1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung mai sơn

44 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 417,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương D912 trong điều kiện

Trang 1

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

Kĩ sư Nguyễn Thị Quyên

Bộ môn: Khoa học cây trồng

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG LÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ

NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU TƯƠNG D912

TRONG VỤ THU ĐÔNG NĂM 2012 TẠI CHIỀNG

MUNG – MAI SƠN”

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NĂM HỌC 2012 - 2013

SƠN LA, THÁNG 04 NĂM 2012

Trang 2

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

Kĩ sư Nguyễn Thị Quyên

Bộ môn: Khoa học cây trồng

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG

LÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ

NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU TƯƠNG D912

TRONG VỤ THU ĐÔNG NĂM 2012 TẠI CHIỀNG

MUNG – MAI SƠN”

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NĂM HỌC 2012 - 2013

CỘNG TÁC VIÊN: DƯƠNG THỊ THANH NGA

GIẢNG VIÊN KHOA NÔNG LÂM

SƠN LA, THÁNG 4 NĂM 2012

Trang 3

CHƯƠNG I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill là một cây trồng ngắn ngày có nguồn

gốc xa xưa từ Trung Quốc và được coi là cây thực phẩm cho đời sống con người từ hơn 5000 năm trước, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào khoảng thế kỷ thứ 8, nhiều thế kỷ sau có mặt ở các nước Á Châu như Thái Lan, Malaisia, Korea và Việt Nam

Hiện nay, đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới bởi những giá trị quan trọng mà nó mang lại như giá trị kinh tế, y tế, dinh dưỡng… Trong hạt đậu tương có chứa trung bình khoảng từ 38% - 40% protein, 18% - 20% lipit, đủ các loại amino axit cần thiết và nhiều sinh tố, khoáng chất Quan trọng hơn cả là trong đậu nành có chứa chất isoflavones với công thức hoá học gần giống như kích thích tố nữ estrogen mà nhiều công trình khoa học chứng minh là rất tốt trong việc điều trị và phòng ngừa một số bệnh như suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh loãng xương ở phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp…

Cây đậu tương thích nghi với nhiều loại đất khác nhau như: Đất sét, đất thịt, thịt pha cát… và có khả năng cải tạo đất tốt Nhờ vào sự cộng sinh của bộ rễ cây họ đậu

với vi khuẩn nốt sần Rhizobium Japonicum Vi khuẩn này có khả năng cố định đạm từ

khí trời, nguồn đạm đó có thể đáp ứng 40 – 70% nhu cầu đạm của cây đậu tương Sau khi thu hoạch cây đậu tương trả lại cho đất từ 50 – 80 kg đạm/ha/năm (Lê Hoàng Độ

và cộng sự, 1997) Vì vậy đậu tương còn là một mắt xích quan trọng trong hệ thống luôn canh cây trồng

Nguồn lợi từ đậu tương mang lại là vô cùng lớn nên từ nhiều năm qua Nhà nước ta đã chú trọng phát triển bằng cách mở rộng diện tích, đầu tư nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng năng suất và sản lượng đậu tương Tuy nhiên, kết quả đạt được còn hạn chế, năng suất và chất lượng hạt chưa cao Nguyên nhân là chưa

có bộ giống ổn định và chưa có kỹ thuật canh tác hợp lý Vì vậy, để nâng cao năng suất cũng như chất lượng đậu tương ngoài tạo ra những bộ giống ổn định, năng suất cao, phù hợp với từng vùng sinh thái, thì việc sử dụng phân bón cân đối và hợp lý là hướng rất được coi trọng Xuất phát từ yêu cầu đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương D912 trong điều kiện vụ Thu Đông năm 2012 tại Chiềng Mung – Mai Sơn”

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 T nh h nh nghiên cứu ở nư c ngoài

Trang 4

Song song với việc nghiên cứu chọn tạo giống, việc nghiên cứu về liều lượng bón phân, kỹ thuật trồng và chăm sóc đậu tương để cây sinh trưởng, phát triển và phát huy hết tiềm năng năng suất của giống là vấn đề rất quan trọng

Đối với dinh dưỡng đậu tương thì đạm là dinh dưỡng quan trọng nhất Đậu tương cần nhiều đạm để sinh trưởng, phát triển, và tạo năng suất Tuy nhiên, người ta thường bón ít đạm cho đậu tương mà sử dụng sự cố định đạm của vi khuẩn nốt sần để đáp ứng nhu cầu đạm của cây

Theo Harper (1974) cho rằng việc cố định đạm và sử dụng nitrat (NO3-) có tầm quan trọng để thu được năng suất tối đa Tuy nhiên, nếu bón dư thừa NO 3

hoặc bón không đúng thời kỳ sẽ ức chế sự hình thành, phát triển, và hoạt động của vi khuẩn nốt sần và làm ảnh hưởng đến năng suất

Đối với lân, nếu bón đầy đủ và cân đối thì lân có tác dụng làm giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và từ đó tăng năng suất Tại Autralia, Dickson và CS (1987) (Dickson, T.P, 1987) đã tiến hành những thí nghiệm về phân bón cho những cánh đồng tại vùng Queen Sland đã chỉ ra rằng: Năng suất đậu tương tăng lên đáng kể khi được bón phân, sự mẫn cảm của đậu tương đối với phân lân phụ thuộc vào độ chua của đất, hàm lượng chất hữu cơ và thành phần cơ giới đất

Tại Indolesia bón phân lân cho đất có hàm lượng lân dễ tiêu dưới 18 ppm đã làm tăng năng suất đậu tương lên đáng kể Thiếu lân dễ tiêu thường gắn liền với chua, hàm lượng Fe, Al, Mn cao gây trở ngại lớn cho sinh trưởng, phát triển và hình thành năng suất đậu tương (Tonson, H.W, 1997)

Nhiều tác giả cho rằng, đất nhiệt đới giàu Fe, Al thì super lân sẽ bị cố định thành phốt phát sắt, phốt phát nhôm khó hòa tan nên cây trồng không sử dụng được Như vậy, trong đất chua khả năng giữ chặt lân thường cao, gây thiếu lân nghiêm trọng làm cho khả năng hấp thụ các yếu tố dinh dưỡng của đậu tương bị hạn chế Vì vậy, nâng cao pH bằng cách bón vôi sẽ nâng cao hàm lượng dễ trong đất đối với cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng Bên cạnh việc bón lân cũng cần phải bón thêm các loại phân bón khác như: Đạm, kali, phân chuồng với liều lượng cân đối và thích hợp

2.2 T nh h nh nghiên cứu ở trong nƣ c

Các nguyên tố đa lượng (N, P, K) có tác dụng thúc đẩy, hỗ trợ cho nhau trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây đậu tương, thiếu 1 trong các yếu tố này đều làm cho cây

sinh trưởng và phát triển không bình thường

Theo Lê Đinh Sơn (1988), (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 2007) lân, đạm có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau trong việc làm tăng số cấp cành hữu hiệu và số quả trên cây

Theo TS Vũ Đình Chính (1998) bón kết hợp N:P:K trên đất bạc màu nghè o dinh

Trang 5

lượng nốt sần, số quả chắc trên cây và năng suất hạt Cũng theo tác giả trong điều kiện

vụ hè trên đất bạc màu (Hiệp Hòa – Bắc Giang) bón cho giống đậu tương xanh lơ Hà Bắc thích hợp nhất là 20kg N : 90kg P2O5 : 90kg K2O

Tuy đạm, lâm, kali có hiệu lực cao với đậu tương song việc bón phân liều lượng cao đều làm giảm hiệu quả của phân bón Nhìn chung mức bón tối đa cho đậu tương là

40 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O Nhìn chung công thức bón phân cân đối cho đậu tương thay đổi theo vùng Mức bón 30kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O cho đất bazan

và 20 kg N + 60 kg P2O5 + 60 kg K2O cho đất bạc màu và 30 - 90 - 60 cho vùng đất xám

Theo tác giả Nhữ Thị Ngọc Anh (2003), khi nghiên cứu về ảnh hưởng của mức lân, kali đến sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương đã xác định mức đầu tư phân bón thích hợp nhất cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao đối với sản xuất đậu tương trên đất xám bạc màu là 5 tấn phân chuồng + 40 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg

K2O + 300 kg vôi bột cho một ha Như vậy, lượng lân bón thích hợp cho đậu tương trên đất xám bạc màu là 90 kg P2O5/ha

Theo Trần Thị Trường, Trần Thị Thanh Bình (2005), tỷ lệ sử dụng phân đạm, lân, kali thích hợp nhất cho đậu tương là 1 : 2 : 2

Theo Hội khoa học đât Việt Nam (2000) (Đất Việt Nam, NXBNN, Hà Nội) để

đánh giá khả năng cung cấp lân trong đất cho cây trồng màu nói chung và cây đậu tương nói riêng người ta thường dựa vào hàm lượng lân dễ tiêu Theo phương pháp Olsen (tính theo P2O5 dễ tiêu mg/100g đất) được chia làm 4 mức như sau:

- Nghèo lân: < 2,5 mg Đất nghèo lân, rất cần bón lân, bón lân sẽ cho hiệu quả cao

- Trung bình: 2,5 – 5 mg Đất có lân trung bình cần bón, nếu bón lân có hiệu lực khá

- Khá giàu: 5 – 9 mg Đất có lân khá, bón lân cho hiệu quả thấp

- Giàu lân: > 9 mg Đất giàu lân, bón lân ít hoặc không có hiệu lực

Dựa vào kết quả nghiên cứu trên, người ta có thể xác định được lượng lân cần bón vào đất là bao nhiêu để cây đậu tương sử dụng có hiệu quả nhất nhằm phát huy tối đa

tiềm năng năng suất và đạt hiệu quả kinh tế cao

3 Mục đích nghiên cứu

Xác định ảnh hưởng của lượng phân lân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương D912 trong vụ Thu Đông 2012 tại Chiềng Mung – Mai Sơn

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định được ảnh hưởng của các lượng phân lân khác nhau đến giống đậu tương D912 và tìm ra mức phân lân thích hợp nhất làm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của giống đậu tương D912

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 6

K2O (kg/ha) Phân chuồng (tấn/ha)

- Thí nghiệm bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại

- Diện tích mỗi ô thí nghiệm:10m2

- Tổng diện tích: (10m2 × 6) × 3 = 180 m2 (không kể dải bảo vệ)

5.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi

5.2.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển

- Thời gian từ gieo đến khi được 50% số cây mọc (ngày)

- Tỷ lệ mọc (%)

Trang 7

- Động thái ra hoa: Tính từ khi cây bắt đầu ra hoa đến khi kết thúc ra hoa (đếm

số hoa nở/cây/ngày), theo dõi 5 cây/ô

- Thời gian từ gieo đến thu hoạch (ngày)

- Chiều cao thân chính (cm): Đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng (đo ngẫu nhiên 5 cây cho 1 lần nhắc lại, bắt đầu từ khi cây có 2 – 3 lá thật, sau đó cứ 7 ngày đo

1 lần)

- Đường kính thân (cm): Đo ở vị trí cách cổ rễ 5 cm khi thu hoạch

- Diện tích lá và chỉ số diện tích lá (LAI): Lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên (lấy 3 cây/ô), tiến hành theo phương pháp cân nhanh ở 3 thời kỳ (cây bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ và thời kỳ quả mẩy) LAI được tính theo công thức:

+ Phương pháp tiến hành: Trước khi nhổ phải tưới đẫm nước, sau đó khoảng 15 phút sau tưới lần 2 sau đó nhổ cây lên cho phần đất xung quanh rễ vào chậu nước để lọc lấy nốt sần

- Khối lượng cây tươi (g/cây): Cây ở 3 thời kì (cây bắt đầu ra hoa, ra hoa rộ và thời kỳ quả mẩy), kết hợp đo diện tích lá, đếm số lượng nốt sần

- Khối lượng khô (g/cây): Tiến hành sấy đến khi cây khô, phân tích ở cả 3 thời

* Khả năng chống chịu sâu bệnh

Tính tỷ lệ cây bị sâu, bệnh hại (%), phân cấp

Trang 8

- Sâu hại: Tính tỷ lệ cây bị nhiễm sâu/dòng, giống

+ Sâu cuốn lá: Đếm số cây bị hại/số cây theo dõi, tính tỷ lệ (%)

+ Sâu đục quả: Đếm số quả bị hại/tổng số quả 5 cây sau thu hoạch, tính tỷ lệ (%)

- Bệnh hại: Tính tỷ lệ bệnh hại và phân cấp

+ Bệnh phấn trắng: Tính số cây nhiễm/số cây theo dõi và phân cấp theo dõi theo tiêu chuẩn 10TCVN 339 – 2006

5.2.3 Các yếu tố cấu thành năng suất

Trước khi thu hoạch lấy ngẫu nhiên 10 cây trên mỗi ô, lấy 3 lần nhắc lại để xác định:

- Tổng số cành cấp 1/cây

- Tổng số đốt hữu hiệu/thân chính (số đốt mang quả)

- Chiều cao đóng quả (đo từ cổ rễ đến đốt ra quả đầu tiên)

- Tổng số quả/cây

- Tỷ lệ quả chắc (%)

- Tỷ lệ quả 1,2,3 hạt (%)

- Xác định khối lượng 1000 hạt (g)

- Xác định khối lượng 10 cây mẫu từ đó tính ra năng suất cá thể (g/cây)

- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = năng suất cá thể × mật độ × 10000m2

- Năng suất ô (kg/ô)

Trang 9

6 Đối tƣợng nghiên cứu

Liều lượng lân bón cho Giống đậu tương D912

7 Phạm vi nghiên cứu

Thí nghiệm được tiến hành tại vườn thực nghiệm trường Cao đẳng Sơn La, Chiềng Mung, Mai Sơn, Sơn La

Thí nghiệm tiến hành trong vụ Thu Đông năm 2012

Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố phân lân đến sự sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của một giống đậu tương

Trang 10

CHƯƠNG II NỘI DUNG

1.1 Cơ sở khoa học của việc bón phân lân cho đậu tương

* Cơ sở khoa học của việc sử dụng lân bón cho đậu tương

Tỷ lệ lân trong đất thường biến động trong khoảng 0,03 – 0,12% và phụ thuộc vào thành phần đá mẹ hình thành nên đất, chất hữu cơ có trong đất Đất được hình thành trên đá mẹ giàu lân (Basalt, đá vôi), đất giàu chất hữu cơ thì tỷ

lệ lân cao Tuy nhiên, hàm lượng lân trong đất chủ yếu ở dạng khó tiêu cây trồng không thể hấp thu được (Vũ Hữu Yêm, 1995) Mặt khác, lân là yếu tố đặc biệt quan trọng của cây đậu tương và nhu cầu về lân của cây đậu tương cũng rất lớn (lớn hơn dinh dưỡng đạm và kali), đặc biệt giai đoạn cây hút lân có ý nghĩa quan trọng nhất là thời kỳ đầu sinh trưởng (Nguyễn Như Hà, 2006) Vì vậy, cần cung cấp đầy đủ và kịp thời dinh dưỡng lân cho cây đậu tương để sinh trưởng, phát triển tốt, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm

* Thực tiễn của việc sử dụng lân bón cho đậu tương

Đậu tương là cây công nghiệp quan trọng có tầm chiến lược quốc gia Ngoài việc làm tăng hàm lượng dinh dưỡng cho con người, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, từ đó thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển, cây đậu tương còn được đưa vào các công thức luân canh, gối vụ, rất quan trọng trong cơ cấu cây trồng, góp phần nâng cao năng suất cây trồng vụ sau và nâng cao hệ số sử dụng đất Đậu tương có khả năng cố định 60 – 80kg N/ha/vụ, tương đương 300 – 400

kg đạm sunphat nhờ vi khuẩn cộng sinh, chưa kể chất hữu cơ có trong thân lá (Lê Hoàng Độ và cộng sự, 1977)

Điều kiện khí hậu của Việt Nam rất thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của đậu tương Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đậu tương ở nước ta thì việc mở rộng diện tích và năng suất là việc làm thiết yếu Tuy nhiên, do năng suất đậu tương nước ta còn thấp, giá rẻ, thiếu giống năng suất cao, chống chịu kém với điều kiện bất thuận và sâu bệnh cũng như thiếu các biện pháp kỹ thuật canh tác dẫn đến việc phát triển cây đậu tương ở nước ta còn chậm

Trang 11

Cây đậu tương ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, nên đã được chú ý phát triển và mở rộng diện tích ở cả 3 vụ trong năm Tuy nhiên, do thực tiễn sản xuất ở nhiều nơi người dân còn sử dụng các giống có tiềm năng năng suất thấp, chưa gieo đúng thời vụ, bón ít phân, nhất

là phân hữu cơ và phân lân dẫn đến năng suất thấp, sản xuất chưa có hiệu quả

Do vậy, ngoài việc xác định được bộ giống đậu tương có tiềm năng năng suất cao, còn phải xây dựng được quy trình kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc đậu tương hiệu quả, khuyến cáo cho sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả kinh tế góp phần nâng cao giá trị sản lượng trên đơn vị diện tích canh tác

1.2 Vai trò của lân đối v i cây trồng

- Lân đóng vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và protein

- Là thành phần của photphotit, axit nucleit, protein, photpholipit,, coenzim NAP, NATP và ATP

- Là thành phần chủ yếu của amino axit

- Có vai trò quan trọng trong việc phân chia tế bào, tạo thành chất béo và protein

- Thúc đẩy việc ra rễ, đặc biệt là rễ bên và lông hút

- Có vai trò đặc biệt trong việc hình thành mô phân sinh, hạt và phát triển của quả, kích thích sự ra hoa

- Cải thiện chất lượng sản phẩm, đặc biệt là rau và cỏ làm thức ăn gia súc

1.3 Đặc điểm của cây trồng và vệc bón lân

Thời kỳ khủng hoảng lân của hầu hết cây trồng là thời kỳ cây con Lân trong cây giai đoạn trước có thể chuyển hóa và tái sử dụng cho giai đoạn sau Lân lại rất cần cho sự ra rễ cho nên tất cả các loại phân lân đều phải được bón lót đầy đủ cho cây ngay từ giai đoạn đầu Một số giống do có những khuẩn căn, hoặc nhờ vi sinh vật cộng sinh trong quyển rễ, hoặc do sự bài tiết các axit hữu

cơ mà có khả năng phát triển được trên đất nghèo lân mà không cần bón phân lân, hoặc chỉ cần một ít lân nên cần được quan tâm phát triển khi xây dựng kế hoạch bón phân lân

Kết quả nghiên cứu đối với lúa cho thấy tỉ lệ lân trong hạt có ảnh hưởng đến sức sống của giống và năng suất của thế hệ sau nên đối với ruộng giống

Trang 12

cần được đặc biệt chú ý cung cấp lân Bón lân thúc đòng không làm tăng năng suất lúa, song tăng được tỉ lệ lân trong hạt thóc, năng suất ruộng lúa thế hệ sau

cao hơn

Trang 13

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống

đậu tương D912

3.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm của giống

đậu tương D912

Thời gian mọc mầm của đậu tương được tính từ khi gieo đến khi mầm

nhô lên khỏi mặt đất và 2 lá mầm xoè ra Thời kỳ từ gieo đến mọc dài hay ngắn

phụ thuộc rất nhiều vào phẩm chất hạt giống và điều kiện ngoại cảnh như: Nhiệt

độ, độ ẩm, ánh sáng…

Trong vòng 1 tuần sau khi lá mầm nhô lên khỏi mặt đất nó có khả năng

quang hợp nhưng không đáng kể, chất dinh dưỡng dự trữ trong lá mầm là nguồn

cung cấp thức ăn chủ yếu cho cây để phát triển thân non và bộ rễ

Đây là thời kỳ quan trọng với cây đậu tương, nó quyết định đến mật độ

quần thể và thời kỳ sinh trưởng của cây về sau, do đó ảnh hưởng đến năng suất

thực thu sau này Vì vậy, cần chú ý cho hạt mọc đủ, đều, nhanh… Trong các

khâu kỹ thuật ban đầu cần chú trọng đến lựa chọn phẩm chất hạt giống, đất trồng

tơi xốp, đủ ẩm, gieo hạt ở đậu sâu thích hợp, tránh gặp rét (vụ đông), hoặc mưa

to kết vón mà trẩm hạt (vụ hè)

Thí nghiệm tiến hành gieo vào 27/08/2012, trong điều kiện nhiệt độ ấm

áp, trước khi gieo có mưa phùn làm cho đất tơi xốp nên khá thuận lợi cho sự nảy

mầm Kết quả thí nghiệm được thể hiện ở bảng 3.1

Trang 14

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm

của giống đậu tương D912

Liều lượng lân bón Thời gian từ

từ gieo đến mọc của giống

Các liều lượng lân bón khác nhau có tỉ lệ mọc mầm khác nhau Liều lượng 60 kg P2O5 có tỉ lệ mọc mầm lớn nhất (94%), liều lượng 0 kg P2O5 có tỉ lệ mọc thấp nhấp là (88,00%) Tuy nhiên, sự khác nhau về tỉ lệ mọc mầm giữa các liều lượng là không đáng kể Như vậy, tỉ lệ mọc mầm chủ yếu phụ thuộc vào phẩm chất hạt giống và điều kiện ngoại cảnh mà không phụ thuộc vào liều lượng lân bón khác nhau

3.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng và phát triển qua các thời kì của giống đậu tương D912

Chu kỳ sống của các cây trồng nói chung và của cây đậu tương nói riêng đều phải trải qua các thời kỳ sinh trưởng và phát triển Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây dẫn đến sự tăng lên về số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của chúng Phát triển

là sự biến đổi về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng Hai quá trình này diễn ra song song và là hai mặt của quá trình biến đổi chất và lượng luôn diễn ra trong cơ thể, chúng có biểu hiện đan xen nhau và có mối quan hệ rất khăng khít không thể tách rời

Trang 15

Thời gian sinh trưởng, phát triển của cây đậu tương được tính từ khi gieo đến khi hạt chín hoàn toàn, trải qua nhiều gian đoạn phát dục khác nhau. Kết quả

nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng và phát triển qua các thời kì của giống đậu tương D912 được thể hiện ở bảng 3.2.

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian sinh trưởng và

phát triển của giống đậu tương D912 (ngày) Liều lượng

lân bón

Thời gian từ mọc - ra hoa

Thời gian từ

ra hoa – chín

Tổng thời gian sinh trưởng

* Thời gian từ mọc đến ra hoa:

Đây là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng quan trọng của cây đậu tương, quyết định đến mật độ cây, kích thước cuối cùng,số đốt, số cành, số lá, số hoa và khả năng tích luỹ chất khô của cây, do đó ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sau này Thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc rất nhiều vào đặc tính của giống cũng như điều kiện ngoại cảnh

Cần chú ý đảm bảo mật độ cho quần thể ban đầu Sau khi mọc 10 – 15 ngày nốt sần mới được hình thành và đi vào hoạt động, chất dinh dưỡng dự trữ trong lá mầm chỉ đủ cung cấp cho cây trong một tuần đầu Do đó, cần bổ sung chất dinh dưỡng cho cây khi nốt sần chưa có khả năng cố định đạm Để giúp bộ

rễ phát triển mạnh cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng đặc biệt là dinh dưỡng lân cho cây Thiếu lân thời kỳ này sẽ làm cho cây con chậm phát triển, hút dinh dưỡng kém, dẫn đến phân cành ít, chậm phân hoá mầm hoa Sau khi cây phân hoá mầm hoa, điều chỉnh để tránh sinh trưởng sinh dưỡng quá mạnh, dẫn đến mất cân đối với sinh trưởng sinh thực tiếp sau, làm rụng hoa, rụng quả

Trang 16

Kết quả thí nghiệm ở bảng 3.2 cho thấy: Thời gian từ mọc đến ra hoa của các liều lượng biến động tử 45 – 46 ngày, liều lượng ra hoa sớm nhất là liều lượng 30kg P2O5, 90kg P2O5 và 120kg P2O5, đều ra hoa vào 45 ngày sau gieo, liều lượng đối chứng không bón lân và liều lượng bón 60kg P2O5, 15kg P2O5 có thời gian ra hoa muộn hơn 46 ngày

* Thời gian từ ra hoa đến chín

Đây là thời kỳ sinh trưởng sinh thực của cây, tuy nhiên khác với các cây trồng khác là cây đậu tương khi đã ra hoa thì các bộ phận khác như rễ, thân, lá vẫn tiếp tục sinh trưởng và phát triển vì vậy, thời kỳ này cây tiêu thụ rất nhiều chất dinh dưỡng, cần chú ý đáp ứng đầy đủ phân bón và nước cho cây

Giai đoạn này cây đậu tương rất mẫn cảm với những biến đổi của điều kiện ngoại cảnh đặc biệt là nước và nhiệt độ, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, quyết định tổng số hoa hữu hiệu, số quả trên cây…

Thời kỳ nở hoa của cây đậu tương thường kéo dài khoảng từ 3 – 4 tuần Đặc tính nở hoa kéo dài là đặc tính có lợi đối với cây đậu tương, vì khi nở hoa gặp những điều kiện không thuận lợi làm rụng hoa thì những đợt hoa nở sau có khả năng bổ sung Tuy nhiên thời gian hoa nở quá dài, hoa nở không tập trung

sẽ làm qủa chín rải rác không đều dẫn đến năng suất và phẩm chất không cao

Ở liều lượng 90kg P2O5 và liều lượng 120kg P2O5 có thời gian ra hoa đến chín dài nhất (59 ngày), liều lượng đối chứng có thời gian từ ra hoa đến chín ngắn nhất (56 ngày) Các liều lượng còn lại dao động trong khoảng 57 – 58 ngày

* Tổng thời gian sinh trưởng:

Tổng thời gian sinh trưởng được tính từ khi gieo đến khi hạt chín hoàn toàn Thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc chủ yếu vào bản chất di truyền giống Việc xác định tổng thời gian sinh trưởng có ý nghĩa quan trọng trong việc bố trí mùa vụ, cây trồng phù hợp

Tổng thời gian sinh trưởng của các liều lượng lân bón dao động trong khoảng 102 – 104 ngày Nhìn chung các liều lượng lân bón khác nhau không ảnh hưởng nhiều đến thời gian sinh trưởng của giống Liều lượng bón 90 kg

Trang 17

P2O5 có tổng thời gian sinh trưởng là 104 ngày, liều lượng đối chứng không bón lân có tổng thời gian sinh trưởng 102 ngày

Như vậy, việc bón lân đã làm đậu tương D912 phân hoá mầm hoa sớm hơn, kéo dài thời gian ra hoa, nhưng lại ít ảnh hưởng đến tổng thời gian sinh trưởng của giống

3.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian ra hoa và tổng số hoa của giống đậu tương D912

Đậu tương là cây tự thụ điển hình, tỷ lệ giao tạp tự nhiên là 0,5% Hoa nở vào khoảng 8 giờ sáng đến 12 giờ trưa, mùa hè nở sớm hơn mùa đông Tỷ lệ đậu quả của đậu tương thấp, hoa rụng nhiều, nguyên nhân rất phức tạp thường nhiệt

độ cao và khô gây rụng nhiều, hoa nở vào những đợt rộ thường có tỷ lệ đậu quả cao, các hoa nở rải rác về sau thường rụng và lép Một số lượng lớn hoa ra ở giữa thân và gần gốc dễ bị tán lá che lấp ánh sáng, cần phải điều chỉnh mật độ hợp lý cho ruộng thông thoáng để tăng lệ đậu quả cao

Thời kỳ ra hoa là thời kỳ rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến năng suất sau này của giống Trong thời gian nở hoa của cây đậu tương, thân, cành, lá vẫn tiếp tục phát triển mạnh Vì vậy, thời kỳ này cây tiêu thụ rất nhiều chất dinh dưỡng, cần chú ý đáp ứng đủ phân bón và nước cho cây Theo dõi động thái ra hoa của các liều lượng lân bón khác nhau được kết quả thể hiện ở bảng 3.3 và đồ thị 1

Số hoa nở trên ngày tăng dần từ thời kỳ bắt đầu ra hoa đến thời kỳ ra hoa

rộ và sau đó giảm xuống ở tất cả các liều lượng Các liều lượng bón có số ngày

ra hoa biến động trong khoảng 25 – 28 ngày, liều lượng có thời gian ra hoa ngắn nhất là liều lượng đối chưng không bón lân là 25 ngày, liều lượng bón 90 kg

P2O5/ha có thời gian ra hoa dài nhất 28 ngày Về tổng số hoa, liều lượng lân bón

có tổng số hoa trên cây đạt cao nhất là liều lượng bón 90 kg P2O5/ha đạt 69,6 hoa/cây, liều lượng đối chứng không bón lân có tổng số hoa đạt ít nhất 52,2 hoa/cây Các liều lượng còn lại đều cao hơn liều lượng đối chứng, biến động trong khoảng 55,1 – 62,3 hoa/cây

Như vậy, việc bón lân đã tác động đến quá trình hút dinh dưỡng, vận chuyển vật chất đến các bộ phận của cây, thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa

Trang 18

sớm và nhiều hơn Bón lân có tác dụng kéo dài thời gian ra hoa và tổng số hoa trên cây của giống tăng so với liều lượng đối chứng

Trang 19

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến số hoa nở trên cây và thời gian ra hoa của giống đậu tương D912

Trang 20

3.1.4 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chiều cao thân chính của giống đậu tương D912

Chiều cao cây là một trong các chỉ tiêu để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống đổ cũng như các chỉ tiêu liên quan đến năng suất của cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng trong cùng một điều kiện ngoại cảnh Sự tăng trưởng chiều cao cây liên quan đến sự hình thành số đốt mang quả, khả năng phân cành, quyết định số hoa, số quả trên cây từ đó ảnh hưởng tới năng suất

Khác với một số cây trồng khác, cây đậu tương trong thời gian nở hoa thì thân cành, lá, vẫn tiếp tục phát triển mạnh Chiều cao thân chính và tốc độ tăng trưởng chiều cao thân chính phụ thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật canh tác… Trong điều kiện tối ưu thì cây sẽ tăng nhanh về chiều cao và đạt kích thước tối đa

Qua bảng số liệu thu được cho thấy: Chiều cao thân chính ở các liều lượng lân bón khác nhau tăng dần qua các thời kỳ theo dõi và chiều cao đạt tối

đa vào tuần thứ 6 của thời kỳ theo dõi

Giai đoạn khi cây có 2 – 3 lá thật chiều cao cây tăng trưởng chậm và khác nhau không rõ giữa các công thức Tăng nhanh nhất ở giai đoạn 30 – 44 ngày sau khi gieo Sự có mặt của phân bón đặc biệt là phân lân có tác dụng xúc tiến

bộ rễ phát triển, đẩy mạnh sự hình thành và nâng cao hoạt tính của nốt sần Do

đó, có tác dụng kích thích sự sinh trưởng và phát triển của cây giúp chiều cao cây tăng nhanh

Ở chiều cao cây cuối cùng liều lượng có liều lượng bón 150 kg P2O5/ha

có chiều cao đạt cao nhất 50,90 cm, liều lượng đối chứng không bón lân có chiều cao thấp nhất 44,18 cm Các liều lượng còn lại đều có chiều cao thân chính cao hơn đối chứng, biến động trong khoảng từ 45,23 - 48,53 cm Như vậy, ở các mức liều lượng lân bón nghiên cứu thì việc tăng liều lượng lân bón đã làm tăng chiều cao thân chính của cây đậu tương ở mức ý nghĩa 5%

Trang 21

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chiều cao thân chính của

giống đậu tương D912 (cm) Liều lượng

Đồ thị 1 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến động thái tăng trưởng chiều

cao thân chính của giống đậu tương D912

Trang 22

3.1.5 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống đậu tương D912

Lá là nơi tiếp nhận ánh sáng mặt trời và là nơi thực hiện chức năng quang hợp để tạo ra chất hữu cơ, quyết định 90 – 95 % năng suất cây trồng vì thế hoạt động quang hợp được coi là hoạt động sinh lý quan trọng nhất trong đời sống của cây vì vậy, về nguyên tắc điều chỉnh diện tích lá và chỉ số diện tích lá là biện pháp ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng

Ở các giai đoạn khác nhau diện tích lá cũng khác nhau Diện tích lá tăng nhanh dần từ giai đoạn ra hoa đến ra hoa rộ sau đó giảm dần vào giai đoạn quả mẩy và giai đoạn thu hoạch Diện tích lá cao hay thấp phụ thuộc vào các yếu tố: Đặc điểm di truyền của các dòng, giống, các biện pháp kỹ thuật (nước, phân bón, mật độ) và điều kiện ngoại cảnh Chỉ số diện tích lá (LAI) là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá diện tích lá của quần thể cây trồng, là cơ sở cho việc tăng diện tích lá Nếu diện tích lá thấp thì lãng phí đất, còn nếu diện tích quá cao thì các tầng lá sẽ che khuất nhau, tầng lá phía dưới tiếp nhận ánh sáng dưới điểm

bù làm tiêu hao chất dinh dưỡng Trong sản xuất cần có biện pháp duy trì diện tích lá ở mức tối ưu, trong đó việc bón phân hợp lý là một trong những biện pháp quan trọng

Bảng 3.5 cho thấy, diện tích lá và chỉ số diện tích lá tăng mạnh từ thời kỳ bắt đầu ra hoa đến thời kì ra hoa rộ, sau đó có su hướng giảm dần ở thời kỳ quả mẩy Sự tăng trưởng diện tích lá và chỉ số diện tích lá đậu tương tăng rồi giảm dần ứng với sự tăng trưởng về chiều cao thân chính Bên cạnh yếu tố về giống, quá trình sinh trưởng còn chịu ảnh hưởng lớn bởi điều kiện ngoại cảnh và phân bón

- Thời kỳ bắt đầu ra hoa: Ở liều lượng bón 90 kg P2O5/ha có diện tích lá (4,78 dm2lá/cây) và chỉ số diện tích lá (1,91) đạt cao nhất, và thấp nhất ở liều lượng đối chứng không bón lân (diện tích lá 3,52 dm2lá/cây, LAI 1,41) Các liều lượng còn lại đều có diện tích lá và chỉ số diện tích lá cao hơn đối liều lượng chứng và biến động từ 3,99 - 4,73 dm2lá/cây, LAI 1,79 – 1,89

Ngày đăng: 01/04/2016, 12:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Sơ đồ th í nghiệm (Trang 6)
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thời gian và tỉ lệ mọc mầm (Trang 14)
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến số hoa nở trên cây và thời gian ra hoa của giống đậu tương D912 - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.3. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến số hoa nở trên cây và thời gian ra hoa của giống đậu tương D912 (Trang 19)
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chiều cao thân chính của - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.4. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chiều cao thân chính của (Trang 21)
Đồ thị 1. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến động thái tăng trưởng chiều - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
th ị 1. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến động thái tăng trưởng chiều (Trang 21)
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến diện tích lá và chỉ số diện - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến diện tích lá và chỉ số diện (Trang 23)
Bảng 3.9: Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến đường kính thân của - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.9 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến đường kính thân của (Trang 29)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh (Trang 31)
Bảng 3.11: Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chiều cao đóng quả, số - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến chiều cao đóng quả, số (Trang 33)
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến các yếu tố cấu thành - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến các yếu tố cấu thành (Trang 35)
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất của giống đậu - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất của giống đậu (Trang 38)
Đồ thị 2.  Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất thực thu của - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
th ị 2. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến năng suất thực thu của (Trang 38)
Bảng 3.13. Hiệu suất sử dụng lân ở các liều lƣợng bón khác nhau của giông - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.13. Hiệu suất sử dụng lân ở các liều lƣợng bón khác nhau của giông (Trang 39)
Đồ thị 3.  Hiệu suất sử dụng lân ở các liều lượng bón khác nhau của giống - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
th ị 3. Hiệu suất sử dụng lân ở các liều lượng bón khác nhau của giống (Trang 40)
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thu nhập thuần của giống đậu tương D912 (đ) - Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng lân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương d912 trong vụ thu đông năm 2012 tại chiềng mung   mai sơn
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của liều lượng lân bón đến thu nhập thuần của giống đậu tương D912 (đ) (Trang 42)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w