trạng ở thế hệ F1 của đậu xanh. Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm
25. Ignacimutthu and CR. Babu. Induced variation on the productivity and the quality an quality of protein in Vigna Sublobata (Wild) and V. radita and V.mungo (Cultivas) Plant mution Breeding for crop in provement (1991, P.171 – 176) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Induced variation on the productivity and the quality an quality of protein in Vigna Sublobata
26. Lairunggreang.C, Thavarasook, Tomoka (1990) Collection of Wild calotropis species in Northern Thai Lan. P.73 – 8527. M.L.J.G Vander and S.Someatmadja. plan resources of south East Asia 1 trong pulses. 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Collection of Wild calotropis species in Northern Thai Lan
27. Lin Y.H, Yao W.H (1996), “Mung bean (Vigna radiata L. Wilczek) contains some high proteolytic activities already before germination”, Bot. Bull. Acad.Sin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mung bean ("Vigna radiata" L. Wilczek) contains some high proteolytic activities already before germination”, "Bot. Bull. Acad
Tác giả: Lin Y.H, Yao W.H
Năm: 1996
30. SURADIO.VN. Response of Mungbean (Vigna radiate) plant to duration of Watelogging growth stage 3 – pod filling stage. (LUS(Central Luzon stale University) Soi, J, May, 1986) Philippin) Sách, tạp chí
Tiêu đề: plant to duration of Watelogging growth stage 3 – pod filling stage

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh trên thế giới và một số - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh trên thế giới và một số (Trang 26)
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh ở Việt Nam - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh ở Việt Nam (Trang 27)
Bảng  3.1.  Thời  gian  sinh  trưởng  của  hai  giống  đậu  xanh  thí  nghiệm (đơn vị: ngày) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
ng 3.1. Thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh thí nghiệm (đơn vị: ngày) (Trang 31)
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến chỉ số diện tích lá (Trang 35)
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất: - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.7. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất: (Trang 41)
Bảng 3.8. Năng suất của hai giống đậu xanh thí nghiệm ở các mật độ trồng  khác nhau. - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.8. Năng suất của hai giống đậu xanh thí nghiệm ở các mật độ trồng khác nhau (Trang 42)
Hình 3.1. Năng suất của hai giống đậu xanh thí nghiệm ở các mật độ trồng - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.1. Năng suất của hai giống đậu xanh thí nghiệm ở các mật độ trồng (Trang 44)
Bảng 3.9. Thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.9. Thời gian sinh trưởng của hai giống đậu xanh thí nghiệm (Trang 45)
Bảng  3.10.  Ảnh  hưởng  của  liều  lượng  phân  bón  đến  đặc  điểm  hình  thái của hai giống đậu xanh thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
ng 3.10. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến đặc điểm hình thái của hai giống đậu xanh thí nghiệm (Trang 46)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chỉ số diện tích lá - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến chỉ số diện tích lá (Trang 48)
Bảng 3.12. Khả năng tích lũy chất khô của hai giống đậu xanh thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.12. Khả năng tích lũy chất khô của hai giống đậu xanh thí nghiệm (Trang 49)
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh (Trang 52)
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các yếu tố - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến các yếu tố (Trang 54)
Hình 3.2. Năng suất của hai giống đậu xanh thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân bón trên một số giống đậu xanh trồng vụ hè tại xã chiềng mung, huyện mai sơn, tỉnh sơn la
Hình 3.2. Năng suất của hai giống đậu xanh thí nghiệm (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w