Ở Sơn La việc trồng nấm c ng đã được đầu tư và phát triển,nhưng việc phát triển không tập trung còn phân bố lẻ tẻ ở nhiều nơi, và hai Huyện trồng nhiều nhất ở tỉnh Sơn La là Huyện Thuận
Trang 1KHẢO SÁT ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ GIÁ THỂ VÀ CHẾ PHẨM
VI SINH ĐẾN SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA NẤM SÒ TÍM VÀ NẤM
SÒ TRẮNG TẠI XÃ MƯỜNG É – HUYỆN THUẬN CHÂU
– TỈNH SƠN LA
Giảng viên hướng dẫn : Vũ Thị Ngọc Ánh
Sinh viên thực tập : Quàng Thị Dỏi
Sơn La - năm 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập ngoài sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ tận
tình của cô giáo Vũ Thị Ngọc Ánh, cùng các thầy cô giáo trong khoa Nông -
Lâm đã tận tình chỉ bảo em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể thầy cô giáo trong khoa Nông – Lâm,
đã giúp đỡ, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực tập
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến cô giáo Vũ Thị Ngọc Ánh, giảng viên khoa Nông Lâm, người đã tận tình chỉ bảo em trong suốt
thời gian thực tập và hoàn thành chuyên đề này
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên tôi trong suất quá trình thực hiên chuyên đề
Do kiến thức và thời gian thực tập có hạn chế cho nên báo cáo này không tránh khỏi sai sót Kính mong thầy cô và bạn bè góp ý để báo cáo được hoàn thiện hơn
Sơn La, ngày 9 Tháng 5 năm 2013
Quàng Thị Dỏi
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Mục đích 2
1.2 Yêu cầu 2
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
2.1 Giá trị dinh dưỡng 3
2.2 Giá trị dược liệu của nấm ăn 3
2.3 Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm và sợi nấm, vai trò của giống nấm 4
2.3.1 Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm 4
2.3.2 Vai trò của giống nấm 5
2.3.3 Các giống nấm phổ biến 5
2.4 Một số nấm bào ngư phổ biến 6
2.4.1 Bào ngư xám (Pleurotus sajor - caju) 6
2.4.2 Nấm bào ngư Đài Loan hay bào ngư Nhật (Pleurotus cytidiosus) 6
2.4.3 Nấm sò tím (Pleurotus ostreatus) 6
2.4.4 Nấm sò trắng (Pleurotus florodanus) 6
2.5 Giá trị của nấm sò 6
2.6 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trong nước 10
2.7 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới 15
2.8 Tình hình sản xuất Nấm ở Thuận Châu 20
2.9 Hiệu quả kinh tế của việc trồng Nấm 21
PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng và vật liệu 22
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.2.1 Phương pháp nghiên cứu 22
Trang 53.2.2 Bố trí thí nghiệm 22
3.2.3 Xử lí nguyên liệu 23
3.2.4 Kĩ thuật trồng nấm trong túi màng mỏng 24
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 24
3.3.1 Chỉ tiêu sinh trưởng(cụm) 24
3.3.2 Chỉ tiêu phát triển 25
3.3.3 Chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất 25
3.3.4 Chỉ tiêu mức độ nhiễm sâu bệnh 26
3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 26
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Thời gian sinh trưởng của nấm 27
4.1.1 Thời gian từ cấy giống đến khi nấm ăn trắng hết bịch và rạch bịch 27
4.1.2 Thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch 28
4.1.3 Thời gian từ cấy giống đến khi nấm ăn trắng hết bịch và rạch bịch 28
4.1.4 Thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra các vết rạch 29
4.1.5 Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch đợt 1 29
4.1.6 Thời gian từ khi cấy giống đến khi thu hái đợt nấm cuối cùng 29
4.2 Ảnh hưởng của sâu bệnh hại đến sinh trưởng và phát triển của nấm Sò 30
4.3 Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng của nấm 30
4.3.1 Chiều dài m nấm 30
4.3.1.1.Chiều dài m nấm và tốc độ tăng chiều dài m nấm 30
4.4.2 Đường kính gốc nấm 34
4.4 Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng của nấm 35
4.4.1 Chiều dài cuống nấm 35
4.4.1.1.Chiều dài cuống nấm và tốc độ tăng chiều dài cuống nấm 35
4.4.1.2.Chiều dài cuống nấm và tốc độ tăng chiều dài cuống nấm 37
4.4.1.3 So sánh chiều dài của nấm giữa các công thức (cm) 38
4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất nấm Sò trên các nguyên liệu 40
4.5.1 Số cây trên cụm của nấm Sò trên các công thức thí nghiệm 40
4.5.1.1 Khối lượng trung bình của một cụm 40
Trang 6PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.1.1 Về sinh trưởng và phát triển 42
5.1.2 Về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 42
5.1.3 Về hiệu quả kinh tế 42
5.2 Kiến nghị 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
Trang 7PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, nhu cầu ăn uống của con người ngày càng được nâng cao Việc lựa chọn các loại thực phẩm đảm bảo an toàn cho sức khoẻ là vấn đề được quan tâm hàng đầu của người tiêu dùng
Nấm ăn là một trong những loại thực phẩm được nhiều người tin cậy lựa chọn để sử dụng hàng ngày nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong đó
có rất nhiều nấm được sử dụng làm thực phẩm như giàu chất dinh dưỡng, làm thuốc như nấm linh chi
Nấm sò là loài nấm dễ trồng, cho năng suất cao, phẩm chất ngon, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng khá cao, cung cấp một lượng đáng kể chất đạm, đường bột, nhiều vitamin và khoáng chất, đồng thời là dược liệu quí giá trong việc duy trì, bảo vệ sức khỏe phòng chống nhiều bệnh kể cả ung thư, ung bướu
và c ng là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị
Thực tế nước ta có nguồn nguyên liệu trồng nấm rất sẵn như Rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bã mía của các nhà máy đường… Nếu sử dụng các phế thải này một cách thích hợp góp phần giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, có thể ứng dụng trồng nấm sò mang lại hiệu quả kinh tế cao Từ đó nghề trồng nấm có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, nguồn nguyên liệu để sản xuất nấm rất dồi dào, với diện tích nhỏ vẫn có thể cho năng suất cao, đầu tư thấp vốn vòng quay nhanh Tuy nhiên đa số người trồng chỉ dựa trên kinh nghiệm là chính, ít có áp dụng biện pháp kỹ thuật thích hợp và chưa chú trọng đến các nguồn nguyên liệu có sẵn trong nông nghiệp Mục đích nhằm tận dụng tối đa những nguyên liệu nông nghiệp trên để giúp góp phần giảm ô nhiễm môi trường và giúp nông dân tăng thêm thu nhập, tiết kiệm thời gian so với nghề trồng nấm truyền thống
Nấm Sò là loài có phổ biến thích nghi rộng trồng được trong các điều kiện thời tiết khác nhau nhiệt độ dao động từ 130
C - 200C đối với nhóm nấm chịu lạnh, từ 24o
C - 28oC đối với nhóm nấm chịu nhiệt độ cao
Hiện nay việc nuôi trồng nấm ăn đặc biệt là nấm sò đã được người dân chú
ý Tuy nhiên vẫn còn ở mức độ nhỏ lẻ, manh mún chưa có sự đầu tư.Việc nuôi trồng nấm chủ yếu phát triển trên nền cơ chất tự nhiên mà không bổ sung thêm
Trang 8các chất dinh dưỡng hữu cơ khác nên thường cho năng suất thu nhập không cao
Ở Sơn La việc trồng nấm c ng đã được đầu tư và phát triển,nhưng việc phát triển không tập trung còn phân bố lẻ tẻ ở nhiều nơi, và hai Huyện trồng nhiều nhất ở tỉnh Sơn La là Huyện Thuận Châu và Huyện Sông Mã do hai huyện này
là hai huyện có diện tích đất sản xuất lúa lớn nhất toàn tỉnh với diện tích cụ thể
là Huyện Thuận Châu (6 934 ha) và Huyện Sông Mã, trong các huyện khác trong tỉnh c ng có khả năng và điều kiện thuận lợi để cho các loại nấm phát triển, đặc biệt là nấm sò, nấm rơm, nấm linh chi…trong đó huyện Thuận Châu là một trong các huyện có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cần thiết để cho nấm sinh trưởng và phát triển việc tìm ra một môi trường nuôi cấy tốt sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao Nấm ăn là một loại thực phẩm có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng đặc biệt chứa nhiều loại vitamin.B, C, K, A, D, E Trong đó có nhiều nhất là vitamin B B1, B2, B3, Nếu so với rau rất nghèo sinh tố B12 thì chỉ cần ăn 3 gam nấm tươi là đủ cung cấp lượng sinh tố B12 cho nhu cầu mỗi ngày Tương tự như hầu hết các loại rau quả khác nấm ăn chứa nhiều các nguyên tố khoáng (K, Na, Fe, Al, Mn,…) Nhằm tìm ra loại giá thể nào kết hợp với chế độ
xử lý chế phẩm vi sinh ở mức độ khác nhau sẽ mang lại lợi ích rất lớn Vì vậy
tôi quyết định thực đề tài “Khảo sát ảnh hưởng của một số giá thể và chế phẩm vi sinh đến sự tăng trưởng của nấm sò tím và nấm sò trắng tại xã Mường É - huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La”
1.1 Mục đích
- Xác định được sự phát triển của các cá thể nấm phát triển trên cơ chất
có bổ sung dinh dưỡng khác nhau cho nấm ăn đạt năng suất và phẩm chất tốt nhất được
- Kết luận về khả năng phát triển và hướng phát triển nấm trên cơ chất có giá
trị kinh tế là hướng đi mới cho ngành sản xuất nấm tại địa bàn Huyện Thuận Châu
1.2 Yêu cầu
- Khảo sát khả năng và tốc độ sinh trưởng của cây
- Khảo sát độ bền của cá thể nấm sau thu hoạch
- Khảo sát hình thái và chất lượng của cá thể nấm
Trang 9PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2.1 Giá trị dinh dƣỡng
Nấm ăn là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng và giá trị thực phẩm
cao Nấm ăn có đặc điểm là chứa nhiều protein, ít mỡ, ít calo Ngoài ra, nấm còn chứa lượng canxi, sắt phong phú, còn có các chất có ích cho cơ thể con người như đa đường, khoáng và sinh tố
Sau khi được chiếu ánh mặt trời, tất cả những chất đặc biệt trong nấm đều chuyển thành Vitamin D Sau khi được cơ thể hấp thụ, chất này sẽ có khả năng tăng sức miễn dịch
Nấm còn kích thích cơ thể sản sinh ra nhiều interferon, giúp cơ thể tiêu diệt virus gây bệnh Bởi vậy, nấm sẽ rất có lợi khi chúng ta bị cảm cúm Người ta coi protein của nấm ăn, của thực vật, của động vật là nguồn đạm quan trọng nhất của con người sau này
Theo phân tích của các nhà khoa học trong 112 loai nấm ăn có hàm lượng bình quân Protein 25%; Lipit 8%; Gluxit 60% (trong đó có 52% đường,
xơ 8%) chất cho7%
2.2 Giá trị dƣợc liệu của nấm ăn
Trên thế giới có gần 300 chủng nấm có giá trị dược liệu, nhưng hiện nay con người mới thực sự sử dụng làm thuốc chỉ 20 - 30 chủng nấm Nấm được sử dụng làm thuốc theo phong tục dân gian và các bài thuốc đông y Trung Quốc là nước dùng nấm làm thuốc nhiều nhất và gồm nhiều loại nấm như Linh chi, Trư linh, Lôi hoàn, Mã bột, Đông trùng hạ thảo,…Ngoại ra với hướng nghiên cứu thực phẩm trị liệu đề phòng và điều trị bệnh thì đa số các loại nấm ăn khác đều ít nhiều mang lại tác dụng dược liệu của nấm
Nấm có tác dụng chống khối u Ở Nhật Bản người ta đã chiết xuất được chất đa đường từ bào tử nấm đẻ chống khối u, khả năng chống khối u trên cơ đạt
80 -90 % có ở 8 loại nấm Chất đa đường Lentinan ở quả thể nấm hương có tác
dụng chống ung thư rất mạnh Nấm rơm, Nấm kim châm có chứa các chất có tác
dụng ức chế quá trình hoạt động của tế bào u,… Hiện nay cá chất đa đường của
Trang 10nấm Linh chi, Tru linh, nấm hương đã được chiết xuất và chế thành thuốc sử dụng trên lâm sàng tại nhiều bệnh viện dể phòng và điều trị bệnh ung thư
Tăng cường khả năng miễn dịch của tế bào Các chất đa đường chiết xuất
từ nấm có tác dụng khôi phục và tăng khả năng hoạt động của tế bào và làm tăng cường sức miễn dịch của cơ thể
Một số nấm có tác dụng phòng trị bệnh tim mạch như Điều tiết chức năng của tim khi sử dụng nấm Mộc nhĩ trắng, Mộc nhĩ đen có tác dụng chữa bệnh đau nhói đau thắt tim, dùng lâu sẽ khỏi bệnh Linh chi và nấm hương có tác dụng hạ hàm lượng mỡ và cholesterol trong máu… Ngoài ra còn có tác dụng làm giảm và điều hòa huyết áp
Không chỉ vậy, nấm ăn còn có tác dụng bổ gan bổ dạ dày, tác dụng hạ đường huyết , tác dụng chống phóng xạ khử gốc hữu cơ tự do và chống lão hóa…
2.3 Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm và sợi nấm, vai trò của giống nấm
2.3.1 Đặc điểm sinh học, hình thái của bào tử nấm
Bào tử của các loại nấm ăn, nấm dược liệu không chỉ khác nhau về màu sắc, kích thước mà còn có thể rất khác nhau về hình thái cấu tạo, nhất là cấu tạo
bề mặt của bào tử
Nấm có nhiều loại, bào tử nấm của các loại nấm Sò c ng khác nhau về màu sắc, hình dạng và khả năng thích nghi với điều kiện nhiệt độ Trong điều kiện tự nhiên, vào giai đoạn sinh trưởng, thành nấm Sò sẽ phát tán bào tử nhờ gió, bào tử rải ra khắp mọi nơi, gặp điều kiện môi trường thích hợp sẽ hình thành hệ sợi nấm sơ cấp với một nhân Hệ sợi nấm sơ cấp phát triển đầy đủ tạo nên một mạng rời để hình thành hệ sợi nấm thứ cấp, sau đó có sự kết hợp của hệ sợi nấm thứ cấp hình thành quả thể nấm hoàn chỉnh
Căn cứ vào màu sắc của bào tử người ta chia các loại nấm ăn ra thành 5 nhóm:
- Nhóm bào tử màu trắng (Lentinus edodes, Pleurotus ostreatus )
- Nhóm bào tử màu đỏ (Volvariella volvacea…)
- Nhóm bào tử màu nâu (Agaricus bisporus, Agaricus bitosquis…)
Trang 11- Nhóm bào tử màu tím (Stropharia semiglobata, Naematoloma
Sublateritium…)
- Nhóm bào tử màu đen (Coprinus atramentarius, Gomphidius
viscidus…)
2.3.2 Vai trò của giống nấm
Giống nấm là yếu tố quyết định nhất trong sản xuất, giống nấm tốt đòi hỏi các yêu cầu sau:
- Thuần nhất (không lẫn các giống khác)
- Không có mầm bệnh (do nhiễm tạp, sâu bệnh…)
- Hiệu quả kinh tế (nước, khả năng kháng bệnh, giá trị thương phẩm…) Trong thực tế, việc sản xuất giống nấm là một khâu đặc biệt quan trọng trong toàn bộ quá trình nuôi trồng, quyết định đến sản lượng và chất lượng của nấm làm ra Giống tốt không những mọc nhanh và mạnh trên nguyên liệu nuôi trồng chống chịu được các mầm bệnh mà còn có nước cao, giá trị thương phẩm
tốt, chậm thoái hoá [2]
2.3.3 Các giống nấm phổ biến
Trên thế giới, nghề trồng nấm đang phát triển mạnh và rộng khắp nhất là trong 20 năm trở lại đây, 8 loài nấm ăn trồng phổ biến (bao gồm Nấm Mỡ, Nấm Trắng, Nấm Đông cô, Nấm Rơm, Nấm Kim châm, Nấm Bào ngư, Nấm Trân châu,
Nấm Mèo, Nấm Tuyết chỉ) và hơn 50 loài nấm khác đang đưa vào sản xuất [5]
Ở Việt Nam, các loại giống nấm được nuôi trồng từ nhiều nguồn khác nhau, một số giống nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Italia, Nhật Bản…một số khác sưu tầm trong nước Ngoài các giống nấm phổ biến như.Nấm
Sò, Nấm Mỡ, Mộc Nhĩ, Nấm Rơm…thì ở nước ta còn được trồng phổ biến các loại nấm Sò
- Nấm Sò màu hồng đào (Pleurotus salmoneo stramineus L Vass)
- Nấm Sò hoàng bạch (Pleurotus cornucopiae Roll)
- Nấm Sò kim đỉnh (Pleurotus citrinopileatus Sing)
- Nấm Sò tím (Pleurotus ostreatus Quél) [3]
Trang 122.4 Một số nấm bào ngƣ phổ biến
2.4.1 Bào ngư xám (Pleurotus sajor - caju)
Quả thể phẳng, lúc già đi thì cong lại, m nấm có hình tròn, hình nữa tròn, hình thận, đường kính 5-15 cm hay lớn hơn, màu trắng tro hay nâu xám, thịt nấm chắc vừa phải, màu trắng Cuống trắng muốt, dài 3-10 cm, gốc cuống có lông nhung Lúc đầu được nuôi trồng ở Ấn Độ, sau nhập vào Trung Quốc, Việt Nam,…Nấm ăn giòn, ngọt, hơi dai (Nguyễn Lân D ng, 2002).Ở nước ta nấm được trồng phổ biến ở miền Nam, nhất là ở Tp Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ
2.4.2 Nấm bào ngư Đài Loan hay bào ngư Nhật (Pleurotus cytidiosus)
Quả thể to hoặc khá to, m nấm có đường kính khoảng 7-12 cm, có khi đến
35 cm, màu nâu pha da cam- tro, trên bề mặt có vảy màu nâu đen, ở gi a có màu nâu khói trắng, ăn ngon (Nguyễn Lân D ng, 2002)
2.4.3 Nấm sò tím (Pleurotus ostreatus)
Quả thể vừa hoặc lớn, m nấm có đường kính khoảng 5 - 21 cm, màu trắng, màu trắng tro, trắng xanh nhưng khi mới nở có màu tím hay nâu xám Cuống mọc xiên, ngắn hoặc hầu như không có, dài không quá 1 - 3 cm Gốc cuống có lông nhung Vừa ăn ngon lại vừa có giá trị dược liệu, còn được gọi là nấm hương chân ngắn (Nguyễn Lân D ng, 2002)
Nấm Sò không chỉ ăn ngon mà còn có giá trị dinh dưỡng cao Trong nấm
Sò khô lượng Protein chứa khoảng 20% Trong Protein này có đầy đủ 8 loại
axit amin không thay thế và một lượng lớn Vitamin [3]
Lượng chứa một số Vitamin của nấm Sò tính trên 100g nấm khô như sau
Trang 13Bảng 2.1 Hàm lượng Vitamin của nấm Sò trên 100g nấm Sò khô
Vitamin B12
Axit pantotenic Axit folic P.Sajor -
phòng trị một số bệnh như Làm hạ huyết áp, chống béo phì, chống ung thư…
Trong thực tế gặp rất nhiều chủng nấm Sò thích ứng khác nhau với nhiệt
độ môi trường như Loại ưa lạnh (nhiệt độ thích hợp nhất 8 -13o
C), loại chịu rét (nhiệt độ thích hợp 10 -18oC), loại ưa ấm (nhiệt độ thích hợp 12 – 22oC), loại thích nghi khá rộng (12 – 24oC), loại thích nghi rộng (15 -25oC), loại ưa nhiệt (20 – 35oC) [1] Tùy từng điều kiện thời tiết, mùa vụ và tùy từng vùng sinh thái
khác nhau để trồng các loại nấm thích hợp Trồng nấm sò mang lại hiệu quả
Trang 14kinh tế khá cao, giúp tăng thêm thu nhập cho người dân và bổ sung thêm nguồn
thức ăn giàu dinh dưỡng hàng ngày
Các loài nấm sò,là nguồn thực phẩm bổ dưỡng quý giá với hàm lượng protein cao tới 33 – 43% sinh khối khô, thành phần acid amin phong phú, có đủ các acid amin không thay thế, bên cạnh đó là các thành phần gluxid, vitamin, khoáng chất, acid béo (chủ yếu là acid không no, acid hữu cơ…) Nấm bào ngư không chỉ ăn ngon mà còn giá trị dinh dưỡng cao, chứa đầy đủ các amino acid Ngoài giá trị dinh dưỡng, nấm ăn còn có nhiều đặc tính của biệt dược, có khả năng phòng và chữa các bệnh như làm hạ huyết áp, chống béo phì, chữa bệnh đường ruột Nhiều nghiên cứu cho thấy nấm bào ngư cùng một số nấm ăn khác
có tác dụng chống ung thư Bằng phương pháp khuyếch tán vào thạch nhóm nghiên cứu trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Thành phố Hồ Chí Minh đã
cho thấy nấm sò Pleurotus sajor – caju ở dạng bán cầu lệch đã có tác dụng ức chế 2 chủng vi khuẩn Gram dương S aureus và B subtilis và 2 chủng Gram âm
E coli và Pseudomonas aeruginosa
Bảng 2.3 Tỉ lệ % so với chất khô
Tên nấm Độ ẩm
(W) Protein Lipid
cacbon Tro
Hydrat-Calo (kCal) Nấm mỡ
Trang 15Bảng 2.4 Hàm lượng vitamin và chất khoáng
Đơn vị tính.( mg/100g chất khô)
Tên nấm Acid
nicotinic Riboflavin Thimin
Acid ascobic Iron Canxi Phos-pho
3,7 4,9 4,7 3,3 0,31
8,9 7,8 4,8 1,2 0,4
26,5
0
0 20,2
0
8,8 4,5 15,2 117,2 2,5
Trong nấm chứa 35–46% protein, cao hơn nấm hương, tổ thành acid amin hoàn toàn, chiếm 40 - 50% trong mấy loại acid amin cần thiết Mặt khác nấm còn chứa các thành phần glucid, vitamin, khoáng chất, acid béo (chủ yếu là acid
no, acid hữu cơ) cần thiết cho sức khỏe (Trần Văn Mão, 2004)
Ngoài ra kết quả của các nhà nghiên cứu cho thấy trong nấm bào ngư có chất kháng sinh là pleurotin, ức chế hoạt động của vi khuẩn Gram dương Bên cạnh
đó, Yoshioka và cộng sự (1975) c ng tìm thấy polysaccharide có tính kháng ung bướu Cả hai đều có nguồn gốc là glucose Trong đó chất được biết nhiều nhất, bao gồm có 69% β (1-3) Glucan, 13% Galactose, 6% Mannose, 13% Uronic acid (Lê Duy Thắng, 2001)
Trang 16Đồng thời nấm còn chứa nhiều acid folic hơn cả thịt và rau rất cần cho những người bị thiếu máu Riêng về hàm lượng chất béo và tinh bột ở nấm thì thấp, phù hợp cho những bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, cao huyết áp
2.6 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trong nước
Vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm ăn ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỉ XX với những mốc đáng ghi nhận như:
Năm 1984 thành lập trung tâm nghiên cứu nấm ăn tại trường đại học tổng hợp Hà Nội
Năm 1985 tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hà Nội thành lập trung tâm sản xuất nấm Thương Mại – Hà Nội (sau đó đổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà Nội)
Năm 1986 được tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hồ Chí Minh thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1992 – 1993 công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến nấm và
“nhà trồng nấm công nghiệp” của Italia Phong trào sản xuất nấm Mỡ trong những năm 1988 – 1992 đã mở rộng đến hầu hết các tỉnh phía Bắc Vì vậy sản lượng nấm đã tăng từ khoảng 30 tấn/năm (1988) lên 250 000 tấn/ năm vào năm
1993 Tuy nhiên do sản xuất thua lỗ, nhiều cơ sở bị giải thể và nhiều lí do khác
mà phong trào trồng nấm tạm lắng xuống Theo số liệu thống kê từ cục hải quan, kim ngạch nhập khẩu rau hoa quả tháng 8/2010 đạt 28,8 triệu USD Tổng kim ngạch nhập khẩu rau hoa quả 8 tháng đầu năm đạt 176,4 triệu USD Trong đó Nấm là mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất đồng thời có mức tăng rất mạnh so với cùng kì, 8 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu nấm đạt 9,7 triệu USD tăng 101,8% Đây là mặt hàng được ưa chuộng tại thị trường Việt Nam, nhất là những tháng cuối năm
Đến nay nghề trồng nấm c ng đang dần được khôi phục và phát triển mạnh mẽ thể hiện ở các mặt sau:
- Về giống nấm Nước ta có khả năng phát triển rất nhiều các chủng loại nấm khác nhau giống như ở Trung Quốc và các nước trong khu vực song hiện
Trang 17nay đang tập trung triển khai 6 loại nấm chính đó là Nấm rơm, nấm sò, mộc nhĩ, nấm mỡ, nấm hương, nấm dược liệu Linh chi
1 Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long chiếm 90% lượng nấm rơm trong cả nước Ở các tỉnh phía bắc nấm rơm chỉ được trồng trong mùa hè nên sản lượng nấm rơm không cao
2 Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Phước, … chiếm 50% sản lượng mộc nhĩ trong cả nước
3 Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền Bắc sản lượng mỗi năm đạt 30.000 tấn
4 Nấm dược liệu: Linh chi, Vân chi, Đầu khỉ,…mới được nuôi trồng ở một số tỉnh thành phố như Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, …sản lượng mỗi năm đạt 150 tấn
5 Một số loại nấm khác như: Nấm Trân châu, Kim châm,… Đang nghiên cứu sản xuất thử nghiệm sản lượng chưa đáng kể vì đầu tư cao và chi phí lớn
- Về sản lượng: Sau những nỗ lực, cố gắng của một số cơ quan trong nước cùng với sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước, c ng như sự
mở rộng thị trường, nghề sản xuất nấm dần được khôi phục, tổng sản lượng nấm các loại được sản xuất ở nước ta hiện nay vào khoảng 100 000 tấn/năm Trong
đó xếp theo thứ tự giảm dần giữa các loại nấm là Nấm rơm, mộc nhĩ, nấm sò, nấm mỡ, Linh chi và nấm hương
- Về năng suất: Năng suất tính theo nguyên liệu các loại nấm khác nhau thì tương đối khác nhau Nấm sò có năng suất cao nhất đạt trung bình 700 kg nấm tươi/1000kg nguyên liệu khô, sau đó là mộc nhĩ (600 kg), nấm hương (500kg), nấm mỡ (200 kg), nấm rơm (100 kg) và cuối cùng là Linh chi (75 kg) Nhìn chung năng suất nấm của nước ta chỉ bằng 50 – 70 % so với năng suất bình quân trên thế giới
- Về quy mô sản xuất: Nhìn chung hầu hết các tỉnh trong cả nước hiện nay đều đã bắt đầu phát triển nghề sản xuất nấm, song chủ yếu vẫn là sản xuất ở quy mô hộ, mang tính đơn lẻ, với năng lực dao động từ 1 – 6 tấn nguyên liệu
Trang 18mỗi hộ 1 vụ, các hộ này thường sử dụng công nghệ sản xuất thủ công, không đồng bộ, nên năng suất thấp
- Về vấn đề chế biến: Hiện nay ngoài khoảng 50% sản lượng
Việt Nam là một trong những nước nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới, đây
c ng là điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp và tạo nguồn nguyên liệu dùng làm cơ chất trồng nấm Bên cạnh đó thì Việt Nam là một nước giàu nguồn nhân công lao động nên đây c ng là điều kiện đầu tiên và vô cùng quan trọng cho việc phát triển nghề trồng nấm
Việc nghiên cứu sản xuất và phát triển nấm ăn và nấm dược liệu ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1970 Nhưng nghề này bắt đầu phát triển và đưa lại hiệu quả kinh tế cao từ 10 năm trở lại đây
- Tổng sản lượng các loại nấm ăn và nấm dược liệu của Việt Nam hiện nay đạt khoảng trên 150.000 tấn/năm Kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 triệu USD/năm Hiện nay Việt Nam đang nuôi trồng 6 loại nấm phổ biến, phân bố
ở các địa phương như sau:
- Nấm rơm trồng ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Đồng Tháp, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ ) chiếm 90% sản lượng nấm rơm cả nước
- Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ chiếm 50% sản lượng mộc nhĩ trong toàn quốc
- Nấm mỡ, nấm sò, nấm hương chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền Bắc, sản lượng mỗi năm đạt khoảng 30.000 tấn
- Nấm dược liệu: Linh chi, Vân chi, Đầu khỉ mới được nuôi trồng ở một số tỉnh, thành phố, sản lượng mỗi năm đạt khoảng 150 tấn
Một số loại nấm khác như: Trân châu, Kim châm đang nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm, sản lượng chưa đáng kể
Nghề trồng nấm ở Việt Nam đang phát triển nhưng còn ở quy mô nhỏ lẻ
hộ gia đình, trang trại, mỗi năm sử dụng vài tấn nguyên liệu có sẵn tới vài trăm tấn ở mỗi cơ sở để sản xuất nấm.Tiềm năng và những điều kiện thuận lợi của nghề trồng nấm ăn và nấm dược liệu rất phù hợp với người nông dân nước ta vì:
Trang 19Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có như rơm rạ, mùn cưa, thân cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế loại ở các nhà máy dệt, bã mía ở các nhà máy đường ước tính
cả nước có trên 40 triệu tấn nguyên liệu, chỉ cần sử dụng khoảng 10 – 15% lượng nguyên liệu này để nuôi trồng nấm đã tạo ra trên 1 triệu tấn/năm và hàng trăm ngàn tấn phân hữu cơ
Thế nhưng ở Việt Nam, phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa đều bị đốt
bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh, rạch, sông ngòi Vì thế, phát triển nghề sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu còn có ý nghĩa lớn trong việc giải quyết ô nhiễm môi trường
Trong những năm gần đây, nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện, trường, trung tâm đã chọn được một số loại giống nấm ăn, nấm dược liệu có khả năng thích ứng với điều kiện môi trường ở Việt Nam cho năng suất khá cao Các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc, bảo quản và chế biến nấm ngày càng được hoàn thiện Trình độ và kinh nghiệm của người nông dân được nâng cao Năng suất trung bình các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5 – 3 lần
so với 10 năm về trước
- Vốn đầu tư để trồng nấm so với các ngành sản xuất khác không lớn vì đầu vào chủ yếu là công lao động Nếu tính trung bình để giải quyết việc làm cho 1 người lao động chuyên trồng nấm ở nông thôn hiện nay có mức thu nhập 800-900đ/tháng, chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu khoảng 10 triệu đồng và 100m2 diện tích để làm lán trại
Thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu ngày càng được
mở rộng Giá bán nấm tươi ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn khá cao Nhu cầu ăn nấm của nhân dân trong nước ngày càng tăng Thị trường xuất khẩu nấm mỡ, nấm rơm, muối, sấy khô, đóng hộp của Việt Nam còn chưa đáp ứng đủ Phát triển nghề sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu còn có ý nghĩa góp phần giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường Phần lớn rơm rạ sau khi thu hoạch lúa ở một số địa phương đều bị đốt bỏ ngoài đồng ruộng hoặc ném xuống kênh rạch, sông ngòi gây tắc nghẽn dòng chảy Đây là nguồn tài nguyên
Trang 20rất lớn nhưng chưa được sử dụng, nếu đem trồng nấm không những tạo ra loại thực phẩm có giá trị cao mà phế liệu sau khi thu hoạch nấm được chuyển sang làm phân bón hữu cơ, tạo thêm độ phì cho đất
Năm 2009 đạt trên 250.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 60 triệu USD chủ yếu là mộc nhĩ, nấm rơm, nấm mỡ Ngược lại, chúng ta nhập khẩu khá nhiều loại nấm như Nấm đùi gà, nấm kim châm, trân châu, ngọc châm, Linh chi, nấm hương, đông trùng hạ thảo… từ Trung Quốc, Đài Loan
Ở nước ta, nhu cầu tiêu thụ nấm c ng đang tăng mạnh trong những năm qua, chủ yếu là tiêu thụ nấm tươi và nấm khô Giá nấm tươi, khô ở TP HCM, Đồng Nai và nhiều tỉnh, TP khác đang ở mức khá tốt, nấm mỡ, nấm rơm 50.000-60.000 đ/kg, nấm hương 70.000-80.000 đ/kg, nấm tai mèo 60.000-70.000 đ/kg Ông Đinh Xuân Linh, GĐ Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật thuộc Viện Di truyền nông nghiệp (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam), cho hay, Việt Nam đang phải nhập khẩu nấm cao cấp từ Trung Quốc, Hàn Quốc với mức bình quân khoảng 10 tấn/ngày Ông Nguyễn Quang Trung, GĐ Cty TNHH Tư Thao (Sóc Trăng), cho biết, hiện nay có rất nhiều thị trường c ng như nhà phân phối có nhu cầu tiêu thụ nấm rơm nhưng sản lượng nấm rơm Việt Nam hiện chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu đó
Trước thực tế đó, c ng như tiềm năng lớn trong việc phát triển nấm ở nước ta, Bộ NN-PTNT đã đề ra mục tiêu đến năm 2015 sẽ đạt sản lượng nấm
400 ngàn tấn, trong đó 300 ngàn tấn để tiêu thụ trong nước và 100 ngàn tấn xuất khẩu, tổng giá trị sản phẩm hàng hóa đạt 12 ngàn tỷ đồng/năm, giá trị xuất khẩu đạt 150-200 triệu USD Đến năm 2020, sản lượng nấm sẽ được nâng lên tới 1 triệu tấn (50% tiêu thụ trong nước, 50% xuất khẩu), ngành nấm giải quyết việc làm cho khoảng 1 triệu lao động, giá trị xuất khẩu đạt 450-500 triệu USD/năm
Để góp phần tạo nên bước đột phá về quy mô và sản lượng nghề sản xuất nấm, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam có thể sản xuất được 1 triệu tấn nấm, tức là giải quyết được việc làm cho 1 triệu lao động, Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật
Trang 21Viện Di truyền nông nghiệp đề xuất các cơ quan hữu quan cần có chiến lược tuyên truyền sâu rộng về nghề trồng nấm với phương châm, “nhiều người biết trồng nấm, người người biết ăn nấm” nhằm nâng cao chất lượng khẩu phần
ăn của người Việt Nam Bên cạnh đó, cần nhanh chóng đầu tư xây dựng các trung tâm , xưởng sản xuất giống trong cả nước để chủ động cung ứng đủ nhu cầu giống nấm cho nông dân Có cơ chế thu mua nấm tươi chế biến muối, sấy khô, đóng hộp tập trung Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ về giống và giao quyền sử dụng đất một cách hợp lý để khuyến khích việc mở rộng quy mô sản xuất nấm hàng hóa theo kiểu trang trại tập trung cho những người sản xuất nấm chuyên nghiệp Cần coi việc sản xuất nấm là một nghề trong sản xuất nông nghiệp và sự đầu tư đúng hướng của cơ quan quản lý nhà nước Làm được như vậy thì đến năm 2020, về cơ bản, Việt Nam có thể phát triển được ngành công nghiệp sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm
2.7 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới
Nấm ăn được dùng từ rất lâu đời Theo tài liệu khảo cổ học chúng ta đã biết được cách đây 3000 năm nấm được dùng làm thực phẩm C ng theo tài liệu khảo cổ thì từ thời kỳ đồ đá c 3000 - 4000 năm TCN các cư dân Trung Quốc đã biết thu hái và sử dụng nhiều loại nấm từ thiên nhiên Năm 400 TCN các nước này đã có miêu tả khoa học về sinh lý, sinh thái của không ít các loài nấm Năm
300 nấm ăn được coi là mỹ thực trong cung đình Trung Hoa, từ thời ấy nấm đã được coi là nhóm sinh vật đặc biệt không phải là thực vật Năm 200 - 100 TCN trong sách thần nông bản thảo kinh đã miêu tả tỉ mỉ về hình thái, tính năng, công dụng của các loài nấm dùng làm thuốc chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể như: thanh chi, xích chi, hoàng chi Năm 100 TCN bắt đầu có những ghi chép đầu tiên về
kỹ thuật nuôi trồng nấm
Riêng đối với nấm rơm năm 1822 trong sách “Quảng Đông Thông Chí”
đã có ghi chép về kỹ thuật trồng nấm rơm Năm 1897 Hội nông dân Mỹ đã cho xuất bản cuốn “Phương pháp trồng nấm rơm trong nhà” chỉ 1 năm sau cuốn sách này đã được in và dịch tại Trung Quốc Trong luận án của TS Beker (Malaysia)
đã xác nhận nấm rơm được trồng đầu tiên ở Trung Quốc sau đó phổ biến sang
Trang 22các nước Đông Nam Á và Bắc Phi C ng có tài liệu cho rằng nấm rơm được trồng đầu tiên tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam cách đây 2000 năm
Năm 1907 trong báo cáo của tác giả Touricforil (Pháp) đã mô tả phương pháp dùng phân ngựa rồi cấy vào đó bào tử của cây nấm trưởng thành Đây chính là phương pháp chọn giống sơ khai nhất
Từ những năm đầu của thế kỷ XX nhất là từ năm 1950 trở lại đây khi công nghệ sinh học phát triển đã mở ra cho nghề trồng nấm những bước tiến mới Các nước có nghề trồng nấm phát triển đã nghiên cứu và chọn tạo ra những giống nấm mới có giá trị về mặt dinh dưỡng, kinh tế và dược liệu được chọn lọc bằng nhiều phương pháp khác nhau kể cả mức độ phân tử
Năm 1954 Takemura đã thực hiện phép lai bắt cặp giữa hai dòng đơn nhân ở nấm Colibiaveltipes
Năm 1973 Denies và Wessel thực hiện kỹ thuật dung hợp tế bào trần trên nấm sò (pleurotuspp) và linh chi (G lucidum)
Hiện nay thế giới đã ghi nhân được khoảng 20.000 loài nấm ăn, trong đó có
80 loài nấm ăn ngon, có giá trị đã và đang được nghiên cứu, nuôi trồng Năm
1939 toàn thế giới mới chỉ có 10 nước nuôi trồng Nhưng đến năm 1995 đã có trên 100 nước sản xuất nấm ăn
Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và nuôi trồng nấm ăn có những bước phát triển nhảy vọt, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ ở nhiều nước phát triển như Hà Lan, Mỹ, Đức, Pháp, nghề trồng nấm được cơ giới hoá từ khâu xử lý nguyên liệu đến khâu thu hái và chế biến đều do máy móc tự thực hiện
Ở Châu Á, Nhật Bản là nước đi đầu trong việc đưa máy móc vào quy trình trồng nấm Nhiều nhà máy với những dây chuyền gần như tự động hoá và sản lượng có thể đạt hàng chục tấn/năm
Phần lớn các nước trong khu vực Châu Á còn lại nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á, trồng nấm mang tính chất thủ công lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên tỷ lệ rủi ro khá cao Năm 1990 tổng sản lượng nấm ăn
Trang 23trên toàn thế giới là 3.763.000 tấn Năm 1994 tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới là 4.909.000 tấn Năm 2001 đạt 6.280.000 tấn Trong đó Trung Quốc có sản lượng đạt 5.230.000 tấn chiếm khoảng 5/6 sản lượng nấm trên toàn thế giới Đến năm 2005 thì tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới đạt khoảng 20 triệu tấn Riêng Trung Quốc chiếm 50% sản lượng so với toàn thế giới Tốc độ tăng trưởng về sản lượng nấm năm sau cao hơn năm trước 5%
Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan
và các nước Châu Âu Nhu cầu nấm ăn trên thị trường thế giới khoảng 20 triệu tấn/năm và tăng mỗi năm khoảng 4% Trong khi sản lượng nấm ăn hiện nay chỉ đạt khoảng 1/4 nhu cầu của thị trường
Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển nhanh và rộng khắp, nhất là trong 20 năm trở lại đây, với 8 loài nấm ăn được nuôi trồng phổ biến và hơn 50 loài khác đang dần đưa vào sản xuất Sản lượng nấm thế giới năm 2011 có thể đạt 30 triệu tấn, tăng 6,2% so với năm trước Đây là con số dự đoán của Hiệp hội các nước sản xuất nấm Các chuyên gia cho rằng, việc sản lượng nấm thế giới tăng trong năm
2011 là do các nước đã mở rộng quy mô sản xuất nấm Đây c ng là thuận lợi khiến sản lượng nấm toàn cầu có thể đạt mục tiêu đề ra trong năm 2011
Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới, đồng thời c ng là nguồn cung chủ yếu mặt hàng này, chiếm 50% của nguồn cung toàn cầu, tăng 5,5%, đạt 3,43 triệu tấn trong năm 2011 do tăng diện tích Sau Nhật Bản, In-đô-nê-xi-a là nước sản xuất nấm thứ hai trên thế giới, chiếm khoảng 29% nguồn cung toàn cầu ANRPC dự kiến nguồn cung của In-đô-nê-xi-a sẽ tăng 8%, với 2,95 triệu tấn trong năm nay Ấn Độ hiện nay có năng suất cao su thiên nhiên cao nhất trên thế giới
Nguồn cung của Ấn Độ có thể đạt 884.000 tấn trong năm nay, tăng 3,9% so với năm ngoái do ước tính tăng 14.000 ha nhà xưởng nuôi trồng nấm và năng suất tốt hơn Theo số liệu của ANRPC, sản lượng của các nước đứng đầu khác như Việt Nam và Trung Quốc c ng dự kiến tăng trong năm nay Việt Nam sẽ có sản lượng 755.000 tấn, Trung Quốc 647.000 tấn, Srilanka 153.000 tấn, Philippines 99
Trang 24Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm nay Hiện nay người ta đã biết được có khoảng 2000 loài nấm ăn được, trong đó có 80 loài nấm ăn ngon và được nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo (UNESSCO – 2004) Việc nghiên cứu sản xuất nấm ăn trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ Sản xuất nấm hàng năm trên thế giới vượt mốc trên 5 triệu tấn (theo tổ chức Nông Lương thế giới FAO - 2006) Các nước sản xuất nấm hàng đầu trên thế giới bao gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hà Lan, Hàn Quốc, Ba Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha Ở Châu Âu, Bắc Mỹ trồng nấm đã trở thành một nền công nghiệp lớn được cơ giới hóa toàn bộ nên năng xuất và sản lượng rất cao
Theo thống kê năm 1990 tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới đạt 3.763.000 tấn, trong đó nấm mỡ là 1.424.000 tấn, nấm hương là 393.000 tấn Năm 1994, tổng sản lượng nấm trên thế giới lên tới 4.909.000 tấn, trong đó nấm mỡ 1.846.000 tấn (37,6 %), nấm hương là 826.200 tấn (16,8%), nấm rơm
là 798.800 tấn (6,1%), nấm kim vàng là 229.800 tấn (4,7%), mộc nhĩ trắng 156.200 tấn (3,2%), nấm chân cơ 54.800 tấn (1,1%), nấm trơn 27.000 tấn (0,6%), nấm hoa cây xám 14.200 tấn (0,3 %), các loại nấm ăn khác 238.800 tấn (4,8 %) So sánh giữa năm 1994/1990 thì nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, nấm kim vàng, nấm hoa cây xám đều tăng mạnh Các nước sản xuất nấm chủ yếu năm 1994 là Trung Quốc có 2.850.000 tấn (chiếm 53,79 % tổng sản lượng), Hoa Kỳ 393.400 tấn (chiếm 7,61 %), Nhật Bản 360.100 tấn (chiếm 7,34 %), Pháp 185.000 tấn, Indonesia 118.800 tấn…Sản lượng nấm các nước chủ yếu là nấm mỡ, còn nấm hương thì do Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc sản xuất là chủ yếu
Nhiều nước ở Châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công, năng xuất không cao, nhưng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên tổng sản lượng rất lớn chiếm 70% tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới Các nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan áp dụng các kỹ thuật tiên tiến và công nghiệp hóa trong nghề nấm đã có mức tăng trưởng hàng trăm lần trong vòng 10 năm Nhật Bản là nước có nghề trồng nấm truyền thống
Trang 25là nấm hương – Donco (Lentinula edodes) Mỗi năm đạt gần một triệu tấn Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh chi (Ganoderma lucidum) mỗi năm xuất khẩu thu
về hàng trăm triệu USD Ở Trung Quốc từ năm 1960 bắt đầu trồng nấm có áp dụng các biện pháp cải tiến kỹ thuật nên tăng năng xuất gấp 4 – 5 lần và sản lượng tăng vài chục lần
Tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60% tổng sản lượng nấm
ăn trên thế giới gồm nhiều loại nấm như, nấm mỡ, nấm hương, nấm rơm, mộc nhĩ,… Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nước phát triển thu về nguồn ngoại tệ hàng tỷ đô la Hiện nay Trung Quốc đã dùng kỹ thuật
“ Khuẩn thải học” để trồng nấm nghĩa là dùng các loại cỏ cây thân thảo để trồng nấm thay cho gỗ rừng và nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt
Nước xuất khẩu nấm nhiều nhất trên thế giới hiện nay là Trung Quốc với khoảng 1,5 triệu tấn sản phẩm/năm, giá bán nấm mỡ trung bình 600 – 1.000 USD/tấn cao hơn 1,2 – 1,5 lần so với thịt bò, nấm mỡ muối có giá bán khoảng 1.300 – 1.500 USD/tấn, các loại sản phẩm nấm như mộc nhĩ, nấm hương, nấm rơm,…c ng có giá bán dao động trong khoảng 1.700 – 6.500 USD/ tấn Mỗi năm, Phúc Kiến xuất sang Mỹ 23.000 – 26.000 tấn nấm mỡ đóng hộp và bán sang Nhật 11.000 – 13.000 tấn nấm mỡ đóng hộp, trị giá 15.000.000 triệu USD
Nên các nước này việc nghiên cứu nấm rất được chú trọng Như Trung Quốc ở một số trường đại học đã có cả các môn học về nấm trồng và các viện nghiên cứu về nấm như tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc hiện đã nuôi trồng tới
45 chủng nấm ăn và hơn 100 chủng loại nấm dại Lực lượng làm nấm c ng rất hùng hậu với khoảng hơn 20 cơ quan nghiên cứu triển khai về nấm ăn gần 100 cán bộ kỹ thuật cao cấp, hơn 600 cán bộ trung cấp và nhiều kỹ thuật viên khác…
Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan
và các nước Châu Âu… Tổng sản lượng nấm ăn trên thị trường thế giới vào khoảng 20 triệu tấn sản phẩm/ năm và đang có xu hướng tăng Mức tiêu thụ nấm bình quân tính theo đầu người của Châu Âu, Mỹ khoảng 2 – 3 kg/năm, hàng ngày thị trường Niu-ooc bình quân tiêu thụ 2 – 3 tấn nấm rơm, nấm hương tươi,
Trang 26mộc nhĩ tươi, đứng hàng thứ 2 sau rau, Nhật, Đức khoảng 4 – 5 kg/năm Dự kiến mức tiêu thụ này trong tương lai sẽ tăng với tốc độ 3,5%/năm Trên thị trường Châu Âu nấm mỡ chiếm khoảng 80 – 95%, mộc nhĩ khoảng 10% thị phần Thị trường Mỹ trong thập niên 80 của thế kỷ XX, tiêu thụ khoảng 50% tổng sản lượng nấm Mỡ của thị trường thế giới
Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển mạnh và rộng khắp nhất là trong
20 năm gần đây Theo đánh giá của hiệp hội khoa học nấm ăn quốc tế (ISMS) có thể sử dụng khoảng 250 phế phụ liệu trong nông lâm nghiệp để trồng nấm đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội Sản xuất nấm ăn đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng chống lại việc đốt rơm, đốt phá rừng, tạo nguồn phân bón hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần tích cực vào chu trình chuyển hóa vật chất Trong sinh học nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề trồng nấm về chọn tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự bùng nổ của thông tin, nghề trồng nấm đã và đang phát triển trên toàn thế giới, được coi là nghề xóa đói, giảm nghèo và làm giàu thích hợp với các vùng nông thôn miền núi
2.8 Tình hình sản xuất Nấm ở Thuận Châu
Thuận Châu là một huyện miền núi phía Tây Bắc có đầy đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng nấm Đa số người dân sống bằng nghề nông, thu nhập của bà con chưa cao Vì vậy bà con mong có một nghề làm thêm để tăng thu nhập Khí hậu của vùng rất thuận lợi cho sự phát triển ngành nghề trồng nấm Có độ ẩm cao (trung bình 80%), nhiệt độ ổn định (trung bình năm 21,60C)
Nguyên liệu trồng nấm ở Thuận Châu có rất sẵn Tính đến năm 2003 diện tích đất nông nghiệp của Sơn La có 191 828 ha Trong đó diện tích trồng lúa 38
465 ha, ngô 64 664 ha Vì vậy phế thải nông nghiệp như, rơm rạ, lõi ngô, rất nhiều, thuận lợi cho việc trồng nấm trên nguyên liệu sẵn có ở địa phương, tiết kiệm chi phí vận chuyển và giá thành sản xuất Huyện Thuận Châu với 6934 ha và huyện Sông Mã với 8080 ha là hai huyện có diện tích trồng lúa lớn nhất Với diện tích trồng ngô ở Mai Sơn và Yên Châu c ng rất nhiều và thuận tiện giao thông vì vậy nguyên liệu lõi ngô và mày ngô có khối lượng rất lớn nhưng chưa tận dụng được hết để trồng nấm Hiện tại lõi ngô mới được dùng như nguyên liệu thay củi đốt và
Trang 27giá thành 300 đồng/ kg Mày ngô có sẵn hàng chục tấn và gần như cho không, đó là nguồn cơ chất rất tốt để nấm sò, nấm rơm, Linh chi phát triển
Các địa điểm đang tiêu thụ nấm tốt ở Sơn La
- Thị xã Sơn La, thị trấn Mường La, chợ thị trấn Yên Châu và các chợ nhỏ trong xã c ng đều tiêu thụ nấm
2.9 Hiệu quả kinh tế của việc trồng Nấm
Trồng nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao do các yếu tố sau
- Với diện tích nhỏ nhất vẫn có thể cho năng suất cao nhất
- Vốn đầu tư cho việc trồng nấm thấp, quay vòng nhanh và chu kỳ cho việc nuôi trồng ngắn
- Thời gian cho mỗi đợt trồng nấm kéo dài khoảng 2 - 2,5 tháng
- Nếu trong thời gian trồng mà gặp khí hậu bất lợi hoặc có sự biến động của thị trường (giá cả bấp bênh) người sản xuất vẫn kịp dừng sản xuất hoặc chuyển hướng canh tác khác phù hợp
- Nguyên liệu nhiều, dồi dào và giá rẻ Rơm rạ, lõi ngô, mùn cưa, bông phế thải …
- Thu hút lượng lớn lao động, giải quyết công ăn việc làm cho những lao động nông nghiệp nhàn dỗi
- Phế phẩm sau trồng nấm có thể sử dụng làm phân bón cho trồng trọt
Trang 28PHẦN III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng và vật liệu
- Giống nấm sò Tím (Oyter Mushroom )
+ Do công ty xuất khẩu nấm Sơn La cung cấp
- Giống sò trắng
+ Nguồn gốc do công ty xuất nhập khẩu nấm TP Hải Dương cung cấp
- Rơm rạ 800kg, vôi bột 6kg, phân đạm, ngô nghiền, đậu tương
* Dụng cụ:
- Bạt, nước, tre, dao, túi bóng pp, dây nịt, nút cổ bông, dây treo, kéo, bình phun dạng mù (cỡ lớn)
* Nguyên liệu :
- 800 rơm rạ, 6kg vôi bột, phân đạm, ngô nghiền, đậu tương
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Tại xã Mường É - huyện Thuận Châu - tỉnh Sơn La
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
- Thời gian thực tập: Từ 18/2 /2013 – 28/4/2013
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Khảo sát ảnh hưởng một số giá thể và chế phẩm vi sinh đến sự tăng
Trang 29- Công thức 1: Rơm rạ 800kg, vôi bột 6kg, phân đạm 5 kg
- Công thức 2: Rơm rạ 800kg, vôi bột 6kg, phân gà 20 kg
- Công thức 3: Rơm rạ 800kg, vôi bột 6kg, bột ngô nghiền 8 kg
- Công thức 4: Rơm rạ 800kg, vôi bột 6kg, bột đậu tương 12 kg
3.2.3 Xử lí nguyên liệu
Ngâm rơm rạ nhanh trong dung dịch nước vôi theo tỷ lệ, 3,5kg vôi đã tôi hòa tan với 1.000 lít nước vắt nhẹ, ủ lại thành đống, che kín bằng bao dứa hoặc nilon Ủ rơm được 3 ngày, đảo đống lần 1, ủ tiếp 3 ngày, đảo lần 2, sau đó ủ thêm 3 ngày nữa đóng bịch và cấy giống Khi trồng nấm cần làm thật tơi nguyên liệu bằng cách dùng tay chân hoặc cào cắt xé rơm rạ
Sau khi ủ đống các nguyên liệu theo thời gian quy định, ta cần kiểm tra độ
ẩm và chỉnh độ ẩm cho nguyên liệu đạt 65% là vừa, nếu quá ẩm thì ta phải đem phơi (vắt nước qua kẽ tay thấy nước ứ ra qua kẽ tay là được), nếu quá khô thì phải làm ẩm nguyên liệu bằng cách pha nước vôi rồi vảy lên đống ủ rồi ủ lại 1-2 ngày sau mới trồng
Sau khi hoàn tất công việc, ta đặt bịch vào giá hay treo lên (phải để nơi thoát nước), để khoảng 20 ngày sau, lúc này giống đã lan mọc trắng hết túi, khi
đó ta tháo dây chun, bỏ bông ra và buộc chặt miệng túi lại, treo lộn ngược bịch nấm theo chiều nút bông quay xuống và tiến hành rạch bịch, trong 5-7 ngày tiếp theo ngưng tưới nước vào bịch trực tiếp mà chỉ tưới dưới dạng phun sương để tạo độ ẩm cho xung quanh tường và nền nhà Khi phát hiện thấy các cụm nấm sò
đã mọc ra ở các vết rạch thì phun sương trực tiếp vào các vết rạch và tưới cho nấm nhiều lần trong ngày tùy thuộc vào độ ẩm không khí
Trang 30Sau khi hái đợt 2 tiến hành nén túi Ta tháo túi ra nén cơ chất chặt xuống rồi lại buộc miệng túi lại
3.2.4 Kĩ thuật trồng nấm trong túi màng mỏng
Sử dụng túi màng mỏng dày 0,03 0,04mm, có kích thước như sau, 20
-30cm × 40 - 50cm có thể đựng được 1,5 - 2 kg nguyên liệu
Lộn ngược túi màng mỏng hoặc gấp hai mép túi lại và hơ lửa sau đó lộn túi ra để cho bịch nấm được đẹp và không tạo khoảng trống tích tụ nước dưới đáy túi Ta nhồi nguyên liệu vào túi và ấn chặt vừa tay, cứ khoảng 5 – 8cm chiều cao nguyên liệu thì dừng lại cấy một lớp giống xung quanh rìa ngoài của nguyên liệu Sau đó lại nhồi nguyên liệu vào túi rồi lại dừng lại cấy lớp giống thứ 2 và cứ tiếp như vậy Tuỳ vào mùa vụ mà cấy số lớp nguyên liệu khác nhau, thường vụ Xuân hè cấy 3 lớp, vụ thu đông cấy 4 lớp Phía trên cùng cấy một lớp giống nữa, lớp giống này phải trải đều trên nguyên liệu Sau khi đã cấy giống xong ta lấy một đoạn ống nhựa và dùng dây nịt buộc chặt rồi làm nút bông
Sau khi hoàn tất công việc, ta đặt bịch vào giá hay treo lên (phải để nơi thoát nước), để khoảng 20 ngày sau, lúc này giống đã lan mọc trắng hết túi, khi
đó ta tháo dây chun, bỏ bông ra và buộc chặt miệng túi lại, treo lộn ngược bịch nấm theo chiều nút bông quay xuống và tiến hành rạch bịch, trong 5-7 ngày tiếp theo ngưng tưới nước vào bịch trực tiếp mà chỉ tưới dưới dạng phun sương để tạo độ ẩm cho xung quanh tường và nền nhà Khi phát hiện thấy các cụm nấm sò
đã mọc ra ở các vết rạch thì phun sương trực tiếp vào các vết rạch và tưới cho nấm nhiều lần trong ngày tùy thuộc vào độ ẩm không khí
Sau khi hái đợt 2 tiến hành nén túi Ta tháo túi ra nén cơ chất chặt xuống rồi lại buộc miệng túi lại, treo lên và tiếp tục thu đợt sau
3.3 Các chỉ tiêu theo dõi
3.3.1 Chỉ tiêu sinh trưởng(cụm)
- Thời gian từ đóng bịch cấy giống đến khi rạch bịch Thời gian này được xác định khi các sợi nấm ăn trắng bịch nấm tạo nên màu trắng đồng nhất, bịch nấm rắn chắc
Trang 31- Thời gian từ đóng bịch cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch được xác định khi các cụm nấm sò bắt đầu xuất hiện và nhô ra ở các vết rạch
Thời gian từ đóng bịch cấy giống thu hoạch đợt 1 Được xác định khi cụm nấm đã khá to, bắt đầu thầy các báo tử đâm phát tán vào không khí những lớp khói trắng bay ra
- Thời gian từ khi trồng nấm tới khi thu hoạch cuối cùng, được xác định khi các cụm nấm bắt đầu mọc yếu dần đi, các sợi trắng trên nguyên liệu giảm dần và nguyên liệu trở lên xốp
- Theo dõi thời gian phát sợi sau cấy giống
- Theo dõi tốc độ sợi bằng cách đo chiều dài sợi cho đến khi xuất hiện quả mỗi ngày đo 1 lần
- Theo dõi thời gian sinh trưởng từ khi trồng đến khi thu hoạch
3.3.2 Chỉ tiêu phát triển
- Theo dõi thời điểm xuất hiện quả thể
- Đo kích thước quả thể( đường kính, chiều cao) theo các giai đoạn phát triển của quả nấm, mỗi giống đo 10 quả(với 3 lần lặp lại ở mỗi giống)
- Theo dõi thời gian phát triển quả thể, bằng cách theo dõi trên các giống
từ khi xuất hiện quả thể đến khi thu hoạch quả thể đạt tiêu chuẩn
- Theo dõi động thái tích luỹ chất khô bằng cách lấy mẫu theo các giai đoạn phát triển của quả thể Mỗi giống lấy 10 quả, đem loại bỏ tạp chất đưa vào sấy ở nhiệt độ 45 - 500C đến khô rồi nâng nhiệt độ lên 55 - 600
C sấy đến khi trọng lượng không đổi, đem cân ( với 3 lần lặp lại của mỗi giống)
3.3.3 Chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất
- Chiều dài cuống nấm
- Đường kính m nấm
- Cân khối lượng 100 quả (P100) chia lấy khối lượng trung bình một quả của 6 giống (qua 3 lần cân)
- Năng suất lý thuyết (kg nấm tươi/tấn nguyên liệu khô)
- Năng suất thực thu (kg nấm tươi/bịch)
Trang 323.3.4 Chỉ tiêu mức độ nhiễm sâu bệnh
- Theo dõi thời gian phát bệnh
Trang 33PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trong thời gian thực hiện đề tài( từ ngày 14/2 – đến ngày 24/4 ), điều kiện thời tiết có nhiều thuận lợi và do được chăm sóc tốt nên cây nấm sinh trưởng và phát triển mạnh Các nguyên liệu trên các công thức thí nghiệm đã thể hiện được
rõ các đặc thù riêng sinh trưởng và phát triển Đó là sự biểu hiện của môi trường sống lên các công thức thí nghiệm Qua quá trình theo dõi thí nghiệm chúng tôi thu được các kết quả sau:
4.1 Thời gian sinh trưởng của nấm.
Bảng 4.1 Thời gian sinh trưởng của nấm Sò tím và sò trắng
ĐV : cm
Giống CT
Thời gian
từ khi cấy giống nấm bắt đầu mọc ra
Thời gian đến khi nấm ăn trắng bịch
Thời gian rạch bịch đến khi nấm mọc
Thời gian
ra nấm mọc ra rộ
Thời gian sinh trưởng ngày
4.1.1 Thời gian từ cấy giống đến khi nấm ăn trắng hết bịch và rạch bịch
Đây đoạn sinh trưởng này của nấm chịu ảnh hưởng rất nhiều vào còn được gọi là thời kì ươm, c ng giống như các loại cây trồng khác giai điều kiện ngoại cảnh và sự chăm sóc của con người Điều kiện tối ưu cho sợi nấm phát triển giai đoạn này là có độ ẩm nguyên liệu từ 60 – 70%, nhiệt độ không khí là 23–280C, và độ ẩm không khí từ 70– 80% Nếu đáp ứng được yêu cầu này thì cụm nấm sẽ ra nhiều và cho năng suất cao
Trang 34Sau khi các sợi nấm đã ăn trắng hết bịch ta tiến hành rạch bịch, ta rạch 4 –
6 đường xung quanh bịch, chiều dài vết rạch từ 2 – 3 cm, vết rạch phải so le nhau Trong đó tốc độ sợi nấm ăn trên nền cơ chất bông thải có bổ sung phân đạm công thức 3 nhanh hơn so với các công thức khác là 1 – 4 ngày, công thức
2 là 24 ngày, công thức 1 là 27 ngày sau khi cấy giống
4.1.2 Thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch
Do các công thức thí nghiệm có thời gian từ khi cấy giống đến khi rạch bịch là khác nhau (dao động từ 24 – 27 ngày) Nên thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm mọc ra ở các vết rạch của các công thức c ng khác nhau Ở công thức 3 có nấm mọc ra sớm nhất (28 ngày sau khi cấy giống), công thức 1 có thời gian nấm mọc ra muộn nhất (32 ngày sau khi cấy giống)
Như vậy những cơ chất có thời gian sợi nấm ăn trắng hết bịch sớm hơn thì thời gian nấm mọc ra ở những vết rạch c ng sớm hơn Thời gian từ khi rạch bịch đến khi nấm mọc ra ở vết rạch là rất ngắn khoảng từ 5 – 8 ngày Giai đoạn này cần duy trì độ ẩm không khí là 75 – 90%, nhiệt độ 25 – 300C trong nhà trồng nấm để cho nấm mọc ra dễ hơn và tỉ lệ mọc ra c ng nhiều hơn
Thời gian này được xác định bằng khi trong ô thí nghiệm có 30% số cụm của ô thí nghiệm cho thu hoạch Căn cứ để xác định thời điểm thu hoạch là khi m nấm bắt đầu nở xòe và có một lớp bào tử nấm màu trắng ở xung quanh m nấm
Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch nấm nằm trong khoảng từ 34 – 38 ngày sau khi cấy giống Kết quả thí nghiệm cho thấy cơ chất của công thức 3 có thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu thu hoạch đợt 1 là ngắn nhất (34 ngày ), cơ chất của công thức 1 có thời gian cho thu hoạch đợt 1
là muộn nhất (38 ngày )
4.1.3 Thời gian từ cấy giống đến khi nấm ăn trắng hết bịch và rạch bịch
Đây còn được gọi là thời kì ươm, c ng giống như các loại cây trồng khác giai đoạn sinh trưởng này của nấm chịu ảnh hưởng rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và sự chăm sóc của con người Điều kiện tối ưu cho sợi nấm phát triển giai đoạn này là có độ ẩm nguyên liệu từ 60 – 70%, nhiệt độ không khí là 23 – 280
C,
Trang 35và độ ẩm không khí từ 70 – 80% Nếu đáp ứng được yêu cầu này thì cụm nấm sẽ
ra nhiều và cho năng suất cao
Sau khi các sợi nấm đã ăn trắng hết bịch ta tiến hành rạch bịch, ta rạch 4 –
6 đường xung quanh bịch, chiều dài vết rạch từ 23 cm, vết rạch phải so le nhau Trong đó tốc độ sợi nấm ăn trên nền cơ chất bông thải có bổ sung phân đạm công thức 3 nhanh hơn so với các công thức khác là 1– 4 ngày, công thức 2 là
24 ngày, công thức 1 là 27 ngày sau khi cấy giống
4.1.4 Thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra các vết rạch
Do các công thức thí nghiệm có thời gian từ khi cấy giống đến khi rạch bịch là khác nhau (dao động từ 24 – 27 ngày) Nên thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm mọc ra ở các vết rạch của các công thức c ng khác nhau Ở công thức 3 có nấm mọc ra sớm nhất (28 ngày sau khi cấy giống), công thức 1 có thời gian nấm mọc ra muộn nhất (32 ngày sau khi cấy giống)
Như vậy những cơ chất có thời gian sợi nấm ăn trắng hết bịch sớm hơn thì thời gian nấm mọc ra ở những vết rạch c ng sớm hơn Thời gian từ khi rạch bịch đến khi nấm mọc ra ở vết rạch là rất ngắn khoảng từ 5 – 8 ngày Giai đoạn này cần duy trì độ ẩm không khí là 75 – 90%, nhiệt độ 25 – 300C trong nhà trồng nấm để cho nấm mọc ra dễ hơn và tỉ lệ mọc ra c ng nhiều hơn
4.1.5 Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch đợt 1
Thời gian này được xác định bằng khi trong ô thí nghiệm có 30% số cụm của ô thí nghiệm cho thu hoạch Căn cứ để xác định thời điểm thu hoạch là khi m nấm bắt đầu nở xòe và có một lớp bào tử nấm màu trắng ở xung quanh m nấm
Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch nấm nằm trong khoảng từ 34 – 38 ngày sau khi cấy giống Kết quả thí nghiệm cho thấy cơ chất của công thức 3 có thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu thu hoạch đợt 1 là ngắn nhất (34 ngày ), cơ chất của công thức 1 có thời gian cho thu hoạch đợt 1
là muộn nhất (38 ngày )
4.1.6 Thời gian từ khi cấy giống đến khi thu hái đợt nấm cuối cùng
Thời gian này tương đối dài, biến động từ 75 – 90 ngày sau khi cấy giống và
39 – 56 ngày kể từ ngày cho thu hái đợt đầu tiên Đây là thời gian quan trọng vì nó
Trang 36quyết định đến năng suất thực tế của từng nguyên liệu trong các công thức thí nghiệm Thời gian này càng dài nấm mọc ra càng nhiều cho năng suất càng tăng
Qua quá trình theo dõi tôi nhận thấy Kết thúc quá trình thu hoạch nấm của các cơ chất từ 75 – 90 ngày sau khi cấy giống Trong đó công thức 3 có độ bền cơ chất lớn nhất (90 ngày ), tiếp đó là công thức 1 và công thức 2 kết thúc sớm nhất là 75 ngày
4.2 Ảnh hưởng của sâu bệnh hại đến sinh trưởng và phát triển của nấm Sò
Sâu bệnh hại là một trong những nguyên nhân rất nguy hại, nó không những ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, giá trị thương phẩm của sản phẩm mà còn có thể gây thất thu lớn cho người sản suất
Nấm ăn c ng như các loại cây trồng khác luôn chịu ảnh hưởng của nhiều loài sâu bệnh hại khác nhau Các loại sâu bệnh như: chuột, côn trùng, các loại nấm mốc, nấm dại…Cần phải phòng trừ tốt ngay từ giai đoạn chuẩn bị nguyên liệu
Trong quá trình theo dõi thí nghiệm chúng tôi gặp một số loại sâu bệnh hại như: chuột, bọ, kiến ăn giống và đục thủng bịch nấm, nấm dại cạnh tranh dinh dưỡng với nấm ăn, một số loại nấm mốc xanh, mốc đen làm thối hỏng bịch nấm Đặc biệt là chuột hại do nguyên liệu lõi ngô và rơm rạ có tính ngọt, thơm nên đã hấp dẫn một số loại chuột hại đến phá hoại làm ảnh hưởng đến năng suất tuy nhiên không đáng kể
4.3 Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng của nấm
4.3.1 Chiều dài m nấm
4.3.1.1.Chiều d i m nấm và tốc độ tăng chiều d i m nấm
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng bởi vì m nấm là một phần của sản phẩm thu hoạch, là một chỉ tiêu sinh trưởng của cá thể nấm nó cho ta biết được tốc độ sinh trưởng và phát triển của cá thể nấm trên các công thức khác nhau
Trang 37Bảng 4.2 Đường kính m nấm của các công thức
ĐV : cm
Hình 1 Đường kính mũ nấm của các công thức
Theo bảng số liệu 4.2 Ta thấy sự sai khác rõ rệt của các công thức thí nghiệm về chiều dài của m nấm Điều này chứng tỏ rằng các môi trường sống khác nhau thì sự biểu hiện của cá thể sống c ng khác nhau Ở đây ta thấy chiều dài m nấm ngày 22 dao động trong khoảng 0,72 – 0,75cm Trong đó cao nhất
ngày theo dõi
CT4 CT3 CT2 CT1 CT4 CT3 CT2 CT1
Trang 38là công thức 2 (rơm có bổ sung phân gà) là 0,79 cm và thấp nhất là công thức 1
là 0,72 cm Như vậy việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự sinh trưởng của nấm Nhìn vào số liệu cần bổ sung phân gà thêm, bổ sung các chất khác nhau nấm sinh trưởng khác nhau, do hai giống nấm sò khác nhau Bổ sung cơ chất khác nhau gi a các công thức, Việc bổ sung dinh dưỡng vào cơ chất chính là tạo điều kiện để đảm bảo sự cân bằng vật chất giữa nguyên liệu sản xuất và sản phẩm thu được Khi bổ sung vào rơm rạ các chất hữu cơ khác sợi nấm sẽ mọc nhanh hơn, khả năng cho tổng lượng sản phẩm lớn hơn
Bảng 4.3 Tốc độ tăng trưởng chiều dài m nấm
trên công thức thí nghiệm
ĐV: cm
ngày
Từ 4 – 6 ngày
Từ 6 – 8 ngày
ngày theo dõi
CT4 CT3 CT2 CT1 CT4 CT3 CT2 CT1
Trang 39Ở hình 2 Ta thấy tốc độ tăng trưởng chiều dài m nấm ở các công thức khác nhau có sự khác nhau rõ nét Chiều dài m nấm tăng mạnh nhất là ở công thức 4 sau
2 ngày chiều dài m nấm đã tăng 0,53 – 0,54cm, sau 6 ngày tăng lên 0,09cm và sau
8 ngày đã tăng lên 0,54cm Tốc độ tăng trưởng chậm nhất là ở công thức 1 sau 2 ngày chiều dài m nấm mới tăng lên 0,83cm, sau 6 ngày tăng lên 0,86cm, sau 8 ngày tăng lên 0,03cm Như vậy rõ ràng việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng đã làm tăng sinh trưởng của cây nấm, nấm sinh trưởng mạnh hơn, nhanh hơn và sớm cho thu hái Bổ sung cơ chất khác nhau nấm sinh trưởng c ng khác nhau Giống nấm
sò trắng thấy tốc độ tăng trưởng chiều dài m nấm ở các công thức khác nhau có sự khác nhau rõ nét Chiều dài cuống nấm tăng mạnh nhất là ở công thức 4 sau 2 ngày chiều dài m nấm đã tăng 0,08cm, sau 6 ngày tăng lên 0,09cm và sau 8 ngày đã tăng lên 0,11cm Tốc độ tăng trưởng chậm nhất là ở công thức 1 sau 2 ngày chiều dài m nấm mới tăng lên 0,05 cm, sau 6 ngày tăng lên 0,86cm, sau 8 ngày tăng lên 0,18cm Như vậy rõ ràng việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng đã làm tăng sinh trưởng của cây nấm, nấm sinh trưởng mạnh hơn, nhanh hơn và sớm cho thu hái.hai giống nấm
sò khác nhau Bổ sung các cỏ chất khác
Việc bổ sung dinh dưỡng vào cơ chất chính là tạo điều kiện để đảm bảo
sự cân bằng vật chất giữa sợi nấm sẽ mọc nhanh hơn, khả năng cho tổng lượng sản phẩm lớn vậy việc bổ sung thêm các chất dinh dưỡng đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự sinh trưởng của nấm
Bảng 4.4 Theo dõi số cây trên một cụm trên các công thức thí nghiệm
Trang 40Hình 3 Số cây trên cụm của các công thức trong thí nghiệm
Bảng 4.5 Động thái tăng trưởng đường kính gốc nấm
ở các công thức trong thí nghiệm
cụm
CT4 CT3 CT2 CT1 CT4 CT3 CT2 CT1