Trong các loại nấm ăn được trồng phổ biến ở Việt Nam thì nấm rơm không chỉ là loại thức ăn ngon giàu dinh dưỡng mà còn có giá trị rất lớn về mặt dược liệu.. Kỹ thuật nuôi trồng nấm rơm
Trang 1Chuyên ngành KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Sơn La, tháng 04 năm 2013
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Thị Ngọc Ánh
Sinh viên thực tập : Lò Văn Minh
Trang 21
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 4
DANH MỤC CÁC CHŨ VIẾT TẮT 5
PHẦN I MỞ ĐẦU 6
1.1 Đặt vấn đề 6
1.2 Mục đích và yêu cầu 7
1.2.1 Mục đích của đề tài 7
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 8
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 9
2.1 Giá trị của nấm ăn và dược liệu 9
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng 9
2.1.2 Giá trị dược liệu của nấm ăn 9
2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới 10
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước 13
2.4 Tình hình sản xuất nấm ở Sơn La 16
2.5 Đặc điểm của huyện Quỳnh Nhai 19
2.6 Hiệu quả kinh tế của việc trồng Nấm 20
PHẦN III NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22 3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng và vật liệu .22
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu .22
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.4 Quy trình trồng nấm rơm 23
3.4.1 Nguyên liệu và xử lí nguyên liệu 23
3.4.2 Meo giống và phương pháp cấy .24
3.4.3 Ủ tơ .24
3.4.4 Chăm sóc ở nhà trồng 24
Trang 32
3.4.5 Phương pháp phòng và chống nhiễm bệnh .25
3.4.6 Thu hoạch .26
3.5 Các chỉ tiêu tiêu theo dõi 27
3.5.1 Thời gian sinh trưởng phát triển của quả thể nấm (ngày) .27
3.5.1.1 Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (cụm) 27
3.5.1.2 Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất .27
3.5.2 Sâu bệnh chính 27
3.5.3 Chỉ tiêu sinh trưởng 29
3.5.4 Chỉ tiêu phát triển 30
3.5.5 Chỉ tiêu về chất lượng .30
3.5.6 Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất .30
3.5.7 Bệnh hại chính .31
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 31
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
4.1 Đặc điểm hình thái của các giống tham gia thí nghiệm 32
4.2 Thời gian sinh trưởng của nấm rơm 32
4.2.1 Thời gian từ khi cấy đến khi mọc sợi 33
4.2.2 Thời gian từ khi cấy đến khi ăn trắng mô 34
4.2.3 Thời gian từ khi rạch mô đến khi nấm mọc 34
4.2.4 Thời gian từ khi nấm mọc đến khi nấm ra rộ .34
4.3 Sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của nấm rơm trên các công thức trong thí nghiệm 34
4.3.1 Chiều dài cuống nấm .35
4.3.2 Đường kính gốc nấm .36
4.3.3 Đường kính trung bình của mũ nấm .38
4.3.4 Số nhánh trên cụm 40
4.3.5 Số cụm trên mô .41
4.3.6 trọng lượng trung bình nhánh 43
4.3.7 Khối lượng trung bình của một cụm nấm 45
4.3.8 Năng suất tổng thể của nấm rơm .46
Trang 43
4.4 Tỷ lệ nhiễm sinh vật hại 47
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .50
5.1 Kết luận 50
5.2 Kiến nghị 51
PHỤ LỤC 1 CÁC HÌNH ẢNH NUÔI TRỒNG NẤM 52
PHỤ LỤC 2 KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU THÍ NGHIỆM 55
PHẦN VI TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 54
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này, trong thời gian thực tập ngoài sự
cố gắng của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều người
Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn cô Vũ Thị Ngọc Ánh, đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo và giúp cho tôi hoàn thành báo cáo này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn của mình tới các thầy cô giáo trong khoa Nông
- Lâm Trường Cao Đẳng Sơn La, đã giúp đỡ cho tôi để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình và bạn bè trong lớp
đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian hoàn thành báo cáo
Sơn La, ngày 30 tháng 4 năm 2013
Người viết báo cáo
Lò Văn Minh
Trang 76
PHẦN I MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á với kiểu khí hậu nhiệt đới, thời tiết ở các vùng khác nhau Dân số có tới 80% sống bằng nghề nông nghiệp với nghề truyền thống là trồng lúa nước lâu đời kết hợp với các cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày như: ngô, lạc, bông,…Vì vậy nguồn phế phẩm giàu chất xơ rất phong phú như: rơm rạ, cỏ khô, thân cây ngô, dây lạc, lõi ngô, mùn cưa, bông phế thải,… Đây đều là những nguyên liệu rất tốt cho trồng nấm
Ngành sản xuất nấm ăn đã được hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay Ngày nay giá trị của các loại nấm ăn càng được tăng lên nhờ những
chứng minh khoa học về giá trị dinh dưỡng và giá trị về mặt y học của chúng
Trong các loại nấm ăn được trồng phổ biến ở Việt Nam thì nấm rơm không chỉ
là loại thức ăn ngon giàu dinh dưỡng mà còn có giá trị rất lớn về mặt dược liệu
Kỹ thuật nuôi trồng nấm rơm khá đơn giản, không cần thiết bị gì đặc biệt, đầu
tư thấp, nguồn nguyên liệu dồi dào từ tất cả các phế phụ phẩm của ngành nông
nghiệp, lâm nghiệp giàu Xellulose đều có thể trồng được nấm rơm Đồng thời trồng
nấm rơm có vòng quay nhanh, chu kỳ sống của nấm rơm khá ngắn, khoảng 30 - 35 ngày, khi gặp thiên dịch hoặc biến động thị trường có thể tạm ngừng sản xuất Mặt
khác với một diện tích khá nhỏ cũng có thể trồng được nấm rơm Đây là một thế mạnh mà không một ngành nghề nào trong nông nghiệp có thể sánh được
Do vậy mà phát triển nghề trồng nấm rơm đã làm tăng thu nhập cho xã
hội, giải quyết nguồn thực phẩm đang còn rất thiếu ở nước ta Mặt khác nó còn góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết tỷ lệ thấp nghiệp cho nhân dân, từng bước xoá đói giảm nghèo ở vùng nông thôn Hơn nữa nuôi trồng nấm rơm còn là
biện pháp xử lý có hiệu quả nguồn phế thải nông nghiệp, bảo vệ môi trường và ngoài ra phế phẩm của việc nuôi trồng nấm rơm có thể sử dụng trong chăn nuôi
và trồng trọt
Sơn La là vựa ngô lớn của nước ta, sau mỗi vụ thu hoạch ngô lượng cơ chất như lõi ngô dư thừa khá lớn, người dân thường sử dụng làm chất đốt, làm
Trang 87
thức ăn gia súc, làm tàn dư che phủ đất chưa sử dụng được tối đa sản phẩm từ nông nghiệp Mặt khác việc trồng thử nghiệm nấm Rơm trên các nguyên liệu như cơ chất lõi ngô, rơm rạ, bông phế thải, mạt cưa cho năng suất cao và thời gian thu hoạch khá lâu Chính vì vậy, để mở ra hướng đi mới trong nông nghiệp
và tăng thêm thu nhập cho người dân tỉnh Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc nói chung thì việc nuôi trồng nấm ăn phải được chú trọng đưa vào sản xuất phổ biến và chuyên sâu hơn bởi hiện nay sản phẩm nấm ăn vẫn chưa đủ cung cấp cho thị trường nội địa, giá thành khá cao và chưa ổn định
Trong sản xuất nấm rơm thì giống nấm là một yếu tố rất quan trọng góp
phần vào việc quyết định đến năng suất, chất lượng của nấm, giống nấm tốt
không những giúp nấm mọc nhanh, mọc khoẻ mạnh trên nguyên liệu nuôi trồng
mà còn chống chịu được sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh và đặc biệt là phải cho năng suất cao, giá trị thương phẩm tốt Nếu chất lượng giống nấm không đảm
bảo thì năng suất nuôi trồng sẽ giảm, thậm chí mất trắng
Hiện nay, có quá nhiều cơ sở đang sản xuất và bán giống nấm ra thị
trường, người sản xuất nấm đang gặp phải khó khăn trong việc lựa chọn giống
nấm tốt, có năng suất ổn định Mặt khác do nấm rơm có sự sinh trưởng phát
triển và thoái hoá rất nhanh Vì thế mà hàng năm cần phải có sự nghiên cứu, so
sánh và chọn tạo ra giống nấm rơm tối ưu thích ứng với điều kiện khí hậu của
từng vùng để đưa vào sản xuất góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hạ
giá thành sản phẩm
Vì tính quan trọng đó mà tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của nguyên liệu rơm có bổ sung cơ chất đến sự sinh trưởng và phát triển của một số giống nấm Rơm tại xã Mường Giôn huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích của đề tài
“Thông qua sự nghiên cứu sẽ đánh giá và chọn ra được giống nấm rơm có năng suất cao, ổn định, đáp ứng nhu cầu của người sản xuất và được thị trường chấp nhận”
Trang 98
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Tiến hành so sánh tốc độ phát triển của hệ sợi ở từng giống
- So sánh năng suất, chất lƣợng của các giống
- So sánh tỷ lệ nhiễm bệnh của các giống
Trang 109
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Giá trị của nấm ăn và dược liệu
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng
Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị thực phẩm cao Nấm ăn có đặc điểm là chứa nhiều protein, ít mỡ, ít calo Ngoài ra, nấm còn chứa lượng canxi, sắt phong phú, còn có các chất có ích cho cơ thể con người như đa đường, khoáng và sinh tố
Sau khi được chiếu ánh mặt trời, tất cả những chất đặc biệt trong nấm đều chuyển thành Vitamin D Sau khi được cơ thể hấp thụ, chất này sẽ có khả năng tăng sức miễn dịch
Nấm còn kích thích cơ thể sản sinh ra nhiều interferon, giúp cơ thể tiêu diệt virus gây bệnh Bởi vậy, nấm sẽ rất có lợi khi chúng ta bị cảm cúm Người ta coi protein của nấm ăn, của thực vật, của động vật là nguồn đạm quan trọng nhất của con người sau này
Theo phân tích của các nhà khoa học trong 112 loại nấm ăn có hàm lượng bình quân; Protein 25%; Lipit 8%; Gluxit 60% (trong đó có 52% đường, xơ 8%) chất cho 7%
2.1.2 Giá trị dược liệu của nấm ăn
Trên thế giới có gần 300 chủng nấm có giá trị dược liệu, nhưng hiện nay con người mới thực sự sử dụng làm thuốc chỉ 20 – 30 chủng nấm Nấm được sử dụng làm thuốc theo phong tục dân gian và các bài thuốc đông y Trung Quốc là nước dùng nấm làm thuốc nhiều nhất và gồm nhiều loại nấm như: Linh chi, Trư linh, Lôi hoàn, Mã bột, Đông trùng hạ thảo,…Ngoài ra với hướng nghiên cứu thực phẩm trị liệu đề phòng và điều trị bệnh thì đa số các loại nấm ăn khác đều ít nhiều mang lại tác dụng dược liệu của nấm
Nấm có tác dụng chống khối u Ở Nhật Bản người ta đã chiết xuất được chất đa đường từ bào tử nấm để chống khối u, khả năng chống khối u trên có thể đạt 80 - 90 % có ở 8 loại nấm Chất đa đường Lentinan ở quả thể nấm hương có tác dụng chống ung thư rất mạnh Nấm rơm, nấm kim châm có chứa các chất có tác dụng ức chế quá trình hoạt động của tế bào u,… Hiện nay các chất đa đường
Trang 1110
của nấm Linh chi, Tru linh, nấm hương đã được chiết xuất và chế thành thuốc sử dụng trên lâm sàng tại nhiều bệnh viện để phòng và điều trị bệnh ung thư Tăng cường khả năng miễn dịch của tế bào: các chất đa đường chiết xuất từ nấm có tác dụng khôi phục và tăng khả năng hoạt động của tế bào và làm tăng cường sức miễn dịch của cơ thể Một số nấm có tác dụng phòng trị bệnh tim mạch như: điều tiết chức năng của tim khi sử dụng nấm Mộc nhĩ trắng, Mộc nhĩ đen có tác dụng chữa bệnh đau nhói đau thắt tim, dùng lâu sẽ khỏi bệnh Linh chi và nấm hương có tác dụng hạ hàm lượng mỡ và cholesterol trong máu… Ngoài ra còn
có tác dụng làm giảm và điều hòa huyết áp Không chỉ vậy, nấm ăn còn có tác dụng bổ gan bổ dạ dày, tác dụng hạ đường huyết , tác dụng chống phóng xạ khử gốc hữu cơ tự do và chống lão hóa
2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm trên thế giới
Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm nay Hiện nay người ta đã biết được có khoảng 2000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loài nấm ăn ngon và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo (UNESSCO – 2004) Việc nghiên cứu sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ Sản xuất nấm hàng năm trên thế giới vượt mốc trên 5 triệu tấn (theo tổ chức Nông Lương thế giới FAO - 2006) Các nước sản xuất khẩu nấm hàng đầu trên thế giới bao gồm:Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan, Hàn Quốc, Ba Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha
Ở Châu Âu, Bắc Mỹ trồng nấm đã trở thành một nền công nghiệp lớn được cơ giới hóa toàn bộ nên năng xuất và sản lượng rất cao
Theo thống kê năm 1990 tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới đạt 3.763.000 tấn, trong đó nấm mỡ là 1.424.000 tấn, nấm hương là 393.000 tấn Năm 1994, tổng sản lượng nấm trên thế giới lên tới 4.909.000 tấn, trong đó nấm
mỡ 1.846.000 tấn (37,6 %), nấm hương là 826.200 tấn (16,8%), nấm rơm là 798.800 tấn (6,1%), nấm kim vàng là 229.800 tấn (4,7%), mộc nhĩ trắng 156.200 tấn (3,2%), nấm chân cơ 54.800 tấn (1,1%), nấm trơn 27.000 tấn (0,6%), nấm hoa cây xám 14.200 tấn (0,3 %), các loại nấm ăn khác 238.800 tấn
Trang 1211
(4,8 %) So sánh giữa năm 1994/1990 thì nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, nấm kim vàng, nấm hoa cây xám đều tăng mạnh Các nước sản xuất nấm chủ yếu năm 1994 là Trung Quốc có 2.850.000 tấn ( chiếm 53,79 % tổng sản lượng), Hoa Kỳ 393.400 tấn (chiếm 7,61 %), Nhật Bản 360.100 tấn ( chiếm 7,34 %), Pháp 185.000 tấn, Indonesia 118.800 tấn…Sản lượng nấm các nước chủ yếu là nấm mỡ, còn nấm hương thi do Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc sản xuất là chủ yếu
Nhiều nước ở Châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, năng xuất không cao, nhưng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên tổng sản lượng rất lớn chiếm 70 % tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới Các nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan áp dụng các kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hóa trong nghề nấm đã có mức tăng trưởng hàng trăm lần trong vòng 10 năm Nhật Bản là nước có nghề trồng nấm truyền thống
là nấm hương – Donco(Lentinula edodes) Mỗi năm đạt gần một triệu tấn Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum) mỗi năm xuất khẩu thu
về hàng trăm triệu USD Ở Trung Quốc từ năm 1960 bắt đầu trồng nấm có áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật nên tăng năng suất lên gấp 4 – 5 lần và sản lượng tăng lên vài trục lần so với các năm trước
Tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60% tổng sản lượng nấm
ăn trên thế giới gồm nhiều loại nấm như: nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, mộc nhĩ,…Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nước phát triển thu về nguồn ngoại tệ hàng tỷ đô la Hiện nay Trung Quốc đã dùng kỹ thuật
“ khuẩn thải học” để trồng nấm nghĩa là dùng các loại cỏ cây thân thảo để trồng nấm thay cho gỗ rừng và nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt
Nước xuất khẩu nấm nhiều nhất trên thế giới hiện nay là Trung Quốc với khoảng 1,5 triệu tấn sản phẩm/ năm ; giá bán nấm mỡ trung bình 600 – 1000 USD/ tấn cao hơn 1,2 – 1,5 lần so với thịt bò; nấm mỡ muối có giá bán khoảng
1300 – 1500 USD/ tấn; các loại sản phẩm nấm như Mộc nhĩ, nấm hương, nấm rơm,…cũng có giá bán dao động trong khoảng 1700 – 6500 USD/ tấn Mỗi năm,
Trang 1312
phúc kiến xuất sang Mỹ 23000 – 26000 tán nấm Mỡ đóng hộp và bán sang Nhật
11000 – 13000 tấn nấm Mỡ đóng hộp, trị giá 15.000.000 triệu USD
Nên việc nghiên cứu về nghề trồng nấm rất được chú trọng ở các nước có kim ngạch xuất khẩu nấm cao Như Trung Quốc ở một số trường đại học đã có
cả các môn học về nấm trồng và các viện nghiên cứu về nấm như tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc hiện đã nuôi trồng tới 45 chủng nấm ăn và hơn 100 chủng loại nấm dại Lực lượng làm nấm cũng rất hùng hậu với khoảng hơn 20 cơ quan nghiên cứu triển khai về nấm ăn gần 100 cán bộ kỹ thuật cao cấp, hơn 600 cán
bộ trung cấp và nhiều kỹ thuật viên khác
Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước Châu Âu… Tổng sản lượng nấm ăn trên thị trường thế giới vào khoảng
20 triệu tấn sản phẩm/ năm và đang có xu hướng tăng lên ở những năm sắp tới Mức tiêu thụ nấm bình quân tính theo đầu người của Châu Âu, Mỹ khoảng 2 – 3 kg/năm, hàng ngày thị trường Niu-ooc bình quân tiêu thụ 2 – 3 tấn nấm rơm, nấm hương tươi, mộc nhĩ tươi, đứng hàng thứ 2 sau rau; Nhật, Đức khoảng 4 – 5 kg/năm Dự kiến mức tiêu thụ này trong tương lai sẽ tăng với tốc độ 3,5 %/năm Trên thị trường Châu Âu nấm mỡ chiếm khoảng 80 – 95%, Mộc nhĩ khoảng 10% thị phần Thị trường Mỹ trong thập niên 80 của thế kỷ XX, tiêu thụ khoảng 50% tổng sản lượng nấm Mỡ của thị trường thế giới
Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp nhất là trong
20 năm gần đây Theo đánh giá của hiệp hội khoa học nấm ăn quốc tế (ISMS) có thể sử dụng khoảng 250 phế phụ liệu trong nông lâm nghiệp để trồng nấm đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội Sản xuất nấm ăn đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng chống lại việc đốt rơm, đốt phá rừng, tạo nguồn phân bón hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần tích cực vào chu trình chuyển hóa vật chất Trong sinh học nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề trồng nấm về chọn tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự bùng nổ của thông tin, nghề trồng nấm đã và đang phát triển trên toàn thế giới, được coi là nghề xóa đói, giảm nghèo và làm giàu thích hợp với các vùng nông thôn miền núi
Trang 1413
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam là một nước có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa và là một nước nông nghiệp nên có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng nấm, riêng lượng rơm rạ 20 – 30 triệu tấn/ năm đủ để cho “ra đời” 2 triệu tấn nấm tươi, trị giá 1 tỷ USD, thậm chí, nếu chế biến thành đồ hộp , giá trị còn cao hơn Năm
2002, cả nước mới sản xuất được 100.000 tấn nấm thực phẩm thì đến nay đã đạt 150.000 tấn/ năm Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 60 USD/ năm Điều đó chứng
tỏ nghề trồng nấm đang mang lại hiệu quả kinh tế cao
Ở Việt Nam đang nuôi trồng 5 loại nấm phổ biến sau:
1 Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm 90% lượng nấm rơm trong cả nước Ở các tỉnh phía bắc nấm rơm chỉ được trồng trong mùa hè nên sản lượng nấm rơm không cao
2 Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Phước, … chiếm 50% sản lượng Mộc nhĩ trong cả nước
3 Nấm Mỡ, nấm Sò, nấm Hương chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền Bắc sản lượng mỗi năm đạt 30.000 tấn
4 Nấm dược liệu: Linh chi, Vân chi, Đầu khỉ,…mới được nuôi trồng ở một
số tỉnh thành phố như Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc,…sản lượng mỗi năm đạt
150 tấn
5 Một số loại nấm khác như: Nấm Trân châu, Kim châm,… Đang nghiên cứu sản xuất thử nghiệm sản lượng chưa đáng kể vì đầu tư cao và chi phí lớn
* Một số thuận lợi của nước ta trong phát triển nghề trồng nấm
1 Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có như: rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế thải ở các nhà máy xí nghiệp dệt, bã mía ở các nhà máy đường ước tính có trên 40 triệu tấn nguyên liệu chỉ cần sử dụng 10 - 15% lượng này để trồng nấm đã tạo ra trên một triệu tấn trên năm và hàng trăm tấn phân hữu cơ
2 Trong những năm gân đây nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện, trường, trung tâm đã tạo được một số loại giống ăn, nấm dược liệu có khả năng thích ứng với môi trường ở Việt Nam cho năng suất khá cao Các tiến bộ kỹ thuật về
Trang 1514
nuôi trồng, chăm sóc và bảo quản, chế biến nấm ngày càng được hoàn thiện, trình độ và kinh nghiệm của người nông dân ngày càng được nâng cao Năng suất trung bình của các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5 - 3 lần so với 10 năm về trước
Một số trung tâm sản xuất nấm có uy tín như Viện di truyền Nông nghiệp, Sở khoa học và công nghệ Hòa Bình, xí nghiệp nấm Toàn Thắng ( Bắc Giang), trung tâm công nghệ sinh học ứng dụng - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa sinh học – Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.1 Chỉ tiêu về năng suất của một số loại nấm phổ biến được trồng
3 Vốn đầu tư để trồng nấm so với các ngành sản xuất không lớn vì đầu vào chủ yếu là công lao động (chiếm khoảng 30-40% giá thành của một đơn vị sản phẩm) Nếu tính trung bình để giải quyết việc làm cho một số người lao động chuyên trồng nấm ở nông thôn hiện nay có mức thu nhập 800.000-
Trang 16Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng rau quả của cả nước trong tháng 8/2010 đạt 28,8 triệu USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2009 và tăng 21% so với tháng 7 năm 2010 Tổng kim ngạch nhập khẩu rau quả 8 tháng đầu năm đạt 176,4 triệu USD, tăng 4,6% so với cùng
kỳ năm 2009 tăng 17,8% cùng năm 2008 Tuy nhiên, xuất khẩu các loại rau củ như:sắn, tỏi, nghệ tươi, nghệ khô tăng 48% so với cùng kỳ năm 2009 Trong đó, nấm là mặt hàng kim ngạch cao nhất đồng thời có mức tăng rất mạnh so với cùng kỳ 8 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu đạt 9,7 triệu USD tăng 101,8% Đây là mặt hàng vẫn được ưa chuộng tại thị trường Việt Nam nhất là những tháng cuối năm
5 Phát triển nghề trồng nấm ăn - dược liệu có ý nghĩa góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường Phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh rạch, sông ngòi gây tắc nghẽn dòng chảy Đây là nguồn tài nguyên rất lớn nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm không những tạo ra loại thực phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi thu hoạch nấm được chuyển sang làm phân bón hữu cơ tạo nên
độ phì cho đất
Hiệu quả kinh tế và xã hội của nghề trồng nấm ăn và nấm dược liệu là rất
rõ Đặc biệt có ý nghĩa với nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn hiện nay có lượng lao động lớn đang cần nâng cao thu nhập trên một diện tích đất canh tác
Trang 1716
* Những tồn tại và hạn chế của nghề trồng nấm nước ta.
Bên cạnh những thuận lợi trên nghề trồng nấm nước ta còn tồn tại một số hạn chế: mặc dù đứng thứ ba trên thế giới về xuất khẩu, nhưng nghề sản xuất nấm của nước ta vẫn còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và phải bán qua tay người khác, vì vậy đây là thị trường tiềm năng nếu chúng ta biết khai thác
Một số doanh nghiệp cảnh báo, mục tiêu đạt 1,5 triệu tấn nấm vào năm
2014 sẽ khó đạt được nếu chúng ta không biết điều tiết thị trường, hình thành vùng nguyên liệu và nhất là xây dựng thương hiệu để nâng cao giá bán Số cơ sở sản xuất giống còn ít, sự liên kết giữa nông dân và các doanh nghiệp còn lỏng lẻo dẫn tới tình trạng nấm trồng ra không biết bán cho ai trong khi doanh nghiệp thì khan hàng,…
Sự liên kết giữa nhà doanh nghiệp và các hộ nông dân sản xuất vẫn chưa thực sự chặt chẽ nên vẫn thường xuyên xảy ra hiện trạng người dân sản xuất ra nhưng không có đầu ra cho sản phẩm, còn doanh nghiệp kinh doanh lại không
có sản phẩm để thu mua Một vấn đề không thể không nhắc tới là nấm ăn chưa
có thương hiệu và có nguy cơ các nhà xuất khẩu Việt Nam phải chịu để các nhà doanh nghiệp nước ngoài đóng gói lại sản phẩm của mình với nhãn mác mới, tiếp tục bán ra thị trường với giá cao hơn
2.4 Tình hình sản xuất nấm ở Sơn La
Sơn La là tỉnh miền núi phía Tây Bắc có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội rất phù hợp để nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu:
Về văn hóa xã hội:
Đa số người dân sống bằng nghề nông-lâm nghiệp (số dân sống ở nông thôn chiếm 80% dân số trong tỉnh), thu nhập bình quân đầu người còn thấp do không có nghề phụ và chủ yếu sống bằng nông nghiệp là chính vì thế lượng lao động dư thừa trong tỉnh là rất lớn, việc đưa cây nấm đến hộ gia đình góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho người dân
Về điều kiện tự nhiên
Do Sơn La là một tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc vì thế chịu sự chi phối của tiểu khí hậu khu vực có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô, độ ẩm trung
Trang 1817
bình 08%, nhiệt độ bình quân các tháng trong năm khoảng 15 - 17 0C khá phù
hợp để phát triển nghề trồng nấm
Về nguồn giống và nguyên liệu trồng nấm
Nguyên liệu trồng nấm ở Sơn La có rất sẵn như rơm rạ khi bà con thu hoạch lúa xong, đặc biệt Sơn La có diện tích trồng ngô rất lớn tạo ra một lượng phế thải lõi ngô khổng lồ bà con không sử dụng hết, nếu ta đưa lượng lõi ngô trên để trồng nấm sẽ cho ra lượng nấm rất lớn tăng thu nhập, giải quyết việc làm
và phế thải của nấm cung cấp phân bón hữu cơ cho đất rất tốt
Việc đưa nấm ăn thành một nghề mới có thêm thu nhập cho người dân tại tỉnh Sơn La có công rất lớn của các ban ngành như: khuyến nông tỉnh Sơn La,
Sở khoa học công nghệ tỉnh Sơn la, Xí nghiệp nấm Sơn La…Từ năm 2001 đến nay đã có hơn 1000 nông dân được tập huấn và hướng dẫn kỹ thuật nuôi trồng nấm ăn Tất cả các huyện trong toàn tỉnh đã có mở các lớp tập huấn và số nông dân theo học rất đông Chủ yếu đa phần là người dân tộc Thái, dân tộc Kinh Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn trồng nấm cho nông dân đều là người của Xí nghiệp nấm Sơn La Hiện nay có khoảng 60 hộ nông dân thường xuyên liên hệ với Xí nghiệp nấm để mua giống Đa phần các loại nấm ăn như nấm Sò, nấm Mỡ, nấm Hương, Mộc Nhĩ, nấm Rơm đều được giới thiệu qua các buổi tập huấn lý thuyết Nhưng khâu thực hành chủ yếu là trồng nấm Sò, nấm Rơm trên nguyên liệu bông phế thải và rơm rạ nông nghiệp Trong năm 2009 – 2010 Xí nghiệp nấm Sơn La đã chuyển giao kỹ thuật trồng nấm cho 2 tỉnh Sầm Nưa và U Đum Say của Lào
* Các giống nấm đang thực hiện nuôi trồng ở Sơn La chủ yếu được cung cấp từ 2 nguồn:
+ Xí nghiệp nấm Sơn La thuộc công ty xuất nhập khẩu tỉnh Sơn La cung cấp
+ Trung tâm công nghệ sinh học thực vật Hà Nội (Viện Di truyền nông nghiệp Việt Nam)
* Sáu loại giống nấm và nấm được trồng phổ biến ở Sơn La:
1 Nấm Rơm (Volvariall volvacea)
Trang 1918
2 Nấm Mỡ (Agaricus bisporus)
3 Nấm Sò (Pleurotus spp)
4 Nấm Hương (Letunus edodes)
5 Nấm Linh Chi (Ganoderma lucidum)
6 Nấm Mèo hay Mộc Nhĩ (Auricularria spp)
Gần đây, Xí nghiệp nấm Sơn La có nhập thêm giống nấm Trà Tân từ Viện
Di truyền nông nghiệp về trồng thử nghiệm Trong 6 loại nấm trên, đa số nông dân chủ yếu trồng nấm Sò và nấm Rơm vì nấm Sò và nấm Rơm cho năng suất cao, phù hợp khí hậu, dễ trồng và tiêu thụ nhất
* Một số đơn vị nuôi trồng nấm:
+ Xí nghiệp nấm Sơn La: thành lập từ năm 2001, hoạt động chính là sản xuất giống nấm và chuyển giao công nghệ trồng nấm Mỗi năm Xí nghiệp sản xuất và bán được 7 – 10 tấn giống nấm, 300 kg mộc nhĩ khô (khoảng 3 tấn tươi),
60 kg nấm Linh chi, 2,5 tấn nấm Sò
+ Công ty TNHH sản xuất Việt GAP do 3 cựu sinh viên Khoa Nông – Lâm, trường Đại học Tây Bắc thành lập năm 2010 tại xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Hoạt động chính là kinh doanh các sản phẩm sạch, trong
đó có nấm ăn Công ty chủ yếu sản xuất 2 loại nấm đó là nấm Sò và nấm Mộc nhĩ trên nguyên liệu lõi ngô Sản phẩm tiêu thụ ở dạng tươi, cung cấp cho Thành phố Sơn La và các huyện lân cận Trung bình mỗi ngày Công ty sản xuất và tiêu thụ được 40 – 60 kg nấm Sò tươi
* Các hình thức tiêu thụ và chế biến nấm ở Sơn La
+ Nấm tươi được tiêu thụ chủ yếu ngay tại địa phương trồng với hình thức bán buôn hoặc bán lẻ hàng ngay tại các chợ trong huyện, thị trấn, thành phố
+ Xí nghiệp nấm Sơn La chế biến thành rượu thuốc (rượu nấm Linh Chi) + Ngoài ra nấm Sò được sấy khô, đóng gói để bán (khoảng 10 kg nấm tươi được 1 kg nấm khô): Linh Chi, nấm Sò, Mộc Nhĩ
* Các địa điểm đang tiêu thụ nấm tốt nhất và triển vọng phát triển nấm: + Thành phố Sơn La là nơi có nhiều chợ tập trung và đông dân cư, vì vậy lượng nấm Sò tươi được tiêu thụ khá mạnh Ví dụ như ở chợ Trung Tâm, chợ
Trang 2019
Bến Xe khách, chợ Quyết Thắng, chợ Bệnh viện, chợ Gốc phượng … Khi có nấm tươi tại các quầy rau quả rất dễ bán, và giá bán đều tương đối ổn định trung bình là 45.000 – 50.000 đồng/kg Lượng nấm tươi có thể tiêu thụ hết trong ngày tại thành phố Sơn La rất cao có thể hơn 1 tạ
+ Thị trấn Mường La cũng là nơi tiêu thụ nấm lý tưởng vì tại đây có công trình xây dựng thuỷ điện và số công nhân rất đông
+ Chợ thị trấn Yên Châu cũng là một trong những chợ lớn, sầm uất và rất thuận lợi trên trục đường giao thông Tại đây quầy rau quả nhiều và luôn thiếu nấm bán
+ Các chợ nhỏ trong các xã cũng đều tiêu thụ nấm và đa phần nấm trồng ở quy mô nhỏ không phải đi quá xa để bán nấm
+ Chợ thị trấn Thuận Châu bán một số loại nấm do các hộ dân tại bản Pó, bản Huông xã Chiềng Ly và bản Thôm, xã Thôm Mòn (huyện Thuận Châu) cung cấp, chủ yếu là bán nấm Sò trắng, thỉnh thoảng có bán nấm Rơm và nấm Mối thu hái trong tự nhiên Giá nấm Sò tưới dao động từ 45.000 – 50.000
đồng/kg, nấm Rơm từ 75.000 – 80.000 đồng/kg, nấm Mối từ 100.000 – 150.000 đồng/kg
+ Xí nghiệp nấm Sơn La thu mua sản phẩm nấm Sò khô cho các hộ trồng nấm theo quy trình và giống nấm của xí nghiệp cung cấp
2.5 Đặc điểm của huyện Quỳnh Nhai
Huyện Quỳnh Nhai là một huyện nằm phía Tây Bắc của tỉnh Sơn La có địa hình tương đối bằng phẳng, khí hậu nóng ẩm quanh năm Nên có đầy đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng nấm
Đa số người dân sống bằng nghề nông, thu nhập của bà con chưa cao và thời gian bà con không có việc làm là rất nhiều Vì vậy bà con mong muốn có một nghề làm thêm để tăng thu nhập
Khí hậu của huyện rất thuận lợi cho sự phát triển nghành nghề trồng nấm, huyện có độ ẩm cao (trung bình 80%), nhiệt độ ổn định (trung bình năm 21,60C)
Trang 21Xã Mường Giôn (98 ha) và xã Chiềng Khay (87 ha) là hai xã có diện tích trồng lúa lớn nhất của huyện Với diện tích trồng Ngô ở xã Mường Giàng và xã Chiềng Khoang cũng rất nhiều, và hai xã này đường giao thông rất thuận tiện vì vậy nguyên liệu lõi ngô và mày ngô có khối lượng rất lớn nhưng chưa tận dụng được hết để trồng nấm Hiện tại lõi ngô mới được dùng như nguyên liệu thay củi đốt và giá thành khoảng 20.000 – 30.000 đồng/ kg
Mày ngô có sẵn hàng chục tấn và gần như bà con có thể cho không, đó là nguồn cơ chất rất tốt để nấm Sò, nấm Linh Chi và nấm Rơm phát triển
Trong xu thế phát triển và hội nhập hiện nay và với sự phát triển tiến bộ của khoa học kỹ thuật, người dân có cơ hội để tiếp cận với những quy trình sản xuất mới -> người dân sẽ được học hỏi và nâng cao tay nghề hơn
Và hiện nay với việc đường giao thông được mở rộng và thuận tiện cho việc lưu thông hàng hóa thì nghề trồng nấm rất có nhiều tiềm năng phát triển không chỉ ở tại một số xã có diện tích trồng ngô, lúa lớn nữa mà tất cả các xã trong huyện đều có khả năng phát triển nghề trồng nấm
2.6 Hiệu quả kinh tế của việc trồng Nấm
Trồng nấm Rơm mang lại hiệu quả kinh tế cao do các yếu tố sau:
+ Với diện tích nhỏ nhất vẫn có thể cho năng suất cao nhất
+ Vốn đầu tư cho việc trồng nấm thấp, quay vòng nhanh và chu kỳ cho việc nuôi trồng ngắn
+ Thời gian cho mỗi đợt trồng nấm kéo dài khoảng 2 - 2,5 tháng
+ Nếu trong thời gian trồng mà gặp khí hậu bất lợi hoặc có sự biến động của thị trường (giá cả bấp bênh) người sản xuất vẫn kịp dừng sản xuất hoặc chuyển hướng canh tác khác phù hợp
Trang 2322
PHẦN III NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng và vật liệu
* Hai giống nấm Rơm v1 và v2, nguồn do công ty xuất nhập khẩu nấm Sơn La cung cấp
* Nguyên liệu: Rơm rạ, vôi bột, phân vi sinh, phân hữu cơ hoai mục
* Dụng cụ:
- 300kg rơm rạ khô, 6kg vôi bột, phân vi sinh, phân hữu cơ hoai mục và giống nấm
- Bạt, nước, tre, dao
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại xã Mường Giôn huyện Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực tập: Từ 18/2/2013 - 28/4/2013
3.2 Nội dung nghiên cứu
So sánh năng suất của một số giống nấm rơm trồng trên nguyên liệu rơm
có bổ sung cơ chất
3.3 Phương pháp nghiên cứu
- Thí nghiệm được bố trí theo ô lớn ô nhỏ Split - plot Nhân tố chính là nguyên liệu rơm (bố trí trên ô nhỏ), nhân tố phụ là giống (bố trí trên ô lớn) Mỗi công thức là 1 ô thí nghiệm, mỗi ô thí nghiệm bố trí 1 mô, khối lượng mỗi mô là
20 kg Bố trí thí nghiệm mỗi công thức 3 lần nhắc lại
- Với hai giống nấm Rơm trên 3 công thức khác nhau, mỗi công thức là 1
ô thí nghiệm, mỗi ô thí nghiệm bố trí 1 mô, khối lượng mỗi mô là 20 kg Bố trí thí nghiệm mỗi công thức 3 lần nhắc lại
Trang 24- Công thức 1: Rơm rạ khô 100kg + vôi bột 2kg ( đối chứng)
- Công thức 2: Rơm rạ khô 100kg + vôi bột 2kg + 2kg phân vi sinh
- Công thức 3: Rơm rạ khô 100kg + vôi bột 2kg + 2kg phân hữu cơ hoai
mục
3.4 Quy trình trồng nấm rơm
3.4.1 Nguyên liệu và xử lí nguyên liệu
- Nguyên liệu: dùng rơm rạ khô, không nên dùng rơm rạ mới gặt còn quá tươi hoặc rơm rạ thối mục
- Phương pháp xử lý nguyên liệu: nguyên liệu được ngâm trong nước vôi với nồng độ 6% (6kg vôi với 100 lít nước), thời gian ngâm là 3 - 5 phút, khi nguyên liệu ngả màu vàng thì vớt ra để ráo nước Cứ 3 lần ngâm thì bổ sung thêm vôi và nước sạch
Làm một chiếc kệ kê hình giát giường bằng gỗ hoặc tre Phần đáy kệ kê cách mặt đất 15 - 20cm, giữa kệ kê đặt một ống thông khí Nguyên liệu được rắc đều xung quanh tạo hình tròn như đống rơm, xung quanh đóng ủ nén chặt, ở giữa để lỏng
Đống ủ phải đạt 300kg trở lên Dùng nilông phủ kín đống ủ chỉ để hở
Trang 2524
phần dưới kệ kê và không khí Ủ đến 3 ngày thì tháo nilông ra và đảo đều đống
ủ, tiếp tục ủ thêm 3-4 ngày nữa Rơm rạ đã ủ 6-7 ngày đảm bảo yêu cầu sau:
- Độ ẩm đạt 65% Khi thấy phần nguyên liệu độ ẩm quá cao (khi dùng tay vắt nước thấy nước chảy thành dòng) ta tiến hành rũ tơi đống ủ sao cho lượng nước trong đống ủ giảm đi, hong tới đâu ta đóng mô tới đó, thời gian hong nguyên liệu từ 5 - 10 phút Khi thấy nguyên liệu quá khô, không đảm bảo độ ẩm
ta tiến hành rũ tơi đống ủ và dùng nước sạch pha với tỷ lệ 6% vôi ướt (100 lít nước cho 6kg vôi ướt) rồi hòa loãng như nước vo gạo và tiến hành bổ sung từ từ vào phần nguyên liệu, tiếp tục ủ lại thêm 3 ngày nữa, phương pháp ủ như lần đầu
- Rơm rạ có mùi thơm dễ chịu, màu vàng sáng, mềm
3.4.2 Meo giống và phương pháp cấy
- Meo giống tốt có những sợi tơ màu trắng, mọc chằng chịt phủ kín, hoặc
có hạt màu trắng hoặc màu nâu, có mùi tương tự như nấm rơm
- Trong điều kiện bình thường không để meo giống lâu quá 10 ngày, loại
bỏ những bịch meo có những đốm màu xanh, đen và vàng do bị nhiễm bệnh
- Phương pháp cấy meo: cấy thành từng cụm sâu 4 – 5 cm hoặc phủ lớp meo ở 2 đầu, sau đó gói chặt bánh rơm bằng nilông, chú ý: các đầu rơm phải bằng phẳng
- Lượng giống: một mô meo giống 200gr, cấy 5 - 6 bánh rơm
3.4.3 Ủ tơ
Bánh rơm đã cấy meo được đưa vào cất đống, đảm bảo nhiệt độ 32 - 360
C, không có ánh sáng chiếu vào, 2 - 3 ngày đảo một lần Thời gian ủ tơ khoảng 5 - 7 ngày, khi này sợi nấm đã mọc phủ kín bánh rơm và đạt tiêu chuẩn đem ra nhà trồng
3.4.4 Chăm sóc ở nhà trồng
Những bánh rơm đạt tiêu chuẩn như trên, ta tiến hành đưa lên giá trồng,
mở nilông ở bánh rơm, chất bánh rơm thành 2 - 3 lớp tùy theo thời tiết
Nhiệt độ nhà trồng thích hợp 30 - 320C, độ ẩm không khí 80 - 90%, độ
ẩm bánh rơm khoảng 65 - 70%
Trang 2625
Từ ngày cấy đến ngày thứ 4, tuyệt đối không được tưới nước, mà chỉ tạo
ẩm khu vực xung quanh Nếu gặp thời tiết hanh khô, ta tưới tạo ẩm xuống nền nhà và xung quanh tường
Tới ngày thứ 4, nhìn trên mặt mô nấm có những điểm tơ sợi mọc chằng chịt trên mặt mô nấm Lúc này bào tử nấm trong thời kỳ phát triển thể sợi ta dùng bình phun Tiến hành phun nước thành sương mù, ngửa vòi phun sao cho
phần nước sương rơi nhẹ vào bánh nấm
* Chú ý:
- Nếu gặp thời tiết hanh khô, số lần tưới tăng lên từ 4 - 6 lần trong ngày
- Nếu thời tiết ẩm ướt số lần tưới giảm đi, tưới từ 1- 2 lần trong ngày
- Đối với nuôi trồng nấm rơm ta phải thường xuyên thay đổi không khí (hàng ngày mở cửa thông gió từ 2 đến 4 lần sao cho không khí trong nhà nuôi trồng trong nhà không bị ngột ngạt) Nấm rơm thích nghi ở môi trường phát triển thông thoáng, quả thể sẽ to đều không bị nhỏ
3.4.5 Phương pháp phòng và chống nhiễm bệnh
Sau mỗi lứa nuôi phải vệ sinh nhà nấm và môi trường nhà nấm xung quanh phải sạch sẽ, bã nấm rơm được ủ làm phân bón cho cây trồng, phải cách nhà nấm trên 100m Xử lý nhà nấm sau khi thu hoạch và dụng cụ sản xuất nấm (nilông bao gói, khuôn…) bằng thuốc Formon, với liều lượng 100ml/bình 8 lít cho một nhà nấm diện tích 24 - 28m2 Sau khi xử lý thuốc 48 giờ thì tiến hành nuôi trồng lứa mới
Trong quá trình nuôi trồng nấm rơm, do tưới nước quá nhiều, nên xuất hiện các loại nấm có chân dài màu trắng, mũ nấm màu đen, đó là các loại nấm dại, nấm mực không gây độc hại nhưng chúng cạnh tranh dinh dưỡng của nấm rơm Thấy những loại nấm này ta phải nhổ ngay
Về sâu bệnh, nấm rơm cũng có các loại bệnh như mốc xanh, mốc đen, mốc vàng Đó là nguyên liệu bị nhiễm bệnh từ trước, nhà xưởng nuôi trồng vệ sinh quá kém, nuôi trồng nấm quá nhiều lần Gặp những trường hợp trên ta tiến hành thu gom những mô nấm đó mang đi xa, chôn hoặc dùng rơm rạ khô phủ lên và đốt chúng đi Đối với chuột, chúng thường đào bới để ăn các loại giống
Trang 27ta nên thu hái từ 2 đến 3 lần trong ngày
Khi phát hiện nấm mọc thành cụm, ta chú ý những quả nào to thì hái trước Dùng tay giữ mô nấm không ảnh hưởng tổn thương cho những quả nấm còn nhỏ bên cạnh Một tay nắm vào quả nấm và xoáy sao cho phần chân nấm được nhổ lên cùng với quả nấm, nếu còn sót phần chân nấm phải dùng tay lấy hết phần chân nấm còn dính lại trong mô nấm Khi thu hái ta phải nhẹ tay, không được để nấm rơi xuống đất Thu hái đến đâu ta phải dùng dao sắc cắt ngay toàn bộ phần chân nấm còn dính tạp chất
Nấm rơm phát triển rất nhanh, khi thu hái xong ta phải mang ngay tới nơi thu mua hoặc nếu để bảo quản lâu ta phải bảo quản nấm ở nhiệt độ từ 100C –
150C
Thời gian thu hoạch cho một đợt nuôi trồng từ 20 đến 30 ngày (tính từ lúc nấm phát triển ở ngày thứ 12, thời gian thu hoạch là liên tục 15 - 17 ngày )
Trong thời điểm thu hái nấm, ta phải chia ra làm hai giai đoạn:
- Tính từ ngày thứ 12 đến ngày thứ 15 nấm rất rộ, sau thu hái đợt một ta dùng bình phun, phun thật đẫm vào mô nấm
- Chờ từ 5 đến 7 ngày sau, nấm lại mọc ra lần 2, ta tiếp tục thu hái (Năng suất đợt 1 của lứa nấm đạt từ 70% đến 80% năng suất, đợt 2 thu hoạch từ 20% đến 30% của đợt nuôi trồng) Tổng sản lượng thu hoạch được từ 100 - 150kg nấm tươi/1 tấn nguyên liệu
Khi phát hiện nấm đã tới thời kỳ thu hoạch (phần đầu của nấm hơi nhọn), nếu
về chiều việc giao bán nấm không được thực hiện được, ta tiến hành nhổ những quả nấm đã có biểu hiện nhọn đầu và để chúng lên trên một mô nấm thì giảm được sự phát triển của nấm, để sáng hôm sau nấm không bị rách màng và nở ô
Trang 2827
3.5 Các chỉ tiêu tiêu theo dõi
3.5.1 Thời gian sinh trưởng phát triển của quả thể nấm (ngày)
Thời gian từ đóng mô, cấy giống đến khi rạch mô: thời gian này được xác định khi các sợi nấm ăn trắng mô nấm tạo nên màu trắng đồng nhất, mô nấm rắn chắc
Thời gian từ đóng mô, cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở xung quanh mô được xác định khi các cụm nấm rơm bắt đầu xuất hiện và nhô ra ở xung quanh mô
Thời gian từ đóng mô, cấy giống đến thu hoạch đợt 1: được xác định khi cụm nấm đã khá to, bắt đầu thấy các bào tử đâm phát tán vào không khí những lớp khói trắng bay ra
Thời gian từ khi trồng nấm đến khi thu hoạch cuối cùng: được xác định khi các cụm nấm mọc yếu dần đi, các sợi trắng trên nguyên liệu giảm dần và nguyên liệu trở nên xốp
3.5.1.1 Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (cụm)
- Chiều dài cuống nấm(cm)
- Đường kính mũ nấm(cm)
3.5.1.2 Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất
- Số cây nấm trên cụm(cây/cụm)
- Khối lượng trung bình 1 cụm(gam)
- Năng suất của bịch: tổng khối lượng thu hái(kg/tạ)
Trang 29+ Nước tưới: chi phối toàn bộ hoạt động sống của nấm, ngoài vấn đề dư nước hoặc thiếu nước, thì tính chất của từng loại nước rất quan trọng (nước phèn, nước mặn, nước nhiễm bẩn vi sinh hoặc hóa học, )
+ Tơ nấm bị nước phèn thì mọc chậm, thưa, đầu sợi tơ sẽ cong lại, tai nấm sẽ dị hình tạo dạng bông cải hoặc chết non
+ Nước nhiễm mặn: làm cho sự tăng trưởng và phát triển của nấm khó khăn hơn, tơ nấm đổi màu, rối bông, không hình thành quả thể
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên nấm rơm
Tơ nấm Lớn hơn hay bằng 40
Trang 3029
+ Mức độ nhiễm nhẹ: phơi khô mặt mô (một nắng), dùng nước vôi 1% tưới lên vết bệnh Trường hợp bệnh thạch cao có thể xử lý bằng thuốc tím (KMnO4) hoặc acid acetic 40%
0,5-+ Mức độ nặng: sử dụng các thuốc diệt mốc như Bennomyl (Benlate-C) 0,1%, Zineb (Tritofboral) 7% hoặc Validacin 3% (cho bệnh trứng cá),
+ Trước khi nấm rơm xuất hiện, thường thấy nấm dại phát triển mạnh, phổ biến là nấm gió (Coprinus) Điều kiện để nấm dại mọc là: nguyên liệu dư
ẩm (>70%), giàu đạm (urê) và pH <5 Cần tránh nấm dại bằng cách hạn chế các nguyên nhân trên
+ Ngoài ra, nấm còn bị một số côn trùng như: ruồi, mạc gà, bọ nhảy, cuốn chiếu, kiến, tuyến trùng, tấn công Biện pháp tốt nhất để phòng ngừa là xử lý nền đất trước khi trồng:tưới nước, xới nhẹ, rải thuốc diệt tuyến trùng như Furadan, Mocap, Khi tưới đón nấm, rắc vôi xung quanh mô (nếu trồng dưới đất)
+ Bệnh xảy ra thường làm giảm năng suất và gây thất thu cho người trồng Do đó, càng hạn chế được bệnh tốt thì người trồng càng có lợi cao, muốn vậy phải có biện pháp phòng trừ tổng hợp
3.5.3 Chỉ tiêu sinh trưởng
- Theo dõi thời gian phát sợi sau cấy giống
+ Thời gian phát sợi sau cấy giống đến khi mọc sơi: 50% số mô có sợi ăn lan
+ Thời gian sau cấy giống đến khi sợi ăn trắng mô : 80% số mô có sợi ăn lan trắng mô
+ Thời gian sau cấy giống đến khi bắt đầu mọc nấm : 50% số mô có nấm mọc
+ Thời gian sau cấy giống đến khi bắt đầu thu hoạch đợt 1: 80% số mô có nấm
+ Thời gian sau cấy giống đến khi bắt đầu thu hoạch đợt 2: 80% số mô có nấm
Trang 3130
3.5.4 Chỉ tiêu phát triển
* Theo dõi thời điểm xuất hiện quả thể và đo kích thước
+ Đo tốc độ lan sợi bằng cách đo chiều dài sợi cho đến khi xuất hiện quả mỗi ngày
C sấy đến khi trọng lượng không đổi, đem cân ( với 3 lần lặp lại của mỗi giống)