1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp xã chiềng khoong huyện sông mã

88 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 894,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, cũng như các nước trên thế giới thì mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cũng là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cườn

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn: Ths Trần Thị Oanh

S inh viên thực hiện: Giàng A Lại

Lớp: TC Quản lý đất đai K48

Sơn La, năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA 1

LỜI CẢM ƠN 4

DANH MỤC BẢNG 6

1.1 Tính cấp thiết của đề tài .7

1.2 Ý nghĩa của đề tài 8

1.3 Mục đích nghiên cứu 8

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 8

2.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất 8

2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 8

2.1.2 Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới 10

2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững 11

2.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 13

2.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất 13

2.2.1.3 Hiệu quả môi trường 16

2.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 16

2.2.2.1 Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 16

2.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 17

2.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 18

2.3 Xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá 21

* Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá 21

* một số định hướng phát triển nền nông nghiệp hàng hoá 25

2.3.1 Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức 27

2.3.2 Nhóm yếu tố xã hội 28

2.4 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong tương lai 29

2.4.1 Xây dựng nền nông nghiệp bền vững 30

2.4.1.2 Định hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững 34

2.4.1.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững 37

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 40

3.2 Nội dung nghiên cứu 40

3.2.1 Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có liên quan đến đất đai 40 3.2.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã 40

3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 40

3.2.4 Định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng Khoong - Xác định các loại hình sử dụng đất có triển vọng 41

3.3 Phương pháp nghiên cứu 41

3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 41

3.3.2 Phương pháp thu thập các số liệu, tài liệu 41

3.3.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 42

PHẦN 4 KẾT QUẢ DỰ KIẾN 43

4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Chiềng Khoong 43

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 43

4.1.1.2 Tài nguyên thiên nhiên và môi trường 44

Trang 3

4.1.2.Điều kiện xã hội 46

4.1.2.1 Dân số 46

4.1.2.2 Lao động và việc làm 47

4.1.2.3.Y tế 47

4.1.2.4 Giáo dục-đào tạo 47

4.1.2.5 Văn hoá, thể thao 49

4.1.2.6 Quốc phòng,an ninh 49

4.1.3 Các hoạt động kinh tế 50

4.1.3.1 Sản xuất nông lâm nghiệp: 51

4.1.3.2 Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp 57

4.1.3.3 Thương mại, dịch vụ 57

4.1.4 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 57

4.2.Đánh giá tiềm năng các nguồn lực, những lợi thế và khó khăn 58

4.2.1.Về vị trí địa lý: 58

4.2.2.Về tài nguyên thiên nhiên và môi trường: 59

4.2.3 Nguồn nhân lực: 60

4.2.4 Thị trường: 60

4.2.5 Cơ sở hạ tầng: 60

4.2.6 Tiềm năng du lịch: 61

4.2.7 Khả năng chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 61

4.2.8 Chính sách: 61

4.2.9.Nhận xét chung: 61

4.3 Xây dựng phương án QHTT phát triển KTXH xã Chiềng Khoong 63

4.3.1 Phương hướng, mục tiêu phát triển: 63

4.3.2 Quy hoạch sử dụng đất 64

4.3.2.1 Hiện trạng tình hình quản lý, sử dụng và biến động đất 64

4.3.2.2 Quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp 65

4.3.2.3 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp: 67

4.3.2.4 Quy hoạch đất chưa sử dụng 68

4.3.3.Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành kinh tế 68

4.3.3.1 Định hướng xây dựng cơ cấu kinh tế 68

4.3.3.2 Quy hoạch nông lâm nghiệp 69

4.3.4 Quy hoạch phát triển xã hội 75

4.3.4.1.Vấn đề dân số, lao động việc làm 75

4 3.4.2 Giáo dục và đào tạo 76

4.3.4.3 Y tế và sức khoẻ cộng đồng 77

4.3.4.4 Văn hoá xã hội 77

4.3.4.5 Công tác tổ chức an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội 78

4.3.5.Quy hoạch phát triển mạng lưới dân cư và cơ sở hạ tầng 78

4.3.5.1.Quy hoạch phát triển mạng lưới dân cư 78

4.3.5.2 Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng 79

PHẦN 5 : KẾT LUẬN 82

5.1 Kết luận 82

5.2 Kiền nghị 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

NHẬT KÝ THỰC TẬP 86

Trang 4

Với tấm lòng biết ơn, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ

tận tình của Cô hướng dẫn cùng các anh chị công tác tại UBND xã

ChiÒng Khoong đã giúp em hoàn thành đề tài này

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

TT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

2 CNH - HĐH Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2012 37

Bảng 4.2 Hiện trạng hệ thống cây trồng của xã Chiềng Khoong qua một số năm

38 Bảng 4.3: Diện tích các loại hình sử dụng đất chính xã Chiềng Khoong

39 Bảng 4.4 Hiệu quả kinh tế các cây trồng vùng 1 40

Bảng 4.5 Hiệu quả kinh tế các cây trồng vùng 2 41

Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 1 42

Bảng 4.7 Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất vùng 2 43 Bảng 4.8 Danh mục các loại thuốc BVTV người dân xã Chiềng Khoong sử

dụng 45

Trang 7

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đặc điểm nổi bật của vấn đề nông thôn và nông dân trong hơn mười năm qua là sự đối diện với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa song hành với toàn cầu hóa và thị trường hóa Theo dự tính đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp Những gì các nước Âu Mỹ vượt qua trong hàng trăm năm, các nền kinh tế Đông Á đi qua hàng chục năm, thì nay Việt Nam đang nếm trải gần như cùng một lúc

Đô thị hóa là một đòi hỏi của phát triển Đô thị hóa không chỉ là sự thay đổi của cảnh quan bên ngoài, mà là sự thay đổi lối sống, tác động mạnh đến tâm trạng con người Vì vậy, vấn đề đô thị hóa xảy ra tự phát theo một quy luật tất yếu không cưỡng lại được hay là tự giác và chủ động để thuận theo quy luật ấy một cách thông minh, có tính toán, có “quy hoạch” là điều đang rất được quan tâm

Những năm qua ở nước ta, việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp để chuyển sang công nghiệp và đô thị đã diễn ra rất nhanh, diện tích đất nông nghiệp ngày càng

bị thu hẹp, và có nguy cơ tiếp tục giảm mạnh Theo phương án quy hoạch sử dụng đất cả nước đến năm 2010, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của cả nước sẽ giảm từ 0,113 ha (năm 2000) xuống còn 0,108 ha (năm 2010) và trong vòng

10 năm, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người đã giảm 50m²

Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp phát triển các ngành khác Vì vậy, việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn cầu Mục tiêu hiện nay của loài người là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện về kinh tế xã hội, môi trường một cách bền vững Để thực hiện mục tiêu trên cần bắt đầu từ việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp toàn diện, như Bùi Huy Đáp đã viết "phải bảo vệ một cách khôn ngoan tài nguyên đất còn lại cho một nền sản xuất nông nghiệp bền vững"

Tuy nhiên, xét trên tổng thể, nền nông nghiệp nước ta vẫn phải đang đang

Trang 8

đối mặt với hàng loạt các vấn đề như: sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất chất lượng hàng hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm Trong điều kiện các nguồn tài nguyên để sản xuất có hạn, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết

Xã Chiềng Khoong là một xã vùng II của huyện Sông Mã, cách trung tâm huyện

10 km, địa hình chủ yếu là đồi núi nên việc đi lại tương đối khó khăn, phương tiện vừa đi xe, xã Chiềng Khoong có 5 dân tộc anh em cùng sinh sống là dân tộc Kinh và dân tộc Mông, dân tộc thái vá dân tộc sinh mum và dân tộc Khơ mú trình

độ dân trí thấp, không đồng đều, chủ yếu người dân sinh sống bằng nghề nông nghiệp, tình hình sản xuât nông nghiệp của xã tương đối ổn định,các hộ gia đình chủ yếu chỉ sản xuất một loại sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm nông nghiệp chính của xã chủ yếu là: ngô,sắn và chăn nôi một số gia súc,gia câm

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực

trạng và định hướng sử dụng đất nông nghiệp xã Chiềng Khoong Huyện Sông

1.2 Ý nghĩa của đề tài

- Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng Khoong và là cơ sở định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong tương lai

- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông nghiệp nâng cao mức thu nhập của người dân

Trang 9

Theo Luật đất đai năm 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác Sự phân chia cụ thể này sẽ giúp cho việc khai thác tiềm năng và nâng cao hiệu quả sử dụng của từng loại đất

Cùng với việc phát triển mạnh mẽ kinh tế - xã hội, công nghệ, khoa học và

kỹ thuật, công năng của đất được mở rộng và có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người Nhân loại đã có những bước tiến kỳ diệu làm thay đổi bộ mặt trái đất và mức sống hằng ngày Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra những hậu quả tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, thoái hoá đất… Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tán phá ở Châu Mỹ La Tinh và Châu á Cân bằng sinh thái bị phá vỡ, hàng triệu ha đất đai bị hoang mạc hoá Sự thoái hoá đất đai tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển Theo kết quả điều tra của UNDP và trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC), thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có khoảng 2 tỷ ha đất bị hoang hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu á và Châu Phi là 1,2 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích bị thoái hoá [11]

Lịch sử của thế giới đã chứng minh bất kỳ nước nào dù là nước phát triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia Đối với các nước đang phát triển, sản phẩm nông nghiệp và còn là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ Tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước có thể lựa chọn những nông sản phù hợp để xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân

Theo bản báo cáo của tổ chức ngân hàng thế giới World Bank, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 - 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có 6 - 7 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất, bị xói mòn Trong 1.200 triệu ha đất bị thoái hoá có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng không hợp lý

Trang 10

Theo số liệu thống kê năm 2008, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 331.150,4 km2, dân số là 86.210,8 nghìn người, mật độ dân số 260 người/km2

, trong đó đất nông nghiệp là 24.997 nghìn ha, đất sản xuất nông nghiệp cả nước 9.420 nghìn ha

Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong tình hình hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu của xã hội về nông sản đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất

Theo đánh giá của Ngân hành thế giới (WB), tổng sản lượng lương thực sản xuất ra chỉ đáp ứng nhu cầu cho khoảng 6 tỉ người trên thế giới, tuy nhiên có

sự phân bổ không đồng đều giữa các vùng Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép

từ nhu cầu lương thực thực phẩm ngày càng tăng của con người

Hiện nay trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6% Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới

là 12000m2 Trong đó ở Mỹ 2000m2, ở Bungari 7000m2, ở Nhật Bản 650m2

Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12ha; Malaysia 0,27ha; Philipin 0,13ha; Thái Lan 0,42ha; Việt Nam 0,1ha

Ngày 26 tháng 8 năm 2008, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 1682/QĐ-BTNMT công bố diện tích đất đai của cả nước tính tới ngày 01 tháng 01 năm 2008 Theo đó tổng diện tích tự nhiên là 33,12 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp có 24,99 triệu ha So với 10 nước trong khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam đứng thứ 2 nhưng bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực Diện tích đất canh tác là 10.805,9ha Bình quân diện tích đất canh tác đạt 1.300,4m2/người

2.1.2 Nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới

Trang 11

Nông nghiệp nhiệt đới được tiến hành ở các vùng trong vành đai nhiệt đới Diện tích vùng nhiệt đới chiếm khoảng 1/3 diện tích lục địa với diện tích đất nông nghiệp có ích khoảng 1,4 tỷ ha Điều kiện khí hậu - đất đai đặc biệt với hoàn cảnh kinh tế xã hội tạo cho nông nghiệp nhiệt đới có những nét riêng biểu hiện trên các hệ thống cây trồng, vật nuôi Khí hậu là yếu tố hạn chế quyết định đến sự phát triển của hệ thống cây trồng Vùng nhiệt đới ẩm, mưa nhiều, tập trung gây dòng chảy và xói mòn nghiêm trọng Đất đai phần lớn là màu mỡ nhưng so với vùng ôn đới thì không tốt bằng vì ít chất mùn, các xác vi sinh vật mau bị khoáng hoá Khí hậu và đất nhiệt đới phần lớn thích hợp cho việc trồng cây lâu năm, cà phê, chè, ca cao và các lọai cây ăn quả nhiệt đới Đối với những vùng đất trũng, đất phù sa, đất giàu chất hữu cơ… rất thích hợp cho việc gieo trồng các giống cây ngắn ngày, cây lương thực Hiện nay, ở các vùng nhịêt đới, việc canh tác sử dụng đất nông nghiệp theo hướng thâm canh cao, tăng năng suất, tăng vụ, áp dụng mạnh mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đây là những nguyên nhân gây tình trạng thoái hoá đất, đất bị mất khả năng sản xuất Điều đó đặt ra vấn đề là phát triển sản xuất nông nghiệp đi đôi với bảo vệ cải tạo đất, xây dựng nền nông nghiệp hiệu quả và bền vững

2.1.3 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

* Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

Ngày nay nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng tăng trong khi quỹ đất chỉ có hạn Đất đai đang là nguồn tài nguyên được con người khai thác với nhiều mục đích khác nhau Chính vì vậy một phần lớn diện tích đất nông nghiệp đang được chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác Do đó, cũng như các nước trên thế giới thì mục tiêu sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cũng là nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản

và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai

Trang 12

Chính vì vậy, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng vùng

*Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

Nông nghiệp bền vững được phát triển vào những năm 70 của thế kỷ này nhằm khắc phục nạn ô nhiễm đất, nước không khí bởi hệ thống nông nghiệp và công nghiệp cùng với sự mất mát của các loài động thực vật, suy giảm các tài nguyên thiên nhiên không tái sinh Vấn đề nông nghiệp bền vững

là vấn đề thời sự được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm [4]

Đi cùng với vấn đề phát triển nông nghiệp là sử dụng đất bền vững Thuật ngữ sử dụng đất bền vững được dựa trên 5 quan điểm sau:

- Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất;

- Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất;

- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước;

- Có hiệu quả lâu bền và được xã hội chấp nhận

Năm nguyên tắc trên là cốt lõi của việc sử dụng đất đai bền vững Nếu sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững

Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài Một trong những cơ sở quan trọng nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ thống sử dụng đất hợp lý Altieri và Susanna B.H.1990 cho rằng nền tảng của nông nghiệp bền vững là chế độ đa canh cây trồng với các lợi thế cơ bản là: tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên, giảm tác hại của sâu bệnh và

cỏ dại, giảm nguy cơ rủi ro… Quan điểm đa canh và đa dạng hoá nhằm nâng cao sản lượng và tính ổn định này được Ngân hàng thế giới đặc biệt khuyến khích đối với các nước nghèo

Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm bảo được nhu cầu của các thế hệ tương lai Phát triển nông nghiệp bền vững

là sự quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả hiện tại và mai sau Để phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta, cần nắm vững mục tiêu và tác dụng lâu dài

Trang 13

của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương Từ đó, nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao - đó là điều kiện tiên quyết phát triển được nền nông nghiệp bền vững

2.2 Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất

Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả Trước đây, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả Nói một cách tổng quát và chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại

Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận Trong lao động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian

Kết quả, mà là kết quả hữu ích là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên hữu hạn với nhu cầu tăng lên của con người mà

ta phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì vậy khi đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà phải đánh giá chất lượng hoạt động tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là nội dung của đánh giá hiệu quả

Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền Đồng thời về mặt hiệu quả xã hội là thể hiện mức thu hút lao động trong quá

Trang 14

trình hoạt động kinh tế để khai thác sử dụng đất Riêng đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được, nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm xuất khẩu…) để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước

Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh

tế quốc dân, gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế

Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn

là mong muốn của nông dân - những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường

2.2.1.1 Hiệu quả kinh tế

Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì “Hiệu quả là không lãng phí” Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội

Trang 15

Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:

- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy luật “tiết kiệm thời gian”;

- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết

hệ thống;

- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi ích của con người

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần

so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó

Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế

sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội"

2.2.1.2 Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất Theo Nguyễn Duy Tính, hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp

Hiệu quả xã hội được thể hiện thông qua mức thu hút lao động, thu nhập của nhân dân Hiệu quả xã hội cao góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, phát huy được nguồn lực của địa phương, nâng cao mức sống của nhân dân Sử dụng

Trang 16

đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn

2.2.1.3 Hiệu quả môi trường

Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài

Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường

Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: hiệu quả hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp Đó là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường

Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra

Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất

để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào

2.2.2 Đặc điểm, phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.2.2.1 Đặc điểm đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở các mặt;

Trang 17

- Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào kinh tế Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha), tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động

- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh,

do đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh

- Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài Vì thế, cần phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất

- Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm cho môi trường cùng phát triển Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…

2.2.2.2 Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải dựa trên những nguyên tắc cụ thể:

+ Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống Các chỉ tiêu phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc

+ Để đánh giá chính xác, toàn diện cần phải xác định các chỉ tiêu cơ bản biểu hiện hiệu quả một cách khách quan, chân thật và đúng đắn theo quan điểm

và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu cơ bản làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ hơn, cụ thể hơn

Trang 18

+ Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu

+ Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn, tính khoa học và phải

có tác dụng kích thích sản xuất phát triển

2.2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Mối quan

hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:

H = K - C

H = K/C

H = (K - C)/C

H = (K1 - K0)/(C1 - C0) Trong đó:

+ H: Hiệu quả + K: Kết quả + C: Chi phí + 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)

* Hiệu quả kinh tế

+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp

- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm)

- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào

và dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất

- Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là giá trị sản phẩm xã hội tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó

GTGT = GTSX - CPTG

Trang 19

+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG, GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ

+ Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, gồm có (GTSX/LĐ, GTGT/LĐ) Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu

sử dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động

* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:

+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;

+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển của vùng;

+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân; + Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường

Chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:

+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;

+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;

+ Đánh giá quản lý đất đai;

+ Đánh giá hệ thống cây trồng;

+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo vệ cây trồng;

+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;

+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất

2.3.2 phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới

Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu

Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa

Trang 20

trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:

+ Tập trung sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành, nhóm sản phẩm , dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng

+ Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá

+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, nhóm cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực Giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50% , tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn

+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, tăng sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển đất nông nghiệp nhằm tạo ra các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy

mô thích hợp

+ Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hoá

Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra

trên toàn cầu

Trang 21

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát mỗi năm nước ta mất ít nhất 70 – 80 ngàn hecta đất nông nghiệp cho các khu công nghiệp, sân golf, các nhà máy… Trước tình hình đó Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 391/QĐ-TTG ngày 18/4/2008 về việc rà soát, kiểm tra thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch và sử dụng đất 5 năm 2006 – 2010 trên địa bàn cả nước, trong đó

rà soát, kiểm tra thực trạng công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất nông nghiệp 5 năm 2006 – 2010 nói chung và đất trồng lúa nước nói riêng Và mới đây nhất trong trong Hội nghị TW7 (khai mạc tại Hà Nội ngày 9-7-2008) đã đề cập nhiều vấn

đề, trong đó có một nội dung rất quan trọng là “vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông

thôn” (thường được gọi là "tam nông") Đây được coi là “đại vấn đề” mà việc xử lý

đúng sai sẽ trực tiếp quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN

2.3 Xây dựng nền nông nghiệp hàng hoá

Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp

lý Tuy nhiên thực tế cho thấy sử dụng đất đai là vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác nhau, thực chất đây là vấn đề có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Mục tiêu đặt ra là sử dụng tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất của quốc gia, nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội Việc sử dụng đất dựa trên nguyên tắc là ưu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp

Ngoài những tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật và quy luật sinh thái tự nhiên, đất đai còn chịu ảnh hưởng của yếu tố con người, các quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai, còn phương hướng sử dụng đất đai được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời

kỳ nhất định

Với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật trong những thập kỷ gần

Trang 22

đây, nền văn minh hiện đại của nhân loại đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường Sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng, sự bùng nổ dân số càng làm sâu sắc thêm sự mất cân đối giữa nhu cầu ngày càng cao của xã hội và khả năng hạn chế của các nguồn tài nguyên

Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử dụng đất của người dân còn hạn chế đã dẫn tới nhiều diện tích đất đai đang bị thoái hoá, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người Diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp và hậu quả đã gây ra quá trình thoái hoá, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng

Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người Chính vì vậy việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable Land Use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay

Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí với nhận định của FAO,

1992 [42]: “Phát triển bền vững là sự quản lý, bảo vệ cơ sở của nguồn lợi tự

nhiên và phương hướng của sự thay đổi kỹ thuật, thể chế bằng cách nào để đảm bảo thoả mãn nhu cầu của con người, cho thế hệ hôm nay và mai sau” Trong

nông nghiệp được dùng theo nghĩa rộng bao gồm nghề trồng trọt, nghề cá, nghề rừng, chăn nuôi và chế biến nông sản Bảo vệ được tài nguyên đất, nước, nguồn lợi di truyền thực vật và động vật đi đôi với việc tăng hiệu quả kinh tế, xã hội và không làm thoái hoá môi trường, thích ứng về kỹ thuật, có sức sống kinh tế và được chấp nhận về xã hội

Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho cuộc sống của con người Mục đích của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững phải coi thiên nhiên là môi trường lý

Trang 23

tưởng để phát triển một cách hoà hợp với thiên nhiên

Hệ thống canh tác lấy năng lượng, nguyên liệu từ môi trường, nếu khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo được, hoặc khai thác quá khả năng phục hồi tài nguyên sẽ dẫn đến không còn nguyên liệu, năng lượng Từ đó dẫn tới phải loại bỏ khả năng sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống canh tác

Hệ thống canh tác chuyển vào môi trường các chất thải trong đó có các chất độc đối với đất, nước và không khí khiến cho sản xuất không bền vững Do vậy khi bố trí các hệ thống canh tác các nhà khoa học bao giờ cũng phải cân nhắc đến hiệu quả kinh tế và môi trường

Trước năm 1970, trong nông nghiệp người ta nói đến nhiều giống mới, năng suất cao, kỹ thuật cao Nhưng sau năm 1970 một khái niệm mới đã xuất hiện và ngày càng có tính thuyết phục - khái niệm tính bền vững và tiếp theo là nông nghiệp bền vững

Không có ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính những người sinh ra và lớn lên ở đó Vì vậy, xây dựng nông nghiệp bền vững cần thiết phải có sự tham gia của người nông dân trong vùng nghiên cứu Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức, sao cho đạt đến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người, của những thế

hệ hôm nay và mai sau

FAO cho rằng sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO

đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:

- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác

- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp

- Duy trì và chỗ nào có thể thì tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo

Trang 24

được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường

- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân

Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đã họp tại Rio De Janerio, Braxin (gọi tắt là Rio - 92), đã định hướng cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược về môi trường và phát triển bền vững để bước vào thế kỷ 21 UNDP đã đưa ra cách thức sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:

- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất)

- Giảm mức rủi ro đối với sản xuất (an toàn)

- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại được sự thoái hoá đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ)

- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)

- Được sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận)

Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất bền vững và

là những mục tiêu cần đạt được Thực tế nếu diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu

mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận

Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống sản xuất ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đăc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách hài hòa và thống nhất Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người

có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không dần huỷ diệt sự sống trên trái đất Nông nghiệp bền vững bao gồm 3 phạm trù: chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và chi phối thời gian, tài lực, vật lực vào các mục tiêu đó Gần đây xuất hiện khuynh hướng

Trang 25

“Nông nghiệp hữu cơ”, chủ trương dùng máy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh, phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh

Ở Việt Nam nền văn minh lúa nước đã hình thành từ hàng ngàn năm nay,

có thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp trong điều kiện thiên nhiên ở nước ta Gần đây, những mô hình sử dụng đất như VAC (vườn, ao, chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển

Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản

là duy trì độ phì nhiêu của đất được lâu bền Độ phì nhiêu đất là tổng hoà của nhiều yếu tố vật lý, hoá học và sinh vật học để tạo ra môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển

* những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp hàng hoá

Với phương châm tạo sự phát triển hài hoà cả trên ba khía cạnh kinh tế,

xã hội và môi trường, các chuyên gia đã đề xuất những biện pháp đồng bộ trong Bản dự thảo Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm tới như sau:

Để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, cần có 4 ưu tiên: Tăng trưởng kinh tế nhanh; thay đổi mô hình tiêu dùng; "công nghiệp hoá sạch" và phát triển nông nghiệp bền vững Đối với tăng trưởng kinh tế nhanh, theo phân tích của các chuyên gia, hiện có không ít thách thức là suất đầu tư cao đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn; mức độ chế biến thấp dẫn đến tiêu tốn tài nguyên; sự biến động giá cả trên thị trường thế giới; nguồn nợ nước ngoài ngày càng lớn

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, cần chuyển từ tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu Sự chuyển đổi này sẽ làm giảm suất đầu tư hạn chế sự tiêu hao tài nguyên tính chính mỗi đơn vị giá trị

Trang 26

sản phẩm Việc chuyển nền kinh tế dựa vào khai thác và sử dụng tài nguyên thô sang chế biến sâu hơn cũng được khuyến cáo như một giải pháp quan trọng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nhờ tiết kiệm và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên Tuy nhiên, chỉ có giải pháp này thôi thì chưa

đủ để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, còn cần triệt để tiết kiệm các nguồn lực nhằm hạn chế việc tiêu dùng nguồn lực lấn vào phần của các thế hệ tương lai

Liên quan đến giải pháp nhằm thay đổi mô hình tiêu dùng, các chuyên gia nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc cơ cấu lại hệ thống sản xuất, nâng cao hiệu quả môi trường của sản phẩm, khuyến khích sáng chế các sản phẩm mới tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, đồng thời tuyên truyền, giáo dục nhằm xây dựng lối sống lành mạnh sử dụng công cụ kinh tế điều chỉnh hành vi tiêu dùng, hỗ trợ đồng bào nghèo để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cơ bản

Với phương châm thúc đẩy công nghiệp hoá "sạch", các chuyên gia đề xuất những giải pháp gắn việc thúc đẩy phát triển công nghiệp với việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển của các ngành, có sự lồng ghép yếu tố sử dụng tài nguyên môi trường, cơ cấu lại công nghiệp, hạn chế các ngành tiêu tốn nguyên, vật liệu và gây ô nhiễm Bên cạnh đó, cần không ngừng giảm thiểu và phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp bằng các công cụ luật pháp, kinh tế và công nghệ

Đối với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, cần đặc biệt trú trọng những giải pháp liên quan đến hoàn thiện luật pháp và chính sách phát triển bền vững, quy hoạch phát triển nông thôn, cơ cấu lại kinh tế nông thôn theo hướng đẩy mạnh các ngành phi nông nghiệp, hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới, công nghệ sinh học, thúc đẩy công nghệ chế biến nông sản

Theo phân tích của các chuyên gia, để có được sự phát triển xã hội bền vững, vẫn tiếp tục phải ưu tiên giải quyết 5 vấn đề là xoá đói giảm nghèo; hạn chế tăng dân số; định hướng đô thị hoá và di dân; nâng cao chất lượng giáo dục; cải thiện y tế và vệ sinh môi trường Đối với mỗi vấn đề này, phải có những giải pháp cụ thể được kiến nghị Chẳng hạn để nâng cao chất lượng giáo dục và đào

Trang 27

tạo, không thể không xem xét việc đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo; tăng cường phổ cập trung học cơ sở; chú trọng giáo dục các nhóm xã hội đặc biệt như nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, đồng thời phải đẩy mạnh việc huy động toàn dân tham gia công tác giáo dục và đào tạo

Để tăng cường độ bền vững của "chân kiềng" thứ ba là môi trường, nhiều chuyên gia đề cập đến vấn đề chống thoái hoá đất, sử dụng và quản lý tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên biển, ven biển; bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; giảm thiểu ô nhiễm không khí ở đô thị và khu công nghiệp; quản lý chất thải rắn; bảo tồn đa dạng sinh học

Bên cạnh những giải pháp trên ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, các chuyên gia còn khẳng định rằng để có sự phát triển bền vững, không thể chỉ cần

sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực này, mà còn cần có sự tham gia của toàn dân và đặc biệt là việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Nhà nước trong thực hiện phát triển bền vững thông qua hoạt động xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá và giám sát, các công cụ tài chính

Mặt khác, cũng cần thấy rõ rằng, sự phát triển bền vững không thể đạt được, nếu chỉ dừng ở cấp ngành hoặc địa phương, mà cần có sự tham gia ở cấp vùng, với những giải pháp đưa yếu tố vùng vào hệ thống quy hoạch và kế hoạch phát triển; hình thành tổ chức phối hợp, giám sát sự phát triển bền vững ở quy

mô vùng và rà soát lại chiến lược, quy hoạch các vùng dưới góc độ phát triển bền vững

Một đòi hỏi khác là cần mở rộng hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững thông qua việc tham gia và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về phát triển bền vững; tham gia tích cực các hoạt động hợp tác nhằm bảo vệ môi trường toàn cầu

và khu vực cũng như nỗ lực thu hút sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính quốc tế nhằm mục đích phát triển bền vững và tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm về phát triển bền vững

2.3.1 Nhóm các yếu tố kinh tế - tổ chức

- Cơ sở vật chất kỹ thuật là nhân tố có vị trí quan trọng ảnh hưởng lớn đến

Trang 28

cây trồng, bởi muốn phát triển hệ thống cây trồng phải có những điều kiện chủ yếu như các công trình thuỷ lợi, các công trình phúc lợi,

- Vốn cũng là một nhân tố quyết định đến cây trồng, hộ nông dân muốn

có các loại giống mới có giá trị kinh tế cao đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn Trong sản xuất nông nghiệp, nông hộ phải quyết định tất cả các khâu sản xuất và làm nảy sinh hàng loạt khó khăn, đa số nông hộ đều thiếu vốn cho sản xuất nông nghiệp, vì vậy chi phí về vật tư cho sản xuất thường là không đủ và không kịp thời gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sản xuất

- Với cơ chế kinh tế được đổi mới thì ngày càng có những tiến bộ kỹ thuật

và phương thức sản xuất được ứng dụng vào sản xuất như tiến bộ giống, tiến bộ

về kỹ thuật, chăm sóc khoa học, cơ cấu cây trồng được chuyển dịch, công nghiệp chế biến hiện đại, thì sản xuất nông nghiệp hàng hoá đã thu được kết quả đáng kể

Tổ chức sản xuất kinh doanh tác động đến hộ nông dân qua các khâu tổ chức dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ kỹ thuật, phổ biến các tiến bộ mới vào sản xuất, những tác động này sẽ thúc đẩy việc đổi mới cây trồng, cơ cấu canh tác của từng vùng cũng như trong từng hộ, thậm trí những tiến bộ khoa học kỹ thuật thay đổi toàn bộ cơ cấu cây trồng

2.3.2 Nhóm yếu tố xã hội

- Lao động và thị trường đều có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu cây trồng, việc phát triển sản xuất nông nghiệp vừa giải quyết công ăn việc làm cho người lao động vừa phải đảm bảo được nhu cầu thị trường

- Sự ổn định về chính trị - xã hội, sự phù hợp của chủ trương chính sách sẽ khuyến khích đầu tư phát triển nông nghiệp tạo điều kiện cho các chủ thể sử dụng ruộng đất phát huy năng lực, lựa chọn các hướng đầu tư có hiệu quả, đồng thời hạn chế được rủi ro trong quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp

Ngoài ra, những kinh nghiệm tập quán sản xuất nông nghiệp và trình độ dân trí của nhân dân cũng có tác động đến hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp

- Nhà nước đưa ra các chính sách để khuyến khích nông nghiệp phát triển

Trang 29

như: Luật đất đai, chính sách trợ giá nông nghiệp để giúp nông dân khi nông phẩm biến động, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá đa canh kết hợp với việc phát triển dịch vụ và công nghiệp nông thôn nhằm tạo việc làm cho người dân

2.4 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong tương lai

Những năm gần đây, nền nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng tới xuất khẩu

Trên cơ sở thành tựu kỹ thuật nông nghiệp của hơn 20 năm đổi mới, dựa trên những dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:

+ Tập trung sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành, nhóm sản phẩm, dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước, thế giới và khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng

+ Xác định cơ cấu sản phẩm trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá

+ Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, nhóm cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực Giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50%, tăng quỹ đất nông nghiệp bình quân trên một lao động nông nghiệp Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp Mặt khác, cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải quyết lao động nông nhàn

+ Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của công nghiệp hoá Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, tăng sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc

Trang 30

biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển đất nông nghiệp nhằm tạo ra các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy

mô thích hợp

+ Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp Cần ứng dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông tiếp thị nông sản hàng hoá

Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra

trên toàn cầu

Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Cao Đức Phát mỗi năm nước ta mất ít nhất 70 – 80 ngàn hecta đất nông nghiệp cho các khu công nghiệp, sân golf, các nhà máy… Trước tình hình đó Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 391/QĐ-TTG ngày 18/4/2008 về việc rà soát, kiểm tra thực trạng việc quản lý quy hoạch, kế hoạch và sử dụng đất 5 năm 2006 – 2010 trên địa bàn cả nước, trong đó

rà soát, kiểm tra thực trạng công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch, sử dụng đất nông nghiệp 5 năm 2006 – 2010 nói chung và đất trồng lúa nước nói riêng Và mới đây nhất trong trong Hội nghị TW7 (khai mạc tại Hà Nội ngày 9-7-2008) đã đề cập nhiều vấn

đề, trong đó có một nội dung rất quan trọng là “vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông

thôn” (thường được gọi là "tam nông") Đây được coi là “đại vấn đề” mà việc xử lý

đúng sai sẽ trực tiếp quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN

2.4.1 Xây dựng nền nông nghiệp bền vững

2.4.1.1 Sự cần thiết phải xây dựng nền nông nghiệp bền vững

Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai Mục tiêu của con người là sử dụng đất khoa học và hợp

lý Tuy nhiên thực tế cho thấy sử dụng đất đai là vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quan trọng khác nhau, thực chất đây là vấn đề có liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân Mục tiêu đặt ra là sử dụng tối đa và có hiệu quả toàn bộ quỹ đất của quốc gia, nhằm phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và phát triển xã hội Việc sử dụng đất dựa trên nguyên tắc là ưu tiên đất đai

Trang 31

cho sản xuất nông nghiệp

Ngoài những tác động của các yếu tố điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thuỷ văn, thảm thực vật và quy luật sinh thái tự nhiên, đất đai còn chịu ảnh hưởng của yếu tố con người, các quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên là yếu tố quyết định chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai, còn phương hướng sử dụng đất đai được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời

kỳ nhất định

Với sự phát triển đột phá của khoa học kỹ thuật trong những thập kỷ gần đây, nền văn minh hiện đại của nhân loại đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường Sự cạn kiệt của các nguồn năng lượng, sự bùng nổ dân số càng làm sâu sắc thêm sự mất cân đối giữa nhu cầu ngày càng cao của xã hội và khả năng hạn chế của các nguồn tài nguyên

Trong thực tế do quá trình sử dụng lâu dài, nhận thức về sử dụng đất của người dân còn hạn chế đã dẫn tới nhiều diện tích đất đai đang bị thoái hoá, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người Diện tích đất đai thích hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó con người phải mở mang thêm diện tích đất canh tác trên các vùng không thích hợp và hậu quả đã gây ra quá trình thoái hoá, rửa trôi và phá hoại đất một cách nghiêm trọng

Sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người Chính vì vậy việc nghiên cứu và đưa ra các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhiều nhà khoa học đất và các tổ chức quốc tế quan tâm Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable Land Use) đã trở thành thông dụng trên thế giới hiện nay

Vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, nhưng nhìn chung các nhà khoa học đều nhất trí với nhận định của FAO,

1992 : “Phát triển bền vững là sự quản lý, bảo vệ cơ sở của nguồn lợi tự nhiên

và phương hướng của sự thay đổi kỹ thuật, thể chế bằng cách nào để đảm bảo thoả mãn nhu cầu của con người, cho thế hệ hôm nay và mai sau” Trong nông

nghiệp được dùng theo nghĩa rộng bao gồm nghề trồng trọt, nghề cá, nghề rừng,

Trang 32

chăn nuôi và chế biến nông sản Bảo vệ được tài nguyên đất, nước, nguồn lợi di truyền thực vật và động vật đi đôi với việc tăng hiệu quả kinh tế, xã hội và không làm thoái hoá môi trường, thích ứng về kỹ thuật, có sức sống kinh tế và được chấp nhận về xã hội

Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho cuộc sống của con người Mục đích của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững phải coi thiên nhiên là môi trường lý tưởng để phát triển một cách hoà hợp với thiên nhiên

Hệ thống canh tác lấy năng lượng, nguyên liệu từ môi trường, nếu khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên không tái tạo được, hoặc khai thác quá khả năng phục hồi tài nguyên sẽ dẫn đến không còn nguyên liệu, năng lượng Từ đó dẫn tới phải loại bỏ khả năng sản xuất, giảm sút hoặc triệt tiêu hệ thống canh tác

Hệ thống canh tác chuyển vào môi trường các chất thải trong đó có các chất độc đối với đất, nước và không khí khiến cho sản xuất không bền vững Do vậy khi bố trí các hệ thống canh tác các nhà khoa học bao giờ cũng phải cân nhắc đến hiệu quả kinh tế và môi trường

Trước năm 1970, trong nông nghiệp người ta nói đến nhiều giống mới, năng suất cao, kỹ thuật cao Nhưng sau năm 1970 một khái niệm mới đã xuất hiện và ngày càng có tính thuyết phục - khái niệm tính bền vững và tiếp theo là nông nghiệp bền vững

Không có ai hiểu biết hệ sinh thái nông nghiệp ở một vùng bằng chính những người sinh ra và lớn lên ở đó Vì vậy, xây dựng nông nghiệp bền vững cần thiết phải có sự tham gia của người nông dân trong vùng nghiên cứu Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức, sao cho đạt đến sự thoả mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người, của những thế

hệ hôm nay và mai sau

FAO cho rằng sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp

Trang 33

chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động và thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội FAO

đã đưa ra các chỉ tiêu cụ thể cho nông nghiệp bền vững là:

- Thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng, chất lượng và các sản phẩm nông nghiệp khác

- Cung cấp lâu dài việc làm, đủ thu nhập và các điều kiện sống, làm việc tốt cho mọi người trực tiếp làm nông nghiệp

- Duy trì và chỗ nào có thể thì tăng cường khả năng sản xuất của các cơ sở tài nguyên thiên nhiên và khả năng tái sản xuất của các nguồn tài nguyên tái tạo được mà không phá vỡ chức năng của các chu trình sinh thái cơ sở cân bằng tự nhiên, không phá vỡ bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng sống ở nông thôn, hoặc không gây ô nhiễm môi trường

- Giảm thiểu khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp, củng cố lòng tin trong nông dân

Năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển đã họp tại Rio De Janerio, Braxin (gọi tắt là Rio - 92), đã định hướng cho các quốc gia, các tổ chức quốc tế chiến lược về môi trường và phát triển bền vững để bước vào thế kỷ 21 UNDP đã đưa ra cách thức sử dụng đất bền vững được xác định theo 5 nguyên tắc:

- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất (năng suất)

- Giảm mức rủi ro đối với sản xuất (an toàn)

- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại được sự thoái hoá đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ)

- Khả thi về mặt kinh tế (tính khả thi)

- Được sự chấp nhận của xã hội (sự chấp nhận)

Năm nguyên tắc nêu trên được coi là những trụ cột của sử dụng đất bền vững và

là những mục tiêu cần đạt được Thực tế nếu diễn ra đồng bộ so với các mục tiêu trên thì khả năng bền vững sẽ đạt được, nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu

mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận

Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống sản xuất ổn

Trang 34

định về mặt sinh thái, có tiềm lực kinh tế, có khả năng thoả mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột đất, không gây ô nhiễm môi trường Nông nghiệp bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi kết hợp với đăc trưng của cảnh quan và cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách hài hòa và thống nhất Nông nghiệp bền vững là một hệ thống mà nhờ đó con người

có thể tồn tại được, sử dụng nguồn lương thực và tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không dần huỷ diệt sự sống trên trái đất Nông nghiệp bền vững bao gồm 3 phạm trù: chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và chi phối thời gian, tài lực, vật lực vào các mục tiêu đó.Gần đây xuất hiện khuynh hướng

“Nông nghiệp hữu cơ”, chủ trương dùng máy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh, phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các loại hoá chất để phòng trừ sâu bệnh

Ở Việt Nam nền văn minh lúa nước đã hình thành từ hàng ngàn năm nay,

có thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp trong điều kiện thiên nhiên ở nước ta Gần đây, những mô hình sử dụng đất như VAC (vườn, ao, chuồng), mô hình nông - lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thống được đúc rút ra từ quá trình lao động sản xuất lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển

Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ bản

là duy trì độ phì nhiêu của đất được lâu bền Độ phì nhiêu đất là tổng hoà của nhiều yếu tố vật lý, hoá học và sinh vật học để tạo ra môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển

2.4.1.2 Định hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững

Với phương châm tạo sự phát triển hài hoà cả trên ba khía cạnh kinh tế,

xã hội và môi trường, các chuyên gia đã đề xuất những biện pháp đồng bộ trong Bản dự thảo Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm tới như sau:

Để nền kinh tế tăng trưởng nhanh, bền vững, cần có 4 ưu tiên: Tăng trưởng kinh tế nhanh; thay đổi mô hình tiêu dùng; "công nghiệp hoá sạch" và

Trang 35

phát triển nông nghiệp bền vững Đối với tăng trưởng kinh tế nhanh, theo phân tích của các chuyên gia, hiện có không ít thách thức là suất đầu tư cao đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn; mức độ chế biến thấp dẫn đến tiêu tốn tài nguyên; sự biến động giá cả trên thị trường thế giới; nguồn nợ nước ngoài ngày càng lớn

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, cần chuyển từ tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang tăng trưởng chủ yếu theo chiều sâu Sự chuyển đổi này sẽ làm giảm suất đầu tư hạn chế sự tiêu hao tài nguyên tính chính mỗi đơn vị giá trị sản phẩm Việc chuyển nền kinh tế dựa vào khai thác và sử dụng tài nguyên thô sang chế biến sâu hơn cũng được khuyến cáo như một giải pháp quan trọng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nhờ tiết kiệm và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên Tuy nhiên, chỉ có giải pháp này thôi thì chưa

đủ để đảm bảo phát triển kinh tế bền vững, còn cần triệt để tiết kiệm các nguồn lực nhằm hạn chế việc tiêu dùng nguồn lực lấn vào phần của các thế hệ tương lai

Liên quan đến giải pháp nhằm thay đổi mô hình tiêu dùng, các chuyên gia nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc cơ cấu lại hệ thống sản xuất, nâng cao hiệu quả môi trường của sản phẩm, khuyến khích sáng chế các sản phẩm mới tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường, đồng thời tuyên truyền, giáo dục nhằm xây dựng lối sống lành mạnh sử dụng công cụ kinh tế điều chỉnh hành vi tiêu dùng, hỗ trợ đồng bào nghèo để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cơ bản

Với phương châm thúc đẩy công nghiệp hoá "sạch", các chuyên gia đề xuất những giải pháp gắn việc thúc đẩy phát triển công nghiệp với việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển của các ngành, có sự lồng ghép yếu tố sử dụng tài nguyên môi trường, cơ cấu lại công nghiệp, hạn chế các ngành tiêu tốn nguyên, vật liệu và gây ô nhiễm Bên cạnh đó, cần không ngừng giảm thiểu và phòng ngừa ô nhiễm công nghiệp bằng các công cụ luật pháp, kinh tế và công nghệ

Đối với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, cần đặc biệt trú trọng những giải pháp liên quan đến hoàn thiện luật pháp và chính sách phát triển bền vững, quy hoạch phát triển nông thôn, cơ cấu lại kinh tế nông thôn

Trang 36

theo hướng đẩy mạnh các ngành phi nông nghiệp, hỗ trợ ứng dụng công nghệ mới, công nghệ sinh học, thúc đẩy công nghệ chế biến nông sản

Theo phân tích của các chuyên gia, để có được sự phát triển xã hội bền vững, vẫn tiếp tục phải ưu tiên giải quyết 5 vấn đề là xoá đói giảm nghèo; hạn chế tăng dân số; định hướng đô thị hoá và di dân; nâng cao chất lượng giáo dục; cải thiện y tế và vệ sinh môi trường

Để tăng cường độ bền vững của "chân kiềng" thứ ba là môi trường, nhiều chuyên gia đề cập đến vấn đề chống thoái hoá đất, sử dụng và quản lý tài nguyên nước; bảo vệ tài nguyên biển, ven biển; bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; giảm thiểu ô nhiễm không khí ở đô thị và khu công nghiệp; quản lý chất thải rắn; bảo tồn đa dạng sinh học

Bên cạnh những giải pháp trên ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường, các chuyên gia còn khẳng định rằng để có sự phát triển bền vững, không thể chỉ cần

sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các đơn vị, doanh nghiệp thuộc ba lĩnh vực này, mà còn cần có sự tham gia của toàn dân và đặc biệt là việc nâng cao vai trò lãnh đạo của Nhà nước trong thực hiện phát triển bền vững thông qua hoạt động xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá và giám sát, các công cụ tài chính

Mặt khác, cũng cần thấy rõ rằng, sự phát triển bền vững không thể đạt được, nếu chỉ dừng ở cấp ngành hoặc địa phương, mà cần có sự tham gia ở cấp vùng, với những giải pháp đưa yếu tố vùng vào hệ thống quy hoạch và kế hoạch phát triển; hình thành tổ chức phối hợp, giám sát sự phát triển bền vững ở quy

mô vùng và rà soát lại chiến lược, quy hoạch các vùng dưới góc độ phát triển bền vững

Một đòi hỏi khác là cần mở rộng hợp tác quốc tế vì sự phát triển bền vững thông qua việc tham gia và thực hiện đầy đủ các công ước quốc tế về phát triển bền vững; tham gia tích cực các hoạt động hợp tác nhằm bảo vệ môi trường toàn cầu và khu vực cũng như nỗ lực thu hút sự hỗ trợ về kỹ thuật và tài chính quốc

tế nhằm mục đích phát triển bền vững và tăng cường trao đổi thông tin, kinh nghiệm về phát triển bền vững

Trang 37

2.4.1.3 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Sử dụng đất gắn với các mục đích kinh tế, xã hội và môi trường là vấn đề hiện đang được nhiều nước và người sử dụng đất quan tâm Trong thời kỳ cuộc sống xã hội phát triển ở mức cao, việc sử dụng đất luân hướng tới mục tiêu kinh

tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên mọi đơn vị diện tích đất nhất định (xây

dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất, chuồng trại chăn nuôi quy mô lớn )

Bên cạnh đó, một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để phục vụ nhu

cầu sinh hoạt, ăn ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người (xây

dựng nhà cửa, hệ thống giao thông, các công trình dịch vụ thể thao, văn hóa xã hội, mở mang phát triển đô thị và khu dân cư nông thôn )

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên luôn nảy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng

thẳng Những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất (sai lầm

có ý thức hoặc vô ý thức) dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường

đất nói riêng (các thảm hoạ sinh thái như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, trượt lở

đất liên tục xẩy ra với quy mô ngày càng lớn và mức độ ngày càng nghiêm trọng), làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi Để thoả mãn nhu cầu của con

người cả về 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường nhất thiết phải giải quyết những xung đột này để sử dụng đất có hiệu quả Việc sử dụng đất như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo ra hiệu quả sử dụng cao

và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà được các mục tiêu kinh tế -

xã hội và môi trường

Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:

- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá

- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước cho đô thị và phát triển công nghiệp

- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển

- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một

Trang 38

số địa phương

- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư

- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác

- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn

* Sử dụng đất với mục tiêu kinh tế

Sử dụng đất trước hết bao giờ cũng gắn với mục tiêu kinh tế, những mục tiêu kinh tế trong sử dụng đất giữa chủ sử dụng thực tế và cộng đồng lớn hơn có lúc trùng nhau và có lúc không trùng nhau

Các hộ nông dân trong việc sử dụng đất của mình luôn đặt ra mục tiêu làm ra sản phẩm để bán hoặc tự tiêu dùng, nếu thấy việc đó không có lợi họ có thể thay đổi cây trồng để sản xuất có hiệu quả hơn hoặc nếu việc canh tác không

có lợi họ có thể bán phần đất của họ cho người nông dân khác, những người mà sản xuất nông nghiệp đem lại lợi nhuận cao hơn hoặc họ cũng có thể thay đổi mục đích sử dụng đất của mình kể cả việc bán đất sét cho nhà máy gạch, bán cát dưới dạng vật liệu xây dựng hoặc sử dụng đất làm khu vui chơi giải trí cho khách du lịch

Trong khi đó cộng đồng (xã, huyện, tỉnh, cả nước) luôn có những mối

quan tâm kinh tế lâu dài trong sử dụng đất, trước hết đó là đảm bảo các mục tiêu kinh tế lâu dài và cần thiết cho cả cộng đồng, đó là vấn đề an toàn lương thực;

có đất để mở mang đô thị, xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các khu cụm công nghiệp, bảo vệ môi trường và các khu vui chơi giải trí

Như vậy các mối quan tâm kinh tế nhất thời của người sử dụng đất cụ thể mâu thuẫn với mối quan tâm lâu dài của cả cộng đồng

Sử dụng đất và các mục tiêu kinh tế được xem là hợp lý không có nghĩa là thoả mãn được nguyện vọng của từng chủ sử dụng đất và toàn thể cộng đồng mà

là quá trình xem xét cân nhắc để sử dụng đất hài hoà về mặt lợi ích của toàn thể cộng đồng và các chủ sử dụng đất cụ thể Trong vấn đề này bao giờ cũng đặt ưu tiên cho việc sử dụng đất lâu dài và mối quan tâm chung của toàn thể cộng đồng

* Sử dụng đất với mục tiêu xã hội

Sử dụng đất trước tiên liên quan đến những người sống trên mảnh đất đó,

Trang 39

họ có những nhu cầu thiết yếu của mình và đó là mục tiêu xã hội rõ rệt của bất

cứ một Nhà nước nào nhằm tạo ra hay duy trì các điều kiện mà nó có tác dụng giúp thoả mãn những nhu cầu thiết yếu này Việc tạo ra công ăn việc làm trong quá trình phát triển bền vững là một phương pháp hữu hiệu nhằm cùng một lúc

đạt được 3 mục tiêu (xã hội, kinh tế và môi trường) Những nhu cầu thiết yếu

này bao gồm các cơ sở vật chất công cộng hoặc các phương tiện phục vụ cho sức khoẻ, giáo dục, định cư, thu nhập, ngoài ra còn tạo ra một ý thức về công bằng xã hội và kiểm soát chính tương lai của họ

Công bằng xã hội là rất cần thiết cho mọi người Trong sử dụng đất Chính phủ thường có những dự án ưu đãi cho nhóm người nghèo trong xã hội

Việc làm giảm tình trạng căng thẳng giữa các nhóm dân số cũng là một

mục tiêu xã hội của Chính phủ (mâu thuẫn giữa dân bản địa, dân di cư )

Một mục tiêu xã hội nữa cần phải kể đến là mâu thuẫn giữa các thế hệ về việc sử dụng đất Đó là việc sử dụng đất của các thế hệ hiện tại không nghĩ đến lợi ích của các thế hệ con cháu Do đó đã có khuyến cáo: “Đất không thể là đối tượng của từng cá thể! Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta! Đất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau”

* Sử dụng đất với mục tiêu môi trường

Đối với bất kỳ vùng đất nào trong sử dụng đất đai gắn với mục tiêu môi trường thì điều quan trọng là phải phân biệt được mục tiêu chung và mục tiêu riêng Chính phủ các nước đều đưa ra các tiêu chuẩn và mục tiêu về môi trường

Việc nhìn nhận “môi trường” không chỉ có nghĩa là một hệ thống các tiêu chuẩn về hoá học Đất nước, phong cảnh thiên nhiên là các tài sản có giá trị

Vì thế, những vấn đề về môi trường chỉ có thể giải quyết một cách có hiệu quả nếu nó được thực hiện kết hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội

Trang 40

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ

đất nông nghiệp và một số yếu tố liên quan đến quá trình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Chiềng Khoong Huyện Sông Mã

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi không gian: Phạm vi nghiên cứu là Xã Chiềng Khoong

Huyện Sông Mã

+ Giới hạn về thời gian: Các số liệu thống kê được lấy từ năm 2005 –

2012 Số liệu giá cả vật tư và nông sản phẩm hàng hoá điều tra vào thời điểm năm 2012

3.2 Nội dung nghiên cứu

3.2.1 Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội có liên quan

đến đất đai

- Đánh giá về điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, thời tiết, thuỷ văn,…

- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: dân số và lao động, trình độ dân trí,

cơ sở hạ tầng, cơ cấu kinh tế, thực trạng sản xuất nông nghiệp của huyện, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm, Từ đó rút ra những thuận lợi và hạn chế trong sản xuất nông nghiệp

- Đánh giá chung

3.2.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã

- Nghiên cứu hiện trạng các kiểu sử dụng đất

- Diện tích và sự phân bố diện tích đất nông nghiệp

- Mức độ biến động diện tích các kiểu sử dụng đất trong xã

3.2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua một số chỉ tiêu: GTSX, CPTG, GTGT, hiệu quả đồng vốn (HQĐV) của các kiểu sử dụng đất

- Đánh giá hiệu quả xã hội của các kiểu sử dụng đất thông qua các chỉ tiêu

Ngày đăng: 01/04/2016, 11:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Viết Ánh và Bùi Đình Dinh (1992), Quan hệ giữa đất và hệ thống cây trồng, NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
2. Nguyễn Văn Bộ (2000), Bón phân cân đối và hợp lý cho cây trồng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Quyết định số 19/2005/QĐ- BNN ngày 25/3/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho cây rau Khác
6. Đỗ Nguyên Hải (2001), Đánh giá đất và hướng sử dụng đất đai bền vững trong sản xuất nông nghiệp của huyện Tiên Sơn - Bắc Ninh, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Khác
7. Đỗ Nguyên Hải (1999), Xác định các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng môi trường trong quản lý sử dụng đất đai bền vững cho sản xuất nông nghiệp, Tạp chí Khoa học đất, số11, tr 20 Khác
8. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Quyết định số 19/2005/QĐ- BNN ngày 25/3/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho cây rau Khác
9. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Quyết định số 19/2005/QĐ- BNN ngày 25/3/2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực vật sử dụng cho cây rau Khác
10. Hoàng Việt (2001), Một số kiến nghị về định hướng phát triển nông nghiệp nông thôn thập niên đầu thế kỷ XXI, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 4, tr 12-13 Khác
11. Phòng thống kê huyện Sông Mã (20011), Niên giám thống kê huyện Sông Mãnăm 20011 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w