Cây rau bắp cải thường xuyên có mặt trên đồng ruộng nên việc sâu tích lũy từ vụ này sang vụ khác và gây hại ngày cành mạnh, đã khiến người nông dân sử dụng đến thuốc hóa học trong phòng
Trang 1PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết đối với đời sống hằng ngày và không thể thay thế, vì rau có vị trí quan trọng đối với sức khỏe con người Từ lâu người
ta thường hay nói: “Ăn không rau như đau không thuốc”
Do chúng ta thường xuyên sử dụng nhiều thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như thịt, trứng, cá…những thực phẩm chứa khá nhiều lưu huỳnh, phốt pho và a xít béo nên ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể, ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe Trong khi đó, rau xanh chứa rất nhiều chất xơ, nguyên tố vi lượng như canxi, kali…là loại thức n có lợi cho sức khỏe
Rau cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng như protein, gluxit, lipit, chất khoáng, chất vi lượng, vitamin, axit hữu cơ và chất thơm…là các chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe Các loại vitamin có tác dụng quan trọng trong quá trình phát triển của cơ thể, nếu thiếu sẽ gây ra nhiều bệnh tật Trong rau chủ yếu
là Ca, P, Fe…là những chất cần thiết cấu tạo nên máu và xương Các chất khoáng có tác dụng điều hòa, cân bằng kiềm toan trong máu, làm t ng khả n ng đồng hóa protein
Trong rau có hàm lượng xơ (xenlulo) lớn tuy không có giá trị dinh dưỡng, nhưng do có thể tích lớn, xốp do các chất xơ có tác dụng nhuận tràng và t ng khả n ng tiêu hóa
Một loại rau chủ lực trong họ hoa thập tự là rau bắp cải (Brassica
oleracea var Capitatal L) Là những cây rau có giá trị cao và giá trị sử dụng lớn được nhiều người ưa thích, chúng được trồng rộng rãi trên thế giới Người ta có thể chế biến hàng chục món n từ bắp cải như: luộc, sào, nấu, muối chua, kim chi, trộn giấm và làm bánh ngọt Các nhà y tế thế giới đánh giá cao về khả n ng chữa bệnh của bắp cải Nó là cây thân thảo, sống hai n m, và là cây có hoa thuộc nhóm hai lá mầm với các lá tạo thành cụm đặc gần như hình cầu Bắp cải
có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng có bộ rễ chùm phát triển nên chịu hạn và chịu nước hơn su hào, súp lơ
Cây rau bắp cải thường xuyên có mặt trên đồng ruộng nên việc sâu tích lũy từ vụ này sang vụ khác và gây hại ngày cành mạnh, đã khiến người nông dân
sử dụng đến thuốc hóa học trong phòng trừ sâu Cho tới nay đã nghi nhận được trên 30 loài sâu hại rau họ hoa thập tự trong cả nước, trong đó các loài sâu sau
Trang 2đây gây hại thường xuyên ở các vùng trồng rau : sâu tơ (Plutella xylostella L.), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus.), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), bọ nhảy (Phyllotreta striolata Fabr) [11]
Xuất phát từ thực tế trên, được sự hướng dẫn của cô Lê Thị Thảo nên tôi
tiến làm chuyên đề: “Đ u tra t ầ sâu , t ủa ú v
1.2.2 Y u ầu
- Điều tra thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên rau bắp cải và xác định loài gây hại chủ yếu vụ xuân - hè n m 2013 tại Xã Mường Kim – Huyện Than Uyên – Tỉnh Lai Châu
- Điều tra diễn biến mật độ sâu hại chính trên rau bắp cải
Trang 3PHẦN 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
2.1.1 Nguồn gốc và phân loại
2.1.1.1 uồ
Cải bắp có nguồn gốc từ cải xo n biển (Sea kale), nó không phải là loại
rau thông dụng, được dùng là thực phẩm mãi cho đến khi người La Mã và người Sen-tơ đem đến Châu Âu và nước Anh Khu vực Thái Bình Dương đã chọn những dạng tốt nhất phù hợp với điều kiện địa phương Thí dụ vùng rét Bắc Âu thích cải bắp chặt c ng, còn vùng n m ấm áp thì thích cải bắp xốp như Romano Thời gian sau đó cải bắp nh n Savoy (cải xavoa) trở thành rau thông dụng ở nước Anh
Từ thế kỷ thứ 10 cải bắp đã được trồng ở nước Nga, thế kỷ 12 cải bắp được trồng rộng rãi ở Châu Âu và nước Nga
Cải bắp được đưa đến Mỹ vào thế kỷ 16 và 17 Dạng cải bắp phổ biến ở Bắc mỹ có nguồn gốc chủ yếu ở Đức
Theo Kurt (1957), Decandolle (1957), Lizgunove (1965) [33]…cải bắp có nguồn gốc ở Châu Âu – vùng Địa Trung Hải, ven biển Đại Tây Dương và Bờ Biển Bắc
Theo Becker-Dillingen (1956), Lizgunove (1965) [33] cải bắp còn có nguồn gốc từ sự biến đổi của một số loại rau n lá
2.1.1.2 P l
Dựa vào đặc điểm hình thái, nguồn gốc địa lý và sự phổ biến tác giả còn chia cải bắp ra làm 3 loại phụ sau:
- Loài phụ Địa Trung Hải – Subsp Mediterranea Lizg
Loài phụ này phân bố chủ yếu ở Bồ Đào Nha, Ý, Tây Ban Nha, Xiri Đặc điểm là bắp xốp, hàm lượng đường và chất khô thấp Hoa có màu trắng, thời gian xuân hóa ngắn
- Loài phụ phương đông – Subsp Orientalis
Đặc điểm: bắp thuộc loại trung bình và lớn, bắp chặt, chín sớm Hàm lượng chất khô và đường cao Khả n ng chống chịu hạn tốt, nhưng khả n ng chống chịu nấm bệnh kém Không chịu bảo quản
- Loài phụ Châu Âu – Subsp Europea
Trang 4Loài phụ này khác nhau rất nhiều về đặc điểm hình thái và tính chín sớm Chúng được phân bố rộng raiox ở Châu Âu và Châu Mỹ [33]
Theo I.Mincop (1961) [21] cải bắp có hai dạng: cải bắp trắng B.oler L.var.Capitata forma alba và cải bắp đỏ B oler.L.var.capitata forma rubra Ngoài ra còn có cải bắp bán đỏ B.oler.C.forma semirubra
I.Mincop và Recheva (1988) còn dựa vào thời gian sinh trưởng của các giống để phân loại:
+ Giống chín sớm: 110 – 115 ngày
+ Giống chín trung bình: 116 – 125 ngày
+ Giống chín muộn trên 125 ngày
Giống cải bắp hiện nay được trồng nhiều trên thế giới chủ yếu là giống cải bắp trắng và trở thành loại rau chính của nhiều nước Các nước trồng cải bắp là Liên Xô, Trung Quốc, Bungari, Pháp, Italia, Nhật Bản, Mỹ và Anh Quốc
2.1.2 Giá trị dinh dƣỡng
Theo Lizgunove (1965) [33], Junge (1950), Knhiagintrev (1917) cho thấy trong cải bắp còn chứa một số loại vitamin khác nhau: vitaminC 28-79mg/kg sản phẩm tươi, thiamin (vitamin B1) 0, 65 – 2,4 vitamin B2 0,31 – 1,22 vitamin B3 1,8 vitamin K 20 - 40, carotene (tiền vitamin A) 0,6 và vitamin PP 2,1 – 11,0 mg/kg
Trong bắp cải còn chứa khoáng chất với hàm lượng tương đối lớn, trung bình từ 0,61 – 0,71% trong sản phẩm tươi Trong chất tro chứa các loại muối: sắt 0,7%, canxi 12,6%, magie 3,7%, kali 48,3%, natri 5%, phốt pho 16,6%, lưu huỳnh 8,3% và clo 5,7% ( Becker-Dillingen (1943), Kreschmer, Narman, Plughau và Tesch (1955)
2.1.3 Tình hình ản uất r u bắp cải
Hiện nay có 120 loại chủng loại rau được sản xuất ở khắp các châu lục nhưng chỉ có 12 loại rau chủ lực được trồng trên 80% diện tích rau an toàn thế giới Loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua 3,17 triệu ha, thứ hai là hành 2,29 triệu ha, thứ 3 là bắp cải 2,07 triệu ha (n m 1998) [29]
Còn ở Châu loại rau được trồng nhiều nhất là cà chua, hành, cải bắp, dưa chuột, cà tím và ít nhất là đậu Hà Lan
Nhìn chung các loại rau như cà chua, dưa chuột, hành, cải bắp đều được trồng ở Châu và trên thế giới
Trang 5Theo thống kê của FAO (2008) [27]: N m 1980 toàn thế giới sản xuất 375 triệu tấn rau, n m 1990 là 441 triệu tấn, n m 1997 là 596,6 triệu tấn,và n m
2001 đã lên tới 678 triệu tấn Chỉ riêng rau bắp cải và cà chua sản lượng 50,7 triệu tấn và 88,2 triệu tấn với n ng suất tương ứng 24,4 tấn ha
Đài Loan sản xuất rau chủ yếu tập trung ở phía Đông và phía Nam của Đài Loan N m 1995 diện tích trồng rau của Đài Loan là 188 nghìn ha, sản lượng là 2,8 triệu tấn với n ng suất bình quân gần 1,5 tấn ha Giá trị sản lượng
n m 1995 đạt 1.14 tỷ USD, chiếm 11% giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp Sản lượng rau sản xuất chủ yếu tiêu dùng trong nước
Về Hàn Quốc tổng giá trị sản xuất rau của Hàn Quốc tính đến n m 1995 khoảng 8 tỷ USD, với tổng diện tích gieo trồng là 356 nghìn ha Trong suốt thời
kỳ 1970 đến 1995 thì tổng diện tích đất trồng trọt giảm 10,6% nhưng diện tích trồng rau vẫn t ng là 1,46 lần
Indonexia tổng diện tích trồng rau n m 1991 [25] là 776,6 nghìn ha với sản lượng là 4,38 triệu tấn Từ n m 1982 đến n m 1991 sản lượng bình quân
m i n m t ng là 8,2% và sản lượng là 4,2% Tuy nhiên, n ng suất vẫn còn thấp Tiêu dùng rau bình quân đầu người từ 14,62 kg n m, n m 1982 lên 25,8 kg n m
n Độ là nước tiến bộ nhanh chóng về việc sản xuất nông nghiệp sản lượng lương thực đã t ng từ 108,4 triệu tấn n m 1971 Cùng giai đoạn này, sản xuất rau của n Độ từ 34 triệu tấn lên 53,8 triệu tấn, bình quân rau đầu người là
130 g ngày Diện tích trồng rau chỉ chiếm 3,32% tổng diện tích gieo trồng của các nước và dao động từ 0,17% đến 13,03% ở các bang khác nhau
2.1.4 Tình hình âu hại trên bắp cải
Theo Kolscoven (1981) P.striolata loài dịch hại chính của rau họ hoa thập
tự là đặc biệt là giai đoạn cây giống trong vườn ươm Java Indonexia Chúng xuất hiện phổ biến ở đồng bằng và trung du, nhưng hiếm khi tìm thấy chúng ở
độ cao 1200 m Trưởng thành hoạt động vào giờ nóng trong ngày và nhảy bật lên khi bị khua động
Cây rau bắp cải ở vụ sớm miền tây Kanas thường bị bọ nhảy phá hoại rất nặng Bọ nhảy thường gây hại chủ yếu trên bề mặt lá, phần thân mọng nước đây
là nguyên nhân gây ra héo lá, lụi cây Khi cây cao 1 inch bọ n lá tấn công mạnh theo Jee (1994) [31]
Theo Burgeess (1981) [23] cho rằng Canada thiệt hại nặng nhất đối với cải lá là do bọ nhảy trưởng thành quá đông gây ra trên cây giống vào mùa xuân
Trang 6Sự di chuyển của trưởng thành bằng phương thức bay, nhảy đã chuyển từ cây này sang cây khác, từ ruộng này sang ruộng khác một cách nhanh chóng Hoạt động n mạnh nhất của bọ nhảy trưởng thành khi gặp thời tiết thuận lợi: nắng,
ấm và hanh khô
Theo Osipov (1985) [30] bọ nhảy là một trong ba loài gây hại nặng nhất cho cây cải dầu mùa h Belarut, con trưởng thành n thủng lá và làm chết cây con trong điều kiện nóng, khô vào mùa xuân
Theo Eddy (1983) [31] thì ở Louiisana và Texas Gulf Mỹ, Phyllotreta
striolata Fabr được coi là loài côn trùng gây hại nghiêm trọng cho rau họ hoa
thập tự nhất là cây cải xanh ngọt, cải đắng giai đoạn cây giống trong vườn ươm Ngoài đồng ruộng, cây rau thường bị hại ở bộ lá làm giảm n ng suất, giảm giá trị thương phẩm của rau nên làm giảm hiệu quả kinh tế của người sản xuất
Bọ nhảy trưởng thành ở Resnylvania, Mỹ đã làm giảm r rệt chất lượng cây giống dẫn đến làm giảm kích thước của cây, làm giảm lượng chất khô trong sản phẩm vào tháng 8 hàng n m (Reed và Byer, 1981)
Manitoba, Canada trồng súp lơ vụ sớm làm cho tỷ lệ cây bị chết do bọ nhảy gây ra rất cao Trồng cây con quá nhỏ cũng làm cho bọ nhảy trưởng thành gây hại nặng hơn so với trồng cây con khi đã đủ 6 – 8 lá (Soroka và Prichard, 1987)
Theo Chen và Cộng sự (1990) [24] P.striolata Fabricius là loài côn trùng
gây hại nghiêm trọng cải bao, cải củ cải xanh ngọt ở Đài Loan Trưởng thành cái
đ trứng vào cuống lá hoặc trong đất Đôi khi trứng thường đ thành quả riêng l nhưng đ thành cụm 3 – 4 quả trong đất ở độ sâu 2 – 3 cm Đài Loan tuổi trưởng thành đa dạng, dài nhất là trên cây cải bao (33 ngày)
Đài Loan P.striolata xuất hiện quanh n m nhưng mật độ cao nhất vào
mùa khô (nhiệt độ thích hợp nhất cho bọ nhảy từ 20 - 28 C) Sự t ng trưởng của
bọ nhảy ảnh hưởng bởi mưa lớn hoặc mưa kéo dài và nhiệt độ cao Qua quan sát hai thế hệ bọ nhảy trên một vụ cải củ người ta nhận thấy: mật độ quần thể ở thế
hệ thứ hai cao hơn nhiều so với thế hệ thứ nhất, do vậy cây cải củ ở thời kỳ đầu của vụ sau bị hại nghiêm trọng Trong 107 mẫu đất được thu thập định kỳ hàng tuần vào những n m 1989 – 1991 trung bình có 161 sâu non và nhộng trên 1 m đất, mật độ cao nhất lên tới 1310 con m²
Người Mỹ, tại trại thí nghiệm nông nghiệp New York, TS.EcKendore phát hiện ra giống rau bắp cải kháng sâu tơ, sau đó là giống rau cải bắp muộn lá
Trang 7xanh đậm láng cũng kháng được sâu Lepidoptera, rồi sau đó là giống cải bắp tím kháng sâu tơ một số bắp cải xanh như market Prize Storage Green cũng bị sâu tơ hại cấp trung bình
C tr
Sử dụng giống chống chịu sâu bệnh là công việc mới có hiệu quả trong phòng trừ sâu hại cây trồng nông nghiệp nói chung, cây rau nói riêng
Theo Lamd và Cộng sự (1993) [32] một số dòng cải đầu Prassica Napus
có tính kháng với bọ nhảy rất cao như L19, M12 và đã được sử dụng phổ biến trong sản xuất ở Manitoba, Canada
Livingstone và Cộng sự (1992) [34] đã kết luận rằng giống rau cải Brassica khi điều chỉnh lượng Iosthiocyanate trong cây sẽ tạo nên giống chống
hoặc giống mẫn cảm với bọ nhảy P.striolata
Cũng theo Livingstone và Cộng sự bẫy đầu cải đã được sử dụng ở Manitoba, Canada vào vụ xuân để thu thập bọ nhảy trưởng thành ngoài đồng Chất nistriles trong thành phần sinh hóa cây cải có mùi thơm và khả n ng thoát mùi cao có tác dụng quyến rũ bọ nhảy
Ngoài ra, việc sử dụng lưới chắn khống chế bọ nhảy gây hại cây con giống họ cải đã được Palnaswamy và Cộng sự (1992) tiến hành hiệu quả ở Canada
Livingstone, Lamb và Rees (1992) [34] bẫy đầu cải đã được sử dụng ở Manitoba, Canada vào vụ xuân để thu thập bọ nhảy trưởng thành ngoài đồng Chất nistriles trong thành phần sinh hóa cây cải có mùi thơm và khả n ng thoát mùi cao có tác dụng quyến rũ bọ nhảy
Robin (1983) [37] cho rằng việc dọn sạch tàn dư sau thu hoạch cũng góp phần ng n chặn sự tái sinh của bọ nhảy trên đồng ruộng Vun xới đúng thời điểm, đúng kỹ thuật cũng là một trong những biện pháp làm giảm số lượng sâu non bọ nhảy trên đồng ruộng, lại không gây ô nhiễm môi trường sống
Không xử lý cỏ dại khi gieo cải lá vào tháng 7 đã làm giảm r rệt suất chất khô so với việc dọn cỏ tàn dư cây trồng Bởi bọ nhảy sinh sản nhanh, tỷ lệ sống sót cao, gây hại nặng cho cây trồng khi có cỏ dại và các thực vật trên đồng ruộng theo Reeb và Byer (1981)
Hiệu quả của biện pháp phòng trừ đối với bọ nhảy Phyllotreta sp vẫn còn
hạn chế Một số loại côn trùng, tuyến trùng, vi khuẩn…đã được nghiên cứu làm giảm mật độ bọ nhảy trên đồng ruộng
Trang 8Theo Robin (1983) [37] Braconid perilitus epitricis là loài côn trùng ký
sinh bọ nhảy P.striolata trưởng thành nhưng số lượng không nhiều
Theo Li Yongxi và Cộng sự (1998) [35] đã thử độc tố của vi khuẩn
Bacillus fimus để phòng trừ bọ nhảy Phyllotreta striolata Fabr ở Guaxngi –
Trung Quốc
Napompenth (1990) [36] cho biết: cả trứng sâu non sâu khoang cũng bị ong ký sinh Trứng hai loài ký sinh thuộc họ Braconidae và Scelionidae còn sâu non bị 1 loài ký sinh thuộc họ Braconidae
Theo Ruth Harad (2001) sử dụng thuốc vẫn là biện pháp phòng trừ bọ nhảy một cách nhanh chóng và có hiệu lực nhất Các loại thuốc dùng trong phòng trừ bọ nhảy ở m i vùng, m i nước là rất khác nhau tùy theo điều kiện môi trường và tập quán canh tác của vùng ấy
New York các loại thuốc trừ sâu thường được dùng trong phòng trừ bọ nhảy hại rau thập tự trong sản xuất: Thiodan, sevin, disyston
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1 P
nước ta cải bắp được trồng rộng rãi ở miền Bắc và Đà Lạt (Lâm Đồng) Diện tích trồng cải bắp được tập trung ở các tỉnh, thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Tây, Bắc Ninh và Thái Nguyên (Hồ Hữu An, 1983) [4]
2.2.3 Tình hình ản uất r u bắp cải
Rau là ngành sản xuất đa chủng loại, có địa bàn phân bố trên hầu hết các lãnh thổ của cả nước với đa dạng các giống rau có khả n ng thích nghi với điều kiện nóng ẩm mùa h hoặc lạnh khô vào mùa đông hoặc những giống rau trái
vụ, rau nhập nội có nguồn ôn đới
Nước ta được thiên nhiên ưu đãi về nguồn khí hậu, miền Bắc có 4 mùa r rệt, miền Nam có 2 mùa Chính vì thế Việt Nam có khả n ng sản xuất đủ rau cho tiêu dùng và xuất khẩu, giá thành rau tại ruộng r Các vùng trồng rau hàng hóa
Trang 9và rau chuyên canh ở nước ta gồm trung du và đồng bằng Bắc Bộ, vùng rau Lâm Đồng, Thành Phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận, vùng đồng bằng Sông Cửu Long Chủng loại rau đang có tại đồng ruộng và thị trường rau Việt Nam gồm hơn 60 loại rau, trong đó các giống rau nhập nội và lai tạo có gần 10 loại
Rau vụ đông có chủng loại và n ng suất cao hơn rau vụ h , rau vụ đông là thế mạnh so với các nước trong khu vực, phân nhóm theo cách sử dụng thì rau
n thân và rau n lá chiếm từ 55 -56 %, rau n củ quả chiếm 30 – 35%, rau thơm
và rau gia vị chiếm 2 – 3% [12]
Sản phẩm chế biến rau củ quả của nước ta cũng có những loại được bạn hàng thừa nhận về chất lượng nhưng nhìn chung các sản phẩm chế biến chất lượng kém, mẫu mã đơn giản, không hấp dẫn, kể cả phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu Với công nghệ lạc hậu, bảo dưỡng yếu, vốn đầu tư thấp, ngành chế biến rau quả của cả nước chưa đủ mạnh để vươn lên
Hiện nay nước ta 377 nghìn ha rau, sản lượng 5,6 triệu tấn n m Diện tích trồng rau chiếm 3,9% tổng diện tích gieo trồng cây hàng n m và gần 3% tổng giá trị ngành trồng trọt, điều đó cho thấy hiệu quả kinh tế của ngành rau chưa cao [12]
Tổng sản lượng trong 10 n m gần đây (1996 - 2005) bình quân m i n m
t ng 9% trên n m, từ 3,2 triệu tấn lên 6,9 triệu tấn Cũng như trong thời kỳ diện tích gieo trồng rau t ng 105.000 ha với tốc độ t ng 5,5% trên n m Sản lượng rau trong giai đoạn này cũng t ng lên chủ yếu do diện tích mở rộng N ng suất rau t ng từ 120 tạ ha lên gần 130 tạ ha và t ng 1,3% trên n m [12]
Số liệu của Tổng cục Thống kê (2007 – 2010) [12] cho thấy: ba n m trở lại đây diện tích, n ng suất và sản lượng rau t ng dần N m 2007 diện tích cả nước là 706,479 ha, n ng suất 15,69 tấn ha, sản lượng 11.084.655 tấn ha N m
2008 diện tích t ng lên 722,580 ha, n ng suất 15.95 tấn ha, sản lượng 11.510.77 tấn N m 2009 diện tích t ng lên 735.355 ha, n ng suất 16,12 tấn ha, sản lượng 11.885.067 tấn
Riêng miền Bắc diện tích rau có xu hướng giảm N m 2007, diện tích rau 335.497 ha, n ng suất 14,60 tấn ha, sản lượng 4.899.834 tấn N m 2009 diện tích giảm xuống còn 330.678 ha, n ng suất 14,99 tấn ha, sản lượng 4.956.667 tấn Đặc biệt vùng Đồng Bằng Sông Hồng diện tích giảm do tốc độ đô thị hóa
t ng mạnh, nhưng về n ng suất và sản lượng đã t ng hằng n m do trình độ và kỹ thuật canh tác phát triển N m 2007 diện tích trồng rau là 160.747 ha, n ng suất
Trang 1018,64 tấn ha, sản lượng 2.996.443 tấn N m 2009 diện tích giảm xuống còn 142.505 ha, n ng suất 19,88 tấn ha, sản lượng 2.832.753 tấn [12]
Các tỉnh miền Nam có xu hướng t ng lên N m 2007, diện tích 370.644
ha, n ng suất 20,14 tấn ha, sản lượng 6.194.730 tấn N m 2009, diện tích t ng lên 404.757 ha, n ng suất 17,11 tấn ha, sản lượng 6.928.400 tấn [12]
Cả nước có hơn 12 triệu hộ gia đình ở nông thôn và có diện tích trồng rau bình quân 36 m hộ (theo điều tra của đề tài khuyến nông 01 – 12) cho sản lượng ước tính 40 – 50 nghìn tấn m i n m gấp phần đưa sản lượng rau cả nước đạt xấp xỉ 5,2 – 5,3 triệu tấn Bình quân rau trên đầu người của nước ta hiện nay còn thấp, mới chỉ đạt 65,4 kg người n m, (gần bằng 7,8% bình quân chung của Châu 84% kg người n m thì mới chỉ đáp ứng gần 60 – 73% [12]
2.2.4 Tình hình âu hại trên r u bắp cải
Theo Hồ Khắc Tín và Cộng sự (1980) [5] ở Việt Nam có 4 loại sâu hại
chủ yếu trên rau họ hoa thập tự, gồm: sâu tơ (Plutella xylostella L.), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus.), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), bọ nhảy sọc cong vỏ lạc (P.striolata) Bọ nhảy P.striolata là đối tượng sâu hại
nghiêm trọng trên rau họ hoa thập tự ở Việt Nam hiện nay cũng như nhiều nước khác trên thế giới
Theo Nguyễn Thị Hoa và Cộng sự (2002) [6] sâu hại rau họ hoa thập tự chủ yếu có 6 loài: sâu xanh bướm trắng, sâu tơ, sâu khoang, sâu xám, bọ nhảy
và rệp
N m 1996, Tạ Kim Chỉnh thử nghiệm M.anisopliae trên mối và mối chết
do nấm sau 3 ngày Ngoài ra tác giả còn thử nghiệm trên châu chấu di cư và có hiệu quả đạt 92,2%
N m 1997 Viện Bảo vệ Thực vật đã phối hợp với Lâm Trường Lương
Sơn, tỉnh Hòa Bình sử dụng M.anisopliae để diệt châu chấu mía
Nước ta đã thu thập và phân lập, tuyển chọn được 28 chủng và 18 chủng trên các loài sâu hại khác nhau ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam [5]
Sâu xanh bướm trắng là loại sâu hại rau họ thập tự, nhưng chủ yếu gây hại nặng nhất trên su hào và bắp cải
Sâu non mới nở n vỏ trứng sau đó n nhu mô lá có chứa diệp lục, chừa lại biểu bì, mới nở tập trung thành cụm Từ tuổi 2 trở đi sâu phân tán, cắn thủng
lá làm lá bị khuyết chừa lại gân, làm cây rau xơ xác khi mật độ cao: vụ đông sớm và xuân muộn sâu thường hại nặng hơn
Trang 11Trưởng thành có tính hướng sáng nên hoạt động vào ban ngày, mạnh nhất vào sáng (từ 7 - 10h) và buổi chiều (3 - 6h) Hoạt động giao phối và đ trứng thường diễn ra vào buổi sáng Ngay sau khi vũ hoá, trưởng thành có thể giao phối ngay, con đực hoạt động mạnh và tìm con cái để giao phối còn con cái mới
vũ hoá thường ít hoạt động hơn Trưởng thành thường tìm đến ruộng có rau họ hoa thập tự để đ trứng và chiều tối tập trung bờ bụi có hoa dại Vào thời điểm trên ruộng không có rau, trưởng thành đ trứng ở các cây ký chủ phụ như cây hoa cỏ may [3]
Sau khi mới lột xác, sâu non có tập tính n vỏ trứng của nó Sâu non tuổi
1 n gặm lớp mô mặt dưới của lá để lại lớp biểu bì, bước sang tuổi 2 sâu n thủng lá tạo thành các l thủng Khi đầy đủ thức n chúng n gặm phần thịt lá còn khi hết thức n chúng có thể n gặm cả gân và thân lá rau, sâu rất phàm n đặc biệt sâu phá hoại mạnh nhất ở tuổi 4, tuổi 5 Sâu n gặm đến đâu thải phân đến đó
Sâu gần lột xác bước sang tuổi mới ngừng n, thải phân và cơ thể chuyển sang màu xanh hơi vàng Sâu tuổi cuối gần hoá nhộng ngừng n, thải hết phân
và tìm nơi kín đáo, khô ráo để hoá nhộng
N m 1980, trời nắng kéo dài, sâu tơ phát triển (n m 1980, Đài Loan hạn hán, sâu phát triển quanh n m) Tại Việt Nam, n m 1994, KS.Nguyễn Quý Hùng và Cộng sự có nghiên cứu cho thấy, mật độ sâu tơ trên ruộng rau bắp cải ngay sau khi dứt mưa ít hơn so tháng 1- tháng 2 n m sau (16 sâu cây so với 45 sâu/cây)
Sâu tơ (Plutella xylostella) gây hại nghiêm trọng vùng ôn đới và nhiệt đới
Mật độ sâu tơ tỷ lệ nghịch với mưa Vòng đời sâu tơ ngắn chỉ 12 – 15 ngày, sinh sản cao, tính kháng thuốc nhanh Thiệt hại hằng n m do sâu tơ gây ra khoảng 30 – 50% n ng suất, chi phí phòng trừ chiếm 20 – 40% tổng chi phí đầu
tư - nhất là trên bắp cải Cứ 1.000 m² rau cải ngoại thành Thành Phố Hồ Chí Minh 10 n m trước, nông dân gần tốn 2 triệu đồng Thành Phố Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành khác đang quan tâm xây dựng vùng rau sạch, an toàn (hạn chế tối đa dư lượng thuốc trừ sâu, NOз, kim loại nặng) N m nay, nắng kéo dài, độ
ẩm cao, sâu tơ phá hại cải bắp, cải bông và nguy cơ nhất là các vùng trồng rau
Trang 12cao nguyên, ngoại thành Thành Phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Bằng Sông Cửu Long Chúng tôi đem n i lo sâu tơ phá hoại rau họ thập tự đến Nam [1]
Thạc sĩ Dương Thành Tài: Từ nhiều n m nay, bà con mình sử dụng thuốc hoá học ở vùng chuyên canh rau họ hoa thập tự, tồn tại dư lượng thuốc hại sức khỏe, sâu tơ kháng thuốc mạnh, việc tái phát sâu cao, có khi hơn cả trước khi diệt sâu khiến cho các thuốc hoá học không hấp dẫn [2]
Theo d i kết quả ban đầu của họ, n m 1990 [3], chúng tôi hiểu: hầu hết các cá thể cải xanh – đen – láng đều kháng sâu nhờ lớp sáp bề mặt lá cải, tinh thể sáp có dạng hình cầu, khác với tinh thể sáp hình que ở cải xanh bình thường không kháng được sâu Và các nhà khoa học Mỹ tại trại New York sau đó tìm những dòng cải kháng tốt như NY2518, NY8329, NY3891 Nói như thế, vì từ thành công của các nhà khoa học thế giới, chúng tôi nghiên cứu tiếp theo các biện pháp canh tác của họ, từ châu Mỹ (Honduras) sang châu (Đài Loan) Nhờ
đó, có lúc Viện Khoa học kỹ thuật miền Nam đưa ra hai loại bẫy: bẫy dính vàng
và bẫy cây trồng
Bẫy dính vàng làm bằng bảng nhựa Vinyl Choride hiệu quả hơn bẫy đ n
và bẫy pheromone Đây là mô hình qua nghiên cứu của hai nhà khoa học Thái: TS.Sivapragasam và Saito Sau này ông Saito làm bẫy hình trụ có phết lớp chất dính Hexane đặt cánh tán lá 10 – 30 cm Cứ 48 m² đặt 3 bẫy dính 106 con (trung bình) 1 bẫy Thập niên 90 Thái Lan thành công lớn Còn bẫy cây trồng là cách trồng xen cải bắp với cây trồng khác có sức hấp dẫn mạnh với sâu tơ hay bắp cải thí dụ vài hàng bắp cải mù tạt ( n Độ) với 15 hàng cải bắp rồi dùng thuốc Dichlovros 0,1% phun sâu tơ trên bắp cải mù tạt n ng suất cải bắp rất cao Sâu
tơ chỉ 1,4 con cây so với ngoại thành Thành Phố hồ Chí Minh 40 – 50 con/cây
Ngoài ra, có thể trồng cải bắp với cây có tính xua đuổi sâu tơ như tỏi, kiều mạch, cây rum và cà chua Có thời, trồng 4 hàng cải bắp với 2 hàng cà chua (cà chua được trồng trước cải bắp 30 ngày) trên vùng Bình Chánh, Hóc Môn, Củ Chi, mật độ sâu tơ giảm r rệt (80 105 – 134/187) thử nghiệm và đối chứng) [3]
Sâu n tạp (sâu khoang) là một trong những loài sâu n lá quan trọng, là loài sâu đa thực có thể phá hại nên 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật bao gồm các loại rau màu, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây lương thực, cây phân xanh, [3]
Bướm thường vũ hoá vào buổi chiều và bay ra hoạt động vào lúc vừa tối, ban ngày bướm đậu ở mặt sau lá hoặc trong các bụi cỏ Bướm hoạt động từ tối
Trang 13đến nửa đêm, có thể bay xa đến vài chục mét và cao đến 6 - 7 mét Sau khi vũ hoá vài giờ, bướm có thể bắt cặp và một ngày sau đó có thể đ trứng
Sâu n tạp n phá nhiều loại cây nên có mặt quanh n m trên đồng ruộng Sâu cắn phá mạnh vào lúc sáng sớm nhưng khi có ánh nắng sâu chui xuống dưới tán lá để ẩn nấp Chiều mát sâu bắt đầu hoạt động trở lại và phá hại suốt đêm
Sâu vừa nở n gặm vỏ trứng và sống tập trung, nếu bị động sâu bò phân tán hoặc nhả tơ buông mình xuống đất Sâu tuổi 1 - 2 chỉ n gặm phần diệp lục của lá và chừa lại lớp biểu bì trắng, từ tuổi 3 trở đi sâu n phá mạnh cắn thủng lá
và gân lá tuổi lớn khi thiếu thức n, sâu còn tập quán n thịt lẫn nhau và không những n phá lá cây mà còn n trụi cả thân, cành, trái non Khi làm nhộng, sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó hoá nhộng
Theo Nguyễn Thị Kim Oanh (2008) [7] khi nghiên cứu thành phần sâu hại rau, cho biết có 6 loài hại rau họ hoa thập tự Trong đó có sâu khoang và châu chấu nhỏ gây hại n ng hơn
Sâu khoang là loài phân bố khắp trên thế giới, đây là loài đa thực phá hoại trên 290 loại cây trồng thuộc 99 họ thực vật nước ta sâu khoang là loài sâu hại quan trọng trên rau họ hoa thập tự, cà chua, cà bát, đậu đũa Sâu khoang là loài ưa điều kiện nóng ẩm Nhiệt độ thích hợp cho sâu sinh trưởng, phát dục là
29 – 30 C và độ ẩm 90% Nước ta sâu khoang gây hại nặng cho cây trồng và các tháng nóng ẩm mùa h và mùa thu (từ tháng 4 – 10) Sâu thường phát dịch vào tháng 5 – 6, còn các tháng khác có thể gây hại nặng hay nhẹ tùy thuộc vào địa điểm và cây trồng Nhưng nghiên cứu Viện Bảo vệ Thực vật từ 1997 – 2000 cho thấy vòng đời sâu khoang ở đồng bằng Sông Hồng từ 20 – 60 ngày phụ thuộc vào nhiệt độ Sâu khoang phát sinh quanh n m trên rau M i n m có 7 đỉnh cao mật độ sâu trên đồng ruộng, thường giữa hai đỉnh cao là 20 – 26 ngày Nhiệt dộ không khí thấp ở đồng bằng Sông Hồng và sự phát triển của nấm Beauveria và sản phẩm, là yếu tố làm giảm lượng sâu khoang từ tháng 12 – 4 n m sau [8]
Trang 14PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đị điểm và thời gi n nghiên cứu
3.1.1 Đ a ể ứu
Đề tài được thực hiên tại:
- Xã Mường Kim – Huyện Than Uyên – Tỉnh Lai Châu
- Trường Cao Đẳng Sơn La
3.1.2 ờ a ứu
- Đề tài bắt đầu thực hiện từ ngày 18 2 2013 – 28/4/2013
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
3.3 Đối tượng điều tra
Các loại sâu hại và thiên địch của chúng trên cây rau bắp cải
3.3 Nội dung điều tr
- Điều tra xác định thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên rau bắp cải
- Điều tra diễn biến mật độ một số sâu hại chính trên rau bắp cải
3.4 Phương pháp điều tr
3.4.1 P ươ u tra ồ ru
* P ươ u tra x t ầ s u v t ủa
ú tr rau ắ ả
- Điều tra theo phương pháp tự do, số điểm điều tra càng nhiều càng tốt,
m i tuần điều tra một lần trên các vườn rau Thu bắt toàn bộ sâu hại và thiên địch có trên cây điều tra và để giám định tên
* P ươ u tra s lượ s u v t
Trang 15+ Điều tra diễn biến mật độ sâu xanh bướm trắng trên 2 ruộng rau bắp cải, ruộng rau trồng trước (ngày 29 1)và ruộng rau mới trồng (ngày 16 1) vụ xuân –
h n m 2013 tại Xã Mường Kim – Huyện Than Uyên – Tỉnh Lai Châu
+ Điều tra diễn biến mật độ sâu tơ ở 2 địa điểm khác nhau: Chiềng Ban 1
và Chiềng Ban 2 vụ xuân - h n m 2013 tại Xã Mường Kim – Huyện Than Uyên – Tỉnh Lai Châu
+ Điều tra diễn biến sâu khoang trên 2 loại giống rau bắp cải, đó là giống rau Sapa và giống K.K.Cross vụ xuân – h n m 2013 tại Xã Mường Kim – Huyện Than Uyên – Tỉnh Lai Châu
- Để điều tra diễn biến mật độ sâu hại chính tiến điều tra trên 5 điểm theo đường chéo góc, m i điểm 1m² Quan sát và đếm số sâu hại chính trên trên rau bắp cải tại điểm điều tra
3.4.2 P ươ xử lý v ả quả s l u
- Mẫu thu thập được và bảo quản để giám định tên Mẫu vật được xử
lý và bảo quản theo hai cách:
+ Bảo quản mẫu ướt: Đối với mẫu vật là trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành và thiên địch của chúng Chúng tôi ngâm bằng cồn với nồng độ 40% tiến hành thay dung dịch khi cần thiết
+ Bảo quản mẫu khô: Đối với mẫu vật là trưởng thành, chúng tôi đem phơi hoặc sấy khô và bảo quản trong hộp
- Toàn bộ mẫu vật được cô Lê Thị Thảo giám định tên mẫu vật
3.5 Chỉ tiêu theo dõi và ử lý ố liệu
5
3
4
Trang 16Tổng số sâu bắt gặp (con) Mật độ sâu(con m²) =
Tổng diện tích điều tra (m²)
3.5.2 Xử lý s l u
Toàn bộ số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê thông thường (EXCEL) và ở độ tin cậy P = 95%
Trang 17PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Những điều kiện thuận lợi, khó khăn và tình hình ản uất nông nghiệp tại ã Mường Kim - Huyện Th n Uyên – Tỉnh L i Châu
4.1.1 Điều kiện thuận lợi
Mường Kim là một xã thuộc huyện Than Uyên – tỉnh Lai Châu Mường Kim có một vị trí thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp
- Phía đông giáp xã Hồ Bốn, huyện Mù C ng Chải, tỉnh Yên Bái
- Phía tây giáp xã Tà Hừa, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
- Phía nam giáp xã Tà Mung, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
- Phía bắc giáp xã Mường Cang, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu
Diện tích đất trồng tương đối bằng phẳng, đất tốt, màu mỡ, có hệ thống tưới tiêu được bê tông hóa nên thuận lợi, chủ động cho việc tưới tiêu trong sản
xuất nông nghiệp Giao thông khá thuận lợi nên tạo được thế mạnh trong sản
xuất nông nghiệp chuyên canh
Ngoài những thuận lợi sẵn có của vùng thì Xã Mường Kim còn thuận lợi trong việc tiếp cận khoa học kĩ thuật trong việc sản xuất nông nghiệp
Xã Mường Kim là một trong những xã của huyện được tập huấn IPM trên lúa và rau từ n m 2000 Đến nay đã đạt được 65% nông dân được tập huấn qua các lớp IPM, ban đầu các lớp tập huấn IPM được tổ chức tại trụ sở xã Mường Kim, sau đó được chuyển về từng bản, đội và áp dụng máy chiếu trong công tác tập huấn cho người dân nên thu hút được người dân tham gia tập huấn có hiệu quả
Mặt khác vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của xã luôn được cán bộ của Phòng nông nghiệp huyện Than Uyên – tỉnh Lai Châu quan tâm, hợp tác nghiên cứu và giúp đỡ người dân trong việc tiếp cận nền nông nghiệp tiên tiến, sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp bền vững Do đó người dân được tập huấn qua các lớp IPM học hỏi qua các cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ, nhận thức đã được nâng cao Trong công tác bảo vệ thực vật, người dân đã ý thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ mùa màng và áp dụng theo cán bộ bảo vệ thực vật của xã Mường Kim chỉ đạo, người dân đã biết chọn thuốc bảo
vệ thực vật hợp lý, có chọn lọc và không dùng thuốc bảo vệ thực vật đã bị nghiêm cấm sử dụng Bước đầu người dân sử dụng các loại thuốc hóa học trong phòng trừ dịch hại và đang có xu hướng sử dụng thuốc sinh học thay thế cho
Trang 18thuốc hóa học Đây chính là thuận lợi to lớn trong việc mở rộng quy trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp sạch an toàn tại địa phương
4.1.2 Điều kiện khó khăn
Trình độ thâm canh của người dân vẫn còn chịu ảnh hưởng nhiều bởi phong tục tập quán, sản xuất còn manh mún, thị trường tiêu thụ rau chưa ổn định, do đó còn gặp nhiều khó kh n trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Không phải là vùng chuyên sản xuất rau trọng điểm nên diễn biến sâu hại rất phức tạp nhanh chóng trở thành dịch hại nguy hiểm Người dân trồng rau ít
và l t không tập trung nên thường xuyên áp dụng phương pháp bắt sâu thủ công khi thấy sâu xuất hiện Phương pháp bắt sâu bằng tay không triệt để khi sâu phá hại mạnh Cây có cuốn được bắp thì cũng có sâu hại bên trong bắp làm giảm chất lượng của cây rau
Vì vậy khi thấy sâu xuất hiện nhiều trên đồng ruộng không kiểm soát được là nông dân bắt đầu dùng đến thuốc trừ sâu làm cho thiên địch của chúng không phát huy được vai trò trong việc hạn chế sự phát sinh, phát triển của quần thể sâu hại
Riêng đối với bắp cải, do diện tích trồng rau ít cho nên nông dân hạn chế dùng đến thuốc hóa học trong phòng trừ sâu gây hại
Trang 194.2 Thành phần âu hại r u bắp cải và thiên địch c ch ng vụ xuân -
hè năm 2 13 tại ã Mường Kim – Huyện Th n Uyên – Tỉnh L i Châu
4.2.1 Thành phần âu hại r u bắp cải vụ xuân - hè năm 2 13 tại ã Mường Kim – Huyện Th n Uyên – Tỉnh L i Châu
Rau bắp cải là đối tượng được nghiên cứu nhiều về sâu hại và thiên địch của chúng Cây rau bắp cải luôn chịu sự phá hoại của một số loài sâu hại, để bảo
vệ cây trồng nông dân đã sử dụng đến thuốc trừ sâu trong phòng trừ sâu bệnh hại, mặt khác làm ảnh hưởng đến n ng suất và chất lượng của rau Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhiều liên tục đã gây ra những tác hại rất đáng lo ngại, phá
vỡ cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, gây tính chống thuốc của các loài sâu hại Do người dân đã nhận thức được sự nguy hiểm của thuốc trừ sâu đối với người, sinh vật và môi trường sinh thái mà hạn chế được một phần nhỏ của việc sử dụng thuốc trừ sâu, thay vào đó với diện tích nhỏ nông dân đã áp dụng phươg pháp bắt sâu thủ công, khi có dịch hại lây lan mới dùng đến thuốc bảo vệ thực vật
Việc áp dụng biện pháp hoá học của nông dân đã làm cho thành phần sâu hại trên rau bắp cải m i n m một khác Để tìm hiểu được thành phần sâu hại trên rau bắp cải chúng tôi đã tiến hành điều tra thành phân sâu hại rau bắp cải tại
Xã Mường Kim – Huyện Than Uyên – Tỉnh Lai Châu Kết quả được thể hiện ở bảng 4.1: