Các nghiên cứu về bắt nạt có ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần cho thấy: Trong các mẫu chọn học sinh trung học đã kiểm tra tại Istabul, Thổ Nhĩ Kỳ, tỷ lệ bị bắt nạt cao và liên quan đến bi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU SƯƠNG
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA LO ÂU - TRẦM CẢM VÀ MỨC ĐỘ BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ THU SƯƠNG
MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA LO ÂU – TRẦM CẢM VÀ
MỨC ĐỘ BỊ BẮT NẠT CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ NGỌC KHANH
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô của trường Đại Học Giáo Dục đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới PGS TS Đỗ Ngọc Khanh, là giáo viên
hướng dẫn luận văn của tôi, đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu, động viên tinh thần, giúp tôi hoàn thành luận văn Thạc sĩ này Cuối cùng, tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè lời cảm ơn chân thành và sâu sắc vì đã luôn ở bên cạnh động viên, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Mặc dù bản thân đã cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi được những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của quý thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn!
Bến Tre, ngày 10 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Sương
Trang 4SPSS : Phần mềm xử lý số liệu hỗ trợ xử lý và phân tích dữ liệu sơ
cấp (Statistical Package for the Social Sciences)
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
YLDs : Chỉ số số năm sống bị mất do khuyết tật (Year lost due to disability-YLDs)
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 6
1.1.Vài Nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Những nghiên cứu về bắt nạt trên thế giới 6
1.1.2 Những nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam 10
1.2 Một số khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Khái niệm bị bắt nạt và người bị bắt nạt 13
1.2.2 Một số hình thức bắt nạt thường gặp 15
1.2.3 Học sinh trung học cơ sở 16
1.2.4 Bắt nạt giữa học sinh với học sinh trung học cơ sở 19
1.2.5 Trầm cảm 20
1.2.6 Lo âu 25
Tiểu kết chương 1: 30
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Một số đặc điểm về khách thể và địa bàn nghiên cứu 31
2.1.1 Một số đặc điểm về khách thể nghiên cứu 31
2.1.2 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 35
2.2 Quy trình nghiên cứu 37
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 37
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 37
2.3.3 Phương pháp xử lý thông tin 40
Tiểu kết chương 2: 40
Trang 6Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
3.1 Thực trạng hành vi bắt nạt ở học sinh THCS 41
3.1.1 Bị bắt nạt về tinh thần 41
3.1.2 Bị bắt nạt về kinh tế 44
3.1.3 Bị bắt nạt về thể chất 45
3.1.4 Bị bắt nạt về tình dục 45
3.1.5 So sánh mức độ bị bắt nạt theo các nhóm học sinh khác nhau 47
3.1.6 Các yếu tố khác liên quan tới bắt nạt 50
3.2 Thực trạng lo âu – trầm cảm 53
3.2.1 Mức độ lo âu 53
3.2.2 Mức độ trầm cảm 53
3.3 Mối tương quan giữa việc bị bắt nạt và lo âu – trầm cảm 55
Tiểu kết chương 3: 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62
1 Kết luận 62
2 Khuyến nghị 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 79
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Các nhóm khách thể theo đặc điểm nhân khẩu học 33
Bảng 2.2 : Số bạn thân của khách thể 34
Bảng 3.1: Trung bình các loại bắt nạt 41
Bảng 3.2: Số lượng và tỉ lệ (%) học sinh trả lời ở mỗi phương án trong tiểu thang đó bắt nạt về tinh thần 42
Bảng 3.3: Số lượng và tỉ lệ (%) học sinh trả lời ở mỗi phương án trong tiểu thang đó bắt nạt về kinh tế 44
Bảng 3.4: Số lượng và tỉ lệ (%) học sinh bị bắt nạt về thể chất 45
Bảng 3.5: Số lượng và tỉ lệ (%) học sinh trả lời ở mỗi phương án trong tiểu thang đo bắt nạt về tình dục 46
Bảng 3.6: Trung bình các hình thức bị bắt nạt theo khối/lớp 47
Bảng 3.7: Trung bình các hình thức bắt nạt theo giới tính 48
Bảng 3.8: Trung bình các hình thức bắt nạt theo trường 49
Bảng 3.9: Địa điếm học sinh bị bắt nạt 51
Bảng 3.10: Đối tượng thực hiện bắt nạt 51
Bảng 3.11: số lượng và tỉ lệ học sinh phản ứng khi thấy bạn bè cùng lứa bị bắt nạt 52
Bảng 3.12: Phân loại lo âu 53
Bảng 3.13: phân loại trầm cảm 53
Bảng 3.14: So sánh lo âu – trầm cảm theo giới tính 54
Bảng 3.15: So sánh lo âu – trầm cảm theo học lực 55
Bảng 3.16: Mối tương quan giữa việc bị bắt nạt và lo âu – trầm cảm 55
Bảng 3.17: So sánh trung bình các hình thức bắt nạt với các học sinh có mức độ lo âu khác nhau 56
Bảng 3.18: So sánh trung bình các hình thức bắt nạt với các học sinh có mức độ trầm cảm khác nhau 57
Bảng 3.19: Dự báo lo âu theo trung bình bắt nạt 58
Bảng 3.20: Dự báo lo âu theo các biến thích học, lớp, giới, đạo đức, học lực, trường 59
Bảng 3.21: Dự báo trầm cảm theo trung bình bắt nạt 60
Bảng 3.22: Dự báo trầm cảm theo các biến thích học, lớp, giới, đạo đức, học lực, trường 60
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số lượng học sinh theo từng khối 31 Biểu đồ 2.2: Biểu đồ số lượng học sinh theo từng trường 32 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ số lượng học sinh theo giới 32
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay ở nước ta, vấn đề chăm sóc và bảo vệ trẻ em ngày càng được quan tâm của Chính phủ, đặc biệt bảo vệ trẻ khỏi bị bạo lực về thể chất và tinh thần Nếu như những năm trước, xã hội và dư luận thường quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ trẻ em dưới góc độ người lớn làm tổn thương trẻ
em như: lạm dụng tình dục, bạo lực tinh thần, đánh đập, lạm dụng sức lao động thì trong thời gian gần đây, truyền thông và dư luận bắt đầu quan tâm đến việc trẻ bị chính bạn cùng lứa gây tổn thương Bằng chứng là, trên các phương tiện thông tin đại chúng, đã có nhiều bài báo đề cập đến việc học sinh bắt nạt nhau, trong đó có những trường hợp đã gây ra hậu quả nghiêm trọng
và hết sức thương tâm
Những nghiên cứu gần đây càng cho thấy sự phức tạp và mối nguy hại của những hành vi bắt nạt ở tuổi học trò Khoảng 22,6% trẻ mẫu giáo bị bắt nạt từ mức độ trung bình đến nặng, khoảng 10% trẻ từ 8 đến 12 được bạn cùng lớp xem là “nạn nhân thường xuyên” của bắt nạt [40] Bắt nạt ở trường học thường được coi là vấn đề nghiêm trọng về mặt cá nhân, xã hội và giáo dục Bắt nạt không chỉ gây hậu quả xấu cho nạn nhân trong thời điểm bị bắt nạt [41] [85][86][87][94][107], mà còn gây hậu quả về mặt phát triển cảm xúc sau này của trẻ [76][87] Trẻ bị bắt nạt có thể có hành vi sa sút, hạn chế các cơ hội giao lưu và kết bạn dẫn tới giảm kỹ năng xã hội Bắt nạt cũng gây ảnh hưởng xấu ngay cả đối với người có hành vi bắt nạt Học sinh chuyên đi bắt nạt học sinh khác thường phát triển thành “thú vui” trong việc thể hiện sức mạnh và uy thế đối với nạn nhân và không thể phát triển sự đồng cảm với người khác Cứ như vậy, những trẻ đó có thể sẽ dần hình thành những hành vi phạm pháp và tội ác [98] Ngoài những hậu quả về mặt xã hội như bị cô lập,
bị loại khỏi nhóm bạn, và hậu quả học tập như học giảm sút, ít tham gia hoạt động trường lớp [98] Bắt nạt có thể gây nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt
Trang 10cảm xúc và nhận thức ở nạn nhân, như cô đơn, lo âu, trầm cảm, thu mình, kém tự tin Các nghiên cứu về bắt nạt có ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần cho thấy: Trong các mẫu chọn học sinh trung học đã kiểm tra tại Istabul, Thổ Nhĩ Kỳ, tỷ lệ bị bắt nạt cao và liên quan đến biểu hiện của trầm cảm
Sự tiếp tục trải nghiệm bạo lực và căng thẳng trong các mối quan hệ xã hội
sẽ dẫn đến các biểu hiện tâm thần [99] Thanh thiếu niên nam là nạn nhân của bắt nạn cùng lứa trải nghiệm mức độ stress và lo lắng cao Các em cho rằng môi trường trường học của các em không an toàn và sợ có bạo lực học
đường [92]
Những năm gần đây, vấn đề bắt nạt học đường được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới, tuy nhiên, tại Việt Nam các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về thực trạng, các nguyên nhân, cũng như đưa ra một vài giải pháp phòng ngừa bạo lực học đường trong nhà trường, ở gia đình và xã hội Gần đây, đã có nghiên cứu đề tài cấp bộ ở Viện Tâm lý học về bạo lực học đường, nguyên nhân và hậu quả, tuy nhiên nghiên cứu trên mẫu chọn ở học sinh phổ thông miền Bắc và miền Trung Vậy tình trạng bạo lực học đường ở học sinh trung học cơ sở miền Nam và mối tương quan đến sức khoẻ tâm thần, cụ thể là lo âu và trầm cảm như thế nào rất cần được làm sáng tỏ Nghiên cứu đề tài: “Mối tương quan giữa lo âu – trầm cảm và vấn đề bị bắt nạt của học sinh trung học cơ sở” không những có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn, sẽ giúp trả lời câu hỏi trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về mối tương quan giữa mức độ bị bắt nạt
và biểu hiện của lo âu – trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hoá một số lí luận có liên quan đến đề tài
Lo âu, trầm cảm, bắt nạt, học sinh trung học cơ sở, bắt nạt giữa học sinh với học sinh trung học cơ sở
Trang 113.2 Điều tra mức độ bị bắt nạt, các biểu hiện lo âu, trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở Miền Nam
3.3 Xem xét mối tương quan giữa mức độ bị bắt nạt và mức độ lo âu – trầm cả ở học sinh trung học cơ sở Miền Nam
4 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
- Học sinh THCS ở các tỉnh phía Nam gồm: TP.Hồ Chí Minh, Bến Tre, Kiên Giang
- Số lượng khách thể: 300 người
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Mối tương quan giữa mức độ các hình thức bị bắt nạt và mức độ lo âu – trầm cảm ở học sinh trung học cơ sở Miền Nam
5 Câu hỏi nghiên cứu
Lo âu – trầm cảm có tương quan với vấn đề bị bắt nạt của học sinh trung học cơ sở như thế nào?
6 Giả thuyết khoa học
Nghiên cứu này của chúng tôi giả thuyết rằng các mức độ bị bắt nạt có tương quan thuận với lo âu – trầm cảm Các học sinh có mức độ bị bắt nạt thường xuyên về thể chất, tinh thần, kinh tế và tình dục sẽ có mức lo âu và trầm cảm cao
7 Phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh trung học cơ sở ở TP.Hồ Chí Minh, Bến Tre, Kiên Giang
- Thời gian: Từ tháng 01/2014 đến tháng 11 /2015
8 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Tìm hiểu những nghiên cứu ở VN và trên thế giới Các tài liệu bao gồm: các kết quả nghiên cứu, các bài viết tham luận , các tạp chí… có liên
Trang 12quan đến đề tài Đã sử dụng các công cụ tìm kiếm như Google, trang web của Thư Viện ĐHQGHN, thư viện của Vanderbilt, gõ những từ khoá như : bắt nạt”, “bắt nạt và SKTT”
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Chủ yếu là thu thập, xử lý các dữ liệu, tìm hiểu thực trạng thông qua các bảng hỏi Các bảng hỏi của nước ngoài đã được chuẩn hoá cho học sinh Việt Nam như:
- Thang đo bị bắt nạt của Mynard và Joseph (2000)
- Bảng hỏi về bắt nạt của báo cáo cấp Bộ của Viện tâm lý học
- Thang đo trầm cảm PHQ- 9
- Thang đo lo âu GAD- 7
- Các câu hỏi về nhân khẩu học
8.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Dùng phép thống kê mô tả, tương quan Person, kiểm định so sánh giá trị trung bình T-test và Anova
Trang 1310 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận: sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề, các khái
niệm cơ bản của luận văn
Chương 2: Nội dung, phương pháp và tổ chức nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Vài Nét về lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về bắt nạt trên thế giới
Ở nhiều nước trên thế giới, bạo lực giữa học sinh với học sinh là vấn đề bức xúc của xã hội, được các nhà tâm lý học và giáo dục học rất quan tâm nghiên cứu Các hướng nghiên cứu về vấn đề này của các tác giả trên thế giới bao gồm xác định khái niệm, nghiên cứu dịch tễ học, đặc điểm của đối tượng của bắt nạt, nghiên cứu nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp can
- Hướng thứ nhất: Các nhà nghiên cứu tập trung vào việc xác định khái niệm
bắt nạt, bắt nạt giữa học sinh với học sinh Hướng nghiên cứu này bao gồm các nhà tâm lý học Rigby (2002), Olweus (2001), Nansel & Overpeck (2003); Gendreau & Archer, (2005), Bjorkqvist, Crick, Underwood và cộng sự (1992) [96][87][82][60][36] Các nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa bắt nạt, bắt nạt giữa học sinh với học sinh, xác định các đặc điểm của hành vi này Dan Olweus đã đưa ra một định nghĩa theo một cách chung nhất, bắt nạt trong
trường học như một hành vi tiêu cực lặp đi lặp lại, có ý định xấu của một hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, người có khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân
- Hướng thứ hai: nghiên cứu dịch tễ học, các nhà nghiên cứu đã khảo sát tình
trạng bắt nạt học đường giữa học sinh với học sinh ở nhiều nước trên thế giới
và cho thấy tỉ lệ bắt nạt học đường là khác nhau ở các nước khác nhau Dữ liệu từ khảo sát quốc tế về hành vi sức khoẻ trẻ em do Craid và Harel tiến hành gần đây cho thấy rằng học sinh ở độ tuổi từ 11 đến 15 bị lạm dụng bởi người khác ở 30 nước khác nhau có tỉ lệ dao động từ 9% đến 73% [46]
Theo tác giả Hsi-Sheng Wei, tỉ lệ học sinh bị bắt nạt tăng cao ở những nước châu Á như Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc [70]
Reuter-Rice và cộng sự đã tiến hành điều tra ở các trường học nông thôn tại Mỹ cho thấy trong 192 học sinh có 158 trẻ (chiếm 82.3%) công nhận rằng
Trang 15đã trải nghiệm một vài hình thức bắt nạt ít nhất một lần trong ba tháng qua Kết quả này cao hơn (có ý nghĩa thống kê) đối với kết quả của các nghiên cứu khác, cho thấy: ở Mỹ, hiện tượng bắt nạt ở các vùng nông thôn nhiều hơn thành thị một cách rõ rệt [92]
- Hướng thứ ba: gồm các nhà nghiên cứu như Salmivalli, Pepler và Olweus
Hướng này quan tâm đến đối tượng của bắt nạt Salmivalli (1997) phân chia
và mô tả các vai trong các vụ bắt nạt giữa học sinh với học sinh như sau: thứ nhất là kẻ đầu trò [100] Đó là người tổ chức cả nhóm và khởi đầu quá trình bắt nạt Thứ hai là kẻ a dua - người tham gia vào quá trình bắt nạt khi nó đã bắt đầu Thứ ba là kẻ cổ vũ - người không tham gia vào quá trình bắt nạt như xem, cười hoặc có những hình thức khuyến khích thụ động khác Thứ tư là kẻ ngoài cuộc - những người trong nhóm bạn nhưng tỏ ra hoàn toàn không có liên quan gì đến quá trình bắt nạt Thứ năm - kẻ chống trả: người kêu gọi sự giúp đỡ, yêu cầu dừng sự bắt nạt lại, trực tiếp giúp đỡ nạn nhân Và thứ sáu - nạn nhân : người bị bắt nạt
Pepler (1998) cho rằng có thể người xem không cười đùa và khuyến khích
kẻ bắt nạt nhưng chính thái độ thờ ơ, không can thiệp vào quá trình bắt nạt là một dạng của sự phục tùng và điều đó giúp củng cố hành vi bắt nạt
- Hướng thứ tư: nghiên cứu nguyên nhân bắt nạt học đường giữa học sinh với
học sinh Theo hướng này có các nhà nghiên cứu như: Topcu, Ciodem1; Erdur-Baker, Özgür1; Çapa-Aydin, Yeşim, Dulmus, C N.; Sowers, K M.; Theriot, M.T., Robinson, Sabrina, Pekel-Uludağli, Nilay1; Uçanok, Zehra [116][97] Các tác giả cho rằng có rất nhiều yếu tố có liên quan đến hành vi bắt nạt học đường giữa học sinh với học sinh như: giới tính, những hành vi vi phạm qui tắc, luật lệ, cách ứng xử của giáo viên Kết quả nghiên cứu của Topcu, Ciodem1; Erdur-Baker, Özgür1; Çapa-Aydin, Yeşim, (2008), ở Turkey cho thấy học sinh trường công có tỷ lệ bị bắt nạt nhiều hơn học sinh ở trường
tư [116]
Trang 16Trong khi đó, Hsi-Sheng Wei và các cộng sự (2010) cho rằng: các yếu tố
về truờng học không liên quan đến các hành vi bạo lực học đường giữa học sinh với học sinh [70]
Çetinkaya và đồng sự (2009) cho rằng: điều kiện kinh tế gia đình có liên quan đến hành vi bắt nạt học đường giữa học sinh với học sinh Trong số trẻ
em bị bắt nạt, tỷ lệ trẻ có điều kiện kinh tế khó khăn cao hơn trẻ em có điều kiện kinh tế khá Bắt nạt cũng có mối liên hệ có ý nghĩa với mức sống, tuổi, nghề nghiệp của cha, số anh chị em trong gia đình [42]
Những nét đặc biệt ở hình dáng của một số học sinh cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bắt nạt Robinson, Sabrina (2006) cho rằng: những em học sinh thừa cân và béo phì thường là nạn nhân của bắt nạt hay trêu ghẹo Thanh thiếu niên béo phì có nguy cơ là nạn nhân của bắt nạt cao bởi vì những bạn cùng lứa nhìn nhận họ như một sự khác biệt và người không được ai ưa [97]
- Hướng thứ năm: tìm hiểu hậu quả của bắt nạt giữa học sinh với học sinh
Rất nhiều nhà nghiên cứu dành thời gian tìm hiểu hậu quả của bắt nạt giữa học sinh với học sinh (Noaks & Noaks, Gilmartin, Bulack, Fulbright and Williams, Osofsky, Brockenbrough, Bagley, Pritchard, Robinson, Sabrina…) Các nhà nghiên cứu đều khẳng định bắt nạt có ảnh hưởng rất tiêu cực đến học sinh Trẻ bị bắt nạt có thể học hành sa sút, hạn chế các cơ hội giao lưu và kết bạn dẫn đến giảm kỹ năng xã hội [98] Bằng chứng cho thấy rằng những kẻ bắt nạt và nạn nhân có nguy cơ gia tăng trầm cảm, lo lắng, cảm giác tuyệt vọng và lòng tự trọng thấp [114], không tham gia tích cực vào các hoạt động học tập [76] Hơn nữa nạn nhân có nhiều dấu hiệu hiển thị sự cô đơn và dễ có
ý định tự tử [114] Bắt nạt cũng gây ảnh hưởng xấu ngay cả đối với người có hành vi bắt nạt Học sinh chuyên bắt nạt học sinh khác thường phát triển thành “thú vui” trong việc thể hiện sức mạnh và uy thế đối với nạn nhân và không thể phát triển sự đồng cảm với người khác Cứ như vậy, những trẻ đó
có thể sẽ dần hình thành những hành vi phạm pháp và tội ác [98]
Trang 17- Hướng thứ sáu: các nhà nghiên cứu Gary D.Gootfredson, Denise
C.Gottfredson, Shure Spivak nghiên cứu các biện pháp ngăn chặn các rối loạn hành vi; Feindler, Marriott và Iwata giới thiệu hai hướng can thiệp chính đối với bắt nạt học đường Hướng thứ nhất, can thiệp kiểm soát môi trường trường học, lớp học và cách thức thực hành của nhà trường, ví dụ một chương trình can thiệp bằng cách tạo ra các qui tắc luật lệ rõ ràng và công bằng trong nhà trường Hướng thứ hai, can thiệp lên sự thay đổi của cá nhân Đó là can thiệp nhằm thay đổi hành vi, suy nghĩ, thái độ và niềm tin của các học sinh trong nhà trường [64][105][54]
Can thiệp kiểm soát môi trường trường học bao phủ một phạm vi rất rộng, có thể là việc kiểm soát mang kim loại vào trường; thay đổi những qui tắc, luật lệ trong trường làm cho chúng trở nên công bằng và rõ ràng; xây dựng những chuẩn mực và những mong đợi của nhà trường liên quan đến các hành vi bắt nạt và bạo lực khác; biện pháp quản lý lớp học để nâng cao sự tham gia, sự gắn kết của học viên và thành tích học tập của học viên… Hầu hết những phương pháp can thiệp này đều có hiệu quả, nhưng chúng vẫn được đánh giá là chưa có đủ các bằng chứng khoa học Một số chương trình can thiệp tiêu biểu cho loại này là dự án Pathe [65] Safe Dates Program [57][58] Can thiệp nhằm thay đổi cá nhân: loại can thiệp này có thể trực tiếp cung cấp những thái độ, kỹ năng, niềm tin hay sự mong đợi và những điều khác nữa Can thiệp này có thể là một nỗ lực tổng thể và mạnh mẽ nhằm giảm những nguy
cơ của bạo lực và hành vi có vấn đề cho tất cả mọi học sinh trong trường Các chuơng trình thường dựa trên các kỹ thuật nhận thức hành vi, nhằm giúp học sinh nhận biết tốt hơn về các tình huống có thể dẫn đến bạo lực và kỹ thuật phòng chống Một số chương trình cơ bản là: Kỹ năng giải quyết vấn đề liên nhân cách (ICPS; Shure và Spivak, 1979, 1980, 1982), Con đường FAST (Nhóm nghiên cứu ngăn chặn các rối loạn hành vi, 1999a); Kiếm soát sự tức giận (Feindler, Marriott và Iwata, 1984) Các can thiệp theo huớng này có nhiều bằng
chứng nghiên cứu cho thấy có hiệu quả [104][105][106][54]
Trang 18Như vậy, bạo lực học đường giữa học sinh với học sinh ở các nước trên
thế giới đã được các nhà khoa học rất quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu đã tìm hiểu và khám phá nhiều phương diện của vấn đề: khái niệm, thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp can thiệp Trong đó, vấn đề nguyên nhân tâm lý - xã hội và hậu quả tâm lý đối với nạn nhân bạo lực đặc biệt được quan tâm
1.1.2 Những nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam
Hiện nay, bạo lực học đường nói chung và bắt nạt giữa học sinh với học sinh nói riêng đang trở thành vấn đề nóng được cả xã hội quan tâm nên những năm gần đây có nhiều nghiên cứu được thực hiện về những khía cạnh của chủ
đề này, các nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của vấn đề bắt nạt
- Hướng nghiên cứu về thực trạng bạo lực giữa học sinh với học sinh gồm
những nghiên cứu như: khảo sát về thực trạng bạo lực học đường ở quận Đống Đa, Hà Nội của Khoa Xã hội học, trường Đại học KHXH&NV (Đại học Quốc gia Hà Nội), thực hiện năm 2008 chỉ ra nhiều con số đáng lo ngại
Cụ thể, có đến 99,7% số học sinh trong mẫu nghiên cứu cho rằng, ở trường các em có xảy ra hiện tượng nữ sinh đánh nhau Mức độ bạo lực trong nữ sinh là: 44,7% rất thường xuyên, 38% thường xuyên, 17,3% không thường xuyên;
có tới 64% các em nữ được hỏi thừa nhận đã từng có hành vi đánh nhau với các bạn Hiện tượng nữ sinh đánh nhau đã trở nên quen thuộc với nhiều học sinh, đến mức, có đến 45,3% cho rằng, điều đó là bình thường; 30,7% - có thể chấp nhận được; và chỉ có 24% - không chấp nhận hành vi bạo lực của nữ sinh [127]
Khảo sát do viện khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện trên 317 học sinh của hai trường THCS Nghĩa Tân (quận Cầu Giấy) và THCS Cầu Diễn (huyện Từ Liêm) cho thấy tỉ lệ học sinh bị bắt nạt nhiều hơn hai lần số học sinh đi bắt nạt Và theo ý kiến của các em, nơi hay xảy ra tình trạng bắt nạt
Trang 19nhất là sân trường, tiếp theo là hành lang, cầu thang, lớp học, đường từ trường
về nhà, đường từ nhà đến trường và ở nhà [21]
Đề tài cấp bộ do Viện Tâm Lí học thực hiện trên 1141 học sinh THPT miền Bắc và miền Trung Việt Nam cho thấy có 24,6% học sinh trong mẫu chọn là nạn nhân của bạo lực học đường; 7,2% khách thể là thủ phạm của bạo lực và 43,8% vừa là thủ phạm vừa là nạn nhân [19]
Như vậy, tỉ lệ học sinh bị bắt nạt và đi bắt nạt là rất khác nhau trong những nghiên cứu khác nhau, kết quả này có thể là do mẫu chọn khác nhau, công cụ nghiên cứu khác nhau và khái niệm về bắt nạt là khác nhau giữa các tác giả
- Hướng nghiên cứu về những nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lệch chuẩn nói chung và bắt nạt giữa học sinh với học sinh nói riêng,
đề xuất các biện pháp can thiệp: gồm các tác giả Hoàng Gia Trang, Lê Ngọc
Dung, Hồ Bá Thông, Lưu Song Hà, Nguyễn Hồi Loan, Nguyễn Thị Hồng Nga, Đỗ Ngọc Khanh… Các tác giả này đề cập đến hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội và hành vi vi phạm pháp luật của thanh thiếu niên - một lĩnh vực rộng hơn, nó bao trùm vấn đề bạo lực giữa học sinh với học sinh Trong các nghiên cứu của mình, các nhà khoa học đã chỉ ra những nguyên nhân, những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lệch chuẩn nói chung và bắt nạt giữa học sinh với học sinh nói riêng Trong những nguyên nhân được phát hiện, những nguyên nhân từ gia đình như sự sai lệch nhân cách của bố mẹ, phong cách giáo dục thiếu khoa học của họ và sự nghèo nàn của giao tiếp trong gia đình… được nhiều tác giả quan tâm Tình trạng chưa chú trọng đúng mức nội dung giáo dục đạo đức và các chuẩn mực xã hội khác, bồi dưỡng nhân cách cho học sinh của nhà trường; tình trạng văn hóa phẩm không lành mạnh chưa được quản lý chặt chẽ, một số đặc điểm tâm lý lứa tuổi của trẻ vị thành niên… cũng được các nhà nghiên cứu xem như là những yếu tố ảnh hưởng đến hành
vi bạo hành giữa học sinh với học sinh
Trang 20Nghiên cứu 1141 học sinh THPT ở miền Bắc và miền Trung, các nhà nghiên cứu đã thấy rằng các yếu tố về hành vi như xâm kích, xem phim và chơi trò chơi bạo lực, hành vi thờ ơ với bạo lực; các yếu tố cá nhân như mức
độ tự đánh giá, giới tính, nhận thức của học sinh: yếu tố gia đình như chứng kiến cha mẹ hoặc anh chị em bạo lực v.v… đều có ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường [19]
Đề tài cấp bộ của viện tâm lý học đã nghiên cứu thực trạng bạo lực học đường giữa học sinh với học sinh THPT, một số nguyên nhân nhìn từ góc độ hành vi và cá nhân, đưa ra các kết quả chính như sau: thứ nhất, đa số học sinh đều cho rằng bạo lực hoc đường không có những ảnh hưởng lâu dài; thứ hai, học sinh cũng đã khái quát một cách tương đối hậu quả mà BLHĐ gây ra cho mình: ảnh hưởng chung đến tâm lí sức khoẻ, ảnh hưởng đến cảm xúc như buồn bã, sợ hãi và cuối cùng là ảnh hưởng tới các chức năng trong cuộc sống như không hoà đồng, không dám đi học; thứ ba, nghiên cứu cho thấy trong số những học sinh có liên quan đến BLHĐ, nam giới có gặp nhiều vấn đề hành
vi hơn trong khi nữ giới lại gặp nhiều vấn đề tình cảm hơn [19]
Như vậy, Các nghiên cứu ở Việt Nam về bắt nạt học đường nói chung
và bắt nạt giữa học sinh với học sinh nói riêng còn rất hạn chế, chưa tương xứng với tính chất nghiêm trọng của vấn đề này hiện nay Trong đó, các nghiên cứu về thực trạng mới khảo sát ở các thành phố lớn, chưa khảo sát ở các thành phố nhỏ, các vùng nông thôn Các nghiên cứu về nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bắt nạt còn mang tính chất nhận định chung chung; các nhà khoa học chú ý nhiều đến các nguyên nhân từ phía gia đình, trái lại, rất ít nghiên cứu quan tâm đến các yếu tố tâm lý của những người liên quan trực tiếp đến bắt nạt Trong khi đó, các nhà nghiên cứu trên thế giới phát hiện ra rằng, một số đặc điểm cá nhân của người bị bắt nạt có liên quan mật thiết với hiện tượng bắt nạt giữa học sinh với học sinh Các nghiên cứu trong nước cũng chưa nêu bật hậu quả về mặt tâm lý nặng nề của những nạn nhân
Trang 21bắt nạt học đường cũng như chưa đưa ra các giải pháp cụ thể để hỗ trợ cho đối tượng bắt nạt cũng như nạn nhân của hiện tương bắt nạt
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm bị bắt nạt và người bị bắt nạt
1.2.1.1 Bắt nạt là gí
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, “bắt nạt là cậy thế cậy quyền doạ dẫm để làm cho người khác phải sợ, ví dụ như bắt nạt trẻ con, ma mới bắt nạt ma cũ” [15]
Theo Nguyễn Thị Nga “Bắt nạt là bất cứ hành vi hay lời nói nào đó lặp đi lặp lại cố tình gây tổn thương đến cơ thể hoặc tâm lý của người khác” [11] Theo Batsche & Knoff (1994),Olweus (1993) cho rằng thành tố then chốt của bắt nạt, kể cả trực tiếp hay gián tiếp, là những hăm dọa về cơ thể và tâm
lý xuất hiện lặp lại có thể tạo ra những mẫu hành vi quấy rầy và lạm dụng nạn nhân [34]
Tác giả Banks (1997) cho rằng bắt nạt bao gồm những hành vi trực tiếp như trêu chọc, chửi mắng, đe doạ, đánh, chiếm đồ của nạn nhân bị bắt nạt [33]
Theo Ahmad & Smith (1994) và Smith &Sharp (1994) học sinh nam thường liên quan tới hình thức bắt nạt trực tiếp Ngược lại, học sinh nữ thường liên quan tới các hình thức gián tiếp, tập trung vào việc làm tổn hại quan hệ của nạn nhân với bạn bè khác qua phát tán tin đồn và cô lập nạn nhân Cụ thể hơn là những hành vi nói xấu sau lưng, “buôn dưa lê, bán dưa chuột”, hướng người khác có cùng cái nhìn đố kị và tiêu cực về phía đối phương, làm cho đối phương bị mọi người ghét, ác cảm, không chơi cùng [27][108]
Rigby (1998) cho rằng bắt nạt là bất cứ hành vi nào có ý định làm tổn thương người khác về cơ thể hay cảm xúc [94] Nó bao gồm không chỉ những hành động nhìn thấy được như đấm, đá, gọi tên và trêu chọc mà còn phát tán tin đồn, chế nhạo các khuyết tật về cơ thể, giễu cợt về sắc tộc, ngăn không cho chơi với nhóm bạn, làm nhục hoặc kể cho người khác chuyện mà nạn nhân
Trang 22muốn giấu [101] Thuật ngữ “bắt nạt” chứa đựng một diện rộng các hành vi
cơ thể và lời nói theo cách gây hấn hoặc chống đối xã hội Bắt nạt có thể bao gồm sỉ nhục, trêu chọc, lạm dụng về từ ngữ hay cơ thể, đe doạ, làm nhục, quấy rầy và tấn công
Milton Keynes (1989) định nghĩa: “Bắt nạt là một hành động lặp đi lặp lại một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho người khác Bắt nạt là đặc trưng của một cá nhân hành xử theo một cách nào
đó để đạt được quyền lực trên người khác” [35]
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng, bắt nạt là hành vi gây tổn thương đến cơ thể và tân lý của người bị hại
Từ những quan điểm trên đây về bắt nạt, chúng tôi đưa ra định nghĩa về bắt nạt như sau: Bắt nạt là bất cứ biểu hiện bằng văn bản, lời nói, hành động hay bất cứ hành vi nào của một hoặc một nhóm người nhằm gây ra tổn thương cho một hoặc nhiều người khác về mặt cơ thể hay tinh thần
1.2.1.2 Khái niệm bị bắt nạt và người bị bắt nạt
Năm 1991, trong nghiên cứu của mình Olweus đã đưa ra định nghĩa về
bị bắt nạt như sau: một đứa trẻ bị bắt nạt hoặc là nạn nhân của hiện tượng bắt nạt khi nó thường xuyên bị hứng chịu những hành động tiêu cực của một đứa trẻ hoặc một nhóm những đứa trẻ khác Đó là hành động tiêu cực mà người nào đó cố tình hoặc chủ ý gây ra, gây tổn thương hoặc làm cho người khác lo lắng bằng cách sử dụng sức mạnh thể chất, từ ngữ hoặc bằng cách nào đó như nét mặt, cử chỉ điệu bộ tiêu cực và cố ý loại ra khỏi nhóm [84]
Trong một nghiên cứu khác có tên “Bản chất và hậu quả của việc bị bắt nạt bởi những bạn cùng trang lứa” tác giả Stephen E Brock đã đưa ra định
nghĩa về bị bắt nạt như sau: bị bắt nạt bởi bạn cùng trang lứa là hậu quả của những hành động gây hấn cố ý của một hoặc một nhóm bạn cùng trang lứa được tạo ra từ sự chênh lệch về số lượng hoặc sức mạnh đối với những người
bị bắt nạt Mục tiêu của những người bắt nạt là gây tổn hại đến thân thể và/hoặc các mối quan hệ xã hội Những trẻ bị bắt nạt có thể hoặc không thể có
Trang 23khả năng ứng phó với những hành vi gây hấn này Cũng như hậu quả của những hành vi gây hấn, những trẻ bị bắt nạt có thể bị làm tổn thương, bị lạm dụng hoặc giảm lòng tự trọng Những hành vi này diễn ra trong một thời gian nhất định [112]
Theo Nguyễn Thị Duyên “Bị bắt nạt là việc một cá nhân hay một nhóm người nào đó bị tổn thương về mặt thể chất hoặc tâm lý do hành vi hoặc lời nói cố ý được lặp đi lặp lại của người khác gây ra” [6]
Từ các khái niệm được rút ra bởi các nhà nghiên cứu khoa học, chúng tôi đi đến kết luận rằng, người bị bắt nạt bởi bạn cùng trang lứa lứa là người bị một người hay một nhóm người có những hành vi làm tổn thương
về mặt cơ thể hay cảm xúc gây ra những hậu quả đến tâm lý, cảm xúc và chức năng trong cuộc sống
1.2.2 Một số hình thức bắt nạt thường gặp
Crick và cộng sự (1995) đã chỉ ra rằng có hai hình thức bắt nạt là bắt nạt bên ngoài/cơ thể, thường nhấn mạnh hành vi của nam giới, và bắt nạt ẩn/quan hệ, xảy ra ở nữ nhiều hơn, tuy nhiên cả nam và nữ đều có hình thức
bắt nạt này [47] Bắt nạt cũng có thể được chia theo 4 hình thức sau: (1) Bắt nạt thân thể như đánh đập, hành hung xảy ra khi một người bị người khác sử dụng công khai những hành động cơ thể để áp đặt ưu thế sức mạnh của họ lên người đó, và ở hình thức bắt nạt này xảy ra ở nam nhiều hơn nữ (2) Bắt nạt quan hệ như tẩy chay, cô lập, mắng chửi, sỉ nhục; (3) Bắt nạt thao túng như
đe dọa, tống tiền, vu oan, lấy cắp hoặc hủy hoại tài sản; (4) Bắt nạt dựa trên công nghệ (cyber bullying) như bắt nạt qua điện thoại, tin nhắn, email, hay bôi nhọ trên mạng internet
Trong nghiên cứu này chúng tôi phân loại bắt nạt dựa vào hai tiêu chí: Cách sử dụng hành vi bắt nạt và hậu quả của hành vi bắt nạt
Theo đó có bốn hình thức là bắt nạt thể chất, bắt nạt tinh thần, bắt nạt tình dục, bắt nạt kinh tế
Trang 241.2.3 Học sinh trung học cơ sở
1.2.3.1 Khái niệm học sinh trung học cơ sở
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11, 12, 13 đến
14, 15 Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS Lứa tuổi này còn gọi là tuổi thiếu niên và có một vai trò đặc biệt trong thời kỳ phát triển của trẻ em Tuy nhiên, trong thực tế sự dậy thì (bắt đầu vào tuổi thiếu niên) có thể không hoàn toàn trùng với việc học sinh vào lớp 6, mà có thể sớm hơn hoặc muộn hơn [7]
1.2.3.2 Đặc điểm của học sinh trung học cơ sở
- Sự phát triển thể chất
Tuổi thiếu niên bắt đầu với sự kiện lớn lên đúng nghĩa được gọi là sự dậy thì Sự dậy thì liên hệ tới những hiện tượng sinh lí như hiện tượng kinh nguyệt lần đầu ở bé gái và xuất tinh lần đầu ở bé trai Các sự việc này báo hiệu bước đầu của một quá trình thay đổi sâu sắc về cơ thể [44]
Sự tìm kiếm bản sắc cá nhân của một thiếu niên bị ảnh hưởng bởi sự phát triển đột phá tuổi vị thành niên Các em trai và các em gái trưởng thành muộn thường có một giai đoạn đặc biệt khó khăn Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, những em trai trưởng thành muộn thường cảm thấy không thoả mãn và cảm giác này đeo đẳng cho đến khi các em thực sự trưởng thành [80][77] Những đứa trẻ trưởng thành thường nắm quyền lãnh đạo, đặc biệt là trong thể thao, bởi vì chúng khoẻ hơn bạn bè cùng lứa khác Những đứa trẻ trai trưởng thành sớm có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi nguy cơ cao như hút thuốc lá, hoạt động tình dục, hoặc phạm pháp [56] Những đứa trẻ trai trưởng thành muộn có nguy cơ trầm cảm, xung đột với cha mẹ, có có nhiều vấn đề ở trường học [66] Các em có tầm vóc nhỏ hơn nên có nguy cơ bị bắt nạt [88] Những em gái trưởng thành sớm đươc cho là có nguy cơ cao hơn đối với trầm cảm, lạm dụng chất, có hành vi gây rối và rối loạn ăn uống [61][66][113] Ngoài ra ở lứa tuổi này có sự mất cân đối giữa tim và mạch Dung tích của tim tăng gấp đôi so với lứa tuổi trước, nhưng dung tích mạch máu chỉ
Trang 25tăng gấp rưỡi Tuần hoàn bị tạm thời rối loạn gây hiện tượng thiếu máu trên
vỏ não [17]
Chính vì vậy ở lứa tuổi này hay có hiện tượng tim đập nhanh, chóng mặt,
dễ bị kích động, hay nổi nóng và hiếu động Chính những đặc điểm này nhiều
em tìm kiếm quyền lực, giải quyết các vấn đề khó khăn tâm lý của mình bằng việc đi bắt nạt bạn khác
- Đặc điểm nhận thức
Trong khi lứa tuổi trẻ em, các em thường sống chan hoà với cha mẹ và gia đình thì ở lứa tuổi thiếu niên, các em thường có xu hướng đi vào một không gian riêng và trở thành một cá nhân tách biệt Quá trình cá thể hoá bao gồm sự phát triển độc lập tương đối với các mối quan hệ gia đình, sự suy yếu các mối ràng buộc với những đối tượng trước đây là quan trọng với trẻ, và khả năng gia tăng để nhận lãnh vai trò chức năng như là một thành viên của
xã hội người lớn [29]
Thiếu niên chỉ có thể xây dựng các quan niệm về bản thân trong hoàn cảnh có các mối quan hệ với người khác, nhưng đồng thời cũng tìm cách thiết lập sự tách biệt bằng các ranh giới Như vậy, quá trình xã hội hoá của thiếu niên, một mặt dựa trên sự cân bằng giữa cá thể hoá với việc hình thành bản ngã riêng, và một mặt khác là hoà nhập với xã hội [26] Nếu không hoàn thành được sự cân bằng này, thì có thể xảy ra khủng hoảng cá nhân đối với thiếu niên Chẳng hạn như, nếu một thiếu niên tìm kiếm ở mức độ rất cao về
cá thể hoá thì hậu quả có thể làm hỏng các mối quan hệ với bạn bè cùng trang lứa Điều này khiến cho các em bị loại trừ khỏi nhóm cùng lứa tuổi Trong hoàn cảnh này, các em có xu hướng kết bạn với các thiếu niên bị loại trừ khác cùng lứa tuổi Cũng có thể hậu quả là cảm nhận của thiếu niên về sự đánh giá của người khác có thể sẽ giảm bớt [102] Thay vì tìm một mức độ cao về cá thể hoá, một số thiếu niên làm ngược lại, tìm cách gắn kết tối đa với người khác Điều này có thể khiến các em dễ gặp khó khăn trong việc thích nghi với hoàn cảnh mới, ở đó, các em phải tự đối phó với tình thế [73]
Trang 26- Đặc điểm tình cảm - xã hội
Theo các nhà nghiên cứu, quan hệ giữa thiếu niên - bố mẹ thay đổi rất nhiều so với giai đoạn trước đó Trẻ cảm thấy độc lập hơn nên mối quan hệ giữa bố mẹ - con cái trở nên bình đẳng hơn Bố mẹ phải điều chỉnh thích hợp với ý thức tự quản đang phát triển của con mình bằng cách đối xử với con như những người ngang hàng hơn (Laurse & Collins, 1994) [24] Do đó, trẻ thường có ít thời gian ở bên bố mẹ, ít thân mật với bố mẹ hơn và tranh luận nhiều hơn về cách sống, tự do và sở thích Trẻ ủ rũ và nhiều khả năng thích dành thời gian ở một mình hơn (Larson, 1997; Wolfson & Carskadon, 1998) [24] Những thay đổi này là sản phẩm tự nhiên của mối quan hệ bố mẹ - con cái đang thay đổi, trong đó “con” gần như là một người đầu tuổi trưởng thành hoàn toàn độc lập (Steinberg, 1990) [24]
Quan hệ bạn bè ở thiếu niên phức tạp, đa dạng hơn ở học sinh tiểu học, ở đây có sự phân biệt mức độ trong tình bạn: bạn học, bạn thân, vì thế nó có giá trị rất lớn đối với thiếu niên Các em một mặt thể hiện rất rõ khát vọng được giao tiếp và hoạt động với bạn cùng tuổi, mặt khác lại muốn được bạn bè tôn trọng, công nhận Sự khó chịu nhất ở tuổi này là sự phê phán tập thể, của bạn
bè Tất cả những tình huống đó đẩy các em đi tìm những người bạn mới ngoài lớp học, ngoài trường và một số em bị lôi kéo bởi những “nhóm” hay “băng đảng” tự phát không lành mạnh [14] Vì nhu cầu được có bạn để chia sẻ tình cảm là rất quan trọng cho học sinh lứa tuổi này vì vậy nếu bị cô lập đó là một đòn trừng phạt rất lớn và ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ tinh thần của các em Bắt nạt tinh thần bằng cách lôi kéo bạn bè để cô lập ai đó là một hình thức phổ biến ở lứa tuổi này
Tóm lại, do những đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi nên ở học sinh THCS thường gây ra sự mất cân bằng tạm thời và một số khó khăn trong hoạt động của thiếu niên: các em dễ bị kích thích, bị lôi kéo nên có thể sa vào các “nhóm
tự phát”, các “băng đảng” có những hoạt động không lành mạnh, thậm chí vi phạm pháp luật
Trang 271.2.4 Bắt nạt giữa học sinh với học sinh trung học cơ sở
1.2.4.1.Bắt nạt về thể chất
Bắt nạt về thể chất là hành vi của một học sinh hay một nhóm học sinh, có mục đích làm hại một học sinh hay một nhóm học sinh khác bằng sức mạnh thể chất một cách trực tiếp, để lại hậu quả về thể chất rõ rệt hơn cả ở người bị bắt nạt Bao gồm những hành vi cụ thể như: đấm, đá, tát, giật tóc, nhốt trong phòng
1.2.4.2 Bắt nạt về tinh thần
Là hành vi của một học sinh hoặc một nhóm học sinh, có mục đích làm hại môt học sinh hoặc một nhóm học sinh khác bằng ngôn ngữ, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua người thứ ba hoặc thông qua các phương tiện điện tử: điện thoại, internet), để lại hậu quả về tinh thần rõ rệt hơn cả ở người chịu bắt nạt (nạn nhân bắt nạt)
Loại bắt nạt này bao gồm những hành vi cụ thể như: đặt tên gọi (gọi bằng biệt hiệu, biệt danh), tung tin đồn, nói xấu sau lưng, đe doạ qua email, điện thoại, làm cho nạn nhân cảm thấy mình là người không có giá trị, cảm thấy mình xấu xí v.v
1.2.4.3 Bắt nạt về tính dục
Là hành vi của một học sinh hay một nhóm học sinh, có mục đích làm hại một học sinh hay một nhóm học sinh khác bằng sức mạnh thể chất hoặc ngôn ngữ, một cách trực tiếp hay gián tiếp (thông qua người thứ ba hoặc thông qua các phương tiện điện tử: điện thoại, internet), để lại hậu quả liên quan đến tình dục rõ rệt hơn cả ở nạn nhân
Loại bạo lực này bao gồm những hành vi: dùng sức mạnh thể chất để ép hẹn hò hoặc ép quan hệ tình dục, những hành vi đụng chạm vào cơ thể, dùng những lời nói sàm sỡ để trêu ghẹo, ép xem phim/ những hành động kích động tình dục
Trang 281.2.4.4 Bắt nạt về kinh tế
Là hành vi của một học sinh hoặc một nhóm học sinh, có mục đích làm hại một học sinh hoặc một nhóm học sinh khác bằng sức mạnh thể chất hoặc bằng ngôn ngữ, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua người thứ ba hoặc thông qua các phương tiện điện tử: điện thoại, internet), để lại hậu quả
về kinh tế rõ rệt hơn cả ở nạn nhân
Loại bắt nạt này gồm những hành vi cụ thể: lấy/giấu đồ đạc cá nhân, dụng
cụ học tập, bắt đưa tiền, vay/xin “đểu”
1.2.5 Trầm cảm
1.2.5.1 Khái niệm và dịch tễ học
- Khái niệm
Ở nước ta, từ “trầm cảm” hoặc còn gọi là “trầm nhược”, “trầm uất” được
sử dụng khá phổ biến Trong cuộc sống, một người được gọi là “trầm cảm” hay “trầm nhược” là người đang trong tâm trạng buồn bã, chán nản, không muốn giao tiếp với ai, ít nói Tâm trạng này có thể xuất hiện sau khi có một biến cố nào đó như: mất người thân, chia tay người yêu, thất bại trong công việc, Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Trầm uất là buồn u uất trong lòng” Thật ra, thuật ngữ “trầm cảm” đã xuất hiện từ rất lâu đời, được gọi là
“Melancholia” theo tiếng Hy Lạp cổ, do Hippocrates đưa ra Ông mô tả
“Melancholia” là tình trạng mất cân bằng của chất mật đen trong cơ thể khiến cho tinh thần con người trở nên ủ rũ, buồn bã, “tối đen” Ngày nay, các nước phương Tây dùng thuật ngữ “depression” để nói đến sự trầm cảm, trầm nhược Trong từ điển tâm lý học của J P Chaplin (1985): “trầm cảm” được phân thành hai loại: một được xem là hiện tượng tâm lí có thể xuất hiện ở bất
kỳ cá nhân bình thường nào, đặc trưng bởi tình trạng buồn bã, ít hi vọng, cảm xúc nghèo nàn, lười hoạt động và sự chán nản về tương lai; một được xét theo góc độ tâm bệnh học, trầm cảm là tình trạng nghiêm trọng của việc không phản ứng với những kích thích bên ngoài cùng với việc tự hạ thấp giá trị bản thân, hoang tưởng về sự không thoả đáng và vô vọng [43]
Trang 29Theo Hiệp hội Tâm Thần Mỹ, trầm cảm được xem là một dạng rối loạn khí sắc Tuỳ thuộc vào sự xuất hiện hay không của các cơn hưng cảm và hưng cảm nhẹ mà người ta phân ra làm hai loại: Rối loạn trầm cảm (hay trầm cảm đơn cực) và rối loạn lưỡng cực [123]
Theo Nguyễn Khắc Viện đã dùng từ trầm nhược thay cho từ trầm cảm và xem nó không chỉ là một trạng thái tâm lí mà còn bao gồm cả khía cạnh thể chất Ông định nghĩa như sau: “Trầm là chìm xuống, mất hào hứng, sôi nổi; tính khí buồn bã, chán chường, bi quan”, còn “nhược là suy yếu uể oải, không muốn cử động, tay chân mệt mỏi, mặc dù không có bệnh gì rõ rệt” [1]
Theo Nguyễn Văn Siêm (2007): Trầm cảm là một bệnh lý của não bộ, thuộc rối loạn khí sắc ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc, thái độ cư xử và sức khoẻ của bệnh nhân [22]
Andrew M Colman (2003) định nghĩa rõ hơn: “trầm cảm là một trạng thái buồn bã, vô vọng và những ý nghĩ bi quan cùng với sự mất hứng thú hoặc mất sự thoả mãn, hài lòng trong những hoạt động trước đây” Ông nhấn mạnh thêm trong trường hợp trầm cảm nghiêm trọng, nghĩa là vượt sang mức bệnh
lí, có thể xảy ra “chứng biếng ăn và hậu quả là sụt cân, mất ngủ ( đặc biệt là chứng mất ngủ vào khoảng giữa hoặc cuối của giấc ngủ) hoặc chứng ngủ nhiều, suy nhược, cảm giác vô giá trị hoặc tội lỗi, mất khả năng suy nghĩ hoặc tập trung, những ý nghĩ tái diễn về cái chết hoặc tự tử Nó xuất hiện như nhiều
triệu chứng của rối loạn tâm thần” [71]
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm trầm cảm của Andrew M Colman (2003): “trầm cảm là một trạng thái buồn bã, vô vọng và những ý nghĩ bi quan cùng với sự mất hứng thú hoặc mất sự thoả mãn, hài lòng trong những hoạt động trước đây”
- Dịch tễ học
Rối loạn trầm cảm là rối loạn phổ biến và mãn tính, điều trị hiệu quả thì khó và đắt đỏ, giá cả vượt trội hơn một số bệnh mãn tính khác như đái tháo đường hay tăng huyết áp, hơn một nửa số bệnh nhân trải qua điều trị lần
Trang 30thứ nhất thì cũng trải qua lần thứ hai, điều này sẽ làm cho bệnh nhân mất việc làm, cản trở quan hệ cá nhân, lạm dụng thuốc, tình trạng sức khỏe trở nên tồi
tệ và ước lượng trầm cảm là nguyên nhân dẫn đầu mất khả năng hoạt động được tính toán bởi YLDs (chỉ số những năm sống tàn phế) chiếm tỉ lệ 12% của tất cả căn nguyên gây mất khả năng lao động
Theo Tổ chức y tế thế giới tới năm 2020 trầm cảm chỉ đứng sau các bệnh tim mạch về gánh nặng bệnh tật và nguyên nhân gây tử vong [122] Rối loạn trầm cảm ảnh hưởng tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi từ trẻ em đến người già Ở Pháp 10% dân số có nguy cơ mắc bệnh này, tỉ lệ mắc bệnh chung ở một thời điểm nhất định là 2-3% số dân ở Anh hơn 2.9 triệu người được chẩn đoán trầm cảm ở một thời điểm nào đó và ở Mỹ tỉ lệ mắc bệnh chung ở giới
nữ là 5-9%, nam giới là 2-3% tỉ lệ trầm cảm tái phát sau 6 tháng là 27% sau 1 năm là 50% tần suất suốt đời của trầm cảm và lo âu khoảng 15-20% ở các bệnh viện thực hành tỉ lệ còn cao hơn khoảng 10-12% [75]
Nữ giới chiếm tỉ lệ cao (70%), phụ nữ thu nhập thấp có nguy cơ trầm cảm cao hơn các phụ nữ ở nhóm thu nhập khác phụ nữ có thai có nguy cơ cao hơn phụ nữ bình thường những bà mẹ mới sinh nguy cơ trầm cảm từ 13-16% khoảng 80% phụ nữ sau sinh trải nghiệm sự buồn chán, nhưng chỉ có khoảng 10-15% có triệu chứng nghiêm trọng trầm cảm sau sinh tỉ lệ dàn trải từ 5-25% phụ thuộc vào sự thay đổi định nghĩa và tính đa dạng của cộng đồng nghiên cứu, tỉ lệ cao ở các nước phát triển và từ 16-35% trong các nền văn hóa khác nhau, nhưng trong giai đoạn tiền mãn kinh nguy cơ trầm cảm gấp 14 lần so với tuổi trước 30 [72]
Phù hợp với mẫu nghiên cứu cộng đồng, ở nhóm sinh viên các trường Đại học Mỹ tỉ lệ trầm cảm khoảng từ 15-20% và gia tăng trong 2 thập kỷ trước [110]
Trẻ em và trẻ vị thành niên trong cộng đồng bị trầm cảm có tỉ lệ 2-6%, theo một báo cáo của trung tâm thông tin sức khỏe thanh thiếu niên quốc gia
Trang 31Mỹ hơn 25% thanh thiếu niên bị ảnh hưởng bởi trầm cảm mức độ nhẹ, nguy
cơ tự sát ở nhóm này cũng cao hơn so với cộng đồng chung [119]
Theo Dunlop (2003), tỉ lệ trầm cảm ở người da trắng và cộng đồng người Hispanic (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) thì cao hơn người da đen [49]
Ở người già tỉ lệ trầm cảm và loạn khí sắc khoảng từ 5-10% Khi so sánh với trầm cảm ở người trẻ ở những người già mắc bệnh trầm cảm thường tồn tại cùng lúc nhiều bệnh mãn tính mặc dù tỉ lệ cao như vậy nhưng do phần lớn bênh nhân đánh giá không đúng mức tình trạng bệnh nên chỉ có khoảng 70% bệnh nhân tìm
kiếm đến để điều trị , nhưng chỉ 10% được điều trị đầy đủ [37][48]
Theo nghiên cứu của Polit, D;& Martinez (2001), chỉ ra rằng, những người phụ nữ có nguy cơ trầm cảm cao thì khả năng lạm dụng chất cao, còn những người phụ nữ có lạm dụng chất thì có nguy cơ trầm cảm cao [89] Năm 1961, Essen - Moller và cộng sự cho rằng tỉ lệ rối loạn trầm cảm nói chung là 6-7% dân số và tỉ lệ trầm cảm điển hình chỉ là 1% [51]
Greenfield và cộng sự (1997) đã xác định tỉ lệ trầm cảm là 10-13% và trong đó có 55% số bệnh nhân đã có một cơn trầm cảm trong vòng 12 tháng gần đây [67] Nghiên cứu của các tác giả khác cũng đã chỉ ra rằng: trầm cảm thường không được thừa nhận, chỉ có 9,2% tổng số bệnh nhân được chẩn đoán là rối loạn trầm cảm trong các khoa lâm sàng khác Việc gia tăng tỉ lệ rối loạn trầm cảm được giải thích như sau:
+ Do tăng tuổi thọ
+ Do quá trình đô thị hóa nhanh làm người ta không thích ứng kịp Ngược lại tỉ lệ rối loạn cảm xúc lưỡng cực chỉ chiếm 1% dân số và phân bố đều cho 2 giới
+ Rối loạn trầm cảm và rối loạn cảm xúc lưỡng cực có sự khác nhau rõ
về tuổi khởi phát, số lượng và thời gian tồn tại của các giai đoạn bệnh
Theo Angst (1986): tuổi khởi phát trung bình của trầm cảm chủ yếu là tuổi
45, trong khi đó tuổi của rối loạn cảm xúc lưỡng cực là 29, tuổi trung bình trên 30 và trên 40 đối với thể đơn cực [28]
Trang 321.2.5.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán trầm cảm theo DSM – IV (1999)
+ Có ít nhất 5 triệu chứng cùng tồn tại trong thời gian tối thiểu là 2 tuần
và có thay đổi chức năng so với trước đây trong đó phải có ít nhất 2 triệu chứng là khí sắc trầm cảm và mất quan tâm hứng thú bao gồm:
- Khí sắc trầm cảm biểu hiện cả ngày và kéo dài
- Giảm hoặc mất quan tâm hứng thú với mọi hoạt động trước đây vốn có
- Giảm trọng lượng cơ thể trên 5%/1 tháng
- Mất ngủ vào cuối giấc (ngủ dậy sớm ít nhất là 2 giờ so với bình thường)
- Ức chế tâm thần vận động hoạt kích động trong phạm vị hẹp (kích động trong phạm vi xung quanh giường ngủ của mình)
- Mệt mỏi hoặc cảm giác mất năng lượng kéo dài
- Có cảm giác vô dụng hoặc có cảm giác tự tội quá đáng hoặc cảm giác không thích hợp khác
- Giảm năng lượng suy nghĩ, giảm tập trung chú ý, giảm khả năng đưa ra các quyết định
- Có hành vi tự sát
+ Các triệu chứng không đáp ứng tiêu chuẩn của giai đoạn hỗn hợp + Các triệu chứng gây ra đau khổ, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động xã hội, nghề nghiệp, và các chức năng khác
+ Các triệu chứng không do hậu quả của một chất hoặc một bệnh cơ thể khác
+ Các triệu chứng không thể giải thích do stress, các triệu chứng tồn tại dai dẳng trên 2 tuần kèm theo giảm rõ rệt các chức năng xã hội, nghề nghiệp
Trang 33- Cơ chế dẫn truyền thần kinh: Theo giả thuyết này, các nhà nghiên cứu thấy
có tổn thương hệ thống dẫn truyền thần kinh ở các vùng khác nhau của não gây ra các rối loạn trầm cảm [38]
- Giả thuyết về nor-epimephrin, giả thuyết về dopamine: Theo Blows (2000) serotonin và noradrenaline ảnh hưởng rất lớn đến hành vi về tâm thần trong khi đó dopamine chỉ ảnh hưởng đến vận động [38]
- Nhân cách, các sự kiện trong cuộc sống (stress): Bệnh nhân trầm cảm thường trải nghiệm các stress mạnh trong thời gian trước đó Người ta cho rằng stress có thể là nguyên nhân hoặc yếu tố thúc đẩy cho giai đoạn trầm cảm nhẹ hoặc là yếu tố làm trầm trọng thêm của các trường hợp trầm cảm nặng [69]
bị kích thích Vào thời kỳ, người ta xếp loại bệnh này vào suy nhược thần kinh Bread là người có công tách trạng thái này khỏi bệnh suy nhược thần kinh (Paul M.G Emmelkamp, Theok, Bourman, Agnes Sholing, 1989) S Freud (1895) gọi trạng thái lo âu là lo âu nhiễu tâm Theo ông, nguyên nhân chủ yếu xung đột nội tâm vô thức [59] Tới những năm 80 của thế kỷ XX, quan điểm của các nhà tâm lý học Nga, đại diện là Miaxishev và học trò của ông xếp hội lo âu vào hội chứng loạn thần kinh chức năng Cho tới thời điểm này, DSM và ICD 10 xếp lo âu vào lo âu tâm căn và cho rằng sở dĩ có tình trạng này là do nguyên nhân tâm lý
Theo tác giả Trần Viết Nghị “lo âu là một trạng thái bệnh lý: khi lo âu mang đặc tính dai dẳng lan toả, tản mạn, không liên quan, không khu trú vào một sự kiện hoàn cảnh đặc biệt nào ở xung quanh hoặc có liên quan với
Trang 34những sự kiện đã qua không còn tính chất thời sự nữa (lo lơ lởng – tản mạn –
vô lý – lo bệnh lý – lo âu)” [12]
Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “Lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường của con người trước sự kiện cuộc sống, là tín hiệu báo trước một trở ngại sắp xảy ra kèm theo sự suy diễn, tính toán, sắp đặt của quá trình tư suy trước sự thay đổi của cuộc sống hằng ngày, và cho phép cpn người tự sử dụng mọi giải pháo để giải quyết, đương đầu với những mối đe doạ” [10]
Theo Nguyễn Viết Thêm, Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị (2000): “lo âu là trạng thái cảm xúc thông thường của con người trước những sự kiện cuộc sống (thi cử, xung đột trong các mối quan hệ, bệnh tật, tai nạn ) là tín hiệu báo trước của một sự trở ngại sắp xảy ra, kèm theo sự suy diễn tính toán sắp đặt của quá trình tư duy trước sự thay đổi của cuộc sống hằng ngày và cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để giải quyết, đương đầu với đe doạ
Lo âu bình thường sẽ hết khi mọi chuyện giải quyết xong Khi vượt qua được
lo âu và sợ hãi thông thường trong cuộc sống hằng ngày, con người sẽ có thêm kinh nghiệm và thích nghi với cuộc sống để phát triển các chức năng tâm lý” [13]
Còn theo từ điển Nguyễn Khắc Viện: “lo âu là việc đón chờ và suy nghĩ
về một điều gì đó mà không chắc chắn có thể đối phó được là lo Nếu sự việc
mà đã từng gây nguy hiểm là lo sợ Trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi tâm
lý bị rối loạn, một triệu chứng thường gặp là mối lo nhưng cụ thể không thật
rõ là lo về cái gì, sợ về cái gì, đó là hãi” [20]/
Theo tác giả Đinh Đăng Hoè (1997): “Lo âu là hiện tượng phản ứng tự nhiên (bình thường) của con người trước những khó khăn và các mối đe doạ của
tự nhiên, xã hội ,và con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới [8]
Từ điển tâm lý học của Vũ Dũng: “Lo âu là trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm, có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể Trạng thái cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định và được thể hiện trong việc chờ đợi
Trang 35sự tiến triển không thuận lợi của sự kiện Khác với hoảng sợ, được coi là một phản ứng đối với một đe doạ cụ thể nào đó, lo âu thể hiện sự sợ hãi chung chung, mang tính lan truyền, không có đối tượng và thường có liên hệ với việc chờ đợi điều không may trong tương tác xã hội và thường được tạo bởi
sự không ý thức được nguồn gốc của nỗi nguy hiểm Khi lo âu ở cấp độ sinh
lý, nhịp thở tăng, tim đập nhanh hơn, huyết áp cao hơn, hưng phấn tăng, ngưỡng tri giác giảm Về mặt chức năng, lo âu không chỉ cảnh báo về sự nguy hiểm có thể xảy ra, mà còn kích thích tìm kiếm và cụ thể hoá mối nguy hiểm
đó, tích cực tìm hiểu thực tế với mục đích xác định đối tượng đe doạ Lo âu
có thể biểu hiện như cảm giác về sự bất lực, thiếu tự tin vào bản thân, bất lực trước các yếu tố bên ngoài, phóng đại sức mạnh và tính đe doạ của chúng Biểu hiện về hành vi của lo âu nằm ở chỗ hoá giải các hoạt động làm ảnh hưởng đến xu hướng và hiệu quả của hoạt động Lo âu như một cơ chế phát triển loạn thần kinh chức năng – Lo âu loạn tâm hình thành trên cơ sở các mâu thuẫn bên trong trong quá trình phát triển và cấu thành tâm lý Ví dụ: từ mức độ gắn bó (như phụ thuộc giữa con và mẹ) cao, thiếu cơ sở đạo đức cho động cơ có thể dẫn tói tin tưởng một cách bất hợp lý về mối đe doạ từ những người khác, của chính cơ thể mình, kết quả từ chính hành động của minh Trong nghiên cứu thực nghiệm người ta phân ra:
Lo âu tình huống – biểu hiện đặc điểm trạng thái hiện thời của cá nhân
Lo âu như một nét nhân cách – tính lo âu thiên hướng trải nghiệm lo âu cao từ những nguy hiểm thực tế hoặc tưởng tượng
Có thể giảm lo âu với sự trợ giúp của cơ chế bảo vệ như loại trừ, thay thế, hợp lý hoá, phóng chiếu ” [4]
Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ định nghĩa về lo âu như sau: Lo âu là trạng thái khí sắc tiêu cực được đặc trưng bởi những triệu chứng của cơ thể như căng trương lực cơ và lo sợ về tương lai [112]
Theo DSM – IV rối loạn lo âu là những sợ hãi thái quá về một sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra và lặp đi lặp lại ít nhất 6
Trang 36tháng Cá nhân thường có khó khăn khi kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là sự căng cơ, cáu bẩn, khó ngủ và cảm giác bất an
- Dịch tễ học
Trong các rối loạn có liên quan đến căn nguyên tâm lý thì rối loạn lo âu (RLLA) thường rất hay gặp RLLA được đặc trưng bởi cảm xúc lo lắng quá mức, vô lí, kéo dài, lặp đi lặp lại và làm cản trở các hoạt động hằng ngày của chủ thể Lo âu chiếm một tỉ lệ cao 15% dân số trong cuộc đời đã trải nghiệm RLLA và từ 2,3 – 8,1% có RLLA hiện hành [91]
RLLA ở trẻ em cao hơn, khoảng 5,7 – 17,7% ở các nước trên thế giới
Ở nước ta một nghiên cứu gần đây cho biết khoảng 17,65% - 19,2% học sinh THCS ở một trường Hà Nội đã trải qua các biểu hiện của RLLA [9]
- Tiêu chuẩn chẩn đoán
Theo DSM – IV, rối loạn lo âu bao gồm: rối loạn lo âu chia ly, ám ảnh
sợ đặc hiệu, rối loạn lo âu lan toả, cơn hoảng sợ, ám ảnh sợ xã hội, rối loạn
ám ảnh cưỡng bức, rối loạn stress sau sang chấn
Trong đó rối loạn lo âu chia ly chỉ gặp ở trẻ em, còn các rối loạn khác có
cả ở trẻ em và người lớn
1.2.6.2 Biểu hiện của lo âu
Người có rối loạn lo âu sẽ có vài trong các triệu chứng sau:
- Tim mạch: đánh trống ngực, mạch nhanh, rối loạn nhịp, đau vùng trước tim được mô tả như nóng bỏng, phồng lên, đau nhói hoặc bóp chặt lại, lan truyền
đa dạng, đau thắt ngực, cơn co thắt mạch hoặc xung huyết thường kèm theo với rối loạn cảm giác
- Hô hấp: thở nhanh, khó thở, cảm giác nghẹt thở
- Tiêu hoá: co thắt thanh quản, thực quản, co thắt dạ dày và ruọt kèm đau nhói hoặc co thắt, nôn, buồn nôn, tiêu chảy, ứa nước bọt hoặc khô miệng
- Thần kinh - cơ: chóng mặt, đau đầu, vã mồ hôi, tê buốt, tê cóng, run, rung mặt đặc biệt là rung mí mắt và cơn đau giả thấp khớp
Trang 37- Tiết niệu: tiểu dắt, tiểu nhiều
- Cảm giác, giác quan và da: Tăng và loạn cảm giác, cơn ngứa, sởn da gà, tiết nhiều mồ hôi, đau nhói, nghe kém, nhìn mờ, đau đầu, chóng mặt, sợ chỗ rộng, đôi khi có triệu chứng không đứng không đi
- Nghĩ ngợi mông lung hoặc trống rỗng, giảm sự tập trung và trí nhớ
- Không quyết định được, cáu kỉnh, thiếu kiên nhẫn, dễ tức giận
- Nghĩ rằng mình sẽ chết, mất kiểm soát hoặc phát điên (những ý nghĩ này thường đi kèm với các triệu chứng cơ thể nặng và sợ hãi quá mức)
- Cảm giác như có điều gì đó kinh khủng sắp xảy ra với mình
- Có cùng những ý nghĩ gây khó chịu lặp đi lặp lại mặc dù cố gắng không nghĩ về chúng, bồn chồn hoặc có cảm giác thấp thỏm lo âu, suy nhược, mệt mỏi đuối sức
- Giấc ngủ bị xáo trộn.[18]
1.2.6.3 Nguyên nhân
Nguyên nhân của RLLA có thể liên quan đến hoá chất trong não (chất dẫn truyền thần kinh), chẳng hạn như dopamine, serotonin, norepinephrine Có khả năng tình trạng này có nhiều nguyên nhân có thể bao gồm di truyền học, kinh nghiệm sống và các tình huống gây căng thẳng [78][31]
Một số điều kiện sức khoẻ có liên quan tới lo âu Ví dụ: bệnh trào ngược
dạ dày thực quản (GERD), bệnh tim, suy giáp hoặc cường giáp, thời kỳ mãn kinh [125]
Các yếu tố nguy cơ: những điều có thể làm tăng nguy cơ phát triển chứng rối loạn lo âu, bao gồm:
Phụ nữ: phụ nữ nhiều hơn nam giới hai lần được chẩn đoán mắc chứng rối loạn lo âu [74]
Căng thẳng: một sự kiện lớn hoặc một số tình huống căng thẳng nhỏ hơn
có thể gây lo lắng quá mức [53]
Trang 38Nhân cách một số người dễ bị rối loạn lo âu hơn người khác Ngoài ra, một số rối loạn nhân cách, chẳng hạn như rối loạn nhân cách ranh giới, cũng
có thể được liên kết đến rối loạn lo âu [52]
Di truyền học: RLLA có thể di truyền trong gia đình[117][121][64]
Lạm dụng ma tuý hoặc rượu có thể làm trầm trọng thêm rối loạn lo âu Caffeine và nocotine có thể làm tăng sự lo lắng [90]
Tiểu kết chương 1
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước về bắt nạt, các hướng nghiên cứu về vấn đề này của các tác giả bao gồm xác định khái niệm, nghiên cứu dịch tễ học, đặc điểm của đối tượng của bắt nạt, nghiên cứu nguyên nhân, hậu quả và các biện pháp can thiệp
Người bị bắt nạt bởi bạn cùng trang lứa lứa là người bị một người hay một nhóm người có những hành vi làm tổn thương về mặt cơ thể hay cảm xúc gây ra những hậu quả đến tâm lý, cảm xúc và chức năng trong cuộc sống
Các hình thức bị bắt nạt là bắt nạt thể chất, bắt nạt tinh thần, bắt nạt tình dục, bắt nạt kinh tế
Trầm cảm là một trạng thái buồn bã, vô vọng và những ý nghĩ bi quan cùng với sự mất hứng thú hoặc mất sự thoả mãn, hài lòng trong những hoạt động trước đây
Rối loạn lo âu là những sợ hãi thái quá về một sự kiện hoặc các hành vi kéo dài trong nhiều ngày, xảy ra và lặp đi lặp lại ít nhất 6 tháng Cá nhân thường có khó khăn khi kiểm soát những lo lắng và thường có những dấu hiệu thực thể chẳng hạn như là sự căng cơ, cáu bẩn, khó ngủ
và cảm giác bất an
Trang 39CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Một số đặc điểm về khách thể và địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Một số đặc điểm về khách thể nghiên cứu
Khách thể của nghiên cứu này là học sinh bậc THCS từ lớp 6 đến lớp 8 Nghiên cứu này được triển khai trên 364 học sinh THCS ở 3 khối lớp 6,7,8 Số lượng và phần trăm học sinh từng khối được thể hiện ở các biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số lượng học sinh theo từng khối
Biểu đồ trên cho chúng ta thấy rằng tỉ lệ học sinh giữa các khối 6,7,8 là tương đối đồng đều Lớp 6 bao gồm 122 em chiếm 33,5%, lớp 7 bao gồm 124
em chiếm 34,1% và lớp 8 bao gồm 118 em chiếm 32,4%
Ở mỗi trường chúng tôi chọn ba khối: khối 6, khối 7, khối 8 Ở mỗi khối chọn ngẫu nhiên một lớp Số lượng học sinh của mỗi trường là tương đối đều nhau Trong đó trường THCS Lý Phong có 126 học sinh, trường THCS
Võ Văn Lân có 106 học sinh và trường THCS Mỹ Đức có 132 học sinh
Trang 40
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ số lượng học sinh theo từng trường
Ở mỗi khối, chúng tôi chọn ngẫu nhiên một lớp để điều tra Tỉ lệ nam –
nữ không đồng đều Tỉ lệ học nữ là 216 học sinh chiếm 59,3% và 148 học sinh nam chiếm 40,7%
Biểu đồ 2.3: Biểu đồ số lượng học sinh theo giới
Ngoài yếu tố khối lớp, giới tính, chúng tôi còn tìm hiểu hình dáng, chiều cao, đạo đức, học lực, số lượng bạn thân (bạn thân cùng lớp, bạn thân cùng trường và bạn thân nói chung), sự thích học và kinh tế của các học sinh tham gia nghiên cứu Kết quả thể hiện ở bảng số liệu sau: