1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị tại rừng tự nhiên suối giăng i xã quy hướng mộc châu sơn la

55 273 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 587,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được sự cho phép của khoa Nông Lâm, bộ môn Lâm sinh tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị tại rừng tự nhiên Suối Giăn

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

ơ

Để đánh giá kết quả sau 3 năm học tập tại Trường Cao đẳng Sơn La, đồng thời giúp sinh viên làm quen với nghiên cứu khoa học, gắn đào tạo, nghiên cứu với thực tiễn sản xuất Được sự cho phép của khoa Nông Lâm, bộ

môn Lâm sinh tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Kiến thức bản địa và kỹ thuật

gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị tại rừng tự nhiên Suối Giăng I –

xã Quy Hướng – mộc Châu – Sơn La”

Trong quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của Thầy Nguyễn Văn Chuyên sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô trong bộ môn Lâm sinh, Ban quản

lí rừng Suối Giăng I, cán bộ và nhân dân xã Quy Hướng, huyện Mộc Châu – Sơn La và các bạn bè đồng nghiệp Đến nay tôi đã hoàn thành đề tài

Nhân dịp này, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Thầy NguSyễn Văn Chuyên, các thầy cô trong bộ môn Lâm sinh, Ban quản lí rừng

tự nhiên Suối Giăng I, hạt Kiểm Lâm huyện Mộc Châu, cán bộ và nhân dân trong xã Quy Hướng – Mộc Châu – Sơn La

Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do hạn chế về thời gian, điều kiện nghiên cứu và trình độ bản thân có hạn nên khoá luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được sự lượng thứ và xin tiếp thu mọi ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo cùng toàn thể các bạn đồng nghiệp

Sơn La, tháng 4 năm 2013

Sinh viên thực hiện

ĐINH THỊ DUYÊN

Trang 2

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC 1

CHƯƠNG I 4

ĐẶT VẤN ĐỀ 4

CHƯƠNG II 6

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

2.1 Phương pháp luận nghiên cứu kiến thức bản địa 6

2.2 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 9

CHƯƠNG III 12

MỤC TIÊU- ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP 12

NGHIÊN CỨU 12

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 12

3.2 Đối tượng nghiên cứu 12

3.3 Phạm vi nghiên cứu 12

3.4 Nội dung nghiên cứu 12

3.5 Phương pháp nghiên cứu 13

3.5.1 Phương pháp kế thừa 13

3.5.2 Phương pháp PRA 13

CHƯƠNG IV 16

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16

4.1 Điều kiện tự nhiên 16

4.1.1 Vị trí địa lý 16

4.1.2 Khí hậu, thuỷ văn 16

4.1.3 Địa hình 17

4.1.4 Đá mẹ, thổ nhưỡng 17

4.1.5 Sinh vật 17

4.1.6 Tác động của con người 17

4.2 Dân sinh, kinh tế xã hội 17

4.2.1 Dân số, dân tộc và lao động 17

4.2.2 Tình hình chung kinh tế xã hội 18

4.2.3 Giao thông 20

4.2.4 Nước sinh hoạt 20

Trang 3

4.2.5 Văn hoá 20

4.2.6 Giáo dục 20

4.2.7 Y tế 20

CHƯƠNG V 21

DỰ KIẾN KẾT QỦẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 21

5.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của sự phát triển 21

nghề thuốc và công tác gây trồng cây thuốc nam tại bản Suối Giăng I - Xã Quy Hướng - Mộc Châu 21

5.1.1 Điểm mạnh: 21

5.1.2 Điểm yếu 21

5.1.3 Cơ hội 22

5.1.4 Thách thức 22

5.2 Danh lục và hiện trạng gây trồng một số loài cây thuốc nam tại bản Suối Giăng I – Quy Hướng – Mộc Châu 23

5.2.1 Danh lục các loài cây thuốc được người Mường sử dụng 23

5.2.2 Tình hình sinh trưởng của các loài cây thuốc được gây trồng 26

5.3 Một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài có giá trị cao 33

5.3.1 Sa nhân 33

5.3.2 Trinh nữ hoàng cung 34

5.3.3 Củ dòm 34

5.3.4 Thiên niên kiện 35

5.3.5 Vang 36

5.3.6 Đậu chiều 36

5.3.7 Hoa tiên 37

5.3.8 Bảy lá một hoa: 38

5.4 Kiến thức bản địa trong việc thu hái, chế biến và sử dụng một số loài cây thuốc có giá trị 39

5.4.1 Kiến thức bản địa của người Mường xã Quy Hướng trong việc thu hái cây thuốc 39

5.4.2 Kiến thức bản địa của người Mường trong việc chế biến cây thuốc. 41

Trang 4

5.4.3 Kiến thức bản địa của người Mường trong việc sử dụng cây thuốc 41

5.5 Kỹ thuật gây trồng một số cây thuốc có giá trị 45

CHƯƠNG VI 51

KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 51

6.1 Kết luận 51

6.1.1 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của sự phát triển nghề thuốc và công tác gây trồng cây thuốc nam tại bản Suối Găng I 51

6.1.2 Danh lục và hiện trạng gây trồng một số cây thuốc nam tại bản 51

6.1.3 Một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của những loài có giá trị cao. 51

6.1.4 Kiến thức bản địa của người Mường trong việc thu hái, chế biến và sử dụng một số loài cây thuốc có giá trị 52

6.1.5 Kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị 52

6.1.6 Một số đề xuất 52

6.2 Tồn tại 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Trang 5

CHƯƠNG I ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thời tiết nóng, ẩm quanh năm Chính vì lẽ đó mà Việt Nam có hệ thực vật phong phú

và đa dạng Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, ở nước ta có khoảng 14000 loài thực vật bậc cao có mạch, tuy nhiên con số này còn khác xa so với thực tế

Ngoài mục đích sử dụng thực vật làm nguồn lương thực, thực phẩm, làm thức ăn gia súc, đồ dùng gia đình, lấy gỗ làm nguyên liệu giấy, dùng trong xây dựng… con người còn sử dụng thực vật để làm thuốc chữa bệnh Theo cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (1997) đã thống kê được 3200 cây thuốc Ngoài ra còn nhiều tài liệu khác chưa được tổng hợp và thống kê đầy đủ Điều này chứng tỏ tiềm năng cây thuốc của nước ta rất lớn

Việc sử dụng thực vật làm thuốc gắn liền với phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa của từng địa phương, từng dân tộc Trong những năm gần đây, do sự phát triển của kinh tế thị trường, con người thường thích sử dụng “thuốc Tây” hơn “thuốc Nam” Nhiều người coi nhẹ việc sử dụng thuốc

để chữa bệnh, đặc biệt là thế hệ trẻ Hơn nữa, vì nhiều lý do khác nhau mà các ông Lang, bà Mế chưa coi trọng việc truyền thụ tri thức bản địa cho các thế hệ sau Điều này dẫn đến sự thất truyền những tri thức, kinh nghiệm y học dân tộc quý giá được coi là tri thức riêng của từng dân tộc

Trong thời gian qua, do một số những chương trình, dự án của nhà nước chưa tính toán đầy đủ đến những phong tục, tập quán và kiến thức của cộng đồng nên đã bị thất bại Do đó nhiều người đã quan tâm đến việc quay lại sử dụng kiến thức bản địa

Ở Mộc Châu, có 5 dân tộc sinh sống là người Thái, người Mông, người Mường, người Dao và người Kinh Người Dân tộc chiếm số lượng cao hơn cả

ở đây có nghề truyền thống là nghề thuốc nam Nghề này không những đem lại nguồn thu nhập cho các hộ gia đình mà còn góp phần chăm sóc sức khỏe

Trang 6

cho cộng đồng Vì vậy việc phát huy thế mạnh của nghề thuốc là việc làm cần thiết Tuy nhiên hiện nay ở Ba Vì đang phải đứng trước một thực trạng hết sức khó khăn đó là sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn nguyên liệu, một số loài cây thuốc trước đây rất phổ biến thì hiện nay đã trở lên cực kỳ khan hiếm Điều đó làm cho hoạt động tìm kiếm, khai thác cây thuốc của người dân ngày càng tốn nhiều thời gian và công sức Trước thực trạng đó, việc gây trồng và bảo tồn các loài cây thuốc đã và đang được người dân nơi đây tiến hành, tuy nhiên việc này còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là công tác gây trồng một số loài ít thích nghi với điều kiện ở địa phương Để góp phần vào công tác nghiên cứu, nhằm bảo tồn và phát triển nghề thuốc nam tại địa phương, tôi

thực hiện đề tài: “Kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng một số loài cây

thuốc có giá trị tại khu vực rừng tự nhiên Suối giăng I– Quy hướng – Mộc Châu – Sơn La.”

Trang 7

CHƯƠNG II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp luận nghiên cứu kiến thức bản địa

Những dân tộc bản địa trên khắp thế giới chiếm giữ những vùng nông nghiệp sinh thái khác nhau, trong quá trình đấu tranh sinh tồn họ đã tạo ra vô vàn những kiến thức phục vụ quản lý môi trường sống Những kiến thức này được biết đến dưới cái tên như: “Kiến thức bản địa”, “Kiến thức truyền thống” (Howes và Chamber, 1980), “Kiến thức kỹ thuật bản địa”, (D.M Warren, 1995), “Kiến thức địa phương”, “Kiến thức văn hoá truyền thống”,

“Kiến thức sinh thái truyền thống” “Kiến thức môi trường” (Jonhson, 1992)

Theo D.M Warren, thuật ngữ kiến thức bản địa được Robert Chambert dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm phát hành năm 1979 Tiếp theo đó thuật ngữ này được Brokensha và D.M Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho tới ngày nay Đây là những người có rất nhiều đóng góp cho linh vực nghiên cứu kiến thức bản địa ở các nước đang phát triển tại Châu Á

và Châu Phi

Theo G Louise, 1996 kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc một số cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó, nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng bao gồm người lớn tuổi, phụ nữ, nam giới và trẻ nhỏ tại một vùng địa lý xác định

Kiến thức của các dân tộc bản địa bao hàm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến nhân chủng học, địa lý, nông nghiệp, bệnh cây, côn trùng, khoa học đất,

xã hội học nông thôn, khuyến nông, y học, giáo dục, lâm nghiệp, nông lâm kết hợp, sinh thái nông nghiệp, ngôn ngữ học, thực vật, cây thuốc, nghề cá, quản lý tài nguyên và quản lý cộng đồng (D.M Warren,1995)

Kiến thức bản địa được tích luỹ, kiểm nghiệm và thừa kế từ thế hệ này sang thế hệ khác Đây thực sự là kho tàng tri thức khổng lồ, một nguồn tài

Trang 8

nguyên quan trọng cho quá trình phát triển (Mare P Lammerink và Ivan Wolffers,1996) Việc vận dụng tổng hợp kiến thức của người nghiên cứu với kiến thức bản địa là kim chỉ nam cho công cuộc đổi mới nông thôn Nghiên cứu quan điểm, nhận thức, kiến thức bản địa của người dân là cơ sở quan trọng cho đề xuất những giải pháp quản lý tài nguyên trên cơ sở cộng đồng

Do nhận thức được vai trò quan trọng của kiến thức bản địa mà trong những năm 80 trở lại đây nhiều nhà khoa học đã đi sâu vào nghiên cứu kiến thức bản địa Nhiều bằng chứng tại các nước phát triển tại Châu Á và Châu Phi trong những thập kỷ qua đã cho thấy rằng: Công nghệ mới và cuộc cách mạng xanh tại nhiều khu vực đã dẫn tới suy thoái môi trường và kinh tế Cách tiếp cận về khoa học và công nghệ của Phương Tây không đủ để đáp ứng những quan niệm phức tạp và đa dạng của nông dân cũng như những thử thách về xã hội, kinh tế, chính trị và môi trường mà ngày nay chúng ta phải đương đầu (G Louise,1996)

Mặt khác, việc lập kế hoạch tầm vĩ mô của cấp quốc gia thường bị thất bại trong quá trình thực thi và quản lý ở cấp địa phương, sự phát triển theo kế hoạch áp đặt không có người dân tham gia đã tạo nên những áp lực chưa từng thấy đối với tài nguyên đất, nước, rừng và các tài nguyên khác trên hành tinh chúng ta Tình trạng đó sẽ làm tăng nạn nghèo đói và suy thoái môi trường Bên cạnh đó các giải pháp kỹ thuật được xây dựng từ nước ngoài, đặc biệt là các nước phát triển thường không có tính khả thi về kinh tế và khó chấp nhận

về văn hoá do đó dễ bị người dân từ chối (Weed, 1987) Ngược lại, rất nhiều

kỹ thuật truyền thống đã mang lại hiệu quả cao, được thử thách qua hàng thế

kỷ có sẵn ở địa phương, rẻ tiền và phù hợp về mặt văn hoá, xã hội

Kiến thức bản địa có giá trị và ảnh hưởng lớn đến hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên rừng với các cộng đồng dân tộc miền núi, vì vậy có thể coi như là cơ sở và là nguồn tiềm năng chính của quản

lý bền vững tài nguyên thiên nhiên địa phương (Boonto,1992)

Trang 9

Hiệu quả của các giải pháp sử dụng kiến thức bản địa thường phụ thuộc vào những nhận thức, kiến thức của người dân địa phương không phải là bất biến, chúng thay đổi không ngừng cùng tiến bộ xã hội Vì vậy, việc sử dụng kiến thức bản địa phải hướng tới thay đổi chúng theo hướng có lợi cho các hoạt động phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên rừng (Deep Narayan,1998)

Ở Việt Nam kiến thức bản địa là vốn quý báu của cộng đồng các dân tộc, là một yếu tố cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc Trong nông nghiệp và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, kiến thức bản địa góp phần quan trọng trong việc phát triển các kỹ thuật phù hợp với điều kịên cụ thể về kinh tế, văn hoá, xã hội, phong tục tập quán của từng địa phương (Nguyễn Văn Trương, 2000)

Khi nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên nhiều tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa (Hoàng Xuân Tý, Lê Trọng Cúc,1999) Chính những cộng đồng địa phương là những người hiểu biết sâu sắc nhất về tài nguyên thiên nhiên nơi họ sinh sống, về cách thức giải quyết những loài cây trồng, vật nuôi cho hiệu quả cao và bền vững trong hoàn cảnh sinh thái của địa phương

Mặc dù kiến thức bản địa có vai trò quan trọng đối với cộng đồng nhưng nó cũng bộc lộ những mặt hạn chế cản trở sự phát triển của cộng đồng Điều kiện môi trường thay đổi, một số kiến thức bản địa của các tộc người đã không hoàn toàn có giá trị đối với đời sống sản xuất của họ, trái lại là sức cản trên con đường hoà nhập vào nền kinh tế hiện đại, nhưng lại sai lầm khi không biết chắt lọc những giá trị đích thực của kiến thức bản địa và nâng cao giá trị của nó trong môi trường mới (Nguyễn Văn Huân, 2000) Bên cạnh đó, trình độ văn hoá thấp, sức ì của các tập quán lạc hậu là một trong các yếu tố làm giảm nhịp độ hoà nhập của các cư dân bản địa trước nền kinh tế thị trường đang biến đổi từng ngày Tuy nhiên, nhiều kiến thức của các cộng

Trang 10

đồng địa phương sẽ có ưu thế vượt trội nếu được hướng dẫn vận dụng theo những bước đi tuần tự và cụ thể (Nguyễn Văn Huân, 2000)

Nhìn chung phần lớn các công trình nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững và phát triển kinh tế nông thôn miền núi Trên thực tế đã có không ít các mô hình quản lý tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở phát huy vốn kiến thức bản địa cộng đồng ở Lào, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc… Việc nghiên cứu và áp dụng kiến thức bản địa trong các chương trình phát triển nông thôn miền núi nước ta mới chỉ bắt đầu trong những năm gần đây Do vậy một thời gian dài kiến thức của các cư dân bản địa không được coi trọng, luôn bị coi là lạc hậu và đang bị xãi mòn dần

Mặc dù còn nhiều hạn chế song kiến thức bản địa của các cộng đồng dân tộc vẫn có giá trị lớn trong quá trình phát triển của đất nước Kiến thức bản địa là tài nguyên quốc gia quan trọng nó có thể giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển bền vững

Tóm lại, các chương trình nghiên cứu về kiến thức bản địa ở Việt Nam chưa nhiều nhưng hầu hết các ý kiến đều đồng tình tích cực của kiến thức bản địa trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi, bảo vệ tài nguyên rừng và bảo tồn văn hoá dân tộc

2.2 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Để phục vụ cho nhu cầu phát triển lâm sản ngoài gỗ nói chung, cây dược liệu nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu đã được công

bố như:

Jessup và Peluco (1986), “Lâm sản phụ: Tài nguyên tài sản cộng đồng tại miền Đông Kalimanta” đã đi sâu phân tích các vấn đề về sở hữu công cộng, quyền của dân làng trong khai hoang đất rừng và thu hoạch lâm sản

Trang 11

Chương trình hỗ trợ đa dạng sinh học: Peter, Charles (1994) “Khai thác bền vững tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ở vùng nhiệt đới” đề cập tới một số vấn

đề về khai thác bền vững lâm sản ngoài gỗ trong đó có đề cập tài nguyên cây dược liệu

Tài liệu của khoá đào tạo quốc tế tại Ấn Độ năm 2001 về “Quản lý bền vững lâm sản ngoài gỗ để phát triển nông thôn” đã đề cập tới các vấn đề khai thác, sử dụng và gây trồng lâm sản ngoài gỗ đảm bảo bền vững, vấn đề chính sách, thị trường, môi trường hỗ trợ phát triển lâm sản ngoài gỗ…

Ở Việt Nam, từ lâu lâm sản ngoài gỗ nói chung mà đặc biệt là cây dược liệu nói riêng đã được sự quan tâm của khá nhiều tác giả như các công trình nghiên cứu về: Công dụng, gây trồng, khai thác…

Đỗ Tất Lợi với công trình “Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” đã mô tả đặc điểm nhận biết, đặc tính sinh học, phân tích thành phần hoá học, công dụng và cách sử dụng hơn 1000 loài cây thuốc để chữa bệnh Tác giả cũng đề cập tới kỹ thuật gây trồng nhưng không đi sâu vào vấn đề này

Võ Văn Chi với công trình “Từ điển cây thuốc Việt Nam” bao gồm 2 phần:

- Phần đại cương bao gồm: Nhận biết cây cỏ, tên gọi, phân loại, tính năng dược vật, hoạt chất, bộ phận sử dụng, trồng và thu hái, bảo quản và bào chế cây thuốc

- Phần cây thuốc mọc hoang và trồng ở Việt Nam tác giả giới thiệu gần

3200 loài cây thuốc xếp theo vần tiếng Việt gồm những nội dung sau: Tên cây, mô tả, bộ phận dùng, nơi sống và thu hái, thành phần hoá học, tính vị và tác dụng, công dụng, đơn thuốc đơn giản Công trình của Đỗ Tất Lợi và Võ Văn Chi Tài đã góp phần rất lớn giúp người dân có thể nhận biết được cây thuốc mà trước đây họ chưa từng biết đến Thêm nữa, người dân có thể chủ động sử dụng những cây thuốc ấy để chữa bệnh theo những chỉ dẫn được ghi trong cuốn sách, cách trồng, chăm sóc, bảo quản và sử dụng nhiều loài cây

Trang 12

thuốc Điều này góp phần vào việc bảo tồn và phát triển nhiều loài cây thuốc

Tại địa bàn huyện Ba Vì có một số công trình nghiên cứu của một số tác giả như:

Nguyễn Thị Ngọc Diệp (1998) với công trình “Góp phần điều tra cây thuốc của người Mông bản Pá Lông” đã đưa ra được danh mục một số loài cây thuốc chủ yếu mà người Mông thu hái, nhưng chủ yếu là tên địa phương

và tác giả đã đi sâu vào phân tích quy trình chế biến cây thuốc từ vật liệu là cây rừng thu được

Trong các đợt nghiên cứu thực địa, Vũ Văn Chuyên đã lập danh mục

150 loài cây thuốc ở khu vực Vườn Quốc Gia Ba Vì Lê Trần Chấn và cộng

sự đã công bố số lượng cây thuốc của hệ thực vật Ba Vì là 280 loài Năm

1990, nhóm điều tra của học viện Quân Y đã tiến hành điều tra cây thuốc từ 400m trở lên và phát hiện 169 loài cây thuốc, có tác dụng chữa 28 nhóm bệnh khác nhau

Nguyễn Thị Tảo “Nghiên cứu đặc tính sinh thái học, sinh vật học của một số loài cây dược liệu bản địa quý hiếm làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng

ở Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội” điều tra về đặc điểm sinh vật học của một số loài cây thuốc bản địa quý hiếm (13 loài) như hình thái, tái sinh, sinh trưởng… Thử nghiệm gieo ươm bằng hạt và bằng hom tại độ cao 100 và 400m Trồng thử nghiệm 5ha cây thuốc trên các dạng sinh cảnh khác nhau Điều đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển cây thuốc tại khu vực nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG III MỤC TIÊU- ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng và phát triển một số loài cây thuốc có giá trị tại khu vực nghiên cứu

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Một số loài cây thuốc có giá trị kinh tế được người dân và Vườn quốc gia gây trồng và sưu tập

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Chuyên đề chỉ nghiên cứu những cây thuốc ở khu vực rừng tự nhiên được người Mường bản Suối Giăng I sử dụng

3.4 Nội dung nghiên cứu

2.4.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của sự phát triển nghề thuốc và công tác gây trồng cây thuốc nam tại bản Suối giăng I – Quy Hướng – Mộc Châu - Sơn La

` 2.4.2 Hiện trạng gây trồng cây thuốc nam tại bản Suối Giăng I

2.4.3 Kiến thức bản địa của người Mường trong việc gây trồng một số cây thuốc có giá trị

2.4.4 Kiến thức bản địa của người Mường trong việc thu hái, chế biến

và sử dụng một số cây thuốc có giá trị cao

2.4.5 Kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị

2.4.6 Một số đề xuất

Trang 14

3.5 Phương pháp nghiên cứu

3.5.1 Phương pháp kế thừa

Phương pháp này được sử dụng trong quá trình thu thập và phân tích những tài liệu có sẵn, những thông tin ban đầu về các vấn đề về hiện trạng tự nhiên, kinh tế, xã hội liên quan đến vấn đề nghiên cứu

3.5.2 Phương pháp PRA

Phương pháp này được sử dụng để thu thập những thông tin về cây thuốc thông qua phỏng vấn: Người dân bản địa

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Điều tra, phỏng vấn tại cộng đồng những cây thuốc mà người Dao tại thôn Yên Sơn đang thu hái, sử dụng

Cách chọn người được phỏng vấn cung cấp thông tin (CCTT): người được phỏng vấn là những người đang thu hái, chế biến và bán thuốc Số người cung cấp thông tin là những người có kinh nghiệm trong việc thu hái,

sử dụng, chế biến và công dụng của cây thuốc xác định căn cứ vào “đường cong loài” Khi tăng số người cung cấp thông tin lên mà số loài không tăng thì kết thúc phỏng vấn

Trang 15

Mẫu phiếu điều tra như sau:

Phỏng vấn người dân về tình hình sinh trưởng của một số loài cây thuốc đã được gây trồng trong vườn theo mẫu sau:

với ở rừng Địa

phương

Thường

Không đạt Sau đó họp nhóm dân (10 người), phỏng vấn xem những cây nào là cây thuốc có giá trị cao (trong tổng số 15 cây họ lựa chọn ra) theo phương pháp phân loại, xếp hạng và cho điểm Phương pháp này dựa trên những kiến thức thực tế của người dân, họ cùng nhau thảo luận và đưa ra những tiêu chí lựa chọn như: giá trị kinh tế, giá trị sử dụng (có chữa được nhiều bệnh hay không), gây trồng, nguồn giống Nếu tiêu chí nào thuận lợi thì họ giơ tay bỏ phiếu cho tiêu chí ấy Phương pháp này được thể hiện theo mẫu:

Loài

cây

Chỉ tiêu đánh giá

Tổng điểm Giá trị kinh

tế

Giá trị sử dụng

Nguồn giống

Khả năng gây trồng

Vì tên cây thuốc trong danh mục nói trên được ghi chép bằng tiếng Dao, tiếng Việt nhưng nhiều cây họ không biết tên tiếng phổ thông như thế nào nên phải thu thập mẫu cây và chụp ảnh màu để xác định tên Latinh của chúng Việc làm này có tác dụng rà soát lại và phát hiện thêm những tên đồng nghĩa, tránh nhầm lẫn giữa cây này với cây khác, góp phần phát hiện và bổ sung thêm vào danh lục những cây thuốc phổ thông mà người địa phương không biết Quá trình điều tra thu thập có cộng tác viên đi cùng

- Phương pháp xử lý số liệu

Trang 16

Xử lý mẫu: Mẫu được ép vào giấy báo, kẹp chặt lại rồi phơi khô

Xác định tên khoa học: Việc định tên khoa học của các mẫu tiêu bản được xác định theo phương pháp so sánh hình thái dựa trên những mẫu tiêu bản có tại phòng tiêu bản của Trường Đại học Dược, các hình ảnh có trong

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi, “Cây cỏ Việt Nam" của Phạm Hoàng Hộ

Lập danh lục: Từ các mẫu vật đã có tiến hành lập danh lục thực vật Tên khoa học của các loài được kiểm tra và chỉnh lý theo bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” Danh lục cuối cùng được xác định theo nguyên tắc: Tên các họ và trong mỗi họ thì tên cây được sắp xếp theo thứ tự a, b, c

Bảng danh lục các loài cây thuốc được lập theo mẫu sau:

Cột 4: Tên địa phương

Cột 5: D cây = Dạng sống của cây (Th = thảo, cau dừa; B = bụi: G = gỗ; Dl = dây leo; Ps = phụ sinh, ký sinh)

Cột 6: MTS = môi trường sống (N = núi rừng; Đ = đồi hoang; V = vườn nhà, bản; Kh = khe suối, bãi, nơi đất ẩm)

Cột 7: BPSD = bộ phận sử dụng ( Th = thân; L = lá; R = rễ, củ; V = vỏ; Ho = hoa; Ha = hạt; Nh = nhựa, tinh dầu; Ca = Cả cây)

Cột 8: CD = cách dùng ( Ks = khô sắc; Ts = tươi sắc; Gi = giã, Ng = ngâm hoặc chế rượu; Kh = khác)

Cột 9: Bệnh chữa trị

Trang 17

CHƯƠNG IV ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

4.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1 Vị trí địa lý

- Xã Quy Hướng nằm ở phía Đồng của huyện Mộc Châu:

+ Phía Tây giáp với xã Tân Hợp của huyện Mộc Châu

+ Phía Đông giáp với xã Suối Bàng của huyện Mộc Châu

+ Phía Bắc giáp với xã Nà Mường của huyện Mộc Châu

+ Phía Nam giáp với xã Tân phong huyện Phù Yên

4.1.2 Khí hậu, thuỷ văn

a Khí hậu

- Khí hậu nằm trong vùng đất đai nhiệt đới gió mùa nóng ẩm,được chia làm 02 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô

+ Mùa mưa từ tháng 04 đến tháng 10

+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 03 năm sau

Lượng mưa trung bình từ 1600 đến 1800 mm/năm

+ Độ ẩm trung bình là từ 60 đến 70 phần trăm

+ Nhiệt độ bình quân của mùa hè là: 25-30 độ C

+ Nhiệt độ bình quân của mùa Đông là: 12- 15 độ C

b Thuỷ văn

Xã Quy Hướng là xã có nhiều đồi núi nhưng cũng có nhiều mó nước, phân bố tương đối ở các khe suối để phục vụ cho cuộc sống của nhân dân

Trang 18

Trong xã cũng đã được nhà nước đầu tư như xây dựng hệ thống kênh mương đến bản Nà Cung, bản Nà Đưa, lắp ống dẫn nước vào từng bản, từng

hộ gia đình đã được sử dụng nước sạch

4.1.3 Địa hình

Địa hình của xã Quy Hướng chủ yếu là đồi núi, đất dốc nhiều rông khe

- Xã có độ cao 1.512 m so với mặt nước biển

- Độ dốc trung bình là từ 20 độ đến 40 độ, hướng dốc là hướng Tây Bắc, với địa hình Rất khó khăn trong sản xuất nông nghiệp Vì đường vận chuyển lương thực tương đối khó khăn với tốc độ khá lớn Do vậy gặp nhiều khó khăn cho sản xuất các loại hoa màu như: Ngô, Lúa, Đất đai của xã vẫn chưa bạc màu hoàn toàn chất dinh dưỡng trong đất vẫn còn đảm bảo để sản xuất các loài cây trên

4.1.4 Đá mẹ, thổ nhưỡng

Đá mẹ chủ yếu là đá vôi, đất ở đây chủ yếu là đất Feralít màu đỏ vàng, phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Thuộc loại đất khá tốt, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất có khả năng nuôi trồng các loại cây tốt

4.1.5 Sinh vật

- Về thực vật: Chủ yếu là cây

- Về động vật đất: Chủ yếu là thú rừng và một số loài sinh vật khác

4.1.6 Tác động của con người

- Con người tác động đến tài nguyên đất, làm cho tài nguyên đất bị suy thoái, con người chặt phá rừng, làm cho đất rừng bị thu hẹp

4.2 Dân sinh, kinh tế xã hội

4.2.1 Dân số, dân tộc và lao động

Dân số trong toàn xã có:883 hộ với 3859 người dân

Trang 19

Thành phần dân tộc: Toàn xã có 4 dân tộc Kinh, thái, Mường, Dao sinh sống, trong đó có 400 hộ khá, 300 hộ trung bình,183 hộ nghèo

4.2.2 Tình hình chung kinh tế xã hội

Quy Hướng là một xã vùng III huyện Mộc Châu nằm ở phía Đông Bắc huyện Mộc Châu cách trung tâm huyện 60 km Trong năm 2012-2013 xã Quy Hướng huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La, đã có mục tiêu kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội những bước đầu đã triển khai đến cho người dân trong bản, làm tăng năng sản lượng lương thực cho nhân dân đạt 2.956.37 , đối với lúa nước

212 tấn,lúa nương 15 tấn,ngô 8135 tấn, sắn 660 tấn.Trong xã chủ yếu chăn nuôi gia súc lấy sức kéo, gia cầm chủ yếu phục vụ cho gia đình

Trong những năm gần đây, nền kinh tế của xã đã có những bước phát triển khá, hạ tầng kinh tế- xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng và ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên nền kinh tế của xã vẫn còn kém phát triển, chuyển dịch cơ cấu cây trồng cũng chậm, trình độ dân trí không đồng đều, nhận thức

về chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước của một bộ phận nhân dân cũng hạn chế; giao thông đi lại khó khăn Mức thu nhập của người dân cũng thấp, đời sống của một bộ phận nhân dân cũng nhiều khó khăn

* Thuận lợi

Trang 20

- Đảng và nhà nước đó cú nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sản xuất nông lâm nghiệp nói riêng, các chủ trương chính sách này thực sự đi vào lũng dân và được nhân dân đồng tình ủng hộ

- Các ban ngành của huyện thường xuyên quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, đặc biệt là các bản đặc biệt khó khăn, có tiềm năng đất đai đó góp phần làm thay đổi cơ cấu cây trồng

- Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm nghiệp đó làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng, góp phần quan trọng trong công tác xoá đói, giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân

* Khó khăn

Tình hình diễn biến khí hậu, thời tiết ngày càng phức tạp bất lợi cho sản xuất nông- lâm nghiệp, sâu bệnh hại cây trồng vật nuôi diễn ra trên diện rộng làm ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông – lâm nghiệp và đời sống của nhân dân

- Trình độ dân trí giữa các bản không đồng đều, do đó việc tiếp thu các quy trình kỹ thuật, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, việc vận động nhân dân thay đổi phong tục sản xuất lạc hậu cũng gặp nhiều khó khăn, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thâm canh tăng vụ và áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất cũng chậm

- Địa bàn xã rộng, giao thông đi lại khó khăn, nhất là trong những tháng mùa mưa đó ảnh hưởng nhiều đến công tác lãnh đạo và chỉ đạo của UBND cũng như các ban, ngành trong xã

- Công tác quản lý nhà nước của một số ban, ngành cũng yếu, công tác phối kết hợp giữa các ban, ngành với các bản cũng hạn chế Một số bản chưa chủ động triển khai nhiệm vụ, vẫn tư tưởng trông chờ, ỷ lại ở cấp trên

Trang 21

4.2.3 Giao thông

Xã Quy Hướng đã có đường giao thông đi lại ,nhưng chỉ dế đi lại trong mùa khô.Còn mùa mưa đi lại rất khó khăn ,trong đó con đường đi vào bản vẫn còn rất hẹp chưa được mở rộng

4.2.4 Nước sinh hoạt

Xã Quy Hướng đã có hệ thống nước sạch như công trình nước sạch đến từng hộ gia đình Rất thuận tiện cho việc tưới tiêu của nhân dân, phục vụ cuộc sống nhân dân trong hàng ngày

4.2.5 Văn hoá

Xã đã có 12 bản văn hoá thường xuyên duy trì luyện tập biểu diễn để nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, phong trào ”Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá luôn được quan tâm đẩy mạnh”,có 10/12 bản đạt tiêu chuẩn 4 không Ma tuý

Toàn xã có 1 trạm y tế với 10 giường bệnh, 05 cán bộ y tế, trong đó có

3 y sỹ và 12 y tế bản, trong trạm đã có 01 tủ thuốc, cộng tác viên y tế cơ bản

Trang 22

đáp ứng nhu cầu chăm sóc trẻ em và phụ nữ có thai được quan tâm, tiêm vác xin phòng chống lao, bại liệt, viêm gan, viêm lão, bạch hầu đạt 100%

CHƯƠNG V

DỰ KIẾN KẾT QỦẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của sự phát triển nghề thuốc và công tác gây trồng cây thuốc nam tại bản Suối Giăng I -

Xã Quy Hướng - Mộc Châu

5.1.1 Điểm mạnh:

Hầu hết các phương pháp gây trồng của người dân bản suối Giăng I dựa trên những hiểu biết của chính người dân Họ đã được thừa kế những kinh nghiệm truyền thống từ ông bà, cha mẹ Từ nhỏ họ đã tiếp xúc với các loài cây thuốc, họ dễ dàng nhận biết cây thuốc, cách thu hái, sử dụng và bảo quản chúng Qua họat động nương rẫy và tìm kiếm cây thuốc đã giúp họ có những hiểu biết về đặc điểm phân bố và sinh thái của từng loài cây Do vậy, khi gây trồng ở vườn nhà họ đã biết cách chọn đất và những hoàn cảnh thuận lợi để cây thuốc phát triển tốt Họ nắm bắt được những quy luật sinh trưởng, phát triển của từng loài cây đã giúp họ chủ động được nguồn giống cũng như thời vụ gây trồng cho phù hợp

5.1.2 Điểm yếu

Các loài cây mà người Mường sử dụng chủ yếu là cây rừng, chúng được phát triển ở tự nhiên, hội tụ đầy đủ các điều kiện sinh thái như: Ánh sáng, dinh dưỡng đất đai, khí hậu…Khi gây trồng tại vườn nhà, hầu hết các nhân tố sinh thái thay đổi Thêm nữa trong vườn nhà không có những cây to

để leo bám và che bóng nên các cây được gây trồng tại vườn nhà có tỉ lệ sống không cao, dễ bị sâu bệnh, chất lượng không bằng những cây sống tự nhiên trong rừng

Hầu như chỉ có phụ nữ tham gia vào các công việc khai thác, gây trồng, chế biến và tiêu thụ thuốc nam Sự tham gia của nam giới là không đáng kể

Trang 23

Thế hệ trẻ ít quan tâm đến cây thuốc nam nên những cây thuốc bài thuốc quý có thể đứng trước nguy cơ bị thất truyền

Đất vườn nhà là nơi mà người dân đã canh tác nhiều năm với nhiều loài cây trồng khác nhau nên đất hầu hết đã bị bạc màu, độ tơi xốp và lượng mùn thấp Người dân nơi đây thường không sử dụng phân chuồng trong canh tác cũng làm cho đất càng ngày càng xấu, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng cây trồng

5.1.3 Cơ hội

Cuối năm 2008, Hợp tác xã thuốc nam ở thôn đã được thành lập và

đi vào hoạt động ổn định Hợp tác xã thành lập đã giúp cho các hội viên biết thêm được tên những cây thuốc thường dùng bằng tiếng Kinh, biết thêm được một số kỹ thuật gây trồng những cây thuốc tại vườn nhà, trao đổi những kiến thức về công dụng, cách dùng những loài cây thuốc, bài thuốc quý

Nghề thuốc nam tại thôn vì đã có uy tín nên đã tạo được thị trường tiêu thụ rộng cả ở trong và ngoài tỉnh Có nhiều tổ chức bên ngoài hỗ trợ về

kỹ thuật gây trồng, phát triển cây thuốc như trường Đại học Dược Hà Nội, trường Đại học Nông nghiệp, Viện Quân y, Hội y học cổ truyền thành phố Hà Nội…Điều đó góp phần bảo tồn và phát triển những loài cây thuốc, những bài thuốc quý hiếm

5.1.4 Thách thức

Nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng giảm nên việc tìm giống cây

thuốc ngày càng khó khăn

Do Quy Hướng là một xã có địa hình bán sơn địa, nguồn nước sử dụng chủ yếu là nước nguồn nên lượng nước tưới tiêu vào mùa khô rất hạn chế Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới công tác gây trồng cây thuốc

Tâm lý người dân cũng cản trở tới công tác gây trồng Người dân thường ít trồng cây thuốc là cây gỗ vì thời gian thu hoạch của nó rất dài cho nên họ thường trồng những cây dây leo, cây bụi sinh trưởng nhanh, ưa sáng

Quan điểm về sự tham gia của giới đối với nghề thuốc còn sai lầm

Họ coi nghề thuốc là nghề của phụ nữ - những người tham gia nội trợ và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình Việc làm thuốc yêu cầu phải có sự tỉ mỉ, cẩn trọng trong từng công đoạn, họ cho đó là công việc nhỏ nhặt mà nam giới không thể tham gia

Trang 24

Sự thiếu quan tâm của thế hệ trẻ là trở ngại lớn cho công tác bảo tồn

và phát triển cây thuốc trong vườn gia đình

Đất trồng cây lương thực hiện nay bị thu hẹp nên họ phải tận dụng diện tích đất vườn để trồng ngô, khoai, sắn để phục vụ đời sống Do vậy, diện tích đất để trồng cây thuốc càng ngày càng bị thu hẹp

5.2 Danh lục và hiện trạng gây trồng một số loài cây thuốc nam tại bản Suối Giăng I – Quy Hướng – Mộc Châu

5.2.1 Danh lục các loài cây thuốc được người Mường sử dụng

Từ những mẫu phỏng vấn người dân, việc so sánh hình thái của các mẫu đã thu hái với các mẫu tiêu bản, tài liệu có sẵn, tôi đã xác định được danh lục các loài

cây thuốc được người Mường sử dụng Danh lục này được thể hiện ở: Phụ biểu

5.2: Danh lục các loài cây thuốc dược người Mường sử dụng

Các cây thuốc được người Mường xã Quy Hướng sử dụng được thể hiện ở biểu đồ sau:

Hình1: Biểu đồ số cây thuốc được người Mường sử dụng

0 50 100 150 200 250

Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy số loài cây thuốc tăng lên tỉ lệ thuận với

số người cung cấp thông tin Khi số người cung cấp thông tin tăng lên đến 32 người thì số loài cây thuốc đạt đến 225 cây Khi số người cung cấp thông tin

Trang 25

tăng lên đến 34 người thì số loài cây thuốc ổn định Như vậy đường cong loài

đã đạt đến giới hạn

Trong tổng số 225 cây thuốc được người Mường trong xã sử dụng có thể chia ra thành các dạng sống như sau:

Dạng cây thân gỗ: Cây gỗ lớn, gỗ nhỏ

Dạng cây bụi : Cây bụi, bụi thân bò

Dạng cây thảo : Cây thân thảo

Dạng cây dây leo : Cây bụi leo, thảo leo, gỗ leo

Dạng cây phụ sinh: Cây sống ký sinh, phụ sinh

Kết quả thống kê các dạng cây được sử dụng làm thuốc của người Mường xã Quy Hướng được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 1 Sự đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc được người Mường xã Quy Hướng sử dụng

Dạng sống Cây gỗ Cây bụi Cây thảo Dây leo Phụ sinh Tổng

Hình 2: Biểu đồ tỉ lệ các nhóm dạng sống của cây thuốc được người Mường xã Quy Hướng sử dụng

Nhìn vào biểu đồ ta thấy, người Mường dùng những cây thuốc có dạng sống là cây gỗ là nhiều nhất ( chiếm 28,44%), sau đó là cây thân thảo (chiếm

Trang 26

26,67%), kế tiếp là cây dây leo ( 22,67%), cây bụi ( 21,33%) và cuối cùng là những cây phụ sinh

Các loài thực vật làm thuốc của người Mường xã Quy Hướng có môi

trường sống đa dạng Có những loài chỉ sống trong một môi trường nào đó nhưng cũng có loài có thể sống ở nhiều môi trường khác nhau Căn cứ vào điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu ta có thể chia ra các môi trường sống chính

của thực vật làm thuốc được người Mường xã Quy Hướng sử dụng như sau:

Sống ở gần nước: Khe suối, bãi nước, nơi đất ẩm quanh năm

Sống ở núi : Trong rừng sâu, rừng thứ sinh, ven rừng

Sống ở đồi : Đồi, trảng cây bụi

Sống ở vườn : Vườn nhà, bản làng

Tổng hợp các loài cây thuốc theo môi trường sống được thống kê ở bảng sau:

Bảng 2: Sự phân bố số loài cây thuốc theo môi trường sống

STT Môi trường sống Số loài Tỷ lệ % so với tổng số loài

Trang 27

Hình 3: Biểu đồ phân bố các loài cây theo môi trường sống

Nhìn vào biểu đồ ta thấy, số cây thuốc sống ở vườn nhà, bản là cao nhất với 108 cây, sau đó là ở núi 95 cây, đồi 65 cây, gần nước là 27 cây Kết quả này cho thấy cây thuốc rất thích hợp với điều kiện sống ở vườn, sau đó là ở núi Điều kiện sống ở đồi và gần nước ít thích hợp với các loài cây thuốc hơn

5.2.2 Tình hình sinh trưởng của các loài cây thuốc được gây trồng

Biểu 1: Tình hình sinh trưởng của các loài cây thuốc được gây trồng

Ngày đăng: 01/04/2016, 10:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Khắc Bảo (1994), “Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà Giang” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển cây dược liệu ở Lào Cai và Hà Giang
Tác giả: Trần Khắc Bảo
Năm: 1994
2. Võ Văn Chi (1997), “Từ điển cây thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Từ điển cây thuốc Việt Nam”
Tác giả: Võ Văn Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 1997
3. Nguyễn Thị Ngọc Diệp (1998), “Góp phần điều tra cây thuốc cuả người Dao ở Vườn Quốc Gia Ba Vì” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Góp phần điều tra cây thuốc cuả người Dao ở Vườn Quốc Gia Ba Vì
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Diệp
Năm: 1998
4. Ngô Mạnh Đạt (2005), “Kiến thức sinh thái bản địa trong gây trồng một số loài cây thuốc nam của người Dao tại thôn Yên Sơn - xã Ba Vì - huyện Ba Vì- tỉnh Hà Tây”, Luận văn tốt nghiệp trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kiến thức sinh thái bản địa trong gây trồng một số loài cây thuốc nam của người Dao tại thôn Yên Sơn - xã Ba Vì - huyện Ba Vì- tỉnh Hà Tây”
Tác giả: Ngô Mạnh Đạt
Năm: 2005
5. Nguyễn Ngọc Hà (2000), “Nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào Dao trong gây trồng một số loài cây thuốc nam tại thôn Hợp Nhất xã Ba Vì - huyện Ba Vì-tỉnh Hà Tây”, Luận văn tốt nghiệp trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu kiến thức bản địa của đồng bào Dao trong gây trồng một số loài cây thuốc nam tại thôn Hợp Nhất xã Ba Vì - huyện Ba Vì-tỉnh Hà Tây”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Năm: 2000
6. Phạm Hoàng Hộ (1999), “Cây cỏ Việt Nam”, tập I, II, III, Nhà xuất bản trẻ Thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cây cỏ Việt Nam”", tập I, II, III, Nhà xuất bản trẻ Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ Thành phố Hồ Chí Minh”
Năm: 1999
7. Trần Hùng (2000), “Danh mục cây thuốc người Dao ở Vườn Quốc Gia Ba Vì” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Danh mục cây thuốc người Dao ở Vườn Quốc Gia Ba Vì
Tác giả: Trần Hùng
Năm: 2000
8. Đỗ Tất Lợi (2006), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học, In lần thứ 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
9. Lê Thiên Lý (2003), “Tìm hiểu thành phần, dạng sống và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của bà con dân tộc xã Tân Phú – Thanh Sơn – Phú Thọ”, Luận văn tốt nghiệp Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tìm hiểu thành phần, dạng sống và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của bà con dân tộc xã Tân Phú – Thanh Sơn – Phú Thọ”
Tác giả: Lê Thiên Lý
Năm: 2003
10. Trần Văn Ơn (2002), “Góp phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc Gia Ba Vì”, Luận án tiến sĩ Dƣợc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Góp phần nghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc Gia Ba Vì”
Tác giả: Trần Văn Ơn
Năm: 2002
11. Nguyễn Thị Tảo (1999), “Nghiên cứu đặc tính sinh thái học, sinh vật học của một số loài cây dược liệu bản địa quý hiếm làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng ở Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu đặc tính sinh thái học, sinh vật học của một số loài cây dược liệu bản địa quý hiếm làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng ở Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây
Tác giả: Nguyễn Thị Tảo
Năm: 1999
12. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự, “Điều tra thành phần cây thuốc và bài thuốc của đồng bào Dao ở huyện Ba Vì, Hà Tây” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Điều tra thành phần cây thuốc và bài thuốc của đồng bào Dao ở huyện Ba Vì, Hà Tây
13. “Tên cây rừng Việt Nam”, Nhà xuất bản Nông nghiệp, (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tên cây rừng Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1.  Sự  đa  dạng  về  dạng  sống  của  các  loài  cây  thuốc  được  người  Mường xã Quy Hướng sử dụng - Kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị tại rừng tự nhiên suối giăng i   xã quy hướng   mộc châu   sơn la
ng 1. Sự đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc được người Mường xã Quy Hướng sử dụng (Trang 25)
Bảng 2: Sự phân bố số loài cây thuốc theo môi trường sống - Kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị tại rừng tự nhiên suối giăng i   xã quy hướng   mộc châu   sơn la
Bảng 2 Sự phân bố số loài cây thuốc theo môi trường sống (Trang 26)
Hình 3: Biểu đồ phân bố các loài cây theo môi trường sống - Kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị tại rừng tự nhiên suối giăng i   xã quy hướng   mộc châu   sơn la
Hình 3 Biểu đồ phân bố các loài cây theo môi trường sống (Trang 27)
Hình 4. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % số cây đƣợc gây trồng. - Kiến thức bản địa và kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc có giá trị tại rừng tự nhiên suối giăng i   xã quy hướng   mộc châu   sơn la
Hình 4. Biểu đồ thể hiện tỉ lệ % số cây đƣợc gây trồng (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w