ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN BỆNH HẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ NGOẠI CẢNH ĐẾN TỶ LỆ BỆNH GỈ SẮT TRÊN CÂY CÀ PHÊ CHÈ TẠI XÃ THÔM MÒN, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA Người hướng dẫn: Kỹ sư
Trang 1ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN BỆNH HẠI VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA
MỘT SỐ YẾU TỐ NGOẠI CẢNH ĐẾN TỶ LỆ BỆNH GỈ SẮT TRÊN CÂY
CÀ PHÊ CHÈ TẠI XÃ THÔM MÒN, HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
Người hướng dẫn: Kỹ sư Quàng Thị Vân Thảo
Giảng viên bộ môn Khoa học cây trồng Khoa Nông Lâm – Trường CĐ Sơn La Người thực hiện: Lò Thị Dung
Lớp CĐ Khoa Học Cây Trồng K47
Sơn La, Ngày tháng 05 năm 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN !
Trong quá trình thực hiện đề tài, cùng sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của rất nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường Trước hết em xin cảm ơn ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm, các thầy giáo, cô giáo trong khoa Nông Lâm – Trường Cao Đẳng Sơn La cùng các cán bộ thư viện, cán bộ phòng thí nghiệm đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho em nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ của các đồng chí lãnh đạo UBND xã Thôm Mòn , đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài thực tập tốt nghiệp
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn tới cô giáo, kĩ sư Quàng Thị Vân Thảo – giảng viên bộ môn Bệnh cây, khoa Nông Lâm, trường Cao Đẳng Sơn La người đã gợi cho
em những ý tưởng về đề tài và đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ đề tài được thực hiện
và hoàn thành
Do hạn chế về trình độ cùng với các yếu tố chủ quan và khách quan đem lại nên đề tài chắc chắn không tránh khỏi nhiều thiếu sót, em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cùng bạn bè để đề tài được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Bảng 1 Diễn biến bệnh gỉ sắt trên cây cà phê chè giai đoạn kiến thiết cơ bản
Bảng 2 Diễn biến bệnh gỉ sắt trên cây cà phê chè giai đoạn kinh doanh
Bảng 3 Ảnh hưởng của cây che bóng đến mức độ gây hại của bệnh gỉ sắt trên cây cà phê chè
Bảng 4 Ảnh hưởng của yếu tố phân bón đến mức độ gây hại của bệnh gỉ sắt trên cây
cà phê
Bảng 5 Ảnh hưởng của giai đoạn phát triển và điều kiện chăm sóc cây cà phê đến tỷ
lệ bệnh gỉ sắt
Trang 5Hình 5.4 Bệnh khô cành khô quả trên đồng ruộng
Hình 5.5 Cây cà phê giai đoạn kiến thiết cơ bản
Hình 5.6 Cây cà phê giai đoạn kinh doanh
Hình 5.7 Vườn không có cây che bóng
Hình 5.8 Vườn có cây che bóng
Hình 5.9 Cây cà phê giai đoạn vườn ươm
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN I 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN II 3
MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 3
2.1 Mục đích yêu cầu 3
2.1.1 Mục đích 3
2.1.2 Yêu cầu 3
PHẦN III 4
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 4
3.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu 4
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 4
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 4
3.2 Nội dung nghiên cứu 4
3.3 Phương pháp nghiên cứu 4
3.3.1 Phương pháp điều tra 5
3.3.2 Phương pháp tính toán 6
PHẦN IV 7
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 7
4.1 Tổng quan về đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Tình hình sản xuất trên thế giới 10
4.3 Tình hình sản xuất trong nước 13
4.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
4.5 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
Trang 7PHẦN V 25
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 25
5.1 Điều tra thành phần và mức độ phổ biến của bệnh hại cà phê chè 25
5.2 Điều tra, nghiên cứu sự phát sinh ,phát triển , và diễn biến của bệnh gỉ sắt 29
5.2.1 Điều tra diễn biến của bệnh gỉ sắt trên cây cà phê chè giai đoạn kiến thiết cơ bản 29
5.2.2 Điều tra diễn biến của bệnh gỉ sắt trên cây cà phê chè giai đoạn kinh doanh 31
5.3 Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ hại bệnh gỉ sắt 33
5.3.1 Yếu tố cây che bóng 34
5.3.2 Yếu tố phân bón 37
5.3.3 Giai đoạn phát triển và điều kiện chăm sóc 39
PHẦN VI 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
6.1 Kết luận 42
6.2 Đề nghị 42
PHẦN VII 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 81
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cà phê là một cây công nghiêp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao Cà phê trồng một lần có thể thu hoạch được khá lâu Trong điều kiện thuận lợi cây sinh trưởng phát triển tốt thì cuối năm thứ tư đã thu hái trên dưới một tấn hạt/ha Các năm thứ năm, thứ sáu (trong thời kỳ kiến thiết cơ bản) cũng cho một sản lượng đáng kể khoảng 2 - 3 tấn hạt/hạ Từ năm thứ bẩy cà phê
đã đưa vào kinh doanh sản xuất
Để sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào, thay đổi
cơ cấu sản xuất nông nghiệp với điều kiện không tranh chấp với diện tích trồng cây lương thực, cà phê là một trong những cây có ưu thế nhất
Hiện nay ta mới sử dụng khoảng 50% đất nông nghiệp Nguồn lao động của ta dồi dào nhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng, cà phê là một loại cây yêu cầu một lượng lao động sống rất lớn Do đó việc phát triển mạnh cây cà phê ở vùng trung du và miền núi là một biện pháp có hiệu lực, vừa để sử dụng hợp lý vừa để phân bố đồng đều nguồn lao động dồi dào trong phạm vi cả nước
Việc phát triển mạnh cây cà phê ở vùng trung du và miền núi dẫn tới việc phân
bố các xí nghiệp công nghiệp chế biến cà phê hiện đại ở những vùng đó, do đó làm cho việc phân bố được đồng đều, vùng trung du và miền núi mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hóa
Cây cà phê còn là cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, giúp xóa đói giảm nghèo
Hiện nay cà phê được trồng ở trên 80 nước với tổng diện tích hơn 10 triệu ha
và giá trị xuất khẩu hàng năm lên tới 10 tỷ đôla Những nước trồng nhiều cà phê là:
Trang 92
Braxin, Colombia, Indonesia, Mehico, Cotdivoa, Ở các nước đang phát triển cà phê
là mặt hàng buôn bán lớn thứ 2 sau dầu lửa
Ở nước ta từ năm 1975 trở lại đây sản xuất cà phê đã có những bước tiến đáng
kể Phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên như: Đắc Lắc, Lâm Đồng, Gia Lai và ở các tỉnh Đồng Nai thuộc Đông Nam Bộ Các tỉnh này có điều kiện đất đai khí hậu, địa hình phù hợp với các cây cà phê vối Những cây cà phê vối có đặc điểm không tự thụ phấn được, hương vị kém thơm ngon, giá thành thấp hơn cà phê chè Vì vậy Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn có chủ trương phát triển cây cà phê chè ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong đó có Sơn La
Ở Sơn La cây cà phê chè được trồng từ trước năm 1945 nhưng ít và rải rác ở các vườn gia đình, sản lượng ít, chủ yếu cung cấp cho nhu cầu người dân địa phương, đến năm 1993 cây cà phê được trồng nhiều tạo thành cây chủ lực của tỉnh, được phát triển mạnh mẽ và thưc sự trở thành cây xóa đói giảm nghèo, là mặt hàng xuất khẩu như các loài cây trồng khác
Tuy nhiên cây cà phê là mục tiêu tấn công của nhiều loại bệnh hại, gây ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng phát triển của cây Cho đến nay tại Thuận Châu, Sơn La chưa có nghiên cứu nào toàn diện và hệ thống về bệnh hại cây cà phê Trước những điều kiên thực tế trên, được sự giúp đỡ của ban chủ nhiệm khoa Nông Lâm và
sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo Quàng Thị Vân Thảo – giảng viên khoa Nông Lâm trường Cao Đẳng Nông Lâm và sự giúp đỡ của cán bộ, nhân dân xã Thôm Mòn – Thuận Châu – Sơn La, em thực hiện đề tài:
“Điều tra thành phần bệnh hại và ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ bệnh gỉ sắt trên cây cà phê chè tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La”
Trang 103
PHẦN II MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2.1 Mục đích yêu cầu
- Điều tra, thu mẫu, phân loại các loại bệnh hại phát hiện được trên cây cà phê
- Điều tra diễn biến bệnh gỉ sắt
- Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố ngoại cảnh đến tỷ lệ bệnh gỉ sắt
- Đưa ra một số biện pháp phòng trừ chính có hiệu quả
Trang 114
PHẦN III VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng, vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng: Cây cà phê chè
- Vật liệu nghiên cứu: Mẫu bệnh hại, giống cà phê chè catimor, phân bón: đạm, lân, kali
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
- Tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Tiến hành từ tháng 02/2013 đến tháng 04/2013
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần bệnh hại chính trên cây cà phê chè tại xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
- Điều tra, nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và diễn biến của bệnh gỉ sắt
- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ hại bệnh gỉ sắt:
+ Cây che bóng
+ Phân bón
+ Giai đoạn phát trển và điều kiện chăm sóc
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 12+ Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ bệnh (%), chỉ số bệnh (%)
+ Phân cấp bệnh trên lá như sau:
Cấp 0: Hoàn toàn không có vết bệnh Cấp 1: 1-5% diện tích lá bị bệnh Cấp 2: >5-10% diện tích lá bị bệnh Cấp 3: >10-15% diện tích lá bị bệnh Cấp 4: >15-20% diện tích lá bị bệnh Cấp 5: >20% diện tích lá bị bệnh
- Bệnh trên thân, cành:
+ Bệnh trên thân: Điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 5 cây.Tính TLB
+ Bệnh trên cành: Điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi góc 5 cây, mỗi cây 4 hướng, mõi hướng 2 cành Tính TLB
+ Các đặc điểm triệu chứng liên quan đến vết bệnh được mô tả rõ
+ Phân cấp bệnh hại trên thân cành:
Cấp 0: Không bị bệnh Cấp 1: 10% số cành tuổi 1 bị bệnh Cấp 2: 20% số cành tuổi 1 bị bệnh hoặc 10% số cành tuổi 3 bị bệnh Cấp 3: 20% số cành tuổi 3 bị bệnh hoặc 10% số cành tuổi 5 bị bệnh Cấp 4: 20% số cành tuổi 5 bị bệnh hoặc 10% số cành cơ bản bị bệnh Cấp 5; 20% số cành cơ bản bị bệnh hoặc 50% chu vi gốc cây bị bệnh
Trang 13Σ (a,b) : Tổng của tích số giữa cây bị bệnh với cấp hại của bệnh tương ứng
N : Tổng số cây, cành, đốt, lá điều tra
T : Cấp bệnh cao nhất trong thang phân cấp
Trang 147
PHẦN IV TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
4.1 Tổng quan về đối tƣợng nghiên cứu
Cây cà phê (coffea) thuộc loại thực vật (coffea canephora pirre ex
A.Froehner) Cà phê là một loại cây sống lâu năm, thân gỗ, cao từ 3 - 5m (cà phê
chè), hoặc từ 10 - 15m (cà phê mít) Vỏ thân thường mốc trắng Cành chia làm hai loại : các chồi vượt và các cành ngang mọc từ mắt của các chồi vượt Các cành tạo thành tầng quanh thân chính và cành vượt Lá đơn, mọc đối hình dạng khác nhau tuỳ theo loài: Hình trứng hay lưỡi mác (cà phê chè và cà phê vối) hay hình bầu dục (cà phê mít) Hoa lưỡng tính, mọc đơn độc hay thành chùm màu đỏ tím hay đen ngà, có lớp thịt quả mọc quanh hạt Mỗi quả có hai hạt, dính vào nhau bởi một mặt phẳng phía trong, mặt ngoài của hạt cong hinh bầu dục [6]
Theo một truyền thuyết đã được ghi lại trên giấy vào năm 1671, những người chăn dê ở kaffa (thuộc ethopia ngày nay) phát hiện ra một số con dê trong đàn sau khi
đã ăn một cây có hoa trắng và quả màu đỏ đã chạy nhảy không mệt mỏi cho đến tận đêm khuya Họ bèn đem chuyện này kể với các thầy tu tại một tu viện gần đó Khi một người chăn dê trong số đó ăn thử ăn loại quả đỏ đó anh ta xác nhận công hiệu của
nó Sau đó các thầy tu đã đi tim lại khu vực ăn cỏ của bầy dê và phát hiện ra một loại cây có lá màu xanh thẫm và quả giống như quả anh đào Họ uống nước ép từ loại quả
đó và tỉnh táo cầu nguyện chuyện trò cho đến tận đêm khuya Như vậy có thể coi rằng nhờ chính đàn dê này con người đã biết được cây cà phê [13]
Người ta tin rằng tỉnh Kaffa của Ethiopia chính là vùng đất khởi nguyên của cây cà phê Từ thế kỉ 9 người ta đã nói đến loại cây này ở đây Vào thế kỉ 14 những người buôn nô lệ đã mang cà phê từ Ethiopia sang vùng Ả Rập, nhưng tới tận giữa thế kỉ thứ 15 người ta mới biết rang hạt cà phê lên và sử dụng làm đồ uống Vùng Ả Rập chính là nơi trồng cà phê độc quyền, trung tâm giao dich cà phê là thành phố
Trang 158
cảng Mocha, hay còn được gọi là Mokka, tức là thành phố Al Mukha thuộc Yemen ngày nay [13]
Cách thức pha chế cà phê truyền thống của người Ethiopia có lẽ là cách thức
cổ xưa nhất Hạt cà phê đươch cho vào một cái chảo sắt to và rang lên, sau đó được nghiền vụn ra hoặc cho vào cối giã, chỗ hạt vụn đó được trộn với đường trong một cái bình gọi là jebena (một loai bình cổ thon có quai ), nấu lên và đổ ra bát [13]
Với sự bành trướng của Đế quốc Ottoman (Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ) đồ uống này càng ngày càng được ưa chuộng hơn Quán cà phê đầu tiên mở ra ở Ba Tư, trong những quá nhỏ ở vùng tiểu Á, Syria và Ai Cập người ta gặp nhau để thưởng thức loại
đồ uống kì lạ Kể từ năm 1532 các quán cà phê luôn đông nghịt khách Vào thế kỉ 17 cây cà phê được trồng phổ biến tại các thuộc địa của Hà Lan ,đưa nước này thống trị ngang với thương mai cà phê [13]
Ở Coostantinople (Itanbul ngày nay) có lễ cà phê được biết đến lần đầu tiên
vào năm 1517 (khi ông hoàng selim chiếm lĩnh Ai Cập ) Năm 1554 quán cà phê đầu tiên ở Châu Âu đã được mở ở đây bất chấp sự phản đối của nhà thờ Vào năm 1645 quán cà phê đầu tiên ở Ý được mở ở Venezia, năm 1650 ở Oxford và năm 1652 ở Lon Don lần lượt xuất hiện các quán cà phê đầu tiên của Vương quốc Anh Ở pháp những quán đầu tiên được khai trương vào năm 1659 ở thành phố cảng Marseille, Paris theo sau vào năm 1672 Vào năm 1683 Wien cũng có quán cà phê đầu tiên (Do
một người Ba Lan thành lập) sau khi Áo giành thắng lợi trước Thổ Nhĩ Kỳ và tịch
thu được 500 bao cà phê chiến lợi phẩm Thủ đô Wien sau đó trở thành phố với nhũng quán cà phê nổi tiếng nhất từ nước pháp, cà phê du nhập vào Đức qua thành phố cảng Bremen vào năm 1673, năm 1679 quán cà phê đâu tiên của Đức được một người Anh mở ở Hamburg, sau đó là Resgnbung (1686) và Leipzig (1694) [13]
Loại cây này đầu tiên chỉ được trồng ở Châu Phi và Ả Rập, nhưng sau đó người ta nghĩ tới việc gieo trồng nó ở các vùng đất thích hợp khác, những người Hà
Trang 169
Lan đã trồng cây cà phê trên các vùng đất thuộc địa của họ Thống đốc vùng bắc Ả Rập, Van Hoorn, đã có trồng cà phê trên đảo Tích Lan (SriLanka ngày nay) vào năm
1690 (có tài liệu ghi là năm 1658), sau đó đến đảo Java (Indonesia) 1696 (hoặc
1699), năm 1710 người ta đã đem cây cà phê về Châu Âu và trồng thử trong các khu vườn sinh vật Amsterdam là nơi đầu tiên cây cà phê nảy mầm trên đất châu Âu Năm
1718 người Hà Lan mang cây cà phê tới Surinam, năm 1725 người pháp tới Cayenne,
1720 - 1723 tới Martinique v.v Cuối thế kỉ 18 cây cà phê đã được trồng ở khắp các
xứ sở nhiệt đới, chủ yếu do sự bành trướng thuộc địa của các đế quốc Châu Âu [6]
Cà phê được trồng ở 80 nước trên thế giới: ở Châu Phi, Nam Mỹ, Châu Á… ở các vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới là những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sâu bệnh hại phát triển, mà cà phê là loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao vì vậy việc nghiên cứu về thành phần sâu hại cà phê đã được nghiên cứu từ lâu, khá kỹ và cũng
đã được công bố trên thế giới
Theo “Hội Nông dân Việt Nam”[1]: Bệnh gỉ sắt do nấm Hemileia vastatrix
Berk et Br gây ra Bệnh xuất hiện vào thời gian đầu mùa mưa và phát triển mạnh nhất
vào cuối mùa mưa, bệnh làm héo và rụng lá Bệnh gỉ sắt là một loại bệnh phổ biến nhất ở các vùng trồng cà phê
Bệnh xuất hiện trên lá, đôi khi ở thân và quả, bệnh làm héo và rụng lá, bị nặng
có thể làm chết cây Nó xuất hiện trên cả cà phê chè và cà phê vối
Theo “Nguyễn Võ Linh”[2] có viết: Bệnh gỉ sắt xuất hiện mạnh vào mùa mưa
ở giai đoạn từ khi ra hoa đến khi chín quả, làm héo và rụng lá Vì vậy cần có những biện pháp như: Chọn giống, kỹ thuậ trồng, bón phân, phòng trừ sâu bệnh hại
Cà phê có xuất xứ từ vùng cao nguyên Jimma (Ethiopia) ở vĩ độ 80B, độ cao 1200m, nhiệt độ bình quân năm 19 – 200C Cây cà phê chè (Coffea.Arabica) ưa chế
độ khí hậu nhiệt đới cao nguyên, mát mẻ quanh năm, khác với cây cà phê vối (Coffea Canephora) và cây cà phê mít (Coffea Excelsa), sinh sống tự nhiên ở vùng xích đạo
Trang 1710
thấp thuộc Trung Phi, ưa chế độ khí hậu nhiệt đới thuần hoặc khí hậu xích đạo, có nhiệt độ trung bình quanh năm 24 – 260C, nóng ẩm quanh năm [14]
Bảng 2.1 Yêu cầu sinh thái của các giống cà phê
Nhiệt độ trung bình năm
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối
Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối
22- 260C
34 – 360C + 20C
> 2000
< 2 tháng
85 Trực xạ
4.2 Tình hình sản xuất trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức FAO toàn thế giới có khoảng 80 nước trồng cây cà phê trong đó: 31 nước Châu Phi, 15 nước Trung Mĩ, 10 nước Nam Mĩ, 13 nước châu
Á, và 6 nước Châu Đại Dương Bốn nước có diện tích cà phê lớn nhất là: Brazil (trên
3 triệu ha) chiếm 25% sản lượng cà phê thế giới, Cote Dvoire (Châu Phi), Indonesia (Châu Á) mỗi nước khoảng 1 triệu ha và Colombia có gần 1 triệu ha với sản lượng đạt khoảng 700 nghìn tấn Năm 2004, cà phê được xuất khẩu nông nghiệp tại 12
Trang 18và cà phê tự nhiên của Brazin đã tăng từ 54% năm 1990 lên 635 năm 2008, trong khi nhu cầu cà phê Arabica (Washed Arbicas) lại giảm từ 46% xuống còn 37% Ấn Độ hiện chiếm chưa đến 5% tổng sản lượng cà phê toàn cầu Tuy nhiên trong tương lai, những người trồng cà phê nước này có khả năng sẽ gia tăng thị phần của mình trên thị trường thế giới do Ấn Độ xuất khẩu tới hơn 80% tổng sản lượng mà do họ sản xuất ra [7]
Trên thế giới hiện nay có khoảng 40% nguồn cung cấp cà phê loại Robusta, 60% còn lại là Arrabica được gia tăng như một loại cà phê đặc biệt Brazil nước sản
xuất cà phê lớn nhất thế giới, sẽ chỉ cung cấp khoảng 39 triệu bao cà phê trong niên
vụ này, so với 46 triệu bao niên vụ trước Theo Hội đồng xuất khẩu cà phê lớn nhất trong vòng một năm qua Số liệu thống kê cho thấy, Brazl đã xuất khẩu 2,93 triệu bao cùng tháng năm ngoái Tháng 8 xuất khẩu cà phê nhân đạt 2,6 triệu bao Theo Cecafe xuất khẩu cà phê cảu nước này có xu hướng tăng từ nay đến cuối năm [8]
Trang 19Năm 2009, Colombia đã vượt qua Indonesia trở thành nước sản xuất cà phê lớn thứ 3 thế giới Sản lượng của Colombia niên vụ này sẽ đạt khoảng 9 - 10 triệu bao, tăng so với 8,5 triệu bao niên vụ trước nhưng vẫn thấp Tại nhiều nước sản xuất
có dân số đông như Brazil và Indonesia, tiêu thụ cà phê đang tăng mạnh, khiến lượng
dư dành cho xuất khẩu giảm sút Các nước sản xuất hiện chiếm khoảng 26% tiêu thụ
cà phê thế giới, và các nước đang nổi chiếm khoảng 18% Từ năm 2000 tới 2008, nhu cầu ở các thị trường truyền thống như Bắc Mỹ và Châu Âu đã tăng 0,9% lên 68,6 triệu bao, trong khi tiêu thụ ở các nước sản xuất tăng 3,8 % lên 35,9 triệu bao, mức tăng nhu cầu cao nhất thuộc về các thị trường đang nổi với 5,5% [7]
Các loại bệnh hại phổ biến trên cây cà phê như: Bệnh gỉ sắt, bệnh nấm hồng, bệnh
khô cành khô quả, đốm mắt cua… Bệnh gỉ sắt là do nấm Hemileia vastatrix Berk et
Br gây nên Bệnh gỉ sắt hại chủ yếu trên lá, làm vàng lá, rụng lá, giảm tỷ lệ ra hoa
đậu quả Các vết bệnh do nấm gây ra ban đầu trên phiến lá thường xuất hiện những điểm màu trắng đục hay những chấm màu vàng nhạt, khi vết bệnh phát triển ở trên mặt lá thường bị mất màu xanh và mặt dưới lá có một lớp bào tử dạng bột xốp màu vàng da cam Khi vết bệnh già, bào tử phát tán hết thì vết bệnh có màu nâu sẫm, có quầng vàng bao quanh [10]
Ngày nay ở các nước như: Ấn Độ, Philippin, Indonesia; các nước Châu Mỹ:
Cu Ba, Brazin; các nước Châu Phi: Công gô, Kenya; các nước Châu Á…Ở các vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới là những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sâu bệnh
Trang 2013
hại phát triển, mà cà phê là loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao vì vậy việc nghiên cứu
về thành phần sâu hại cà phê đã được nghiên cứu từ lâu và cũng đã được công bố trên thế giới
4.3 Tình hình sản xuất trong nước
Việt Nam là quốc gia đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu cà phê Ta có thể thấy
sự phát triển nhanh chóng của cà phê Việt Nam qua các con số: Trong niên vụ 1992/1993 với diện tích 140.000 ha và sản lượng 14000, đến niên vụ 1996/1997 đã tăng lên 350.000 ha với 324.000 tấn, trong niên vụ 2000/2001 đạt 500.000 ha với sản lượng đạt 900.000 tấn Trong vòng 20 năm ngành cà phê Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ về cả diện tích, sản lượng, năng xuất và cà phê xuất khẩu Nếu năm 1980 cả chỉ có 225.000 ha trong đó diện tích trong thời kỳ sản xuất là 10.800 ha sản lượng chỉ đạt 8400 tấn thì 20 năm sau, năm 2000 cả nước có 533.000 ha trong đó diện tích sản xuất có 385.000 ha với sản lượng 720.000 và xuất khẩu 705.3000 tấn
Trong vòng 15 năm từ 1990 đến 2004 Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể: Sản xuất được 64.693.700 tấn, xuất khẩu 62.366.437 tấn đạt 5.289.620.344 USD với đơn giá bình quân 15 năm là 848,18 USD/ tấn Với sản lượng như vậy, Việt Nam trong thời gian ngắn đã là một trong những nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới Các vụ cà phê 1998/1999 về trước lượng cà phê xuất khẩu tăng hàng năm không lớn Nhưng 2 niên vụ 1999/2000 và 2000/2001 mỗi năm tăng lên trên 200.000 tấn Thị trường cà phê của Việt Nam cũng, này càng được mở rộng Cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị đứng thứ 2 sau gạo Giá trị cà phê xuất khẩu thường chiếm gần 10% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm Vụ 2000/2001 Việt Nam đã xuất khẩu cà phê đi 61 nước trong đó đứng đầu là 10 nước:
Trang 2114
Bảng 2.2 Danh sách 10 nước đứng đầu nhập khẩu cà phê của Việt Nam
STT Tên nước Số lượng ( tấn)
Trị giá (USD)
Tỷ phần so với tổng xuất khẩu (%)
(Nguồn: ICO năm 2010)
Vào đầu niên vụ 2004 – 2005 Hiệp hội cà phê, ca cao Việt Nam nhận định sản lượng cà phê đạt 720.000 – 750.000 tấn
Theo số liệu từ tổng cục Thống kê Việt Nam, xuất khẩu cà phê trong tháng 7 năm 2010 đã tăng gần 70% so với cùng tháng trước, đạt 90000 tấn Tính chung tháng
10 đầu niên vụ 2009/2010, xuất khẩu cà phê Việt nam đạt 1,03 triệu tấn tăng 1,1% so với cùng kỳ niên trước [7]
Tổng cục Thống kê cũng vừa điều chỉnh con số xuất khẩu của tháng 6 tăng nhẹ lên 94000 tấn, thay vì ước tính 90000 tấn trước đó Việt Nam - nước sản xuất lớn thứ
2 thế giới, có thể bị giảm 20% sản lượng trong niên vụ này, xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt 748700 tấn, tương đương 12,48 triệu bao, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm ngoái [7]
Trang 2215
Với tổng diện tích trồng đạt trên 500.000 ha và sản lượng 10 triệu bao mỗi năm, cà phê hiện nay được xếp thứ 2 sau gạo trong danh mục hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam Để đạt sản lượng cao như vậy ngành cà phê Việt Nam mỗi năm thu hút khoảng 300.000 hộ gia đình với trên 600.000 lao động trong các tháng thu hoạch con số này có thể tăng lên Như vậy số lao động của ngành cà phê đã đạt tới 1,83% tổng lao động trên toàn quốc nói chung và 2,93 tổng số lao động trong ngành nông nghiệp nói riêng
Qua bảng 2.3 ta có thể thấy sự phát triển về diện tích và của cà phê Việt Nam qua các năm Trong vòng 5 năm từ 2005 đến 2009 diện cà phê Việt Nam tăng từ 497.400 ha lên 537.000 ha và sản lượng cúng tăng lên qua các năm đạt 752100 tấn năm 2005 lên 1.045.100 tấn năm 2009 Hoà cùng sự tăng trưởng của cà phê Sơn La một tỉnh miền núi phía Bắc với điều kiện đất đai, khí hậu thuận lợi cho cà phê chè thì diện tích và sản lượng cà phê cũng thay đổi qua các năm Năm 2005 có diện tích 2.886 ha với sản lượng đạt 3.023 tấn tăng lên 3.625 ha với sản lượng đạt 4456 tấn năm 2009 Thuận Châu một huyện trồng cà phê của Sơn La do sự khó khăn trong đầu
tư phân bón, kỹ thuật và tuổi cây đã cao nên diện tích và sản lượng cà phê có giảm xuống: Năm 2005 với diện tích 651 ha đạt sản lưưọng 618 tấn xuống 401 ha đạt sản lượnh 387 tấn năm 2009
Trang 2316
Bảng 2.3 Diện tích, sản lượng cà phê ở việt nam và tỉnh Sơn La
Khu Vực Chi tiêu theo dõi Năm
Sản lượng(1000tấn) 3,023 3,170 3,073 3,628 4,456 Huyện Thuận
Châu
Diện tích (1000ha) 0,651 0,389 0,410 0,386 0,401 Sản lượng(1000tấn) 0,618 0,346 0,333 0,304 0,387
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Son La năm 2010)
Theo sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Bình phước cho biết: Cà phê chiếm vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp nước ta với diện tích tính đến năm
2010 khoảng 500.000 ha, tập trung chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên chiếm trên 80% tổng diện tích cả nước Đây là cây trồng chiếm 4,7% diện tích, 2195 năng suất, 10% sản lượng cà phê toàn thế giới, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt 1,1 tỷ USD, trở thành nước đứng đầu thế giới về sản xuất cà phê, là bước tiến vượt bậc của nghành nông nghiệp nói chung và nghành cà phê nói riêng [8]
4.4 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các loại bệnh hại phổ biến trên cây cà phê như: Bệnh gỉ sắt, bệnh nấm hồng,
bệnh khô cành khô quả,… Bệnh gỉ sắt là do nấm Hemileia vastatrix Berk et Br gây
nên Bệnh gỉ sắt hại chủ yếu trên lá, làm vàng lá, rụng lá, giảm tỷ lệ ra hoa đậu quả Các vết bệnh do nấm gây ra ban đầu trên phiến lá thường xuất hiện những điểm màu trắng đục hay những chấm màu vàng nhạt, khi vết bệnh phát triển ở trên mặt lá
thường bị mất màu xanh và mặt dưới lá có một lớp bào tử dạng bột xốp màu vàng da cam Khi vết bệnh già, bào tử phát tán hết thì vết bệnh có màu nâu sẫm, có quầng vàng bao quanh
Trang 2417
Để đối phó vời bệnh dịch gỉ sắt lá đang gây khủng hoảng ở khu vực Trung Mỹ, các nhà nghiên cứu cà phê thế giới (WCR) tại Viện Borlaug ở Texas A & M và Chương trình hợp tác khu vực để phát triển công nghệ và hiện đại hóa của Ngành công nghiệp cà phê (PROMECAFE) sẽ tổ chức Hội nghị quốc tế đầu tiên về bệnh gỉ sắt là trên cây cà phê [14]
Hội nghị sẽ được hỗ trợ bởi các tổ chức liên quan trong đó có Hiệp hội Cà phê Quốc gia Guatemala (ANACAFE), Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID), Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), Starbucks, Green Mountain Coffee Roasters (GMCR), công ty Ecom agroindustrial Corporation Ltd (ECOM), RGC cà phê, và JM Smucker / Folgers Inc Hội nghị tổ chức trong hai ngày, mục đích là phối hợp với các tổ chức trong khu vực để xây dựng kế hoạch hành động và phản ứng nhanh [14]
Bệnh dịch gỉ sắt lá cà phê đã gây tổn thất cho sản lượng cà phê Trung Mỹ trong năm nay, ảnh hưởng đến đời sống của hơn hai triệu người và gây thiệt hại gần 500.000 việc làm Guatemalavà các nước khác đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp quốc gia Tổng số tổn thất cà phê của khu vực được dự báo khoảng 20% đến 30%, và trong năm tới có thể tăng lên gần 50 % trừ khi một chiến lược phối hợp hành động được triển khai sớm [14]
Hội nghị quốc tế tập hợp các nhà khoa học về bệnh gỉ sắt lá cà phê trên toàn thế giới, đại diện các viện nghiên cứu cà phê và các hiệp hội, tổ chức chứng nhận, các công ty hoá chất nông nghiệp, các nhà xuất khẩu và rang xay cà phê, các nhà tài trợ
và các tổ chức tài chính để thảo luận về những tác động và tìm các giải pháp hữu hiệu đối phó với bệnh gỉ sắt lá đang lan tràn khu vực Trung Mỹ Các chuyên gia quốc tế tại Hội nghị sẽ hợp lực để đánh giá tác động kinh tế-xã hội của đại dịch hiện nay, đặc biệt là những liên quan đến người trồng cà phê quy mô nhỏ, công nhân cà phê và gia đình của họ [14]
Trang 2518
Một tập hợp các chiến lược sẽ được đưa ra nhằm giảm nhẹ các tác động kinh tế
và tranh thủ các nguồn lực để giúp các cộng đồng nông dân trồng cà phê ứng phó với các tình huống nghiêm trọng và phục hồi thu nhập bất ngờ bị tụt xuống do sản lượng thấp hơn Chuyên gia tại hội nghị cũng sẽ làm việc với các tổ chức quốc gia để xác định chiến lược quan trọng và hành động tốt nhất để kiểm soát dịch bệnh gỉ sắt lá và xác định các giải pháp ngắn hạn, trung và dài hạn cho dịch bệnh hiện tại cũng như tương lai [14]
Ông Robesrio Silva, giám đốc điều hành Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) đã đến Guatemala thị sát tổn hại do bệnh dịch nấm gỉ sắt ăn lá cà phê gây ra và tham dự hội nghị từ ngày 18 đến 20 tháng 4 Sau đó ông sẽ đến các quốc gia trồng cà phê khác tại khu vực Trung Mỹ trong chương trình thị sát kéo dài đến ngày 4 tháng 5 năm 2013 [14]
Bệnh xuất hiện đầu tiên vào năm 1868 ở Sri Lanca, tại đây bệnh đã làm giảm tới 75% sản lượng cà phê chỉ trong vòng 10 năm (1869-1878), đến năm 1890 hầu như phải huỷ bỏ toàn bộ diện tích cà phê để thay bằng cây cao su và cây chè Sau đó bệnh lan dần sang Châu Phi và các nước khác thuộc Châu Á Cho đến giữa thế kỷ 20 bệnh
đã có mặt ở hầu hết các nước trồng cà phê tại hai châu này [15]
Tu sach.thuvienkhoahoc.com/wiki/Benh_gi_sat (hại_cà_phê) [10] mỗi vết bệnh trung bình có tới 1.150.000 bào tử hạ có khả năng nảy mầm trong 20 ngày Tu sach.thuvienkhoahoc.com/wiki/Benh_gi_sat (hại_cà_phê) [10] phạm vi nhiệt độ từ 22-24C là nhiệt độ tối thích cho sự nảy mầm của bào tử nếu có độ ẩm thích hợp như hạt nước nhỏ li ti hay độ ẩm không khí bão hoà Nhiệt độ quá cao, không khí ẩm ướt
ở vùng nhiệt đới dễ làm sức sống của bào tử giảm thấp
Sợi nấm tiềm sinh trong các mô bệnh Bào tử hạ hình thành trên các cây cà phê mọc hoang, hay do hạt rơi vãi trong ruộng mọc lên trong mùa đông là nguồn bệnh
Trang 2619
ban đầu Một số tài liệu của Nhật Bản cho rằng cây dành dành là ký chủ phụ của nấm
gỉ sắt cà phê Ở Việt Nam, đã thấy cây gỗ Mấc Oroxylum indicum có thể là ký chủ phụ liên quan tới bệnh gỉ sắt cà phê, vấn đề này cần nghiên cứu thêm Bào tử hạ nảy mầm xâm nhập qua lỗ khí khổng ở mặt dưới lá cà phê Sợi nấm len lỏi trong gian bào
và xuyên qua các tế bào bằng vòi hút để hút dinh dưỡng [10]
Tu sach.thuvienkhoahoc.com/wiki/Benh_gi_sat (hại_cà_phê) [10] bào tử có thể nảy mầm thuận lợi từ 19-24C, trong giọt nước thì cần từ 1 giờ 50 phút đến 7 giờ,
ở nhiệt độ trên 28C và dưới 16C bào tử hạ trong giọt nước có thể không nảy mầm được
Bệnh khô cành khô quả là bệnh quan trọng thứ hai sau bệnh gỉ sắt trên cây cà phê, bệnh làm khô quả, khô cành và chết cành cây Bệnh được phát hiện ở Ấn Độ
1919 và gây hại ở đây vào năm 1928, gây dịch Kenya (1960) làm giảm 50% sản lượng Tại Việt Nam, bệnh phát hiện 1930 và đến nay cùng với việc gia tăng diện tích
cà phê chè tại các tỉnh Tây Nguyên tỷ lệ cây bệnh và mức độ gây bệnh cũng gia tăng Các kết quả điều tra của bộ môn Bảo vệ thực vật, Viện nghiên cứu cà phê tại Đắc Lắk cho thấy tỷ lệ quả bệnh trên cây từ 4,6 - 20,4% tỷ lệ quả bệnh bị rụng dưới đất là 6% không kể tỷ lệ quả rụng do sịnh lý là 26% tỷ lệ cây bệnh nặng là 12% Bệnh làm giảm 7% sản lượng qua việc làm giảm 22,8% trọng lương 100 nhân Bệnh khô cành khô quả do nhiều nguyên nhân:
Do nấm: Colletotrichum cofeanum Noak trên quả gọi là bệnh cooffee Berry
Disease(CSD),
Do vi khuẩn: Pseudomonas syringea, P.garcae
Do sinh lý: Làm khô cành khô quả gọi là bệnh Dia - back
Mc Donald (1926)[11] đã phân biệt được 3 loại C.cofeanum: Hoại sinh, ký sinh nhẹ nhưng không xâm nhiễm và ký sinh mạnh gây nên CBD