Vì vậy, để chủ động phòng chống sâu hại cà chua và hiểu quả trong sản suất cà chua chúng tôi tiến hành chuyên đề: “ Điều tra thành phần sâu hại, thiên địchcủa chúng và diễn biến một số
Trang 1Phần I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Rau là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao, đóng vai trò quan trọng trong đời
sống hàng ngày của mỗi người dân Việt Nam cũng như trên thế giới Trong các loại rau thì cây cà chua có giá trị cao cả về dinh dưỡng lẫn kinh tế Cây cà chua
Lycopersicon esculentum Miller thuộc họ cà Solanaceae có nguồn gốc từ Trung và
Nam Châu Mỹ Cây cà chua được phát hiện vào thế kỷ XVI [2] Về sản lượng, cà chua chiếm 1/6 sản lượng rau hàng năm trên thế giới[7] Diện tích trồng cà chua trên thế giới trung bình 2,5 triệu ha/năm, đứng vị trí thứ 2 sau khoai tây Mỹ đứng đầu về năng suất và sản lượng, đứng thứ 2 về năng suất là Hy Lạp, tiếp đó là Italia Châu Á đứng thứ nhất về sản lượng, kế theo là Châu Âu Cà chua là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới [9]
Ở Việt Nam, cà chua được trồng cách đây trên 100 năm, diện tích trồng cà chua hàng năm biến động từ 12.000 – 13.000 ha Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển cây cà chua là nền tảng tạo đà cho xuất khẩu cà chua
Cà chua là cây trồng có giá trị dinh dưỡng cao và mang lại hiệu quả kinh tế hơn nhiều loại cây trồng khác Trong quả cà chua chín chứa nhiều loại chất có giá trị cao như đường dễ tiêu (2 - 4%) chủ yếu là Glucoza và Fructoza, các loại vitamin quan trọng cho đời sống con người như tiền vitamin A (1- 2mg%), vitamin B1 (0.08- 0.15 mg%), vitamin B2 (0.05- 0.07 mg%)… Ngoài ra, trong quả cà chua còn chứa 2.25 - 2.5% các loại acid như: oxalic, malic, nicotinic, citric… và chứa nhiều chất khoáng như K, P, Na, Ca, Mg, Fe… là các chất có trong thành phần của máu và xương Cà chua có nhiều tác dụng về mặt y học, với vị ngọt, tính mát, giữ nhiệt, chống hạ huyết, kháng khuẩn, nhuận tràng giúp tiêu hoá tinh bột và đặc biệt chất Lycopen trong quả
cà chua có tác dụng làm giảm sự phát triển của nhiều bệnh ung thư như: ung thư tiền liệt tuyến, ung thư ruột kết trực tràng và nhồi máu cơ tim Do vậy, cà chua là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến đóng hộp, nước giải khát, bánh mứt kẹo và là thành phần quan trọng trong việc chế biến món ăn sinh hoạt của người dân (có thể ăn sống, nấu canh, xào, làm tương cà chua…) Thế nhưng, thành
Trang 2phần sâu bệnh hại trên cây cà chua khá đa dạng và phong phú: các loài sâu hại chính
như sâu khoang S litura, sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner, bọ phấn Bemisia tabaci và một số bệnh héo xanh Ralstonia solanacearum Smith, sương mai Phytopthora infestans Mont de Bary vv… đã làm giảm đáng kể năng suất cà chua Vì
vậy, để chủ động phòng chống sâu hại cà chua và hiểu quả trong sản suất cà chua
chúng tôi tiến hành chuyên đề: “ Điều tra thành phần sâu hại, thiên địchcủa chúng
và diễn biến một số sâu hại chính trên cây cà chua trong vụ Xuân – Hè năm 2013 tại Bản Cọ - Chiềng An - Sơn La”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở điều tra thành phần sâu hại chính và thiên địch trên cây cà chua, diễn biến mật độ sâu hại chính từ đó đề xuất biện pháp quản lý thích hợp, nhằm tạo ra sản phẩm rau an toàn phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trang 3Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Nghiên cứu chung trên cây cà chua
Cà chua là cây trồng quan trọng trên khắp thế giới, cung cấp nhiều dinh dưỡng
có giá trị cho loài người và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị của nhiều quốc gia
Theo FAO 1993, diện tích trồng cà chua trên thế giới là 2.723.000 ha, năng suất đạt 25,9 tấn/ha, sản lượng 70.623.000 tấn Trong 10 năm 1987 - 1997 năng suất và sản lượng cà chua của thế giới tăng lên gấp bội Trong thực tế những năm gần đây giá
cà chua đã tăng ở hầu hết các thị trường trên thế giới, ở Bắc Italia là 700 Euro/tấn, ở Tây Ban Nha là 690 Euro/tấn
Năm 2006, do ảnh hưởng của điều kiện khí hậu thời tiết, một số quốc gia xuất khẩu cà chua có tiếng trên thế giới (Hy lạp, Hoa Kỳ, các nước Châu Á ) sản lượng
cà chua bị giảm, đồng nghĩa với nguồn cung cấp cà chua của thế giới giảm và tạo điều kiện cho một số quốc gia tăng lợi nhuận trong xuất khẩu cà chua trên thị trường thế giới, trong đó có Trung Quốc Theo số liệu thống kê của phòng thương mại Trung Quốc năm 2006 lượng cà chua xuất khẩu của nước này tăng tới 4,71% so với năm
2003 đạt 630 triệu kg Lợi nhuận thu được từ xuất khẩu cà chua của Trung Quốc là 5,01 triệu USD, tăng 933,5% so với năm 2005 Tháng 1 đến tháng 5 năm 2009 xuất khẩu cà chua của Trung Quốc tăng 10% đạt 39,5 triệu tấn nhờ nhu cầu tăng nhanh tại Hồng Kông, Việt Nam và Kazakhstan
Theo FAO 2002, sản lượng cà chua trồng hàng năm trên thế giới ước đạt 107 triệu tấn, trong đó 72% sản lượng quả tươi được bán trên thị trường [8] Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm được quan tâm lớn do cà chua là cây nhạy cảm với các dịch hại Do yêu cầu chất lượng tiêu chuẩn quả cao, dịch hại phong phú… đã kéo theo việc sử dụng nhiều loại, nhiều lần thuốc BVTV làm cho mức độ đầu tư chi phí sản xuất lớn, gây ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường và con người (Picanco et al 2001)
Trang 42.1.2 Tình hình sản xuất cà chua ở ngoài nước [14]
Cà chua là loại cây trồng tuy được chấp nhận như một loại thực phẩm và có lịch sử phát triển tương đối muộn nhưng do nó có khả năng thích ứng rộng và hiệu quả kinh tế và giá tri sử dụng cao Trên thế giới đã có nhiều giống mới được ra đời nhằm đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của con người cả về số lượng và chất lượng Theo FAO (1999), trên thế giới có 158 nước trồng cà chua Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua trên thế giới như sau: Theo FAO, 2009: Diện tích : 4.980,42 (1000 ha) Năng suất : 2030,63 (tạ/ha) Sản lượng : 141400,63 (1000 tấn)
Bảng 2.1 Diện tích, sản lượng, năng suất cà chua của các châu lục năm 2010 Tên châu
lục Diện tích (1000 ha)
Năng suất (tấn / ha) Sản lượng (1000 tấn)
( Nguồn : FAO Database Static 2011 )
Trong 10 năm (từ năm 2001 đến năm 2010) diện tích cà chua thế giới tăng 1,09 lần (từ 3.990,30 nghìn ha lên 4.338,83 nghìn ha), sản lượng tăng 1,35 lần (từ 107.977,76 nghìn tấn lên 145.751,51 nghìn tấn), trong khi năng suất không có sự thay đổi đáng kể Theo bảng 2.2 thì năm 2010, Châu Á có diện tích trồng cà chua (2.436,49 Khóa luận tôt nghiệp BM: DT & Chọn giống Nguyễn Viết Khoa Lớp: Gi – K53 16 nghìn ha) và sản lượng (81.812,01 nghìn tấn) lớn nhất thế giới Tuy nhiên, Châu Úc và Châu Mỹ có năng suất lớn nhất: Châu Úc là 63,28 tấn/ha; Châu Mỹ là 50,86 tấn/ha
Trang 5Bảng 2.2 Những nước có sản lượng cà chua cao nhất thế giới năm 2010
( Nguồn : FAO Database Static 2011 )
Cà chua là loại rau cho hiệu quả kinh tế cao và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của nhiều nước ở cả hai dạng ăn tươi và chế biến Đứng đầu về tiêu thụ cà chua
là nước Mỹ, sau đó là các nước Châu Âu Lượng cà chua trao đổi trên thị trường thế giới năm 1999 là 36,7 triệu tấn, trong đó cà chua dùng ở dạng ăn tươi chỉ chiếm 5-7% Điều đó cho thấy, cà chua được sử dụng chủ yếu ở dạng đã qua chế biến
Trang 6Bảng 2.3 Những nước có giá trị nhập khẩu cà chua lớn nhất thế giới
( Nguồn: FAO Database Static 2009)
Cà chua chế biến được sản xuất ở nhiều nước trên thế giới nhưng nhiều nhất là
ở Mỹ và Italia Ở Mỹ, năm 2002 sản lượng nhiều nhất ước đạt 10,1 triệu tấn Trong
đó các sản phẩm cà chua chế biến chủ yếu là cà chua cô đặc Ở Italia, sản lượng cà chua chế biến ước tính đạt được là 4,7 triệu tấn Ở Châu Á, Đài Loan là một trong những nước có nền công nghiệp chế biến cà chua sớm nhất Ngay từ 1918, Đài Loan
đã phát triển cà chua đóng hộp Năm 1967, họ mới chỉ có một công ty chế biến cà chua Đến năm 1976, họ đã có tới 50 nhà máy sản xuất cà chua đóng hộp
2.1.3 Nghiên cứu sâu hại trên cây cà chua
Cây cà chua được nhiều nhà khoa học nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau, song vấn đề sâu hại còn ít được mọi người quan tâm
Sâu hại cà chua là một vấn đề cần được đặc biệt quan tâm khi hướng đến một sản phẩm rau sạch Theo Opena R.T Vµ CS (1989) [34], trong sè
c¸c loµi s©u h¹i trªn cµ chua th× s©u xanh (H armigera)
Trang 7đ-ợc ghi nhận là loài sâu hại nguy hiểm nhất, chúng có thể làm giảm năng suất tới 70% Đây là đối t-ợng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các vùng trồng cà chua thuộc khu vực Nam Á và Đông Nam Á Sự nguy hiểm của sâu xanh đ-ợc ghi nhận trên các khía cạnh: có khả năng thích ứng rộng với nhiều hệ thống canh tác, là loài có tính đa thực cao, phân bố địa lý rộng, có khả năng di chuyển nhanh, sức sinh sản lớn, tình dục không bắt buộc và có h-ớng kháng thuốc trừ sâu
Torres -Villa L.M và CS (1996), [37] cho rằng:
Helicoverpa armigera Hiibner là loài sâu hại đa thực, phổ
biến trên thế giới và có vai trò quan trọng đối với nhiều loại cây trồng nông nghiệp Loài sâu hại này đ-ợc ghi nhận là gây hại trên 60 loại cây trồng thuộc 39 họ khác nhau, là đối t-ợng gây hại chủ yếu của các cây trồng nh-: bông, thuốc lá, ngô, kê, hoa h-ớng d-ơng, đậu t-ơng, ớt,
đặc biệt là cà chua
Theo nghiên cứu của Matthews M (1991) [33], sâu xanh
Helicoverpa armigera Hiibner cũng có tên gọi là Heliothis armigera Hiibner hoặc Cloridae armigera Hiibner thuộc lớp
côn trùng Insecta, bộ cánh vẩy Lepidoptera, họ ngài đêm
Noctuidae Những kí chủ đầu tiên của sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner là các đối t-ợng của hoa và cây cảnh,
sau đó, là những cây trồng có giá trị kinh tế nh- bông, thuốc lá, cà chua, khoai tây, ngô, đậu t-ơng, kê, một số loại đậu nh- đậu đũa, cây ăn quả
Chen W.S và CS (1990) [26] cho biết ngài cái đẻ trứng
đơn lẻ, giai đoạn sâu non phát triển không giống nhau dù trứng từ cùng một ngài cái đẻ ra Bên cạnh đó, nguồn thức
Trang 8ăn không ảnh h-ởng đến màu sắc của sâu non hay tr-ởng thành Để kết thúc một lứa, giai đoạn trứng kéo dài từ 1-8 ngày, giai đoạn sâu non kéo dài từ 14-51 ngày, giai đoạn nhộng từ 7-14 ngày, do đó, thời gian phát dục của 1 lứa
đòi hỏi từ 22 - 162 ngày (8 lứa sâu/năm) Ngài cái th-ờng
có màu vàng nâu sẫm, trong khi đó, ngài đực lại có màu xám hơn Sâu non trải qua 5 lần lột xác và có khả năng tiêu diệt lẫn nhau Sâu non đẫy sức hóa nhộng trong đất
Tại ấn Độ (bang Punjab), sâu xanh xuất hiện 4 lứa 1 năm: lứa thứ nhất vào tháng 3 trên cây đậu, hai lứa tiếp theo từ cuối tháng 4 đến tháng 5 trên cây cà chua, lứa thứ t- trên cây ngô và cà chua vào tháng 7- 8 (Jaglan M.S
v CS, 1997) [31] Một số tác giả khi nghiên cứu về đặc
điểm sinh học của sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner
đã quan sát thấy trứng có hình bán cầu, mặt đáy phẳng, bề mặt trứng có những đ-ờng gân nổi gồ lên giống hình khung tầu Màu sắc của quả trứng mới nở có màu trắng vàng và sau
đó trở nên sẫm hơn khi chuẩn bị nở Chiều dài của trứng khoảng 0,5 mm và chiều rộng khoảng 0,54 mm Sâu non mới
nở có chiều dài khoảng 1,3 - 1,6 mm, có màu trắng trong, dọc thân có một vạch màu vàng da cam, mảnh cứng đầu có màu nâu sẫm Chiều dài sâu non đẫy sức có kích th-ớc dài từ 35-
42 mm, mặt bụng bằng phẳng, mặt l-ng lồi lên Nhìn chung, cơ thể sâu non có màu xanh nhạt, ở mỗi phía trên cơ thể, sâu có một sọc gẫy bên cạnh đó, trên mặt l-ng còn có một vạch có nhiều lông màu trắng nằm rải rác Mỗi đốt ngực có một đôi chân, tổ hợp lại có ba đôi chân ngực Chân bụng hay đ-ợc gọi là chân sau gồm 4 đôi đ-ợc sắp xếp tại các
đốt bụng thứ 3, 4, 5 và 10 (Singh H và CS, 1975) [36]
Trang 9Jing Sun và CS (2002) [32] khi nghiên cứu ứng dụng một số dòng bông chuyển nạp gen Bt chống sâu xanh
Helicoverpa armigera Hiibner đã cho thấy các dòng bông
Shanxi94-24, Zhongxin94 và R19 cho hiệu quả khá tốt đối
với sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner trong điều kiện phòng thí nghiệm và ngoài đồng ruộng Tuy nhiên, trong điều kiện phòng thí nghiệm có sự suy giảm về hiệu lực khi tuổi cây tăng dần, tỷ lệ chết của sâu nuôi trên lá của cây từ khi có đốt đầu tiên cho tới đốt cuối cùng có sự giảm dần Ảnh h-ởng của thời gian sinh tr-ởng đối với hiệu lực của
các dòng bông chuyển gen trên sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner đã đ-ợc kiểm tra lại nhờ việc thu thập
cùng lúc lá cây chuyển gen tại các thời điểm khác nhau từ 01/03 đến 11/9 năm 1999 với định kỳ 20 ngày/lần Kết quả thí nghiệm cho thấy không có sự khác biệt về hiệu lực của
3 – 4 lứa liên tục Điều này đảm bảo khả năng truyền và thể hiện rất ổn định của các gen chuyển nạp vào bộ gen của cây bông Khả năng rủi ro về ảnh h-ởng của thời gian sinh tr-ởng cây đến hiệu lực chống sâu xanh đã đ-ợc các tác giả tiếp tục nghiên cứu và đ-a ra khuyến cáo đối với sinh tr-ởng của các dòng bông chuyển gen
Theo một số tác giả, côn trùng th-ờng thể hiện sự -a thích đặc biệt đối với một loại cây trồng hay một giai
đoạn sinh tr-ởng nhất định của cây trồng nhờ vào phản ứng của các cơ quan thị giác, khứu giác và xúc giác Sự -a thích này của côn trùng có thể lợi dụng đ-ợc để phòng chống lại chúng thông qua bẫy cây trồng nhằm bảo vệ cây trồng chính (Hokkanen H.,1991) [30], bảo vệ cây trồng có thể thực hiện đ-ợc bằng ph-ơng pháp phòng chống sâu hại tấn công hoặc là tập trung sâu hại trên một diện tích và
Trang 10quản lý chung Bẫy cây trồng cần đ-ợc áp dụng đúng lúc và
đúng chỗ để hấp dẫn côn trùng tại một giai đoạn nguy hại
đối với cây trồng hoặc là sâu hại hoặc là cả hai đối t-ợng trên Vì vậy, tùy thuộc đặc tính sinh vật học của sâu hại và cách phòng trừ sẵn có, quần thể sâu hại có thể chịu tác động của nhiều cách Một vài tr-ờng hợp cây trồng
có khả năng chống chịu đ-ợc với sâu hại và không đòi hỏi phải tác động thêm biện pháp phòng trừ nào Trong những tr-ờng hợp khác, bẫy cây trồng có vai trò nh- nguồn cung cấp thiên địch, sau đó phát triển và hạn chế sâu hại Khi bẫy cây trồng có khả năng dẫn dụ và tập trung các loài sâu hại, việc phòng trừ sâu hại sẽ trở nên rất hiệu quả Mặc
dù vậy, bẫy cây trồng là biện pháp quản lý dịch hại an toàn và tiềm năng nh-ng không phải lúc nào cũng mang lại thành công Bẫy cây trồng đã thu hút đ-ợc nhiều sự chú ý ở các n-ớc đang phát triển, nơi mà tiêu chuẩn về sản phẩm cũng thấp hơn các n-ớc phát triển Thuốc trừ sâu hoặc biện pháp canh tác sẽ đ-ợc áp dụng
Theo Torres -Vila L.M và CS (1996) [37] cho rằng tại Tây Ban Nha, việc sử dụng kẻ thù tự nhiên có thể làm giảm
quần thể sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner trên cà
chua nh-ng mức đú th-ờng ch-a đủ để tránh khỏi những thiệt hại về kinh tế, đặc biệt, trên những đối t-ợng cây trồng có giá trị kinh tế cao
Theo Garshawbeza R.B và CS (1993) [28] thì biện pháp quản lý sâu hại tổng hợp đem lại hiệu quả tốt hơn nhiều
so với biện pháp sử dụng thuốc trừ sâu trong phòng trừ sâu xanh hại cà chua
Cameron và CS (1995) [25] trong ch-ơng trình quản lý
Trang 11tính kháng thuốc fenvalerate của sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner đã tiến hành thí nghiệm về khả năng
kháng thuốc của loài sâu này và cho thấy: sâu non thế hệ F1 nuôi từ nguồn sâu thu ngoài đồng và tr-ởng thành đ-ợc thử nghiệm tiếp xúc cá thể với thuốc fenvalerate, kết quả là
sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner có mức kháng thuốc
fenvalerate khá cao cả ở giai đoạn sâu non và tr-ởng thành
Ch-ơng trình đấu tranh sinh học để phòng trừ sâu xanh
là biện pháp khả thi có thể thay thế cho biện pháp dùng thuốc hoá học thông th-ờng (Gudoy và CS, 1996) [29]
Theo Peason 1958, Fitt 1985 khi nghiờn cứu về sõu xanh Helicoverpa
armigera Hubner cho biết H armigera là loài dịch hại cõy trồng nụng nghiệp chủ
yếu ở rất nhiều khu vực trờn thế giới như: Chõu Mỹ, Ấn Độ, Đụng Nam Á, Trung Đụng, Đụng Âu, Phớa Đụng và phớa Bắc Australia, New Zealand và rất nhiều đảo phớa Đụng Thỏi Bỡnh Dương [35]
Gudoy và CS (1996) [29] cũng cho rằng biện pháp ứng dụng công nghệ sinh học hiện đại vào phòng chống sâu xanh nh- chuyển nạp gen cũng là b-ớc đột phá lớn trong nông nghiệp, tuy nhiên, một số công trình mới đây của các tác giả Trung Quốc đã nghiên cứu và cho thấy rằng sâu xanh
Helicoverpa armigera Hiibner đã có khả năng chống chịu và
kháng ngay đối với cả một số dòng bông chuyển nạp gen Bt
Theo Zeng Li và CS (2004) [38], để nâng cao hiệu quả của biện pháp đấu tranh sinh học đối với sâu xanh hại cà chua trong điều kiện nhà l-ới, việc cải tiến điều kiện nhân nuôi hàng loạt và thả bổ sung một số loài ong kí sinh đã đem lại hiệu quả cao tại một số vùng trồng cà chua ở Hồ Bắc (Trung Quốc) Một số loài ong kí sinh trứng
Trichogramma spp đạt tỷ lệ kí sinh trứng từ 85 – 96% Bên
Trang 12cạnh đó, sản xuất cà chua trong nhà l-ới tại một số vùng
đã không phải nhờ đến thuốc hoá học
Năm 1994, Zalucki et al cho biết ở vựng nội địa Australia khi tiến hành cuộc
điều tra trờn diện rộng đó chỉ ra hơn 26 loại cõy ký chủ nữa bị sõu xanh H armigera
gõy hại, lớn hơn so với những nghiờn cứu trước đú
Kết quả nghiờn cứu của Trung tõm nghiờn cứu Bụng P.B số 2 Shankarnagar -
Ấn Độ cho biết: sõu xanh H armigera gõy thiệt hại mựa màng hàng năm từ 290 - 350
triệu USD (năm 1994) Trong 480 triệu USD chi trả cho thuốc BVTV trong sản xuất nụng nghiệp ở Ấn Độ thỡ cú 50% chi phớ cho sản xuất bụng trong đú 75% (của 240
triệu USD) dựng để quản lý sõu xanh H armigera Trong suốt hơn một thập niờn qua
việc quản lý sõu hại này càng trở lờn khú khăn phức tạp do khả năng khỏng thuốc của chỳng với hầu hết cỏc loại thuốc sõu đang được dựng phổ biến ở đú
2.2 Tỡnh hỡnh nghiờn cứu trong nước
2.2.1 Nghiờn cứu chung về cõy cà chua
Việt Nam là quốc gia cú nhiều điều kiện thuận lợi cho việc phỏt triển một nền nụng nghiệp thành tựu cao, đú là nền tảng tạo đà cho xuất khẩu Rau, hoa quả là mặt hàng nụng sản chủ lực của Việt Nam - trị giỏ gần 103 tỉ USD Năm 2008, tổng diện tớch rau của cả nước là 722 nghỡn hecta, năng suất trung bỡnh đạt 159 tạ/ha với sản lượng 11,4 triệu tấn Sỏu thỏng đầu năm 2009 cả nước sản xuất gần 500 nghỡn hecta rau, đậu cỏc loại, trong đú tớnh riờng cỏc tỉnh phớa Bắc đạt 240 hecta Tuy nhiờn, hiện nay diện tớch rau an toàn (RAT) của cả nước chỉ đạt 8 - 8,5% tổng diện tớch trồng rau
Việc lạm dụng thuốc hoỏ học để bảo vệ năng suất cõy trồng núi chung và cõy cà chua núi riờng đó gõy nờn những ảnh hưởng lớn như: phỏ vỡ mối cõn bằng sinh thỏi trong sinh quần, tiờu diệt và làm nghốo quần thể ký sinh, thiờn địch cú ớch, và quan trọng hơn là tạo tớnh khỏng thuốc cho sõu hại Một thực tế cho thấy vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đang làm đau đầu cỏc nhà quản lý và cỏc nhà khoa học nụng nghiệp Việt Nam về việc chưa kiểm soỏt được tốt dư lượng thuốc BVTV trong cỏc sản phẩm nụng sản xuất khẩu, đặc biệt là xõm nhập thị trường tiềm năng nhưng kỹ tớnh như
Mỹ, Nhật, Tõy Âu…
Trang 13Đặc điển sinh học về cây cà chua[2]
Cà chua là cây hằng niên, tuy nhiên trong điều kiện tối hảo nhất định cà có thể
là cây nhiều năm
* Rễ cà chua
Rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, khả năng phát triển rễ phụ rất lớn Trong điều kiện tối hảo những giống tăng trưởng mạnh có rễ ăn sâu 1 - 1,5 m và rộng 1,5 - 2,5 m vì vậy cà chua chịu hạn tốt Khi cấy rễ chính bị đứt, bộ rễ phụ phát triển
và phân bố rộng nên cây cũng chịu đựng được điều kiện khô hạn Bộ rễ ăn sâu, cạn, mạnh hay yếu đều có liên quan đến mức độ phân cành và phát triển của bộ phận trên mặt đất, do đó khi trồng cà chua tỉa cành, bấm ngọn, bộ rễ thường ăn nông và hẹp hơn so với điều kiện trồng tự nhiên
* Thân cà chua
Thân tròn, thẳng đứng, mọng nước, phủ nhiều lông, khi cây lớn gốc thân dần dần hóa gỗ Thân mang lá và phát hoa Ở nách lá là chồi nách Chồi nách ở các vị trí khác nhau có tốc độ sinh trưởng và phát dục khác nhau, thường chồi nách ở ngay dưới chùm hoa thứ nhất có khả năng tăng trưởng mạnh và phát dục sớm so với các chồi nách gần gốc
* Lá cà chua
Lá thuộc lá kép lông chim lẻ, mỗi lá có 3 - 4 đôi lá chét, ngọn lá có 1 lá riêng gọi là lá đỉnh Rìa lá chét đều có răng cưa nông hay sâu tùy giống Phiến lá thường phủ lông tơ Đặc tính lá của giống thường thể hiện đầy đủ sau khi cây có chùm hoa đầu tiên
* Hoa cà chua
Hoa mọc thành chùm, lưỡng tính, tự thụ phấn là chính Sự thụ phấn chéo ở cà chua khó xảy ra vì hoa cà chua tiết nhiều tiết tố chứa các alkaloid độc nên không hấp dẫn côn trùng và hạt phấn nặng không bay xa được Số lượng hoa trên chùm thay đổi tùy giống và thời tiết, thường từ 5 - 20 hoa
Trang 14* Quả cà chua
Trái cà chua thuộc loại mọng nước, có hình dạng thay đổi từ tròn, bầu dục đến dài Vỏ trái có thể nhẵn hay có khía Màu sắc của trái thay đổi tùy giống và điều kiện thời tiết Thường màu sắc trái là màu phối hợp giữa màu vỏ trái và thịt trái
* Hạt cà chua
Hạt cà nhỏ, dẹp, nhiều lông, màu vàng sáng hoặc hơi tối Hạt nằm trong buồng chứa nhiều dịch bào kìm hãm sự nảy mầm của hạt Trung bình có 50 - 350 hạt trong trái, khối lượng 1000 hạt là 2,5 - 3,5 g
2.2.2 Tình hình sản xuất cà chua ở trong nước
Cà chua là cây được du nhập vào Việt Nam mới được hơn 100 năm nhưng đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử dụng ngày càng rộng rãi Cà chua ở nước
ta được trồng chủ yếu vào vụ đông với diện tích khoảng 6.800-7.300 ha và thường tập trung ở các tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc…), còn ở Miền Nam tập trung ở các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng… Trong điều tra của TS Phạm Đồng Quảng và cs, hiện nay cả nước có khoảng 115 giống cà chua được gieo trồng, trong đó có 10 giống được gieo trồng với diện tích lớn
6259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước Giống M386 được trồng nhiều nhất (khoảng
1432 ha), tiếp theo là các giống cà chua Pháp, VL200, TN002, Red Crown Ở Việt Nam, giai đoạn từ 1996-2001, diện tích trồng cà chua tăng trên 10.000 ha (từ 7.509
ha năm 1996 tăng lên 17.834 ha năm 2001) Đến năm 2008 diện tích đã tăng lên 24.850 ha Năng suất cà chua nước ta trong những năm gầnđây tăng lên đáng kể Năm 2008, năng suất cà chua cả nước là 216 tạ/ha bằng 87,10% năng suất thế giới (247,996 tạ/ha) Vì vậy, sản lượng cả nước đã tăng rõ rệt (từ 118.523 tấn năm 1996 đến 535.438 tấn năm 2008) [14]
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng cà chua của Việt Nam
Trang 15Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Số liệu của tổng cục thống kê 2008)
Cà chua là một loại rau ăn trái đã và đang nắm giữ vị trí quan trọng và là tâm điểm nghiên cứu của các nhà chọn tạo giống cây trồng trong tương lai Nhờ vậy mà hàng loạt các giống cà chua mới, năng suất cao, phẩm chất tốt được ra đời để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Để phục vụ công tác đó cần sử dụng rất nhiều phương pháp như lai tạo, chọn lọc, xử lý đột biến, nuôi cấy invitro… Tuy nhiên so với sự phát triển chung của thế giới thì cả diện tích và năng suất ở nước ta còn rất thấp Theo dự đoán của một số nhà chuyên môn thì trong một vài năm tới diện tích và năng suất cà chua đều sẽ tăng nhanh do các nhà chọn giống trong những năm tới sẽ đưa ra sản xuất hàng loạt các giống có ưu điểm cả về năng suất và chất lượng, phù hợp với từng vùng sinh thái, từng mùa vụ nhất là các vụ trái, giải quyết rau giáp vụ Các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới sẽ được hướng dẫn và phổ biến cho nông dân các tỉnh Nước ta đã đưa vào một nhà máy chế biến cà chua cô đặc theo dây chuyền hiện đại tại Hải Phòng với công suất 10 tấn nguyên liệu/ ngày Vì vậy việc quy hoạch vùng trồng cà chua để cung cấp nguyên liệu cho nhà máy đang trở nên cấp thiết nhất
là ở các tỉnh Hải Phòng, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình
2.2.3 Nghiên cứu sâu hại trên cây cà chua
Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng miền Bắc 1967 - 1968 có 11 loài sâu hại
cà chua trong đó có một số loài gây hại quan trọng như sâu xám Agrotis ypsilon Rottemb, bọ phấn Bemisia mysicae Kuwayana, sâu xanh Helicoverpa armigera Hubner, sâu khoang Spodoptera litura Fabr, dế mèn lớn và dế dũi [1]
Năm 1974 – 1976, kết quả điều tra cơ bản côn trùng toàn Miền Bắc một lần nữa cho thấy có 13 - 14 loài sâu hại phổ biến trên cà chua, một trong những loài gây
Trang 16hại nghiờm trọng cho cõy cà chua là sõu xanh đục quả H.armigera Hubner (Hồ Khắc
Tớn, 1980) [16]
Theo Hoàng Anh Cung (1990 -1995) [3]trờn cà chua cú 5 loài sõu hại chớnh:
sõu xỏm Agrotis ypsilon Rott, bọ phấn Bemisia tabaci, sõu khoang Sopodoptera litura, sõu xanh Helicoverpa armigera, bọ trĩ Thripidae Trong đú, chỉ cú 2 loài sõu
đục quả là sõu xanh và sõu khoang xuất hiện và gõy hại thường xuyờn hơn trong cả 3
vụ cà chua: vụ sớm, chớnh vụ và vụ muộn
Theo FAO 2002, khi nghiờn cứu về sõu hại cà chua, đó xỏc định cú 5 loài gõy hại chớnh cần cú biện phỏp quản lý hiệu quả đú là sõu xỏm, sõu xanh đục quả, bọ
phấn, dũi đục lỏ và rệp bột sọc Ferrisia virgata [8]
Theo L-ơng Thị Kiểm (2003) [12], khi tiến hành điều tra thành phần sâu hại cà chua tại Đông Anh đã cho biết cứ
7 loài sâu hại trên cà chua là sâu xanh (H.armigera H.), sâu xanh (H.assulta Gue.), bọ phấn (B.tabaci Genn.), sâu xám (A.Ypsylon Rott.), sâu khoang (S.litura Fabr.), rệp
đào, dòi đục lá (L.sative)
Theo Viện Bảo Vệ Thực vật (1995) [22], một số đặc
điếm sinh học, sinh thái của sâu xanh Helicoverpa armigera Hiibner đã đ-ợc đ-a ra phục vụ cho công tác điều
tra nh- sau:
• Đặc điểm hình thái:
Ngài dài 15-17 mm, cánh tr-ớc màu vàng sẫm, các vân không rõ rêt, vân ngoài hình l-ợn sóng, trứng hình bán cầu
Sâu non có 6 tuổi, tuổi 1 có chiều dài 2,3-3,0 mm, tuổi 6 có chiều dài 20-45 mm, màu sắc khác nhau Có 4 loại màu chính: hồng nhạt, trắng vàng, xanh nhạt và xanh
Nhộng màu nâu đen
• Đặc điểm sinh học và quy luật phát triển:
Trang 17Ngài hoạt động mạnh từ chập tối, có xu tính với ánh sáng trắng yếu Sau khi giao phối 2 - 3 ngày, ngài đẻ trứng rải rác trên mặt lá non, lá bao của nụ Một con cái có thể đẻ từ 200 - 3000 trứng
Sâu non còn nhỏ thích ăn lá búp các đối t-ợng cây trồng, mỗi chỗ gặm một ít, khi lớn, sâu ăn nụ, nhũ hoa (ăn hết bộ phận bên trong để lại vỏ rỗng) Khi quả hình thành, sâu đục phần d-ới, nửa mình vào trong quả, nửa mình
ở ngoài Nụ hoa, quả bị hại không phát triển đ-ợc, rụng xuống đất
Sâu đẫy sức hóa nhộng trong kén d-ới đất
Nhộng thuờng vũ hóa vào ban đêm,
Thời gian phát dục của pha trứng : 2 - 12 ngày
Sâu phá hại nhiều đối t-ợng cây trồng nh- ngô, đay, thuốc lá, bông
Nguyễn Văn Cảm và CS (1990) [4] khi nghiên cứu ph-ơng
pháp nuôi sâu (H armigera) hàng loạt để sản xuất chế
phẩm virus đã cho biết : Việc nuôi sâu xanh trên môi tr-ờng thức ăn nhân tạo gồm bột đậu xanh, men bánh, agar, metyl paraben, axit sorbit, caseine, axit ascorbic, multi vitamin, formaline 40% và n-ớc là tốt hơn cả, đảm bảo sạch bệnh, dễ nuôi, sâu nhộng to, trứng nhiều, có thể sử dụng ph-ơng pháp này để nhân nuôi sâu xanh, bên cạnh đó cần nghiên cứu bổ sung một số chất khác cho phù hợp với
điều kiện ở Việt Nam
Theo Phạm Thị Thuỳ, Trần Quang Tấn, Hoàng Thị Việt và
Trang 18CTV(2004) [19] khi tiến hành nuôi 25000 sâu xanh
H.armigera để tiến hành sản xuất virus sâu xanh NPV.Ha
thì có 16.620 số sâu nhiễm bệnh, trong đó tỷ lệ phần trăm gây sâu chết do virus đạt 77,2% Các tác giả cũng chỉ ra rằng hiệu quả phòng trừ sâu xanh tuổi 2 của chế phẩm NPV.Ha dạng bột bảo quản sau 8 tháng là 95,41% ở nhiệt độ 31,2 0C và ẩm độ 83,6 %
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuyên và CS (2000) [18] khi nghiên cứu phòng trừ sâu xanh hại bông bằng chế phẩm sinh học đã cho thấy việc sử dụng chế phẩm sinh học
Bt là một nội dung quan trọng trong họ thong IPM trên
bông và Bt có hiệu lực cao đối với sâu xanh (H armigera)
và sâu khoang (Spodoptera sp) Tuy nhiên, để hạn chế
việc hình thành tính đối kháng với Bt của sâu xanh thì không nên dùng Bt đơn độc mà cần kết hợp nhiều loại thuốc khác nhau Hơn nữa, việc phối chế cần tăng khả năng của thuốc Khi đánh giá và sự phối hợp các nghiên cứu cho thấy rằng nếu kết hợp sử dụng Bt và ong mắt đỏ thì hiệu lực trừ diệt sâu sẽ cao và thiệt hại sẽ giảm từ 1/3 – 1/2 so với
sử dụng riêng rẽ từng biện pháp
Khi nghiên cứu cách phối chế và sản xuất pheromone của một số loại sâu các tác giả Lê Văn Trịnh, Nguyễn Thị Nguyên, Nguyễn Thị Chúc Quỳnh, Hoàng Anh Tuấn (2005) [20] cho rằng tỷ lệ các thành phần, liều l-ợng hoá học thích hợp và cho hiệu quả hấp dẫn cao nhất đối với sâu xanh là
tỷ lệ thành phần và liều l-ợng giữa Hexal 1 và Tetra - hexal là 97/3 microlit
Theo Nguyễn Đậu Toàn, Phi Thị Hà, Phùng Thị Hoa (1985)[17] thì chế phẩm NPV.Ha ảnh h-ởng rất lớn đến khả năng lột xác của sâu ở giai đoạn nhộng và b-ớm cụ thể
Trang 19là: Tỷ lệ nhộng hoàn chỉnh chiếm 20,83%, tỷ lệ nhộng chết bệnh là 55,19% NPV tiếp tục ảnh h-ởng tới giai đoạn vũ hoá của b-ớm, tỷ lệ nhộng vũ hoá hoàn chỉnh với sâu nhiễm NPV chỉ đạt 18,79%, thấp hơn so với sâu khoẻ là 89,87 % Bên cạnh đó tỷ lệ trứng đẻ của ngài cái nhiễm NPV cũng rất ít (401,53 quả/1 ngài) so với ngài khoẻ (838 quả/1 ngài) Các tác giả cũng chỉ ra rằng đối với sâu xanh sau khi bị nhiễm NPV thì l-ợng thức ăn tiêu thụ cũng thay đổi
so với bình th-ờng Ở điều kiện nhiệt độ là 30-32oC, ẩm
độ 76-79% thì sau 6 ngày 1 sâu xanh bị nhiễm NPV tiêu thụ 1,368 ở 0,35 g so với sâu khoẻ là 1,700 ở 0,41 g
Theo nghiên cứu của Phạm Hữu Nh-ợng (1991)
[15], việc sử dụng ong mắt đỏ (Trichogramma spp) trừ sâu
xanh hại bông tại Nha Hố (Ninh Thuận) trong các năm
1987-1989 đã cho biết hiệu quả diệt trừ sâu của ong mắt đỏ rất
rõ ràng, đảm bảo tỷ lệ trứng kí sinh trung bình từ 30 - 40%, kể cả trong mùa khô lẫn mùa m-a
Hoàng Thị Việt, Nguyễn Văn Tuất và CS (1998) [21], cũng cho rằng liều l-ợng sử dụng của hỗn hợp V_Bt
đối với sâu xanh khác nhau thì hiệu quả phòng trừ cũng khác nhau Với liều l-ợng V_SX 104 + Bt 100% liều dùng thì tỷ lệ sâu chết đã đạt 100% sau 7 ngày nhiễm Tuy nhiên, hiệu quả của hỗn hợp V_Bt đối với sâu xanh ch-a cao bằng sử dụng NPV riêng rẽ với tỷ lệ sâu chết đạt 100% chỉ sau 5 ngày phun thuốc ở điều kiện nhiệt độ 28-
30 0C, độ ẩm 80-85%
Theo Nguyễn Kim Chiến (2005) [5] sâu xanh
H.armigera ở các giai đoạn phát triển có tính định h-ớng chọn cây cà S viarum là kí sinh chủ so với các loại cà chua Tuy nhiên, các bộ phận sinh d-ỡng của cây cà S
Trang 20viarum là thức ăn gây độc đối với sâu non H.armigera Hiện t-ợng này cho thấy có thể trong cây cà S viarum có
chứa một hợp chất hoá học nào đó phát tán có tác dụng dẫn
dụ sâu xanh H.armigera Kết quả nghiên cứu cho thấy, cà chua trồng xen với cây họ cà S.viarum vụ xuân hè tại Hà
Nội có khả năng hạn chế sự gây hại của sâu xanh
H.armigera Mức độ thiệt hại phụ thuộc vào diện tích, thời vụ cây cà S.viarum Trồng xen S.viarum có diện tích
5% và trồng sớm 14 ngày so với cà chua kết hợp sử dụng thuốc trừ sâu sinh học Xentari- 35WG có tác dụng tích cực
tới sự hạn chế gây hại của sâu xanh H.armigera với tỷ lệ
quả bị hại rất thấp (7,52-11,77 %)
Mai Phỳ Quý và Vũ Thị Chi (2005), khi nghiờn cứu về đa dạng cụn trựng trong
sinh quần rau quả cho thấy trờn cà chua cú cỏc loài sõu gõy hại chớnh như: rệp Aphis fabae Scopoli, Aulacorthum solani (Kalf), bọ phấn Bemisia myricae Kuway, sõu xanh H armigera Hubner, sõu khoang S litura Chỳng gõy hại nghiờm trọng, ảnh
hưởng khụng nhỏ tới năng suất và chất lượng cõy cà chua [6] Nguyễn Đức Khiờm (2005), đó nhận xột cỏc loài sõu hại chớnh trờn cà chua nguy hiểm nhất là nhúm sõu
đục quả (sõu xanh H.armigera, sõu xanh H assulta, sõu khoang S litura), chỳng gõy
hại nghiờm trọng tới năng suất chất lượng cõy trồng này [13]
Vũ Thị Lan Hương (2009) khi nghiờn cứu về đặc điểm sinh học, sinh thỏi của sõu
xanh đục quả cà chua Helicoverpa armigera Hubner cho biết tại An Dương - Hải
Phũng cú 15 loài sõu hại cà chua gõy hại nguy hiểm nhất là nhúm sõu đục quả (3 loài
thuộc bộ cỏnh vẩy Lepidoptera), sõu khoang S.litura phỏt sinh ngay từ đầu vụ và gõy hại với mật độ cao nhất sau đú đến sõu xanh H armigera, và gõy hại nhẹ nhất là sõu xanh H assulta Hai loài sõu xanh xuất hiện muộn hơn sõu khoang, chỳng phỏt sinh
khi cõy cà chua ra chựm nụ đầu [11]
Từ kết quả của những nghiờn cứu trờn cho thấy, tuy số loài gõy hại chớnh trờn
cà chua ở từng vựng địa lý khỏc nhau cú khỏc nhau nhưng vẫn tập trung vào mấy đối
Trang 21tượng chính gây hại nguy hiểm và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất cho các vùng trồng rau
Phần III ĐỊA ĐIỂM THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại: Bản Cọ - Chiềng An - thành phố Sơn La và tại Bộ môn Khoa học cây trồng - Khoa Nông lâm - Trường Cao Đẳng Sơn La
3.1.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ ngày 18/2 – 28/4 năm 2013
3.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
- Vật liệu nghiên cứu
3.3 Đối tượng nghiên cứu
Các loại sâu hại và thiên địch của chúng trên cây cà chua
Trang 223.4 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra xác định thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây cà chua
- Điều tra diễn biến mật độ và tỷ lệ hại do loài sâu gây hại chính trên cây cà chua
3.5 Phương pháp nghiên cứu
3.5.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng
* Phương pháp điều tra xác định thành phần sâu hại và thiên địch của chúng trên cây cà chua
- Điều tra theo phương pháp tự do, số điểm càng nhiều càng tốt, mỗi tuần điều tra một lần trên các ruộng cà chua.Thu bắt toàn bộ sâu hại và thiên địch có trên cây điều tra
* Phương pháp điều tra diễn biến số lượng sâu hại chính và thiên địch của chúng trên đồng ruộng
- Điều tra 1 tuần 1 lần Việc điều tra diễn ra trong suốt thời gian sinh trưởng của cây cà chua
- Điều tra trên các ruộng đại diện cho mỗi loại cây về địa điểm, thời vụ trồng, giai đoạn sinh trưởng
+ Để điều tra diễn biến mật độ Sâu khoang (S litura ) hại cây cà chua trồng vụ
Xuân – Hè năm 2013 tại Bản Cọ - Chiềng An - Sơn La
+ Để điều tra diễn biến mật độ sâu xanh (H.armigera ) hại cây cà chua vụ Xuân
– Hè năm 2013 tại Bản Cọ - Chiềng An - Sơn La
+ Để điều tra diễn biến mật độ bọ xít đen (S lurida) hại cây cà chua vụ Xuân –
Hè năm 2013 tại Bản Cọ - Chiềng An - Sơn La
- Điều tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 1m2, mỗi một điểm là 6 cây Quan sát và đếm số sâu hại chính trên cây cà chua
Sơ đồ 5 điểm chéo góc được điều tra như sau:
Trang 233.6 Chỉ tiêu theo dõi, tính toán và xử lý số liệu
3.6.1 Chỉ tiêu theo dõi và tính toán
- Lập danh mục bảng thành phần sâu hại và kẻ thù tự nhiên của chúng theo mẫu vật và mức độ phổ biến
Tần suất xuất hiện (%) = X 100
Mức độ phổ biến đƣợc lƣợng hoá theo tần suất xuất hiện nhƣ nhƣ sau:
-: Xuất hiện rất ít ( Tần suất xuất hiện < 20%)
+: Xuất hiện rất ít ( Tần suất xuất hiện ≥ 20 - 40%)
++: Xuất hiện trung bình (Tần suất xuất hiện > 40 - 60%)
+++: Xuất hiện nhiều (Tần suất xuất hiện > 60%
Trang 243.6.2 Xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê thông thường (EXCEL)
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình sản xuất cây cà chua tại Bản Cọ - Chiềng An - TP Sơn La
Phường Chiềng An là phường gần trung tâm thành phố, song có tới 75% số
dân sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp Đất đai màu mỡ là thế mạnh của
người dân có thể phát triển nông nghiệp Nhờ vậy Bản Cọ - Phường Chiềng An - TP Sơn La đã sản xuất ra các loại rau chủ yếu như: cải bắp, súp lơ, xu hào, cà chua, bầu
bí, đậu đỗ… Các loại rau đó không chỉ tự cung tự cấp cho gia đình mà còn cung cấp cho Phường, TP, Bệnh viện trung tâm của tỉnh và trường chuyên nghiệp cao đẳng y Sơn La Vì những điều kiện thuận lợi đó đã mở ra cho người dân hướng sản xuất
mới, rồi nâng cao đời sống cho người dân
Để tìm hiểu tình hình sản xuất của vùng trồng rau ở Bản Cọ chúng tôi tiến hành phiếu điều tra thăm dò trong 10 – 15 hộ dân trong vùng trồng rau kết quả được thể hiện ở bảng 4.1, 4.2 và 4.3 như sau :
Trang 26Hình 4.1 Một số hình ảnh về tình hình sản xuất của người dân và một số hình
ảnh về tình hình điều tra cây cà chua vụ Xuân Hè năm 2013 tại Bản Cọ - Chiềng
An – TP Sơn La
Trang 27Bảng 4.1 Tình hình sản xuất cây cà chua vụ Xuân – Hè năm 2013 tại Bản Cọ -
Trang 28WP
Bảng 4.2 Kết quả điều tra hộ dân về các biện pháp phòng trừ sâu hại cà chua
tại địa Bản Cọ - Chiềng An - TP Sơn La
Gia đình bác có dùngng biện pháp canh tác
nhƣ:làm đất, dọn cỏ, bón phân cho cây cà chua
của gia đình mình để phòng trừ sâu hại không?
Gia đình bác có bẫy pheromon, bẫy đèn cho cà
chua của mình không?
Trang 29Theo kết quả số liệu phiếu điều tra 15 hộ nông dân trồng cà chua tại Bản
Cỏ - Phường Chiềng An - TP Sơn La, để hạn chế thiệt hại do sâu gây ra thì biện pháp hóa học được người dân sử dụng là chủ yếu nhất, chiếm 93%; biện pháp canh tác chiếm 53%; biện pháp cơ học chiếm 13%; biện pháp vật lý, biện pháp sinh học không
hộ nào sử dụng, các biện pháp phòng trừ khác không có
Qua quá trình điều tra trên cho thấy, để phòng trừ sâu hại thì biện pháp hóa học hầu như là được người dân coi trọng và sử dụng nhiều nhất Chúng tôi tiếp tục tiến hành điều tra về cách sử dụng biện pháp hóa học của người dân Kết quả được thể hiện ở Bảng 4.3 như sau:
Bảng 4.3 Kết quả điều tra về cách sử dụng thuốc hóa học của nông dân để phòng trừ sâu hại cà chua tại địa Bản cọ - Chiềng An - TP Sơn La
(%)
1
Gia đình bác, (cô) có quan tâm đến nguồn
gốc của thuốc không ?
2
Gia đình bác phun thuốc cho cây cà chua có
phun theo liều lượng trong thuốc hướng dẫn
không?
Phun hơn liều lượng trong hướng dẫn 4/15 =30 %
3
Mỗi một vụ cà chua gia đình bác phun thuốc
bao nhiêu lần cho vụ cà chua vây?
Trang 30độ phun thuốc hóa học của người dân như hiện nay thì dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm sẽ vượt quá mức cho phép, sẽ ảnh hưởng đến người tiêu thụ, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Chính vì vậy, chúng tôi khuyến cáo người dân nên tuân thủ quy trình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thời gian phun và thu hoạch sản phẩm đúng thời gian quy định
4.2 Thành phần sâu hại cây cà chua vụ Xuân – Hè năm 2013 tại Bản Cọ - Chiềng An - Sơn La
Cà chua là đối tượng mới được nghiên cứu về sâu hại chính và thiên địch Việc
sử dụng thuốc hóa học hằng năm của người dân làm cho thành phần sâu hại ngày một khác làm ảnh hưởng nhiều đến năng suất và phẩm chất của quả cà chua Việc quan tâm tìm hiểu đến đối tượng sâu hại chính và thiên địch là một việc làm cấp thiết nhằm
Trang 31đưa nghành sản xuất quả cà chua ở Bản Cọ ngày càng phát triển và chiếm lính của thị trường ở thành phố Sơn La
Để tìm hiểu thành phần sâu hại chính ở cây cà chua chúng tôi tiến hành điều tra trên cây cà chua vụ Xuân – Hè năm 2013 tại Bản Cọ - Chiềng An - TP Sơn La Kết quả được trình bày tại Bảng 4.4 như sau:
Bảng 4.4 Thành phần sâu hại chính trên cây cà chua vụ Xuân – Hè năm 2013
tại bản Cọ - Chiềng An - Sơn La
1 Bọ bầu vàng Aulacophora similes Oliver Chrysomelidae
2 Ánh kim đen Aulacophora sp Chrysomelidae
3 Ban miêu đỏ Epicauta gorhama Mareul Meloidae
4 Sâu khoang Spodoptera liruta Fabr Loctuidae
5 Sâu xanh Helicoverpaarmigera Hiibner Loctuidae
6 Sâu xám Agrotis ypsilon Hufnagel Loctuidae
7 Sâu xanh da láng Spodoptera exigua Hubner Loctuidae
8 Sâu cuốn lá Omiodes indicata F Pyradidae
9 Bọ xít hai vai nhọn Cletus punctiger Dallas Coareidae
10 Bọ xít xanh Nezara viridula (L) Pentatomidae
11 Bọ xít đen Scotinophora lurida Burn Pentatomidae
13 Bọ phấn Pmissa tapaci (Genna dlus) Aleyrodidae
14 Ruồi đục lá Liryomyza satyvae Blanchard Agromyzidae