1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường cho cộng đồng người thái tại xã chiềng bằng quỳnh nhai sơn la

44 310 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 440,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Để hoàn thành chương trình đào tạo và kết thúc sau 3 năm học tập và rèn luyện tại Trường cao đẳng Sơn La, được sự đồng ý của nhà trường, Khoa nông lâm, Bộ môn Lâm Sinh, tôi

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Để hoàn thành chương trình đào tạo và kết thúc sau 3 năm học tập và rèn luyện tại Trường cao đẳng Sơn La, được sự đồng ý của nhà trường, Khoa nông

lâm, Bộ môn Lâm Sinh, tôi tiến hành thực hiện chuyên đề tốt nghiệp: "Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường cho cộng đồng người Thái xã Chiềng Bằng - Quỳnh Nhai, Sơn La”

Trong quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp, ngoài sự cố gắng và nỗ

lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo: Chu Văn Tiệp và các thầy cô giáo khác trong bộ môn, khoa nông lâm, trường cao đẳng Sơn La Cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ, nhân dân xã Chiềng Bằng và các bạn bè đồng nghiệp

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Chu văn Tiệp người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đề này

Do hạn chế về mặt thời gian và kinh nghiệm cũng như năng lực của bản thân, hơn nữa đây là lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên chuyên đề không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi kính mong nhận được sự góp ý của bạn bè và sự chỉ đạo của các thầy cô giáo để chuyên đề tốt nghiệp tôi được hoàn thành hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, ngày 10 tháng 4 năm 2013

Sinh viên

Là Văn Thuận

Trang 2

Chương I ĐẶT VẤN ĐỀ Đất dốc ở nước ta chiếm ¾ diện tích tự nhiên toàn quốc, bao gồm cả ở đất

và đất canh tác Trong đó chủ yếu là đồi, núi, là nơi cư trú của các cộng đồng dân tộc thiểu số, đồng thời cũng là nơi đóng vai trò chính trong việc giữ cân bằng sinh thái, môi trường tự nhiên của xã hội Mọi hoạt động nông, lâm của con người đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến các diễn biến tích cực hay

tiêu cực của môi trường và hệ sinh thái

Trong thực tế nhiều năm nay người dân đã tiến hành nhiều hoạt động trên diện tích lớn của đất đốc vì mục đích sản xuất lương thực, khai thác nguyên vật liệu, đặc sản và nhiều lý do khác làm thảm thực vật bị tàn phá, đất bị xói mòn rửa trôi và giảm sức sản xuất Một trong những hoạt động đó là tập quán du canh, du cư, đốt nương làm rẫy, tập quán canh tác lạc hậu của đồng bào Trong quá trình sinh trưởng, phát triển cây trồng đã lấy mất đi một lượng dinh dưỡng

từ đất Bên cạnh đố sự thu hái sản phẩm không để lại tàn dư làm cho đất mau chóng nghèo kiệt, do không sử dụng phân bón Theo thống kê của Cục Kiểm lâm, hàng năm diện tích đốt nương làm rẫy lên đến hàng trục nghìn ha Đốt nương làm rẫy dẫn đến nguyên nhân của hàng nghìn vụ cháy rừng trên phạm vi toàn quốc Hầu như diện tích đất đai dược đồng bào sử dụng làm nương rẫy cho năng suất thấp nên mặc dù diện tích canh tác lớn nhưng người dân vẫn không đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống hằng ngày

Tây Bắc là vùng đất có nhiều thành phân dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Thái, H’Mông, kháng Với trình độ dân trí còn thấp, song có vốn tri thức bản địa rất phong phú, trong đó chứa đựng những tri thức của cộng đồng về luật tục, về quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển sản xuất nông nghiệp Điều kiện kinh tế của người dân còn nghèo nàn, lạc hậu nhưng so với một vài năm trước đây thì đời sống của người dân đang ngày càng đựơc cải thiện do họ đã biết thực tế hóa sản xuất, biết khai thác tiềm năng tự nhiên Với địa hình chủ yếu là vùng đất có độ dốc lớn nên chủ yếu là trồng lúa nương, cây

Trang 3

đầu tư về cơ sở hạ tầng chưa cao nên năng suất còn thấp và ảnh hưỏng không nhỏ đến môi trường xung quanh như ô nhiễm môi trường, nguồn nước, đất bị xói mòn

Xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La là một trong những xã chậm phát triển, sản xuất mang tính tự cung, tự cấp Cộng đồng người Thái ở đây thuộc nhóm Thái đen với tập quán canh tác chủ yếu là nương rẫy theo lối quảng canh Do địa hình phức tạp núi cao độ dốc lớn, nước sinh hoạt và sản xuất khó khăn, ruộng nước canh tác ít, chăn nuôi hạn chế nên người dân đã khai phá, đốt nương làm rẫy và dẫn đến hiện tượng cháy rừng vẫn thường xảy ra Mặc dù canh tác nương rẫy là chủ yếu nhưng chỉ canh tác vào mùa mưa, mà xung quanh nương rẫy canh tác lại không hề có vành đai cây xanh nên thường ngày sau khi thu hoạch đất sẽ bị rửa trôi, xói mòn rất mạnh

Vì vậy vẫn đề cải tiến kỹ thuật canh tác nương rẫy cho người dân, xây dựng luân canh hợp lý để nâng cao hiệu quả canh tác, tăng cường mức thu nhập cho người dân và hạn chế đến mức tối thiểu sự thiệt hại về tài nguyên đất do canh tác của con người gây ra đang là một vấn đề cần được quan tâm Song chưa

có một đề tài nào nghiên cứu đưa ra những giải pháp để nâng cao kiến thức canh tác cho cộng đồng người Thái ở khu vực này xuất phát từ thực tế đó mà chúng

tôi tiến hành chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường cho cộng đồng người Thái xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai”

Trang 4

Chương II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Trên thế giới

Canh tác cây thân gỗ cùng với cây công nghiệp trên cùng một diện tích là một tập quán sản xuất lâu đời của nông dân ở nhiều nơi trên thế giới Theo king (1987), cho đến thời trung cổ ở châu Âu, vẫn tồn tại một tập quán phổ biến là

“chặt và đốt” rồi sau đó tiếp tục trồng cây thân gỗ cùng với cây công mghiệp hoặc sau thu hoạch nông nghiệp Hệ thống canh tác này vẫn tồn tại ở Phần Lan cho đến cuối thế kỉ 19, và vẫn còn ở một số vùng ở Đức đến tận năm 1920 Nhiều phương thức canh tác ở châu Á, châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ

đã có sự phối hợp cây thân gỗ để nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và tạo ra các sản phẩm phụ khác như: Gỗ, củi, đồ gia dụng

Dân số thế giới ngày càng tăng, diện tích canh tác trên đầu người ngày càng giảm di một cách đáng kể Do vậy, để nuôi sống loài người ngày càng đông đúc, thì ở các nước đang phát triển người ta phải đi theo hai hướng là tăng năng suất cây trồng và diện tích đất canh tác, sử dụng kỹ thuật tiên tiến và phân bón hợp lí

Trên thế giới trải qua nhiều thế kỷ, trong quá trình sản xuất, con người đã

có phương thức canh tác phù hợp với từng đối tượng cụ thể Vào cuối thế kỷ 19,

hệ thống Taungaya bắt đầu phát triển rộng rãi ở Myanma dưới sự bảo hộ của thực dân Anh Trong các đồn điền trồng cây gỗ Tếch, người lao động được phép trồng cây lương thực giữa các hàng cây chưa khép tán để giải quyết nhu cầu lương thực hàng năm Phương thức này sau đó được áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ

và Nam Phi

Trong vòng thập niên 60 và 70 của thế kỷ 20, dưới sự bảo trợ của Nhóm

tư vấn về Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (CGIAR), nhiều Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Quốc tế được thành lập ở nhiều khu vực trên thế giới nhằm nghiên cứu nâng cao năng suất của các loại cây trồng và vật nuôi của vùng nhiệt đới Tuy nhiên, trong giai đoạn này chỉ tập trung nghiên cứu các loại cây trồng

Trang 5

riêng rẽ trong khi thực tế lại canh tác một cách tổng hợp: Trồng xen các loại cây nông nghiệp khác nhau, cây ngắn ngày với cây gỗ dài ngày

Từ đầu thập niên 70, chính sách phát triển của Ngân hàng thế giới (WB)

đã bắt đầu chú ý hơn các vùng nông thôn nghèo cùng với sự tham gia của nông dân vào các chương trình phát triển nông thôn

Trong chương trình Lâm nghiệp xã hội của WB trong năm 1980 không chỉ chứa đựng nhiều yếu tố của nông lâm kết hợp mà còn thiết kế trợ giúp nông dân thông qua sản xuất lương thực, thực phẩm bảo vệ môi trường và phát huy các lợi ích truyền thống của rừng Trong thời gian này, bên cạnh phát triển nông nghiệp, FAO đặc biệt nhấn mạnh vai trò của lâm nghiệp trong phát triển nông thôn, khuyến cáo các nông dân và nhà nước chú trọng đến lợi ích của rừng và cây thân gỗ, khuyến cáo các nhà quản lí sử dụng đất kết hợp cả nông nghiệp và lâm nghiệp vào hệ thống canh tác của họ

2.2 Ở Việt Nam

Cũng như nhiều Quốc gia khác trên thế giới, các tập quán canh tác nông lâm kết hợp đã có ở Việt Nam từ lâu đời Đây là những xã có thu nhập bình quân đầu người lao động từ 150 - 200 USD/năm và là những vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số có đời sống, dân trí chưa cao và hơn 80% thu nhập của người dân phụ thuộc vào đất canh tác nông nghiệp Hệ thống giao thông chậm phát triển, có nhiều nơi ô tô chưa đến được trụ sở ủy ban nhân dân xã Tỉ

lệ nhà tranh, tre lên đến 70% Nhiều nơi như những vùng cao núi đá tỉnh Cao Bằng, Sơn La, Điện Biên người dân còn đói Phương thức canh tác còn lạc hậu nên năng suất, Sản lượng đạt được trên một số đơn vị diện tích thấp, dẫn đến tình trạng mặc dù diện tích canh tác nương rẫy lớn những vẫn không đủ ăn Khả năng tiếp cận thông tin khoa học công nghệ còn thiếu thốn, thiếu vốn đầu tư cho canh tác, thiếu hiểu biết về môi trường và pháp luật, do sự phân hóa của các vùng miền ngày càng lớn Hình thức canh tác chủ yếu là trồng cây lương thực như lúa, ngô, khoai , sắn Các hình thức làm nương rẫy gồm:

- Nương rẫy cố định ( Chiếm 65 - 70% )

Trang 6

+ Nương rẫy làm hai vụ ( Chiếm khoảng 40 - 45%)

+ Loài cây trồng (ngô, khoai, sắn, lúa nương, rong, riềng )

- Nương rẫy không định ( chủ yếu là trồng lúa nương, ngô, chiếm 35%)

30-Cơ cấu cây trồng trong tác nương rẫy được tổng hợp như sau: Cây cung cấp lương thực như ngô, khoai, sắn chiếm 70% diiện tích, trong đó lúa nương chiếm 30 - 45% toàn bộ diện tích nương rẫy Diện tích sử dụng việc gây trồng những nhóm cây còn lại là: Rau và đậu các loại chiếm 60%; Cây công nghiệp ngắn ngày chiếm 8%; cà phê và chè chiếm 4%; còn lại là nhưng loại cây khác chiếm 12%

Trung bình diện tích làm nương rẫy tại các tỉnh vùng núi cao chỉ canh tác được 1,5 vụ/năm Năng suất bình quân 3,6 tấn/năm có vùng như Tây Bắc nắng suất lúa nương chỉ đạt trung bình 1,1 tấn /ha/vụ và lương thực bình quân đầu người còn thấp: Gạo được 146/người/năm, ngô được 56 kg/người/năm

Do tình trạng dân số tăng cao trong những năm 60 - 70 của thế kỷ trướcdẫn đến tình trạng đất đai bình quân đầu người dân giảm đi một cách nhanh chóng Chính vì lý do dân số tăng dẫn đến diện tích nương rẫy ngày càng được

sử dụng với cường độ cao hơn Trước đây chu kỳ luân canh có thể từ 5 - 8 năm nay luân kỳ sử dụng đất bị rút ngắn một cách đáng kể, chỉ còn từ 2 - 3 năm Việc rút ngắn luân kỳ sử dụng đất dẫn đến tình tình trạng độ phì của đất không

có thời gian và khả năng phục hồi tự nhiên Việc sử dụng quá mức tài nguyên đất đai là tài nguyên chính làm cho đất đai ngày càng thoái hóa, nghèo kiệt, năng suất cây trồng ngày càng giảm Trong khi đó nhu cầu lương thực ngày càng tăng, do vậy luân kỳ công tác ngày càng bị rút ngắn Đây là vòng luẩn quẩn của phương thức canh tác nương rẫy, dẫn đến tình trạng thiếu lương thực ngày càng trầm trọng và tình trạng nghèo đói ở các địa phương vùng núi cao

Theo số liệu thống kê năm 2004 , diện tích nương rẫy của đồng bào dân tộc ít người thuộc các tỉnh vùng núi cao là 1,2 triệu ha, phân bố rộng trên các dạng địa hình có độ dốc trên 160 và độ cao từ 300m trở lên; tập trung chủ yếu ở

Trang 7

đất lâm nghiệp, nằm trên những diện tích có độ dốc tương đối lớn (trên 160

) Nên việc canh tác của người dân trở nên rất khó khăn mặt khác do trình độ dân trí của đồng bào vùng cao việc tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến còn hạn chế Hầu hết họ canh tác theo lối quảng canh và không chú ý đến hiệu quả sử dụng đất nên làm nương rẫy thường bị xói mòn mạnh, sức sản xuất của đất giảm làm cho diện tích đất trống đồi núi trọc tăng lên Từ đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường xung quanh đặc biệt là môi trường đất và nước

Kiến thức bản địa cổ truyền là nguồn tài nguyên quan trọng của các Quốc gia Nó giúp cho con người tìm ra những giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái bên vững

Kiến thức bản địa được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác Ở nhiều cộng đồng kiến thức bản địa chỉ truyền khẩu nhưng đã được tôn trọng đặc biệt Theo Ngô Đức Thịnh (1996) mọi sự phát triển đều phải đảm bảo tính kế thừa và liên tục, mọi cộng đồng đều phải đi lên từ truyền thống vốn có của bản thân mình

Theo Hoàng Bính và Hoàng Xuân Tý (1998) thì người Thái Sơn La phân loại đất canh tác theo mục đích sử dụng và hệ thống phân loại đất canh tác theo địa chung, bằng cây chỉ thị nhằm xác định cơ cấu cây trồng thích hợp cho từng loại đất đai

Theo Lê Trọng Cúc (1998), các kỹ thuật truyền thống có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường tự nhiên, cũng như tập quán xã hội nơi sản sinh ra chúng Việc gắn kết kỹ thuật địa phương với kỹ thuật hiện đại là phương pháp tốt nhất để ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào nông thôn miền núi

Trong nhưng năm gần đây Đảng và Chính phủ đã có những hỗ trợ người dân vùng cao canh tác nông lâm nghiệp thay thế canh tác nương rẫy truyền thống cũ lạc hậu Tuy nhiên tình trạng phát, đốt nương làm rẫy vẫn thường xuyên xảy ra làm cho đất trở nên nghèo kiệt và làm một diện tích khá lớn rừng

bị cháy, ảnh hưởng xấu đến tác động môi trường và đa dạng sinh thái rừng Việt Nam

Trang 8

Người Thái sinh sống ở đây chủ yếu thuộc nhóm Thái đen

* Dân số: 6.369 người (tháng 3 năm 2013)

* Lịch sử: Người Thái có cội nguồn ở vùng Đông Nam Á lục địa, tổ tiên

xa xưa có mặt tại Việt Nam rất sớm

* Họat động sản xuất: Canh tác lúa nước, canh tác nương rẫy, chăn nuôi nhỏ lẻ quy mô gia đình, mang tính chất tự cung, tự cấp là chính Họ làm ruộng cấy một vụ lúa nếp, nay chuyển sang hai vụ lúa vụ lúa tẻ, làm nương để trồng thêm lúa và hoa màu, cây thực phẩm cây thuốc nhuộm để dệt vải

* Ăn: Ngày nay gạo tẻ trở thành lương thực chính, gạo nếp vẫn được coi

là lương thực truyền thống Gạo nếp ngâm bỏ vào chõ, đặt lên bếp, đồ thành xôi Trên các mâm ăn không thể thiếu các món ớt giã hòa muối, tỏi, có mùi rau thơm, mùi, lá hành có thể thêm gan gà luộc chín, ruột cá, cá nướng gọi chung là chéo Hễ có thịt các con vật ăn cỏ thuộc loại nhai lại thì buộc phải có nước nhúng lấy từ long non làm nậm pịa Thịt cá tươi thì làm món nộm, nhúng(lạp, cỏi), ướp muối, thính làm mắm; ăn chính thích hợp nhất phải kể đến các món chế biến từ cách nướng, lùi, đồ, sấy, sau mới đến canh, xào, rang, luộc Họ ưa thích các vị: Cay, chua, đắng, chát, bùi ít dùng các món ngọt, lợ, đậm, nồng hay uống rượu cất Người Thái hút thuốc lào bằng điếu ống tre, nứa và châm bằng mảnh đóm tre ngâm, khô

* Mặc: Cô gái Thái đẹp nhờ mặc áo cánh ngắn đủ màu sắc đính hàng khuy bạc hình bớm, nhện, ve sầu chạy trên đường nẹp xẻ ngực, bó sát thân, ăn nhịp với chiếc váy vải màu thâm, hình ống; thắt eo bằng vải lụa màu xanh lá cây; đeo dây xà tích bạc ở bên hông Ngày lễ có vận thêm áo dài đen, xẻ nách hoặc kiểu chui đầu Nữ thái đen đội khăn piêu nổi tiếng với các hình hoa văn thêu nhiều màu sắc rực rỡ Nam giới mặc kiểu chân què có cạp để thắt lưng; áo cánh xẻ ngực có ở hai bên gấu vạt Màu quần áo chủ yếu là màu đen, có thể màu gạch non, hoa kẻ sọc hoặc trắng Ngày lễ mặc áo đen dài, xẻ nách, bên trong có một lần áo trắng, tương tự để mặc lót Bình thường cuốn khăn đen theo kiểu mỏ rìu Khi vào lễ cuốn khăn dài một sải tay

Trang 9

* Ở: Nhà sàn, bốn mái mặt hình chữ nhật gần vuông, hiên có lan can; nhà sàn dài, cao, mỗi gian hồi làm tiền sảnh; nhà mái thấp, hẹp long

* Phương tiện vận chuyển: Gánh là phổ biến, ngoài ra là gùi chằng dây đeo vắt qua trán, dùng, ngựa cưỡi, thồ

* Quan hệ xã hội: Cơ cấu xã hội cổ truyền gọi là bản Tông tộc Thái gọi là Đẳm Mỗi người có 3 quan hệ dòng họ trọng yếu: Ải noọng (Tất cả thành viên sinh nam sinh ra từ một ông tổ bốn đời); Lung Ta (Tất cả các thành viên nam thuộc họ người đến làm rể)

* Cưới xin: Trước kia người Thái theo chế độ hôn nhân mua bán và ở rể, nên việc lấy vợ và lấy chồng phải qua nhiều bước, trong đó hai bước cơ bản:

- Cưới lên (Đong khửu): Đưa rể lên cư trú nhà vợ, là bước thử thách phẩm giá, lao động của chàng rể Người Thái đen có búi tóc ngược lên đỉnh đầu cho người vợ ngay sau lễ cưới này

- Cưới xuống (Đong long ): Đưa gia đình chở về với họ cha

* Ma chay: Lễ tang có hai bước cơ bản

- Pông: Phúng viếng đưa tiễn hồn người chết lên cõi hư vô, sau đó thiêu

- Xống : Đưa đồ tang lễ ra bãi tha ma và kết thúc bằng lễ gọi ma trở về ngụ tại gian thờ cúng tổ tiên ở trong nhà

* Nhà mới: Dẫn chủ nhân lên nhận nhà Lung Ta châm củi đốt lửa ở bếp mới Người ta thực hiện nghi lễ, cúng đọc bài mo xua đuổi điều ác, thu điều lanh, cúng tổ tiên, vui chơi

Trang 10

Chương III ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và địa điẻm nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường cho cộng đồng người Thái xã Chiềng Bằng - Huyện Quỳnh Nhai - Tỉnh SơnLa

3.1.2 Địa Điểm nghiên cứu: Xã Chiềng Bằng - Quỳnh Nhai

3.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức trong kỹ thuật canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường cho cộng đồng người Thái tại địa phương

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Để đạt được mục tiêu trên đề tài sẽ tiến hành một số nội dung nghiên cứu sau:

3.3.1 Nghiên cứu kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy và bảo vệ môi trường

3.3.1.1 Mức độ sử dụng các kỹ thuật bản địa vào canh tác

3.3.1.2 Kỹ thuật bản địa trong quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường

3.3.1.3 Các hệ canh tác tại khu vực nghiên cứu

3.3.1.4 Tập quán chăn nuôi

3.3.1.5 Sự phối giới

3.3.2 Nghiên cứu hiện trạng sử dụng đất và công tác quản lý nương rẫy tại xã Chiềng Bằng

- Các loại hình sử dụng đất

- Công tác quản lý nương rẫy

3.3.3 Đánh giá hiệu qủa của hệ thống cây trồng đến đời sống và môi

Trang 11

3.3.3.1 Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và tiềm năng của khu vực 3.3.3.2 Đánh giá hiệu quả của loại hình sử dụng đất

3.3.3.3 Đánh giá và lựa chọn cây trồng

- Cây lâm nghiệp

- Cây ăn quả

- Cây màu

- Cây lúa

- Cây công nghiệp dài ngày

3.3.3.4 Đề xuất các giải pháp để nâng cao kiến thức canh tác nương rẫy gắn với bảo vệ môi trường sinh thái bền vững cho cộng đồng người Thái xã Chiềng Bằng

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng một số phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp ghi chép

- Phương pháp PRA, RRA

- Phương pháp khảo sát

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp chuyên gia

3.4.1 Điều tra ngoại nghiệp

- Điều tra về phong tục, tập quán

- Điều tra về thu nhập kinh tế hộ gia đình

- Mô hình canh tác nương rẫy, sử dụng lâm sản, quản lí và bảo vệ rừng Quá trình điều tra được tiến hành theo các phương pháp sau:

3.4.1.1 Phương pháp thu thập thông tin:

Kế thừa và thu thập các tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế từ

cơ cấu tổ chức đã nghiên cứu và từ chính quyền địa phương, gồm có:

- Thông tin về kinh tế xã hội: Tài liệu về dân số, văn hóa, giáo dục, y tế,

cơ sở hạ tầng

Trang 12

- Thông tin về điều kiện tự nhiên: Tài liệu về địa lí, thổ nhưỡng, khí tượng thủy văn, các bản đồ và các tài liệu khác có liên quan

3.4.1.2 Phương pháp PRA, RRA:

Pháp hiện ra các mô hình canh tác, các loại cây trồng, vật nuôi phổ biến bằng phương pháp PRA, RRA với trình tự như sau:

Bước 1: Tìm hiểu khái quát khu vực xã Chiềng Bằng

Gặp gỡ lãnh đạo nhằm:

- Trình bày mục tiêu yều cầu của nhóm nghiên cứu

- Tìm hiểu khái quát tình hình của xã như:

+ Diện tích: Tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp

+ Dân sinh: Dân số, hệ thống y tế, giáo dục, thu nhập…

+ Sản xuất nông lâm kết hợp: Các mô hình đã áp dụng tại địa phương, cơ cấu cây trồng, vật nuôi…

Bước 2: Khảo sát sơ bộ hiện trường để lựa chọn điểm nghiên cứu

Sau khi đã có một số thông tin ban đầu do lãnh đạo xã cung cấp, tiến hành khảo sát một số bản điểm nhằm quan sát và kiểm tra lại những thông tin đã được cung cấp Những số liệu thu được phải ghi chép lại vào sổ tay chi tiết để chuẩn

bị cho bước phỏng vấn và thảo luận với người cung cấp thông tin hay các hộ gia đình

Quan sát các loại hình canh tác chủ yếu, các loại cây trồng, quan sát xem người dân làm gì và làm như thế nào?

+ Chọn bản điểm điều tra: Tiến hành chọn 6 bản có cộng đồng người Thái sinh sống để điều tra phỏng vấn Gồm có: Bản Bó Ban, Bản Huổi Quổy, Bản Huổi Púa, Bản Co Trặm, Bản Co Hả, Bản Bung

+ Chọn các cá nhân phỏng vấn: Thường cán bộ nông – lâm nghiệp, cán bộ địa phương…

Bước 3: Khảo sát trên diện rộng

Xây dựng các bản câu hỏi để phỏng vấn hộ gia đình

Trang 13

Công việc khảo sát được tiến hành tại các buổi trao đổi với cán bộ địa phương, tại các hộ gia đình, trên đồng ruộng, trên nương…

Thời gian phải thuận lợi cho người dân như vào buổi trưa

Để phỏng vấn có hiệu quả cần đưa ra những câu hỏi dễ hiểu để đạt được

sự giải thích và quan điểm của từng cá nhân, ghi chép cẩn thận vào mẫu biểu, kiểm lại tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp

Bước 4: Phân loại hệ thống cây trồng canh tác

Bằng phương pháp lập bảng cho điểm với kết quả đánh giá tiêu chí cao nhất là 10 điểm, thấp nhất là 0 điểm Phương pháp cho điểm là một biểu mà hàng trên là tên các loại cây trồng chủ yếu ở địa phương, cột bên trái là ghi các tiêu chí đánh giá cây trồng và mô hình canh tác, các ô, các hàng còn lại để ghi kết quả đánh giá Hàng cuối cùng để ghi tổng số điểm

Bước 5: Phân tích lịch mùa vụ

Nhằm cung cấp khá chi tiết thông tin về các yếu tố trong thôn bản như lịch gieo trồng các loại cây chính, các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, lịch

sử dụng lao động, lịch chăm sóc…

3.4.2 Công tác nội nghiệp

- Xác định phong tục tập quán canh tác có ảnh hưởng gì đến môi trường xung quanh

Tổng hợp các số liệu về thu thập để đánh giá hiệu quả kinh tế một số mô hình canh tác

- Xử lí và phân tích thông tin được tiến hành bằng máy tính

- Tập hợp những thuận lợi khó khăn được tiến hành trong quá trình phỏng vấn

Trang 14

- Từ bảng điểm đánh giá về một số loại cây trồng kết hợp với thực tiễn để rút ra nhận định chung nhất cho một loại cây trồng

3.4.2.2 Phương pháp chuyên gia

- Nhằm điều chỉnh và hoàn thiện những giải pháp đã đƣợc hình thành sau khi phân tích tài liệu ngoại nghiệp

Trang 15

Chương IV ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên

4.1.1 Vị trí địa lí, ranh giới

Xã Chiềng Bằng là xã vùng I của huyện Quỳnh Nhai, Xã nằm ở phía đông nam của huyện Quỳnh Nhai, cách thị xã Sơn La 60km, cách huyện Quỳnh Nhai 1km Có vị trí địa lí cụ thể sau:

- Phía bắc giáp xã Chiềng ơn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La

- Phía đông giáp xã Mường Sại, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La

- Phía tây giáp Mường Giàng, huyện Quỳnh Nhai và xã Phổng Lái huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La

- Phía nam giáp xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, Sơn La

Xã Chiềng Bằng được chia thành 25 bản, dân số toàn xã có 1.293 hộ, với 6.369 nhân khẩu Toàn xã có 3 dân tộc anh em cùng sinh sống chủ yếu là dân tộc Thái chiếm 90% là dân sở tại còn lại là dân tộc Kinh chiếm 3% và Kháng chiếm 7% là dân nhập cư

4.1.2 Diện tích tự nhiên

Tổng diện tích tự nhiên xã Chiềng Bằng là: 4078,1 ha

4.1.3 Địa chất

Địa chất chủ yếu gồm 2 loại:

- Nhóm đá Macma axit gồm có: Granit, Liparit

- Nhóm đá axit và đá biến chất: Phiến sét, phiến thạch biến chất và Sparit

Trang 16

- Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, cuối tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau thường xen kẽ gió tây nam khô nóng và thường xuất hiện sương muối

- Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9 trong năm, đặc điểm khí hậu mùa mưa trung bình đạt từ 200mm/ tháng

- Nhiệt độ trung bình trong năm đạt tối đa là 280C, thấp nhất là 15,5 0

C

- Độ ẩm không khí trung bình đạt 85%

- Số giờ nắng trung bình đạt 1900 giờ đến 1960 giờ/ năm

4.2 Đặc điểm văn hóa xã hội, kinh tế địa phương

4.2.1 Dân số, dân tộc, lao động, phân bố dân cư, tỉ lệ tăng dân số

- Số lao động từ độ tuổi 14 trở lên là 4.633 người

- Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp chiếm 10% diện tích toàn xã

4.2.2 Tập quán canh tác, sinh họat văn hóa, phong tục địa phương

* Tập quán canh tác:

- Canh tác nương rẫy là chính, với phương thức quảng canh, chưa thâm canh, ít sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu để nâng cao năng suất cây trồng, kỹ thuật chọc lỗ bỏ hạt, cuốc hố bỏ hạt để phát triển tự nhiên dựa vào độ phì có sẵn của đất, không làm chủ mùa vụ cây trồng, sản xuất bấp bênh, thiếu ổn định, chưa áp dụng khoa học tiên tiến Tự túc, tự cấp trong sản xuất sản xuất vẫn du canh, chưa thâm canh nương rẫy, đây là nguyên nhân chính đưa tới tình trạng

Trang 17

xâm phạm vào rừng như: Khai thác gỗ, củi, măng, sẵn bắn thú rừng, động vật đem bán

- Người dân khai thác tài nguyên sẵn có từ rừng, việc chăn nuôi phát triển theo tự nhiên

* Sinh hoạt văn hóa, phong tục địa phương:

- Trong xã tỉ lệ người Thái cao nhất, ít nhất là dân tộc Kinh Người Thái ở nhà sàn kiên cố, nhà bố trí ngăn nắp gọn gàng Người kháng cũng ở nhà sàn nhưng cấu trúc đơn giản hơn Người kinh chủ yếu là dân nhập cư từ dưới xuôi lên làm ăn sống ở nhà đất, mái thấp thể hiện cuộc sống không ổn định lâu dài

- Sinh hoạt văn hóa: Mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng

4.2.3 Tình hình kinh tế địa phương

* Các hoạt động kinh tế:

- Kinh tế chậm phát triển, mang tính tự cung, tự cấp, canh tác lạc hậu (quảng canh), canh tác lúa nước, nương rẫy

- Chăn nuôi gia súc, gia cầm ở qui mô gia đình

- Trồng cây công nghiệp, kinh tế đồi rừng hạn chế

- Sức ép tăng dân số, nhu cầu đời sống thị trường dẫn đến khai thác gỗ, khai thác lâm sản, săn bắt thú rừng, đốt nương làm rẫy hiện tượng cháy rừng thường xuyên xảy ra

4.2.4 Giáo dục, y tế

*Giáo dục: Xã có 2 trường THPT, 2 trường Tiểu học, 2 trường Mầm non

Trang 18

* Y tế: Trạm y tế xã có 3 y sỹ, 1 Bác sỹ, 2 nữ hộ sinh, 1 cán bộ chuyên

trách dân số, có 2 phòng khám, 1 phòng hành chính, 1 phong tư vấn, 2 phòng bệnh nhân, 1 phòng trực, 1 phòng dược, các bản đều có nhân viên y tế bản hoạt động 25/25 bản

4.2.5 Tình hình sử dụng đất đai, tài nguyên

Theo quyết định 08/2001/TTg ngày 11/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành qui chế rừng đặc dụng, thì xã có 766,24ha Nằm trong đất quy hoạch phòng hộ Các cộng đồng dân tộc ở đây vẫn đốt nương làm rẫy, du canh,

du cư, khai thác rừng bừa bãi, chưa hợp lí dẫn đến diện tích và chất lượng rừng suy giảm

- Kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh Á nhiệt đới núi thấp

- Kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh Á nhiệt đới núi thấp hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim: Thông nàng, kim giao, Sến, Sối đá, Re, họ đậu, Mộc lan

- Kiểu thảm thực vật rừng thứ sinh nhân tác kín thường xanh Á nhiệt đới núi thấp sau tác động của con người

- Kiểu rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới núi thấp: Họ Dẻ, Thầu dầu, Long não, Trám

- Tầng ưu thế sinh thái: Họ côm, Hai mảnh vỏ, Ngái, Chẻo, Trâm

- Kiểu phụ nhân tác rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới núi thấp

- Kiểu phụ nhân tác rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới phục hồi sau nương rẫy

Trang 19

- Trảng cỏ cây bụi gỗ thứ sinh phân tán

Trang 20

Chương V KẾT QỦA NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5.1 Kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy và bảo vệ môi trường của cộng đồng người Thái xã Chiềng Bằng

Nương rẫy là loại hình canh tác phổ biến của cộng đồng người Thái ở vùng cao, từ lâu đời nay người Thái đã phát, đốt nương làm rẫy để trồng cây lương thực xen lẫn các cây lâm nghiệp , nguồn thu nhập canh tác nương rẫy đã đáp ứn

g 50 - 70% nhu cầu đời sống người dân

Tại xã Chiềng Bằng - Quỳnh Nhai - Sơn La là nơi sinh sốngchủ yếu của nhóm người Thái đen, với những phong tục, tập quán đặc trưng Theo thống kê

xã Chiềng Bằng có 25 bản, trong đó có 22 bản là người Thái sinh sống ngoài ra còn có cộng đồng người Kinh, kháng

5.1.1 Mức độ sử dụng các kỹ thuật bản địa vào canh tác

5.1.1.1 Kỹ thuật làm nương rẫy

Cộng đồng người Thái xã Chiềng Bằng chủ yếu là canh tác nương rẫy, tuy nhiên canh tác chỉ diễn ra vào mùa mưa, còn mùa khô họ lại đi vào rừng kiếm củi, sẵn bắn chim thú để tạo thêm nguồn thu nhập cho gia đình

Thời gian phát rẫy tập trung vào tháng 12 và tháng 1, sau khi phát rẫy xong thực bì được dải đều trên rẫy, những cây to được để lại, cây nhỏ thì đốt và thực hiện đốt trắng

Khi đốt rẫy người dân cũng ý thức được việc phòng cháy rừng như đốt theo chiều gió, đốt từ trên cao xuống và khi họ rẫy thường chọn ở khu rừng già

có nhiều loài cây, vì họ quan niệm rằng nơi nào càng rậm rạm thì ở đó đất càng tốt Tại những mảnh đất khu vực này người Thái chủ yếu trồng lúa nếp nương địa phương theo phương thức chọc lỗ tra hạt, tuy nhiên tỷ lệ và diện tích canh tác theo hình thức này còn rất ít

Trang 21

Qua điều tra cho thấy: Tháng 2 bắt đầu cuốc đất, tháng 4 (bắt đầu mùa mưa) thì chọc lỗ tra hạt và đến tháng 8 - 9 thu hoạch Trong thời gian chăm sóc làm cỏ 3 lần

Ở những chỗ địa hình bằng phẳng thì họ dùng cuốc hoặc cày ải làm tơi đất trước khi trồng và ở khu vực này họ thường trồng lúa nước, nước được lấy

từ các khe suối về qua các máng bằng tre và sử dụng kỹ thuật làm ruộng bậc thang Trồng lúa nước một năm có hai vụ, vụ chiêm xuân thường hết ngày 10/3

là trồng xong, đến cuối tháng 7 thì thu hoạch sau đó chuyển sang cấy lúa mùa

Ngoài ra đất để trồng các cây lương thực ngắn ngày trên nương thì vào cuối tháng 2 đầu tháng 3 cũng cuốc ải đất, dụng cụ chủ yếu là cuốc Thường ngô

và sắn cuối tháng tư phải trồng xong, đầu tháng 5 là rẫy cỏ, và chỉ trồng 1vụ/năm đến tháng 8 - 9 thu hoạch

5.1.1.2 Kỹ thuật bảo quản hạt giống

Sau khi thu hoạch chọn lấy hạt tốt nhất treo lên gác bếp, vụ sau đem trồng Để bảo quản giống lúa tốt họ thường chọn hạt chắc (sàng, sẩy kĩ), phơi khô và đóng bao kín đến trước khi cấy thì cho lên gác bếp 3 - 4 ngày Cây sắn thường họ để cây sống ở trên nương, khi trồng thì chặt khúc Với cách làm như vậy người thái gữi được nhiều giống tốt và duy trì cây trồng qua nhiều năm Tuy nhiên có một số người chỉ gữi hạt trong nilon, không bảo quản tốt nên dễ bị hỏng

5.1.1.3 Nguồn giống

Giống lúa bao gồm có giống lúa địa phương (nếp bong, tam chiêm ), thường năng suất thấp, chủ yếu là sử dụng lúa lai`Trung Quốc 82, 83, lúa 63, nếp 87 thường cho năng suất cao, trung bình là 180kg thóc/người/năm Ngô tẻ thì mua giống có sẵn thường là giống Ngô lai 10 Đan phượng - Hà Tây giá thành hợp lí và cho năng suất cao, sau đó là Ngô lai 10 Chiềng Sung - Sơn La, còn giống Ngô lai 10 miền Nam giá khá cao và ít người dân mua Ngô nếp thì nguồn giống chủ yếu được cất trữ từ các vụ thu hoạch trước Trong xã được sự đầu tư

về giống và vốn cho người dân như Chương trình xóa đói giảm nghèo, Dự án

Trang 22

5.1.1.4 Kỹ thuật sử dụng phân bón

Qua phỏng vấn một số hộ gia đình cho thấy việc đầu tư phân bón cho cây trồng là rất ít, thường sắn thì không bón phân chỉ bón cho ngô và lúa ruộng Mỗi năm bón phân NPK cho ngô và lúa ruộng khỏang 5 tạ ( tương đương 1,5 - 2 triệu đồng/năm) Cứ 10kg hạt giống ngô tẻ đầu tư 2 - 3 tạ phân, bón nhiều nhất

là 2 lần, lần đầu tiên thì bón đót và khi cây đã lên 4 - 5 lá thì bón một lần nữa, riêng với ngô nếp thì trồng thưa hơn (70cm một gốc, mỗi gốc 3 hạt) và cũng bón lót Với lúa thì hòa thêm đạm cộng NPK

Họ còn cho biết: Trên nương canh tác thời gian đầu cũng dùng thuốc diệt

cỏ nhưng thấy cỏ không chết triệt để, phải làm lại nên dần dần cũng bỏ qua mà chủ yếu dùng sức người để hạn chế cỏ dại Ngoài ra người dân còn sử dụng thuốc trừ sâu cho lúa, và cắt cây xanh vứt vào ruộng làm phân ( cây chó đẻ, cây Pnăng, Plong )

5.1.2 Kiến thức bản địa trong quản lí tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Đóng vai trò chính trong quản lí và bảo vệ rừng tại khu vực là cán bộ Kiểm lâm viên, các cán bộ xã, trưởng bản Tuy nhiên mức tổ tham gia vào quản

lí bảo vệ rừng còn kém do trình độ cũng như năng lực còn hạn chế Các thành viên trong bản đều có quyền lựa chọn một vài khoảnh rừng để canh tác theo qui định của cộng đồng

Tại xã cùng với qui định về công tác quản lí, bảo vệ rừng do UBND huyện quy định thì cộng đồng cũng đã có những qui định về quản lí, bảo vệ rừng theo các hương ước, tục lệ cấm chặt phá rừng, nghiêm cấm chăn thả tự do và đã

có chính sách giao đất, giao rừng cho từng hộ gia đình

Qua điều tra và phỏng vấn một số hộ gia đình về mức độ hiểu biết trường cho thấy với kỹ thuật canh tác lạc hậu (quảng canh), đang ngày càng làm cho đất

bị suy thoái và xói mòn Họ cũng đã nhận thấy đất ngày càng xấu đi, năng suất cây trồng giảm và họ đã khắc phục bằng cách bỏ hoang khu đất đó từ 2 - 3 năm mới quay lại làm Kiểu bỏ hoang này cho thấy một phần có thể cải tạo được đất

Ngày đăng: 01/04/2016, 10:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Hồ, Hoàng Xuân Cơ, Đánh giá các tác động môi trường, NXB trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các tác động môi trường
Nhà XB: NXB trường Đại học Quốc Gia Hà Nội
2. Trung tâm nghiên tài nguyên môi trường (năm 2004), Quản lí và phát triển Bền vững Tài nguyên Miền núi, NXB trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí và phát triển Bền vững Tài nguyên Miền núi
Nhà XB: NXB trường Đại học Quốc Gia Hà Nội
3. Trương văn Trưởng (nưm 2002), Nghiên cứu một số giải pháp quản lí rừng trên cơ sở cộng đồng ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Easô - Đak Lak ( Luận văn Thạc sĩ khoa học Lâm nghiệp) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp quản lí rừng trên cơ sở cộng đồng ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Easô - Đak
4. Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam - Trung tâm nghiên cứu Sinh Thái và Môi trường (năm 1998), Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lí tài nguyên thiên nhiên , NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lí tài nguyên thiên nhiên
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
5. Phạm Quang Vinh (chủ biên), Phạm Xuân Hoàn, Kiều Trí Đức (năm 2005), Nông lâm kết hợp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông lâm kết hợp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w