Một số trang trại và hợp tác xã nuôi lợn với quy mô lớn đã được mở ra liên kết với các trung tâm khoa học để áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật trong khâu lai tạo giống, chọn giống
Trang 1TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA
KHOA NÔNG LÂM
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề i
CHUYÊN NGÀNH: NÔNG LÂM NGHIỆP
Sinh viên thực tập : Hoàng Văn Tành
Lớp : CĐ NÔNG LÂM K47 Khóa học : 2010 - 2013
GV hướng dẫn : Thạc sĩ Vũ Thị Thảo
ơn a, tháng 5, năm 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Bằng sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Thạc Sĩ
Vũ Thị Thảo - giảng viên khoa Nông Lâm;cùng các thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm, các cán bộ và nhân viên của Uỷ ban nhân dân xã Muổi Nọi -
Thuận Châu - Sơn La đã chỉ bảo tận tình và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm, cùng các cán bộ và nhân viên của Uỷ ban nhân dân xã Muổi Nọi-Thuận Châu - Sơn La đã chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suất quá trình học tập, nghiên cứu và thực tập
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên tôi trong suất quá trình thực hiên chuyên đề
Do kiến thức và thời gian thực tập có hạn chế cho nên báo cáo này không tránh khỏi sai sót Kính mong thầy cô và bạn bè góp ý để báo cáo được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn
Sơn La,ngày … tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Ho ng Văn T nh
Trang 3là một vật nuôi được duy trì hàng ngàn đời nay, điều này chứng tỏ rằng nó có quan hệ chặt chẽ với con người và hệ thống nông nghiệp
Đối với nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì việc phát triển ngành chăn nuôi thành ngành mũi nhọn, trong những năm gần đây, tỉ trọng giá trị chăn nuôi trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất nông nghiệp được nâng lên đáng
kể Vì là ngành mũi nhọn của Việt Nam nên hầu hết các hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam đều chăn nuôi gà lợn, bò, dê …trong đó lợn là chủ yếu Nhiều
hộ gia đình mở rộng quy mô chăn nuôi, tạo khối lượng hàng hoá lớn ở một số vùng các trang trại chăn nuôi nhỏ và vừa đã được hình thành
Nắm bắt được vai trò to lớn của việc chăn nuôi lợn để xuất khẩu thịt lợn sang thị trường nước ngoài là một việc quan trọng nên Nhà nước ta đã đầu
tư đúng mức vào việc chăn nuôi lợn Một số trang trại và hợp tác xã nuôi lợn với quy mô lớn đã được mở ra liên kết với các trung tâm khoa học để áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật trong khâu lai tạo giống, chọn giống, phòng trừ bệnh tật, tăng khả năng chế biến ra các sản phẩm chăn nuôi từ lợn đạt chất lượng cao phục vụ không những cho người tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩu nhiều ra thị trường thế giới
Trang 4Ngành chăn nuôi ở trên thế giới nói chung và ở việt nam nói riêng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và giúp bà con xóa đối giảm nghèo , nhiều họ gia đình đã vươn lên lam giàu từ nuôi lợn Nuôi lợn đảm bảo cung cấp thực phẩm và hướng tới xuất khẩu , và là ngành then chốt thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển Lơn là loài nuôi nhiều và cung cấp lượng thực phẩm cho con người
Xuất phát từ thực tế đó tôi tiến hành đề tài “ n n t n thu t
â n m h nh sản u t n n a và n th ơn ph m t ản o
u hu n hu n hâu t nh ơn a
Trang 5PH N II T NG QUAN TÀI LIỆU
2 V n ề o n ph iển gi ng n i n h ng ph
Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh xâm lược Nhưng thật may là chúng ta lại có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, tuy một số loại động, thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như: 1) áp lực của cơ chế thị trường chạy theo năng suất cao, chạy theo thị trường nên cần có các giống vật nuôi co giá trị kinh tế, năng suất và chất lượng thịt cao; 2) nhờ tác động của kỹ thuật mới về giống nhân tạo đã tạo ra nhiều giống lai
có năng suất cao Vật nuôi địa phương có năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như thịt thơm ngon, chịu đựng kham khổ, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khắc nghiệt để lai với các giống khác nhau để tạo ra giống như mong muốn
Nhận thấy hiểm hoạ đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên
từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện đề án
“Bảo tồn nguồn gen vật nuôi” đây là một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động, thực vật khác; năm 1997 đã công bố “Quy chế bảo tồn gen vật nuôi” và đến năm 2004, Chủ tịch nước công bố “Pháp lệnh về giống vật nuôi” Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong chương trình giống đã đưa phần bảo tồn nguồn gen như một bộ phận quan trọng nhằm thúc đẩy sản xuất
Năm 1990 triển khai đề án bảo tồn quỹ gen đến nay chúng ta đã nhận biết được 51 giống, trong đó 8 giống đã mất trước năm 1990 Trong 43 giống còn lại
có 18 giống được sử dụng rộng rãi và 25 giống được sử dụng hẹp, 8 giống trong
số 25 giống đã được tổ chức khai thác chiếm 30% Trong 51 giống có 13 giống lợn, 5 giống đã mất, 5 giống đã được phát triển nhiều, 1 giống phát triển xuất sắc
và 2 giống phát triển ít Lê Viết Ly và Hoàng Văn Tiệu (2004)
2 Ng n g gi ng n i n h ng ph
2 u n c n a
Trang 6* L n ừng Thái Lan
Ngày nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là các loại thịt đặc sản quý hiếm Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, ngành chăn nuôi đang được nhà nước quan tâm đầu tư phát triển Trong chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp thì việc đổi mới cơ cấu giống và đa dạng hoá các nguồn gen vật nuôi là một trong những vấn đề đang được Cục Chăn nuôi, Bộ Nông nghiệp và PTNT quan tâm
Để đáp ứng nhu cầu thị trường các giống gia sĩc bản địa và hoang dã đang được các nhà chăn nuôi đầu tư và khai thác những đỉặc tính quý, một trong những động vật hoang dã được nhiều người Việt Nam ưa chuộng đó là lợn rừng Thuần hóa lợn rừng, lai tạo với lợn nhà đang đưỵc nhiều trang trại
và các cơ sở chăn nuôi của nước ta nghiên cứu và ứng dụng Người chăn nuôi
ở Việt Nam biết và quan tâm đến các giống vật nuôi của Thái Lan trong đó có lợn rừng đã được thuần dưỡng và lại tạo ở các cơ sở chăn nuôi cđa họ Lợn rừng thuần dưỡng cđa Thái Lan đang rất được người chăn nuôi và người tiêu dùng ưa chuộng do những đặc tính ưu việt: thịt thơm ngon, ít mỡ, nhiều nạc giá trị cao nhưng đầu tư thấp, chi phí thức ăn ít, thời gian nuôi ngắn, dễ nuôi, sinh sản tốt, tỷ lệ sống cao và ít bệnh tật
Đ iể ủ n ừng Thái Lan
Lợn rừng thường sống theo bầy đàn đông đến 50 con, sống dựa vào nhau để đảm bảo an toàn Vì lợn rừng không chịu nắng nóng nên thường thích kiếm ăn về đêm, thích ngâm mình dưới bùn để thải nhiệt, đuổi côn trùng, ký sinh trùng trên da Hiện nay lợn rừng Thái Lan được thuần dưỡng tại nhiều cơ
sở chăn nuôi và sử dụng các sản phẩm theo ý muốn của con người
Trang 7Hình : L n ừng Th i L n
Lợn rừng Thái Lan có thân hình thon, mình mỏng, dáng cao, mặt nhọn hình tam giác, mõm dài, tai dựng đứng, nhỏ, mắt lồi trông dữ tợn, ở má có vệt lông màu trắng chạy vắt qua mũi Mũi chúng rất thính, linh hoạt, mềm nhưng
rất khỏe (lợn thường dùng mũi để đào bới, tìm thức ăn)
Con cái trưởng thành nặng 90 - 100 kg, con đực: 100 - 120 kg Con đực có 4 nanh dài chĩa ra ngoài là phương tiện để kiếm thức ăn và là vũ khí lợi hại thể hiện sức mạnh của nó Lông lợn rừng dài, cứng, màu lông nâu hoặc đen Thường lỗ chân lông thành búi lông, mỗi búi có 3 gốc lông nhưng mỗi lỗ
có 1 lông Lông bờm màu đen đậm, mọc từ gáy dọc theo sống lưng cho đến mông Đuôi nhỏ, ngắn, chỉ dài đến khoeo chân Chân lợn rừng nhỏ thon, móng nhọn Vai cao hơn hông Lợn rừng cái có 2 dãy vú, mỗi dãy 5 núm vú,
da rất dày Số lợn sơ sinh: 6-10 con/ổ, lợn con có bộ lông giống trái dưa gang (vệt lông màu trắng chạy dọc thân trên nền da màu đen hoặc nâu) Khi lợn
Trang 8trên 2 tháng tuổi, các vệt sọc này không còn nữa Tại Thái Lan có 2 giống lợn rừng: nhóm giống mặt dài và nhóm mặt ngắn
Sinh s n sinh ởng
Lợn rừng Thái Lan 7 - 8 tháng tuổi có thể trọng 40 - 60kg (với lợn cái
có thể cho phối giống) Thời gian mang thai giống lợn nhà (khoảng 114
ngày) Thời gian đẻ (từ con đầu đến con cuối) 2 - 4 giờ Quá trình đẻ diễn ra theo tự nhiên, không cần sự giúp đỡ hoặc can thiệp của con người Lợn rừng
đẻ 2-2, 5 lứa/ năm, lứa đầu (con so) đẻ 3 - 5 con, lứa rạ đẻ nhiều hơn (7 - 12 con) Lợn rừng sơ sinh có tầm vóc nhỏ, khối lượng bình quân 0,5 - 0,9kg/con Lợn 1-2 tháng tuổi: 5 - 10kg, 3 - 4 tháng tuổi: 15 kg - 20kg, 8 - 12 tháng: 60 -
70 kg, khi trưởng thành: trên 100 kg
Chính vì vậy khi lợn rừng được nuôi trong trang trại, nó có khả năng
ăn và sử dụng có hiệu qủa nhiều loại thức ăn có trong tự nhiên hơn bất kỳ vật nuôi nào mà con người đã có Kết quả nghiên cứu cho thấy lợn rừng ăn tất cả các loại thực vật như rau, quả thường dễ kiếm như cây chuối, hoa chuối, bẹ chuối, rau muống, rau đắng, ngọn mía, bèo tây, lá rau lấp, ngô hạt, ngô bắp, cây ngô, củ sắn, khoai tây, măng tre, cỏ tươi, xoài, dưa hấu, vỏ mít, rau sống v.v Các loại rau trồng, rau dại, phần bỏ đi của tất cả các loại rau sau khi mua bán loại ra ở chợ đều có thể làm thức ăn cho lợn rừng
Lợn rừng thuần hóa và các con lai của nó là những vật nuôi có giá trị kinh tế và xã hội cao cần được nghiên cứu về các đặc tính sinh học, tính ưu
Trang 9việt và khả năng chăn nuôi an toàn dịch bệnh trong điều kiện nông hộ và trang trại của nước ta Giống lợn rừng thuần hóa và các con lai là nguồn gen quý cần được nghiên cứu, khai thác và sử dụng có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi đồng thời đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của xã hội
* L n Rừng h ần Việ N
Đ iể ủ n ừng Việ N
Lợn rừng Việt Nam Thuần; Mẹ nhỏ, thường chỉ từ 35 – 50 kg, mõm dài và nhọn, đầu nhỏ, tai nhỏ, cổ dài thắt ngẫng, không có má, đẻ ít con, lợn chậm lớn, màu lông thường là hung đen, áp dụng đúng kỹ thuật nuôi thì về cơ bản không có mỡ (97% là thịt nạc) loại này bán được giá và được thị trường
ưa chuộng Tuy nhiên rừng thuần Việt đối với lợn con mới đẻ nuôi rất khó và hay bị chết do hay bị bệnh đi phân trắng Lợn mẹ thường đẻ ít con (2-3
con/lứa) nên hiệu quả không cao
Phân
Lợn rừng Việt Nam sống rất nhiều ở các vùng sinh thái khác nhau Đến nay theo xuất xứ có 4 loại được nuôi: Lợn rừng Việt miền Bắc (được nuôi tại Ba Vì, Hà Nội); Lợn rừng Phú Yên (nuôi tại trang trại động vật quý hiếm Hòa Khánh - Khánh Hòa); Lợn rừng Cát Tiên (nuôi tại trang trại ông Chín - Cần Giuộc, Long An), ông Kỳ (Đồng Nai); Lợn rừng Bình Phước (nuôi tại trang trại ông Bảy Dũng - Bình Phước – ông này được xem là người khởi đầu nghề nuôi lợn rừng tại Việt Nam) Các loại lợn rừng vùng Đông Nam bộ, miền Bắc và Lào có thể là một
Trang 10Hình : L n Rừng Vệ N
* L n H’Mông
Xuất xứ: Lợn H’Mông thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc
chãn (Artiodactyla), họ Suidae, chủng Sus, loài Sus domesticus, giống lợn
Mẹo Lợn Mẹo được hình thành tại vùng núi cao của dãy Trường Sơn, nơi có khí hậu mát mẻ và địa hình đồi núi rộng rãi thích hợp cho thả rông tự do Qua hàng trăm năm sống ở vùng núi cao, lợn Mẹo đã thích nghi và phát tnển tốt trong điều kiện sinh thái, kinh tế và tập quán chăn nuôi của người H'Mông địa
phương
Phân bố: Lợn H’Mông được nuôi chủ yếu ở vùng núi tỉnh Nghệ An, tập trung nhiều ở hai huyện Kỳ Sơn và Tương Dương Sau các cuộc điều tra giống những năm 60 lợn Mẹo được phổ biến dần xuống các huyện đồng bằng Nghệ An (Anh Sơn, Đô Lương, Nam Đàn) và con đực được lai với các giống địa phương để nuôi kinh tế (lai nội x nội)
Đặc điểm ngoại hình: Lợn H’Mông có tầm vóc khá lớn, trường mình, phát triển cân đối Lông da màu đen, da dày, lông dài và cứng, thường có 6 điểm trắng ở 4 chân, trán và đuôi, một số có loang trắng ở bụng Đầu to, rộng,
Trang 11mặt hơi gãy, trán dô và thường có khoáy trán, mõm hơi dài, tai vừa phải và hơi chúc về phía trước Vai rộng, lưng dài rộng, phẳng hoặc hơi vồng lên Phần hông rộng và phẳng, mông rộng và chiều cao mông thường cao hơn vai Bụng lợn to, dài nhưng không sệ, lợn cái vú không sát đất, lợn đực bụng thon
gọn hơn Chân lợn cao, thẳng, vòng ống thô, đi đứng trên hai ngón trước
Khả năng sản xuất
Khả năng sinh trưởng: Lợn H’Mông được nuôi chủ yếu trong điều kiện thả rông quanh năm, ít được chăm sóc của chủ nuôi nên tốc độ sinh trưởng chậm, thời gian nuôi kéo dài, có khi đến 2-3 năm tuổi Nhiều con lợn được nuôi trên 2 năm có khối lượng lớn từ 200-300 kg
Khả năng sinh sản: Lợn đực tành thục sinh dục sớm, có thể nhảy cái lúc
4-5 tháng tuổi, nhưng lợnc ái thành thục sinh dục muộn, tới 8-9 tháng tuổi mới động dục, cá biệt có con tới 1 năm tuổi mới động dục lần đầu.Lợn đực Mẹo
có phẩm chất tinh khá tốt và ổn định qua theo dõi từ lúc 8-9 tháng đến 2 năm tuổi
Lợn nái H’Mông được nuôi trong điều kiện thả rông ở miền núi có số lứa đẻ thấp (trên 1 lứa/năm), nhưng nuôi ở đồng bằng điều kiện chăm sóc và chế độ dinh dưỡng tốt hơn đã cho khả năng sinh sản cao hơn Trong điều kiện nuôi thả rông miền núi mỗi lứa lợn Mẹo chỉ đẻ trung bình 6-7 con, lứa đầu thường chỉ 3-4 con, tỷ lệ nuôi sống thấp (khoảng 60-70% nhưng ở đồng bằng các chỉ tiêu này cao hơn, lứa 1 đẻ trung bình 8 con, lứa 3-4 đẻ 9- 10 con
Chu kỳ động dục của lợn H’Mông trung bình 18-21 ngày, thời gian động dục kéo dài 2-4 ngày, khoảng cách hai lứa đẻ ở miền núi 9-10 tháng, ở đồng bằng 7- 8 tháng, tuổi phối giống thích hợp nhất là khi lợn 10 tháng tuổi, khối lượng cơ thể đạt khoảng 50-55 kg
Tính trạng đặc biệt: Tầm vóc to, thể hình cứng cáp, bốn chân đứng thẳng
đó là đặc điểm nổi bật của giống lợn này Đặc điểm này rất hiếm thấy trong
Trang 12các giống lợn nước ta Tính trạng này là quý trong việc cải tạo đàn lợn nội qua lai giống
Công tác bảo tồn nguồn gen : Lợn H’Mông vẫn còn rất phổ biến ở các bản vùng cao miền Tây Nghệ An Ngoài việc tiếp tục thu thập tư liệu, tuyển chọn và nuôi tốt đực giống tốt là việc cần chú ý hiện nay Bảo quản tinh trùng
đông lạnh qua ex-situ đang được thử nghiệm
Trang 13dựng lên và mặt hình đĩa Ban đầu nó được phát triển như là một giống lợn nuôi ngoài trời, nhưng ngày nay đây là giống nuôi nhốt và được thị trường ưa chuộng vì có lượng thịt nạc lớn
4 chân hơi yếu, đẻ nhiều, tỷ lệ nạc cao
Trang 14Hình 5: L n L nd e
Heo Duroc bắt nguồn từ vùng Đông Bắc của Mỹ, phát triển mạnh ở New York và New Jersey Duroc có màu lông hung đỏ hoặc nâu đỏ, 4 móng chân và mõm đen Thân hình vững chắc, tai xụ từ nửa vành phía trước, dài đòn, chân chắc và khỏe Khả năng sinh sản của nái không cao, đẻ khoảng 7-9 con/lứa, nuôi con kém, tỷ lệ nạc cao Trọng lượng trưởng thành con đực trên 300kg/con, con cái 200 - 300kg/con Sử dụng làm nguyên liệu dòng đực để lai tạo với lợn nái lai F1(Yorkshire x Landrace) tạo heo thịt thương phẩm cho tỷ
lệ nạc cao (54-56%)
Bộ giống gốc lợn Duroc được công ty Thái Dương nhập về từ Canada dưới sự tuyển chọn kỹ lưỡng theo tiêu chuẩn quốc tế và làm tươi máu thường xuyên bằng công nghệ cấy tinh đông lạnh Đáp ứng được mọi yêu cầu khắt khe nhất về các tiêu chuẩn an toàn sinh học , quy trình phòng và trị bệnh
Trang 15Tuy nhiên, giống lợn Pietrain có nhược điểm tim yếu, khả năng chịu đựng kém, nhạy cảm với stress Lợn Pietrain thường sử dụng lai với giống Duroc
để tạo "đực cuối cùng"nhăm nâng cao năng suất thịt mông và tỷ lệ nạc
Trang 16Hình 7: L n Pie in
2 Tình hình nghi n ứ ong n ngo i n
2.3.1 nh h nh n h ên cứu ở n ớc n oà
Trong nhiều thập kỷ qua, các nước trên thế giới đã áp dụng thành công nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật và mang lại những thay đổi rõ rệt, góp phần nâng cao sức sản xuất trong chăn nuôi lợn
Theo Trần Kim Anh (1998) [1], năng suất sinh sản của một số tổ hợp lai
ở Mỹ cho thấy đối với giống thuần Landrace, Yorkshire, Duroc và Hampshire thì không có ưu thế lai ở đời con nhưng tỷ lệ thụ thai ở Duroc và Hampshires cao đạt tương đương nhau là 85%, trong khi đó Yorkshire, Landrace đạt thấp hơn tương ứng 72 và 69% Kết quả lai kinh tế đã làm tăng số con sơ sinh trung bình/ổ từ 12-16%, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa cao hơn 10 -15% so với giống thuần, khả năng nuôi thịt tốt hơn, giảm được thời gian vỗ béo từ 25-30 ngày khi đạt khối lượng giết mổ 100kg ở một số nước Châu Âu Tác giả cũng cho biết năng suất của một số tổ hợp lai ở Mỹ và Canada số con đẻ ra còn sống/ổ, số con cai sữa đạt gần tương đương nhau lần lượt là 10,11 và 10,22 con/ổ) và (8,92 và 9,93 con/ổ), số lợn con cai sữa/nái/năm ở Mỹ là 20,53 con
và ở Canada là 20,27 con, khoảng cách lứa đẻ tương ứng là 157 và 161 ngày
Trang 17Theo nghiên cứu của Serenius và cộng sự (2002) [11] khi nghiên cứu trên 2 giống lợn Large White và Landrace qua các lứa đẻ (từ lứa 1 – lứa 5) cho thấy số con sơ sinh/ổ tương ứng ở 2 giống là (10,8; 11,6; 12,5; 12,9 và 12,9) và (10,4; 11,5; 12,4; 12,7 và 12,8 con/ổ) Khoảng cách lứa đẻ là (165,9; 164,9; 163,2; 164,0) và ( 169,3; 162,2; 161,3; 161,2 ngày)
Hamman và cộng sự (2004) [10] cũng thông báo về khả năng sinh sản giữa 2 giống lợn Landrace (Đức) và Pietrain qua các lứa đẻ cho thấy: số con
đẻ ra còn sống/ổ ở lứa đẻ đầu tương ứng giữa 2 giống là 9,77 và 9,21 con/ổ, từ lứa thứ 2 – 10 tương ứng là 10,51 và 9,82 con/ổ
Như vậy để tăng năng suất sinh sản và chất lượng thịt, hầu hết các nước
có nền chăn nuôi phát triển đều sử dụng những tổ hợp lai có máu của nhiều giống lợn Nhờ đó đã thu được những thành công lớn trong sản xuất lợn thương phẩm
2.3.2 nh h nh n h ên cứu tron n ớc
Phạm Thanh Hoa và cộng sự (2008) [6] khi nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình của lợn Bản nuôi tại 3 huyện Mai Sơn, Thị xã Sơn La và huyện Sông Mã đã cho rằng, đặc điểm của lợn Bản đa dạng, lợn có đầu to, mõm thẳng, dài hoặc dài vừa phải Tai nhỏ, dựng hoặc vừa, hơi cúp, lưng võng, chân cao, bụng to nhưng không xệ sát đất Phần lớn Lợn Bản có màu lông đen với các điểm trắng, một số ít
có màu đen và một số có màu nâu pha trắng Các điểm trắng có thể ở trán, 4 chân, vai hoặc chóp đuôi
Theo Trần Thanh Vân và cộng sự (2005) [8], lợn Mẹo nuôi tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La được đồng bào H’Mông thuần hoá từ lâu đời, lợn chủ yếu được nuôi chăn thả tự do, chịu kham khổ cao, dễ nuôi Lợn đạt được những chỉ số sinh sản, sinh trưởng, lợn có khoảng cách lứa đẻ 234,53 ngày;