1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học và giá trị thực phẩm của sâu chít tại xã chiềng sinh huyện tuần giáo tỉnh điện biên

38 333 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 369,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự giúp đỡ của nhà trường, khoa, bộ môn em đã tiến hanh thực hiện khóa luận “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học và giá trị thực phẩm của Sâu Chít tại xã Chiềng Sinh - huyệ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình đào tạo khóa học năm 2011-2013 và đánh giá chất lượng học sinh trước khi ra trường, được sự đồng ý của khoa Nông lâm và trường cao đẳng sơn la Sau một thời gian nghiên cứu và học tập tại xã Chiềng Sinh - huyện Tuần Giáo - Tỉnh Điện Biên, để đào tạo chương trình của ủy ban

xã đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, ủy ban xã đã tạo điều kiện cho sinh viên khóa 48 thực tập tốt nghiệp Được sự giúp đỡ của nhà

trường, khoa, bộ môn em đã tiến hanh thực hiện khóa luận “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học và giá trị thực phẩm của Sâu Chít tại xã Chiềng Sinh - huyện Tuần Giáo - Tỉnh Điện Biên” Trong suốt quá trình thưc tập với

sự cố găng của bản thân và sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Th.s Hoàng Thị Hồng Nghiệp, bạn bè đồng nghiệp,các cán bộ, cô, chú, các bác tại xã Chiềng

Sinh Đến nay em đã hoàn thành tốt bài thực tập tốt nghiệp này

Do thời gian có hạn và năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế Do đó luận văn này không tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự góp

ý quý báu của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp cùng các bác, các chú, các chuyen môn để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Th.s Hoàng Thị Hồng Nghiệp người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn em, các thầy cô trong bộ môn, cùng các cán bộ công nâhn viên chức ở xã Chiềng Sinh đã giúp đỡ em hoàn thành bản khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn !

Điện Biên, ngày … tháng 4 năm 2013

HỌC SINH

Quàng Văn Xoan

Trang 2

Chương 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Sâu Chít là một trong những “đặc sản” thiên nhiên của một số vùng Tây Bắc như: Lạng Sơn, Điện Biên, Sơn La Người dân thu hoạch Sâu Chít vào tháng 11- 12 hằng năm, thường là ngâm rượu uống Công dụng của Sâu Chít được dân gian truyền miệng “phục tráng sức khỏe”

Sâu Chít là loài côn trùng sống trong thân cây chít Theo kinh nghiệm, để biết cây có Sâu người dân thu hái sẽ dựa chọn những cây có dấu hiệu bệnh, không thể ra hoa; Đó chính là những cây bi ấu trùng ký sinh Vào mùa thu hoạch Sâu Chít được bán khá phổ biến tại chợ vùng cao Nhưng ngọt chít có chiều dài khoảng 35- 40 cm Sâu được người dân bán hàng lấy ra bằng cách tách đôi ngọn chít Những con Sâu rói có màu trắng sữa, căng mỏng được thả trong chậu rượu nhặt, thứ rượu ấy giữ cho Sâu không bị biến chất

Theo Y học cổ truyền, Sâu Chít có vị cam, ôn, đại bổ phế thận và mệnh môn, chứa được bệnh phế hư (ho và thổ huyết) thận suy yếu di tinh, hoạt tinh Trong đề tài nghiên cứu và thành phần hóa học và ý nghĩa Y học nơi cho biết,đông trùng hạ thảo

Sâu Chít rất nhiều đạm, một lượng đạm cao cấp rất cần thiết cho cơ thể, điều này lý giải điều trị suy dinh dưỡng nâng cao thể trạng và sức đề kháng của

cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi sinh gây bệnh đặc biệt ở Sâu Chít hàm lượng acid béo không no đạt tới 58,3%.Đây là phần tạo ra chất hoạt tính, sinh học cần thiết cơ thể tự tổng hợp được Tuy nhiên Sâu này không có tác dụng điều trị như thuốc Hiệu quả điều trị có được là thông qua sự kích thích đắp ứng

hệ miễm dịch của cơ thể chống lại vi sinh vật có bệnh

Sâu Chít cũng được khẳng định là không độc với cơ thể, do vậy có thể sử dụng làm thực phẩm và dược liệu

Sâu Chít là thứ quý hiếm: Vậy qua tìm hiểu, em mới biết rằng Sâu Chít là một loại thực phẩm đầy bổ dưỡng, Sâu Chít đem băm nhỏ chộn với trứng rán ăn, giúp phụ nữ sâu khi sinh nở hoăc thân thể gầy yếu sẽ nhanh chóng phục hồi và

Trang 3

có nhiều sữa cho con bũ, Sâu Chít có thể phơi khô tán thành bột cho trẻ em uống

là vài thuốc vô cùng hiệu nghiệm trong việc chữa bệnh còi cọc

Núi rừng Tây Bắc có lắm đặc sản trong đó có Sâu Chít vang danh thiên hạ

từ lâu, và loại rượu nay đang được du khách trong và ngoài nước ưa thích Vậy

để biết được thành phần mật dộ,diễn biến,của chúng ra sao chúng tôi tiến hành

thực hiện chuyên đề “Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái và giá trị thực phẩm của sâu Chít tại xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, Tỉnh Điện Biên”

Chuyên đề này được tiến hành nhằm góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng và nghiên cứu côn trùng ở nước ta

Trang 4

Chương 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu côn trùng trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về côn trùng, trong đó phải kể đến những công trình của ldrovandi (1522 – 1605), giáo sư ở Gymnasium thuộc Bologna bắt đầu được công bố, trong đó gồm có cả côn trùng Trong đơn vị thống nhất có tính hệ thống thuật ngữ Insecta (côn trùng) bao gồm

cả bọ cạp, nhện, giun đốt, sao biển…Trong tác phẩm của ông, một khối lượng lớn những quan sát về cách sinh sống và hình dạng các nhóm động vật này được đánh giá đặc biệt có giá trị

Th.Moufer (1550 – 1604) dựa theo bản thảo của Conrad Gesner ( 1516 – 1565) đã biên soạn thành một tài liệu và công bố năm 1634 Hệ thống phân loại của Moufet cũng tương tự như của ldrovandi, chỉ có sự khác là sao biển đã không còn thuộc vào Insecta

Những kiến thức về giải phẫu côn trùng đáng kể nhất là của Marcello Malpighi (1628 – 1694) và Antony Leeuwenhoek( 1632 – 1723) Năm 1668 người Ý có tên là Francesco Reidi (1626 – 1697) đã phát hiện thấy hiện tượng

“phát sinh tự nhiên” của côn trùng Ông đã chứng minh được rằng ruồi không chỉ phát triển từ những con dòi đã tồn tại trong những miếng thịt thối rữa, mà từ những miếng thịt trước đó ruồi đã đẻ trứng vào Johannes Swammerdam (1637 – 1685) là người hoàn thiện các công trình nghiên cứu của Reidi và ông gọi đó là côn trùng ký sinh

Năm 1710, tài liệu “Historia Insectorum” của John Ray (1628 – 1704) đã được Hội Hoàng gia nh công bố urivillius (1909) đã coi Ray như là nhà côn trùng học đầu tiên và duy nhất trước Linne về hệ thống phân loại côn trùng Ray

đã đưa ra nhiều giống và mô tả nhiều loài nhưng còn rất khó hiểu, bởi thiếu một

hệ thống thuật ngữ Đến lúc này thì một loạt các nhóm động vật như nhện, mò, mạt, rận, chim, giun đất đã không còn xếp lẫn trong nhóm côn trùng

Carl von Linne (1707 – 1778) là người đã đặt nền móng cho một hệ thống phân loại hiện đại về côn trùng Ngoài những cống hiến to lớn cho thực vật và

Trang 5

động vật học, riêng với côn trùng ông đã phân chia chúng thành các bộ, giống,

và loài Bộ không cánh theo ông gồm cả nhện, giáp xác, và rết, nhưng ông cũng tách riêng giun và sao biển khỏi côn trùng

Theo Geiler (1967) thì J.T.C Ratzeburg (1801 – 1871) được coi là người đầu tiên xây dựng côn trùng học lâm nghiệp, tiếp theo là các công trình nghiên cứu về côn trùng nông nghiệp như công trình của H.Nordlinge (1818 – 1897), côn trùng y học, côn trùng ứng dụng của K.Eschrich (1871 -

1951)… Từ giai đoạn này các công trình nghiên cứu về côn trùng trên thế giới phát triển mạnh mẽ các “Hội côn trùng học” đã được thành lập ở các nước phát triển như Đức, Nhật, Mỹ, Canada, Pháp… với các nhà nghiên cứu côn trùng như Eckstein (1859 – 1939), Eidmann (1897 – 1959), Prell (1888 – 1962) Zwolfer (1897 – 1967), Schwerdtfeger (1905) sau đó lan rộng sang các nước trên toàn thế giới

2.2 Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam

Việt Nam, các nhà khoa học đã ghi nhận khoảng 50 loài côn trùng có thể phục vụ cho rất nhiều ngành, đặc biệt là trong ngành y học cổ truyền

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về côn trùng trong giai đoạn này còn ít và mang tính chất điều tra cơ bản và tập trung nhiều về cây nông nghiệp, công nghiệp, các nghiên cứu về côn trùng cây lâm nghiệp còn trống và chưa được quan tâm

Năm 1962 - 1972 nhiều nhà côn trùng học đã được đào tạo, bồi dưỡng trong và ngoài nước và đã có những công trình khoa học có giá trị về côn trùng học theo các hướng khác nhau, ví dụ về hệ thống phân loại học có công trình về mối của Nguyễn Đức Khảm (1971), Bọ rùa của Hoàng Đức Nhuận (1971), về Homoptera của Lê Đình Thái (1979), về ong ký sinh họ Scelionnidae của Lê Xuân Huệ (1984)…

Theo hướng sinh lý, sinh thái có các công trình của Phạm Bình Quyền (1969), Bùi Công Hiển (1973), Vũ Quang Côn (1976) Tài liệu côn trùng lâm nghiệp, Phạm Ngọc nh, (1967); Mối ở miền Bắc, Nguyễn Đức Khảm, (1973); Côn trùng lâm nghiệp Trần Công Loanh, (1989, 1992); Nấm mọt phá hoại gỗ

Trang 6

rừng Lê Văn Nông, (1962); Sinh thái côn trùng, Phạm Bình Quyền và Lê Đình Thái, (1972); Sâu hại rừng, Đặng Vũ Cẩn, (1973); Côn trùng rừng, Trần Công Loanh và Nguyễn Thế Nhã, (1997) Các công trình điều tra đánh giá sâu bệnh hại rừng trồng của Phạm Quang Thu và cộng sự, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam… Những công trình nghiên cứu này đã có những thành công nhất định, đặt nền móng cho các công trình nghiên cứu về côn trùng rừng ở Việt Nam sau này, tuy nhiên khối lượng cũng như số lượng các công trình nghiên cứu còn hạn chế, các công trình nghiên cứu một cách hệ thống về phân loại, thành phần, phân bố côn trùng mới chỉ tập trung được một số bộ họ như: mối, bọ rùa, ong

ký sinh…

Ngoài các báo cáo điều tra cơ bản côn trùng rừng trong các chu kỳ

theo dõi diễn biến tài nguyên côn trùng rừng theo các giai đoạn từ 1991 –

2005 còn có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng từ các giá trị của côn trùng, sâu bệnh rừng trong giai đoạn này

Kết quả điều tra đối với chuyên đề điều tra côn trùng rừng tự nhiên đã điều tra phát hiện được loài côn trùng rừng tự nhiên, phân bố của chúng theo các sinh cảnh rừng, đánh giá vai trò của các loài đồng thời đề xuất các biện pháp bảo vệ Tuy nhiên, kết quả điều tra mới chỉ dừng ở mức độ điều tra phát hiện thành phần côn trùng, và số lượng côn trùng phát hiện được còn tương đối ít

Đối với kết quả điều tra của chuyên đề: Điều tra sâu bệnh hại cây đã thu được những thành công nhất định trong việc đánh giá, phân tích tập tính sinh thái của các loài côn trùng gây hại (như giai đoạn gây hại, thời gian gây hại, chu

kỳ phát dịch, tuổi cây dễ bị hại, đánh giá tác hại của các trận dịch Tuy nhiên,

do nhiều nguyên nhân nên các đợt điều tra về sâu bệnh hại đối với loài cây chỉ được tiến hành trong khoảng thời gian ngắn nên kết quả chưa phản ánh hết được tất cả loài xuất hiện ở mỗi cây mà chỉ phản ánh tạm thời tại thời điểm điều tra

Đối với chuyên đề điều tra rừng tự nhiên giai đoạn này được xác định là tiếp tục điều tra phát hiện và thống kê thành phần loài côn trùng cũng như phân

bố của chúng theo sinh cảnh rừng, đánh giá vai trò của loài có ích đồng thời đề xuất biện pháp bảo vệ

Trang 7

Nhìn chung các nhóm côn trùng gây hại ở một số cây chủ yếu được nghiên cứu tương đối kỹ về tập tính, sinh thá, giá trị sử dụng, cũng đã được quan tâm nghiên cứu về tập tính sinh học và sinh thái của loài này, còn lại phần lớn các bộ côn trùng khác mới chỉ dừng ở việc điều tra phát hiện và chưa được quan

tâm nghiên cứu

Trang 8

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng: Đặc điểm hình thái, sinh thái và giá trị thực phẩm của Sâu

Chít

- Địa điểm nghiên cứu: Xã Chiềng Sinh - huyện Tuần Giáo - Tỉnh Điện

Biên

3.2 Mục tiêu nghiên cứu:

- Đánh giá được hiện trạng của Sâu Chít tại khu vực nghiên cứu

- Mô tả được những đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của Sâu Chít (vòng đời, tập tính, quan hệ của côn trùng với đặc điểm lâm phần/sinh cảnh)

- Thực hiện được việc nuôi Sâu Chít trong vườn với điều kiện gần giống với

điều kiện tự nhiên nhằm đề xuất biện pháp bảo và phát triển bền vững

3.3 Nội dung nghiên cứu

Nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài nghiên cứu 3 nội dung cơ bản sau:

- Nghiên cứu hiện trạng của Sâu Chít tại khu vực nghiên cứu

+ Mật độ đặc điểm phân bố của Sâu Chít

+ Hiện trạng khai thác, sử dụng; Kiến thức bản địa liên quan đến khai thác sử dụng

Xác định những đặc điểm sinh học, sinh thái cơ bản của Sâu Chít (vòng đời, tập tính, quan hệ của côn trùng với đặc điểm lâm phần / sinh cảnh)

3.4 phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung trên, chúng em tiến hành các bước sau:

Trang 9

3.4.2 Công tác ngoại nghiệp

Tại khu vực đều đi tra tiến hành các nội dungđiều tra sau đây:

3.4.2.1 Điều tra ô tiêu chuẩn (OTC)

- Lập OTC

Tiến hành lập 3 OTC đại diện cho khu vực điều tra, 1 ô ở chân đồi, ô ở sườn đồi và 1 ô ở đỉnh đồi Mỗi OTC có diện tích 1 000m2 (20m x 50m) Thực hiện việc điều tra tình hình Sâu Chít được sử dụng làm thực phẩm trong các OTC 10 ngày điều tra 1lần tùy theo két quả điều tra thực tế Các chỉ tiêu điều tra: Mật độ, tỷ lệ cây Sâu Chít

Mỗi OTC điều tra ít nhất 30 khóm; trong mỗi khóm chít điều tr 30 cây ngẫu nhiên

- Điều tra sâu nằm trong thân cây chít

Khi điều tra thân cây tiến hành đếm số cây bị sâu hại trong một cụm Điều tra khu vực khóm cây được tiến hành bằng cách dùng tay hay dao nhỏ bóc xem trong thân cây Phương pháp này điều tra tương đối đơn giản, nhanh nhưng phải được thực hiện cẩn thận vì đa số loài Sâu Chít rất mềm

Đánh giá mức độ bị hại và tình hình phân bố các cây bị hại thân và ngọn như sau:

Hại nhẹ Có một vài cây bị hại lẻ tẻ( < 10% số cây)

Hại vừa Những cây bị hại tập trung từ 3 – 10 cây( 10 – 30% số cây) Hại nặng Những cây bị hại tập trung trên 10 cây( >30% số cây)

- Điều tra Sâu trên ngọn cây

Loài Sâu Chít cư trú ở trên ngọn cây, ta tiến hành điều tra theo các Khóm được bố trí nằm trong OTC đã chọn để điều tra Dụng cụ cần thiết

để điều tra Sâu Chít là thước mét, dao hay dụng cụ chuyên dùng khác và bảng mấu.Sau khi xác định xong vị trí của các khóm cây, rồi lấy dao chặt cây có Sâu xuống Ta tiến hành điều tra tìm kiếm các con Sâu Chít,sâu đó lần lượt bóc cây thứ hai trong khóm cứ như vậy cho đến hết khóm không có Sâu nữa thì thôi.Các mẫu vật điều tra của từng khóm được ghi chép theo mẫu biểu 3.5

Trang 10

Mẫu biểu 3.5: Điêu tra Sâu trên ngọn cây

Người điều tra……… Ngày điều tra ……… thời tiết diều tra ………

STT Độ cao

Số lƣợng Sâu

Ghi chú

Điều tra Sâu trên ngọn cây cho ta biết được số lượng, mật độ, tỉ lệ có Sâu và độ phân bố của Sâu có trong cây

3.4.2.2 sử dụng phương pháp phỏng vấn linh hoạt

Sử dụng phương pháp thông qua phỏng vấn bán định hướng để thu thập thông tin có liên quan đến các vấn đề của Sâu Chít làm thực phẩm,phong tục tập quán,việc sử dụng Sâu Chít làm thực phẩm, sử dụng, bảo tồn, những thuận lợi

và khó khăn trong việc quản lý sử dụng Saau Chít tại khu vực nghiên cứu.nội dung phỏng vấn được thực hiện theo phiếu

- Lựa chọn cá nhân thông tin lựa chọn về điều tra gồm các bản: bản

hiệu, bản Dửn, bản phang, bản Kép,tổng số hộ phỏng vấn là 20 hộ; 5 phiếu phỏng vấn/bản

- Sử dụng câu hỏi mở để đạt được giải thích và quan điểm của Nông dân

- Ghi chép chi tiết nội dung các cuộc phỏng vấn lên sổ theo dõi công việc hiện trường

- Kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo

3.4.3 Công tác nội nghiệp

Công tác nội nghiệp gồm có:

- Xử lý mẫu côn trùng

- Xử lý số liệu điều tra

- Phân tích SWOT

Trang 11

3.4.3.1 Xử lý mẫu côn trùng

Trong quá trình điều tra côn trùng cần thu thập đầy đủ mẫu vật phục vụ cho phân loại, mô tả, chụp ảnh Mẫu vật thu được có thể xử lý theo hai cách cơ bản là: Mẫu ngâm và mẫu khô

- Xử lý mẫu ngâm

Côn trùn ngâm làm mẫu đều phải ngâm trong dung dịch cồn từ 700

có thể pha thêm ít Formaldehyde.Dụng cụ ngâm có thể ngâm bằng lọ thuỷ tinh hoặc bình có nắp đậy kín Nếu thiếu dụng cụ ngâm có thể ngâm chung một số loài có cùng đặc điểm nhưng sau đó phải nhanh chóng tách riêng ra và có ghi chép cụ thể Sau khi ngâm khoảng 7÷10 ngày có thể vớt mẫu ra chỉnh tư thế như phương pháp xử lý mẫu khô Mỗi dụng cụ chứa mẫu ngâm phải có nhãn trên đó ghi lại những thông tin liên quan đến loài bên trong

- Xử lý mẫu khô

Mọi loài côn trùng đều có thể xử lý thành mẫu khô Mẫu khô gồm hai loài chính là mẫu cắm kim và mẫu bông Mẫu cắm kim là mẫu quan trọng nhất Sau khi thu được côn trùng có thể xử lý ngay thành mẫu khô hay ngâm trong Formaldehyde hoặc cồn khoảng 7÷10 ngày rồi mới chuyển thành mẫu khô Mẫu khô thường được dùng để phân loại, nghiên cứu các đặc điểm hình thái của sâu trưởng thành Các bước xử lý mẫu khô như sau:

+ Thu bắt sâu; Giết chết sâu; Cắm kim; Chỉnh hình dáng (tư thế thân thể); Làm khô mẫu vật; Vào hộp, gắn nhãn

Mẫu bông cũng được để trong hộp bằng gỗ hay bằng nhôm với kích thước 35x25x5cm, có một mặt trên bằng kính Mẫu vật phải được để ngay ngắn và có gắn nhãn như đối với mẫu cắm kim

3.4.3.2 Xử lý số liệu điều tra

Kết quả cần có của điều tra sự biến động của côn trùng trên cây chít tại Chiềng Sinh là:

+ Xác định thành phần loài

+ Tỷ lệ cây có sâu (chỉ số P%)

+ Mật độ sâu

Trang 12

Phương pháp chỉnh lý, tính toán số liệu cụ thể như sau:

- Xác định thành phần loài: Để xác định tên loài chúng em căn cứ vào đặc điểm của mẫu vật so với mẫu chuẩn của bộ môn Côn trùng rừng

- Xác định tỷ lệ sâu ta dùng công thức:P% n

N

Trong đó: P% = Tỷ lệ cây có sâu

n = Số đơn vị điều tra có sâu

N = Tổng số đơn vị điều tra

Tỷ lệ có sâu (P%) thể hiện đặc điểm phân bố hay mức độ bắt gặp sâu trong khu vực điều tra

3.4.3.3.phân tích SWOT

Chiềng Sinh là vùng đất có nhiệt độ trung bình rất thuận lợi cho lòai Sâu Chít phát triển, người dân thường thu hoạch Sâu Chít vào thang 11- 12 hàng năm

Điểm mạnh của loài Sâu Chít này là chúng ít bị bệnh tật, và chỉ

ăn một loai thức ăn đó là ngọt cây chít nơi chúng cư trú Và khi chúng đã vào cây nào thì ăn cây đó chúng không xâm chiếm lẫn nhau từ cây này sang cây khác,từ Sâu non mỗi một con chỉ ở trong một ông chít cho đến khi trưởng thành

và vào nhộng khi ra bướm mới tách khỏi ống chít

Điểm yếu của loài loài Sâu Chít rất mềm nên khi thu bắt chúng cần phải cẩn thận, khéo đéo, nhẹ nhàng, nếu ta không nhẹ nhàng sẽ làm tổn thương và chết Sâu

Nếu muốn nuôi Sâu Chít cần có những kiên thức và nhiều thời gian, và vốn đầu tư Hiện tại do cơ sở vật chất của xã nhà chưa điều kiện kĩ thuật nhân nuôi nên găp rất nhiều khó khăn khi nghiên cứu

Trang 13

Chương 4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA CHIỀNG SINH 4.1 Điều kiện từ nhiên

4.1.1 Vị trí địa lý

- vị trí địa lý

Chiềng Sinh là một vùng đất thấp của Tuần Giáo và co hai bản vùng cao xen kẽ cách trung tâm huyện Tuần Giáo 10km và cách trung tâm Tỉnh Điện Biên 70km Xã Chiềng Sinh nằm ở hướng Nam của huyện Tuần Giáo có vị trí địa lý như sau: Phía Bắc giáp với Nà Sáy huyện Tuần Giáo; Phía Nam giáp với

xã Búng Lao huyện Mường Ảng; Phía Đông giáp với xã Tênh Phông huyện Tuần Giáo; Phía Tây giáp với xã Ảng tở huyện Mường Ảng

Đặc biệt xã Chiềng Sinh nằm trung tâm của toàn xã, với vị trí địa lý trên rất thận lợi cho việc đi lại cho bà con và rất quan trọng vì xã có quốc độ 279 chạy qua trung tâm xã kéo dài 13km Đó là điều kiện thuận lợi cho việc đi lại tham ra hoạt động công nghệ thông tin

Ngoài ra xã còn có các tuyến đường giao thông lên xã dài 9km, có mặt đường rộng 3m,các đường lên thôn, lên bản dài 11,8km, mặt đường rộng 2,5m

do xây dựng Xã có diện tích đất chưa sử dụng tương đối với diện tích 2826,99ha

Vì đất đồi núi quá dốc không khai thác được,vùng đất nông nghiệp cũng tương đối lớn 1944,6ha và cây lâm nghiệp xanh tốt Xã Chiềng Sinh cũng chịu ảnh hưởng điều kiện khí hậu thời tiêt của Miền Bắc nước ta Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều, chia làm hai mùa: Mùa khô và mùa mưa

+ Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,00

C + Độ ẩm trung bình là 76%,hàng năm co gió lào nóng khô thổi mạnh vào thang 3 và thang 4 ảnh hưởng đến việc sản xuất Nông – Lâm nghiệp

4.1.2 Địa hình

Chiềng Sinh là xã vùng thấp của huyện Tuần Giáo,xã có địa hình rất phức tạp, độ dốc lớn, phía Đông giáp với xã Tênh Phông và xã Búng Lao có dãy núi dựng đứng khoảng 1.500m: Phía Tây gồm các dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc

Trang 14

với độ cao 1.112m Hai bên có hai dãy núi dài chạy qua khu vực xã còn được tạo thành hình lòng mương

4.1.3.Khí hậu thủy văn

khu vực xã Chiềng Sinh

Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa tập trung nhiều vao tháng 7,8,9 Một số nơi co địa hình nghiêng dốc do vậy vào các tháng này thường gây

ra lũ lụt, đất đai bị rửa trôi mạnh,bặc màu nhanh

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm saucộng với gió Tây khô nóng làm cho mùa này thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hương lớn đến quá trình phát triển kinh tế, đặc biệt sản xuất Nông – Lâm nghiệp gặp nhiều khó khăn

- Nhiệt độ không khí:

+ Trung bình: 220C + Cao nhất: 380

C + Thấp nhất: 0,50

Trang 15

b Thủy văn:

Là xã thuộc vùng núi Tây Bắc có một hệ thống sông, suối khá phong phú, song phân bố không đều

- Vùng địa hình bậc thang dốc đứng mật độ 0,72km/km2 phần lớn là các nhánh suối nhỏ và dốc

- Vùng địa hình bát úp, thấp thoải mật độ 0,52km/km2, bao gồm có … hệ thống sông suối chính …… và một số suối khá

Nhìn chung lòng suối khe lạch diện tích hẹp, độ dốc lớn,mực nước so với

về mặt diện tích đất canh tác thấp hơn 10 - 15m gây nhiều khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

4.2 Tình hình kinh tế xã hội

4.2.1 thục trạng phát triển kinh tế

Chiềng Sinh là một xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên nền kinh tế chưa phát triển, mang tính tự cung tự cấp là chính sống chủ yếu bằng nghành nông nghiệp Những năm gần đây cơ sở hạ tầng của xã cũng được nâng lên, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đỏi mới hiện nay Địa hình của xã thuận lợi cho việc phát triển một nghành khinh tế nông – Lâm nghiệp, xong tiềm năng đất đai trên địa bàn xã chưa được khai thác hiệu quả, việc luân canh đất nương rẫy còn diễn ra chưa kiểm soát được Do đó đề ra các giải pháp thúc đẩy

sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng tỉ lệ che phủ rưng trên địa bàn toàn xã là một yêu cầu cấp thiết hiện nay

Những năm vừa qua kinh tế - xã hội của xã có những bước phát triển khá toàn diện, đạt được nhiều thành tựu to lớn: Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân đã được nâng lên đáng kể,cơ sở hạ tầng tương đối phát triển như giao thông, thủy lợi, trường học bệnh viện, trạm xã và các công trình văn hóa phúc lợi, sức khỏe và và trình độ dân trí không ngừng được cải thiện

Cơ cấu kinh tế của xã Chiềng Sinh trong giai đoạn 2003 – 2012 đã có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng Nông – Lâm nghiệp tăng tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ Gía trị sản xuất công nghiệp giảm từ 39.59% xuống còn 35.76%, dịch vụ giảm từ 1.05%xuống còn o.84%

Trang 16

4.2.2 Thực trạng phát triển ngành kinh tế

a) Khu vực kinh tế nông nghiệp

Ngành nông nghiệp của xã Chiềng Sinh luôn giữ vị trí quan trọng hàng

đầu trong cơ cấu kinh tế là nguồn sống cơ bản của cộng đồng dân cư Những

năm gần đây ngành nông nghiệp phát triển tương đối toàn diện theo hướng sản

xuất hàng hóa.Cơ sở vật chất phục vụ nông nghiệp ngày càng được tăng cường,

tiến bộ về khoa học kỹ thuật,công nghệ được đưa vào ứng dụng sản xuất Đặc

biệt là xã có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tích cực đưa

hiệu quả kinh tế tăng cao Năng xuất lúa bình quân 28,37 tạ/ha, tổng sản lưọng

lưong thực có hạt năm 2012 đạt 39.302 tấn

* Về trồng trọt

Những năm gần đây, tuy xã gặp nhiều khó khăn về thời tiết, Sâu bệnh

hại,thị trường tiêu thụ,song với việc tích cực chuyển đổi cơ cấu giống lúa,

ngô theo hướng tiến bộ cùng với việc áp dungj đồng bộ các thành tựu

khoa học kỹ thuật hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng và thực hiện tốt công tác

khuyến nông nên năng xuất cây trồng tăng nhanh Diện tích các loại cây trồng

tăng nhanh chóng trong giai đoạn này

* Lâm nghiệp

Trong những năm qua công tác trồng rừng,quản lý, bảo vệ, phòng chống

cháy rừng có nhiều tiến bộ Diện tích rừng trồng được tăng lên theo từng năm

Trong Năm 2012, xã đã tổ chức trồng rừng tập trung được 374 ha ,trồng cây,

phân tán 16 nghìn cây, chăm sóc rừng đạt 785 ha và tu bổ rừng 20.353 ha Nâng

độ che phủ rừng từ 5,98% năm(2003) lên 42,5% năm(2012)

b) Khu vực kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp

Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn xã được duy trì ở mức

tăng trưởng khá Gía trị sản xuất công nghiệp được tăng lên đàn theo từng năm,

từ 137992.35 triệu đồng năm 2003 lên 174415.32 triệu đồng năm 2012 Tuy

nhiến so với sự pháp triển của các ngành thì tỷ trọng ngành công nghiệp trong

toàn bộ nền kinh tế lại bị giảm từ 39.59% năm 2005 xuống còn 35.76% năm

2010

Trang 17

c) Khu vực kinh tế thương mại - dịch vụ

Những năm qua các loại hình dịch vụ của xã phát triển mạnh.Kinh tế đối ngoại được mở rộng, đạt kết quả, các trung tâm xúc tiến thương mại đạt chất lượng cao được xây dựng tại thị trấn và các khu đông dân cư Bên cạnh đó hệ thống dịch vụ cho sản xuất cũng được mở rộng, đời sống trên địa bàn nông thôn

và các trung tâm cụm bản được nâng lên, vừa tạo việc làm vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Xã đã chủ động và tích cực thâm nhập thị trường trong nước, thị trường xuất khẩu, hội nhập với nền kinh tế thị trường của cả nước

Ngoài việc triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả các chương trình dự án sản xuất kinh doanh, các hoạt động dịch vụ quá trình thi công xây dựng thủy lợi,

đê điều Xã còn đầu tư xây dựng và hình thành hệ thống dịch vụ cho sản xuất, dịch vụ cung ứng vật tư hàng hóa, bưư chính viễn thông, văn hóa thể thao phục sản xuất và đời sống của nhân dân khu vực xây dựng trụ sở mới Dịch vụ thương mại phát triển mạnh, đa dạng các loại hình dịch vụ và hàng hóa, tổng mức lưu chuyển hàng hóa năm 2010 đạt 1.100 tỷ đồng

Toàn xã có 4,500 hộ và cơ sở kinh doanh thương nghiệp, nhà hàng, giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình quân 17,2%/năm

4.2.3 Tình hình phát triển dân cư, lao động và việc làm

(Nguồn: Niên gián thống kê xã Chiềng Sinh)

Năm 2012 dân số toàn xã có 138.302 người, trong đó xã vùng I có 45.534người; xã vùng II có 13.226 người; xã vùng III có 19.542 người Mật độ

Trang 18

trung bình 97 người người/km2, đơn vị hành chính có mật độ cao nhất là bản

Vánh 1.124 người/km2, thấp nhất là Chiềng n 29 người/km2 Tỷ lệ tăng dân

số tự nhiên là 1.52%

Dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền xã và các bản, phong

trào thực hiện kế hoạch hóa gia đình được triển khai tích cực đạt kết quả tốt

Mặc dù mức sinh giảm nhanh, nhưng kết chưa thật sự vững chắc, tỷ lệ tăng dân

số còn cao,cơ cấu dân số trẻ còn thấp Đây là việc thách thức lớn

Đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người trong sự phát

triển bền vững Tổng số trong toàn xã là:1.808 hộ, số nhân khẩu là:9.661 người,

trong đó Nam chiếm 2.811 người, Nữ chiếm 4.821 người, số người trong độ tuổi

lao động 5.632 người: Trong đó Nam chiếm 2.811 người, Nữ chiếm 2.821

người, cộng đồng các dân tộc gồm 3 dân tộc chính đoàn kết, gắn bó chung sống

từ lâu đời Trong đó dân tộc Thái chiếm 91,75%, dân tộc Kinh chiếm 2,29%,

dân tộc H Mông chiếm 5,96%, mỗi dân tộc có một nét đặc trưng riêng trong đời

sống văn hóa truyền thống, hòa nhập làm phong phú, đa dạng bản sắc dân tộc

4.2.4 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội

Giao thông là một yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội, đóng

vai trò quan trọng trong việc đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa và tốc độ phát triển

kinh tế xã hội của địa phương Chiềng Sinh là một xã miên núi do địa hình chia

cắt mạnh nên việc xây dưng mạng lưới giao thông của xã còn gặp nhiều khó

khăn

Tính đến đầu năm 2012, toàn xã có gần 20km giao thông đường bộ( trong

đó dường ô tô đi được là 13km) bao gồm các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ,

đường cấp huyện, đường lên xã, đường đô thị và dân sinh Trong những năm tới,

để phục vụ cho việc phát triển khu công nghiệp và việc mở rộng các điểm dân

cư, diện tích đất dành cho giao thông sẽ cần phải tăng lên

4.2.5 Thủy lợi

Thủy lợi là một công tác rất quan trọng trong quá trình khai thác, cải tạo

đất đai của xã Chiềng Sinh Để đảm bảo nguồn nước phục vụ cho sản xuất, xã

đã chỉ đạo các xã phát động phong trào toàn dân làm thủy lợi, nạo vét kênh

Trang 19

mương, tu sửa phai tạm Qua nhiều năm đến nay xã đã đầu tư xây dựng hệ thống các công trình thủy lợi, bao gồm: 2 hồ chứa kiên cố, 4 đập xây dựng,12 đập rọ thép, … 9km kênh mương chính Nhìn chung cơ bản đảm bảo đủ nước tưới cho diện tích gieo trồng Ngoài ra các công trình còn góp phần tưới ẩm cho hàng trăm ha cây công nghiệp, cây ăn quả, kết hợp nuôi trồng thủy sản, cấp nước cho công nghiệp ở một số địa bàn trọng điểm quốc lộ 279 và cấp nước sinh hoạt cho 20% dân cư khu vực nông thôn, nước cho chăn nuôi gia xúc

Các công trình thủy lợi góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua khai hoang mở rộng diện tích,thâm canh tăng vụ, đồng thời góp phần giải quyết nước sinh hoạt cho đồng bao vùng cao,vùng sâu, vùng thiếu nước nghiêm trọng

Hiện tại trên địa bàn toàn xã có 12.41 ha đất thủy lợi Trong nhũng năm tới, diện tích đât này cần được mở rộng để phục vụ cho việc cung cấp nước sinh hoạt và cho sản xuất

Ngày đăng: 01/04/2016, 10:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.5. Dân số xã Chiềng Sinh qua các năm từ (2007 – 2012) - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học và giá trị thực phẩm của sâu chít tại xã chiềng sinh   huyện tuần giáo   tỉnh điện biên
Bảng 4.5. Dân số xã Chiềng Sinh qua các năm từ (2007 – 2012) (Trang 17)
Bảng 5.4. Thống kê trữ lượng Sâu sau khi phỏng vấn tại địa phương. - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học và giá trị thực phẩm của sâu chít tại xã chiềng sinh   huyện tuần giáo   tỉnh điện biên
Bảng 5.4. Thống kê trữ lượng Sâu sau khi phỏng vấn tại địa phương (Trang 29)
Hình  1. Dạng sâu non  trong  ống chít  Hình  2. Dạng sâu non  mơi  bóc ra - Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học và giá trị thực phẩm của sâu chít tại xã chiềng sinh   huyện tuần giáo   tỉnh điện biên
nh 1. Dạng sâu non trong ống chít Hình 2. Dạng sâu non mơi bóc ra (Trang 37)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w