Định hướng trên đây đã được pháp chế trong luật giáo dục điều 24.2 “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
và số liệu là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiêncứu nào khác
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và thành kính đến PGS TS Đỗ Hương Trà
- người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên tôi trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ phương phápgiảng dạy khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy tôitrong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT Hoàng Quốc Việt, Võ Nhai,Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và tiếnhành thực nghiệm đề tài Xin cảm ơn toàn thể học sinh lớp 11A3 đã cộng tácvới tôi thực nghiệm thành công đề tài
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và nhữngngười thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiêncứu để hoàn thiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2011
Tác giả
Hoàng Văn Lượng
Trang 3M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Đóng góp của đề tài 6
8 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Tính tích cực trong học tập 7
1.1.1 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập 7
1.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập 7
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực 8
1.1.4 Các đặc trưng cơ bản của các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của người học 9
1.1.4.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học 9
1.1.4.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác 10
1.1.4.4 Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò và sự tự đánh giá 10 1.1.4.5 Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế .10
Trang 41.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 10
1.2.1 Năng lực sáng tạo 11
1.2.2 Chu trình sáng tạo khoa học 11
1.2.3 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí 12
1.3 Dạy học dự án 12
1.3.1 Lịch sử dạy học dự án 12
1.3.2 Khái niệm dạy học dự án 14
1.3.2.1 Khái niệm dự án 14
1.3.2.2 Khái niệm dạy học dự án 15
1.3.3 Tác dụng, ý nghĩa của dạy học dự án 16
1.3.4 Phân loại các dự án học tập 17
1.3.5 Các giai đoạn của dạy học dự án 19
1.3.5.1 Chuẩn bị dự án 19
1.3.5.2 Thực hiện dự án 23
1.3.5.3 Khai thác dự án 24
1.3.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHDA 24
1.4 Thực tiễn dạy học chương “Từ trường” ở một số trường THPT 25
1.4.1 Phương pháp điều tra 26
1.4.2 Kết quả điều tra 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 28
CHƯƠNG II TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN MỘT SỐ NỘI DUNG KIẾN THỨC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG” 29
2.1 Nội dung kiến thức về từ trường học sinh đã học ở trung học cơ sở 29
2.2 Nội dung kiến thức chương “Từ trường” SGK Vật lí lớp 11 cơ bản 29
2.3 Mục tiêu dạy học 30
2.4 Tổ chức dạy học kiến thức chương “Từ trường” 31
Trang 52.4.1 Lí do tổ chức dạy học dự án 32
2.4.2 Triển khai bài học thành dự án 32
2.4.3 Kế hoạch bài dạy 35
2.4.3.1 Kế hoạch bài dạy dự án 1,2 35
2.4.3.2 Kế hoạch bài dạy dự án 3 38
2.4.3.3 Kế hoạch bài dạy dự án 4 41
2.4.3.4 Các bước thực hiện dự án 43
2.5 Soạn thảo công cụ đánh giá 45
2.5.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm 45
2.5.2 Tiêu chí đánh giá sản phẩm của dự án 46
2.5.2.1 Tiêu chí đánh giá bài trình chiếu 47
2.5.2.2 Tiêu chí đánh giá các sản phẩm thật của dự án: Động cơ điện một chiều 48
2.5.2.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thật của dự án: Khung dây tự quay trong từ trường; chong chóng có giá đỡ từ trường; con quay từ trường 49
2.5.2.4 Tiêu chí đánh giá sổ theo dõi dự án 49
2.6 Cách tính điểm cho mỗi nhóm và mỗi học sinh trong nhóm 53
2.6.1 Cách tính điểm trung bình cho mỗi nhóm 53
2.6.2 Cách tính điểm cho mỗi thành viên trong nhóm 53
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 54
CHƯƠNG III THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55
3.1 Mục đích thực nghiệm 55
3.2 Đối tượng thực nghiệm 55
3.3 Thời điểm thực nghiệm 55
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 55
3.5 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 56
Trang 63.6 Thu thập số liệu thực nghiệm 58
3.7 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm và cách khắc phục 58
3.7.1 Thuận lợi 58
3.7.2 Khó khăn 58
3.8 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 59
3.8.1 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 59
3.8.1.1 Phân tích diễn biến các tiết học thực nghiệm sư phạm 59
3.8.1.2 Đánh giá kết quả dạy học dự án 67
3.8.2 Đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học dự án đối với việc phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập 74
3.8.3 Đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học dự án đối với việc phát huy năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 7DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm 45
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá bài trình chiếu 47
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thật của dự án 48
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả của các nhóm 69
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 1 70
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 2 71
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 3 72
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 4 73
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Viễn cảnh sôi động, tươi đẹp nhưng cũng nhiều thách thức, đòi hỏingành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ
về mọi mặt Trong đó, đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp dạy học
và phương tiện dạy học Theo nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”.
Định hướng trên đây đã được pháp chế trong luật giáo dục điều 24.2
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác đ ộng đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh…” [3]
Vấn đề đặt ra đối với các trường học là cần không ngừng đổi mới về nộidung và phương pháp dạy học (PPDH) Giáo dục phải gắn chặt với yêu cầuphát triển của đất nước, phù hợp với xu thế thời đại, tuy nhiên nền giáo dụcnước ta trong giai đoạn vừa qua chưa đáp ứng được điều đó Trong kiểm điểmviệc thực hiện nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII đã chỉ rõ những yếu kém và
nguyên nhân: “Hoạt động học tập trong các nhà trường ở mọi cấp học chủ yếu vẫn là hướng vào mục đích khoa cử, chưa quan tâm làm cho người dạy ,người học, người quản lý coi trọng thực hiện mục đích học tập đúng đắn Phương pháp giáo dục nặng về áp đặt thường khuyến khích tiếp thu một cách máy móc, chưa khuyến khích sự năng động, sáng tạo của người học ”
Trang 10Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu và áp dụngthành công ở nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam cũng đang từng bước triển khai
áp dụng Tuy nhiên, trong đề tài này, tôi đề cập đến việc nghiên cứu và vận dụngphương pháp dạy học dự án, hiện đang còn tương đối mới ở Việt Nam
Dạy học dự án (DHDA) là một hình thức dạy học quan trọng để thựchiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học địnhhướng hoạt động và quan điểm dạy học tích hợp DHDA góp phần gắn lýthuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, tham giatích cực vào việc đào tạo năng lực làm việc, năng lực sáng tạo, năng lực giảiquyết các vấn đề phức hợp, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làmviệc của người học Ở Việt Nam trong những năm gần đây, với mục đích giáodục toàn diện cho học sinh, cũng đã có nhiều nghiên cứu vận dụng DHDA,đặc biệt là dạy học một số kiến thức vật lí
Nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh, trang bị cho học sinh nhữngkiến thức, kỹ năng làm việc, kỹ năng sống, chúng ta không chỉ hướng dẫn họcsinh tìm hiểu lí thuyết sách giáo khoa (SGK) mà còn phải hướng dẫn học sinh(HS) thực hành, ứng dụng lí thuyết vào thực tiễn cuộc sống Tổ chức học tập
lí thuyết và tổ chức học tập thực hành, ứng dụng thực tiễn trong quá trình giáodục học sinh nhằm thực hiện mục tiêu dạy học cần được coi trọng trong quátrình tổ chức dạy học Việc tổ chức thực hành, hướng dẫn học sinh vận dụng
lí thuyết vào thực tế như thế nào để đảm bảo mục tiêu dạy học là rất quantrọng đối với mỗi giáo viên (GV)
Từ đầu thế kỉ 20, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lý luận chophương pháp dự án (Project method) và coi đây là phương pháp dạy học quantrọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểmcủa dạy học truyền thống Mục tiêu của DHDA hướng tới giáo dục toàn diệnhọc sinh, không chỉ tập trung vào dạy học kiến thức mà còn đặt sự quan tâm
Trang 11chủ yếu đến phát triển kĩ năng sống, khả năng làm việc nhóm, khả năng tưduy sáng tạo, giúp học sinh biết vận dụng những tri thức đã học để giải quyếtcác vấn đề do thực tiễn đời sống đặt ra, đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lựctrong thế kỉ XXI, hưởng ứng phong trào thi đua “Xây dựng trường học thânthiện, học sinh tích cực”.
Trước đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dạy học dự án như: “Tổchức dạy học dự án nội dung kiến thức phần máy điện chương “Dòng điệnxoay chiều” sách giáo khoa vật lí lớp 12 nâng cao trung học phổ thông”- VũVăn Dụng- Luận văn thạc sĩ, ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009; “Tổ chứcdạy học dự án nội dung kiến thức “Dòng điện trong chất bán dẫn” sách giáokhoa vật lí lớp 11 nâng cao trung học phổ thông”- Phạm Văn Hoạch- Luậnvăn cao học ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009 hay trong luận văn cao họcnăm 2006 của Trần Thị Thuý Hằng và Đào Thu Thuỷ, ĐHSP Hà Nội 2005 đãvận dụng dạy học dự án vào việc việc tổ chức các hoạt động nhận thức khidạy học các kiến thức về bảo toàn năng lượng lớp 9 và cảm ứng điện từ lớp 11,
“Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá khi dạy học các nội dung kiếnthức chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 ban cơ bản - Nguyễn Thị DiệuLinh - luận văn thạc sĩ ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, năm 2009
Cũng có một số đề tài đã nghiên cứu về từ trường như: “Vận dụng tưtưởng sư phạm tích hợp vào dạy học một số bài học phần "Từ trường" và
"Cảm ứng điện từ" lớp 11 Trung học phổ thông nhằm nâng cao chất lượnggiáo dục học sinh” của Dương Xuân Hải – Luận văn thạc sĩ 2006; “Xây dựng
tiến trình dạy học chương Từ trường (Vật lí 11 Cơ bản) nhằm phát triển hoạt
động nhận thức vật lí tích cực, tự chủ và sáng tạo của HS miền núi” củaNguyễn Thị Huyền – Luận văn thạc sĩ 2010 Tuy nhiên chưa có nghiên cứunào về vận dụng dạy học dự án để tổ chức các hoạt động dạy học nội dungkiến thức chương “Từ trường” Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Trang 12Là một học viên cao học đồng thời là một giáo viên dạy học ở trườngTHPT, tôi nhận thấy việc nghiên cứu tổ chức dạy học dự án nội dung kiếnthức chương “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản là một nghiên cứu hấpdẫn, đáp ứng một phần đòi hỏi của thực tiễn dạy học vật lí hiện nay với hyvọng có thể giúp học sinh vận dụng được các kiến thức vật lí vào đời sốngthực tiễn, khơi dậy lòng say mê và phát triển năng lực sáng tạo.
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài: “Tổ chức dạy học dự án một
số nội dung kiến thức chương “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc tổ chức dạy học dự án một số nội dung kiến thức trongchương “Từ trường”- Vật lí 11 ban cơ bản, nhằm phát huy tính tích cực, chủ độngcủa học sinh, hướng tới phát triển kỹ năng tư duy bậc cao, rèn luyện cho học sinhkhả năng giải quyết các vấn đề trong bài học và trong thực tiễn cuộc sống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các nội dung kiến thức chương “Từ trường” Sách giáo khoa (SGK) Vật
lí lớp 11 ban cơ bản
Hoạt động dạy và học theo dự án một số nội dung kiến thức chương
“Từ trường” Sách giáo khoa Vật lí lớp 11 ban cơ bản tại trường trung họcphổ thông (THPT) Hoàng Quốc Việt, Thái Nguyên
4 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng cơ sở lí luận của dạy học dự án để tổ chức hoạt động dạyhọc một số nội dung kiến thức “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản đáp ứngcác yêu cầu của việc tổ chức hoạt động nhận thức thì sẽ giúp học sinh vậndụng được các kiến thức vật lí vào đời sống thực tiễn, phát huy tính tích cực
và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụnghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 13- Nghiên cứu các quan điểm dạy học hiện đại, trong đó đặc biệt quantâm đến cơ sở lí luận của dạy học dự án.
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Từ trường”- Sách giáo khoaVật lí lớp 11 ban cơ bản
- Tìm hiểu thực tế dạy và học môn vật lí đặc biệt là chương “Từtrường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản
- Vận dụng lí luận của dạy học dự án để xây dựng tiến trình dạy học dự
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở líluận của dạy học dự án để làm cơ sở định hướng cho việc thực hiện mục đíchnghiên cứu Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáoviên và các tài liệu tham khảo để xác định mức độ nội dung kiến thức vật lí ởchương “Từ trường” mà học sinh cần tiếp thu được
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tìm hiểu việc dạy (thông quaphỏng vấn, trao đổi với giáo viên) và việc học (thông qua trao đổi với họcsinh, phiếu điều tra cơ bản) nhằm sơ bộ đánh giá tình hình dạy học chương
“Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Trang 14- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo kếhoạch Phân tích kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm, đốichiếu với mục đích nghiên cứu và rút ra kết luận của đề tài.
7 Đóng góp của đề tài
- Làm rõ cơ sở lí luận về dạy học dự án trong dạy học vật lí
- Vận dụng cơ sở lí luận của dạy học dự án để tổ chức hoạt động dạyhọc một số nội dung kiến thức chương “Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơbản, có thể làm tư liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh trong quá trìnhdạy và học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Tổ chức dạy học dự án khi dạy học một số kiến thức chương
“Từ trường” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tính tích cực trong học tập
Tính tích cực trong hoạt động nhận thức là trạng thái hoạt động của họcsinh, được đặc trưng bởi khát vọng học tập, sự cố gắng trí tuệ với nghị lực caotrong quá trình nắm vững kiến thức cho chính mình
1.1.1 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực học tập ở học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như:
- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú: học sinh chú ýlắng nghe, quan sát, theo dõi thầy, cô giáo, khao khát tự nguyện tham gia trảlời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiếncủa mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ nhữngvấn đề chưa đủ rõ, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trướcnhững tình huống khó khăn
- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn, ví dụ cónhững sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học
- Biểu hiện qua kết quả học tập: học sinh chủ động vận dụng linh hoạtnhững kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới và đạt kết quả họctập tốt hơn
1.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhânngười học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung TheoG.I.Sukina chia tính tích cực ra làm ba cấp độ:
- Tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): họcsinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè
- Tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyếttình huống nhận thức): học sinh tìm cách độc lập giải quyết bài tập đã nêu ra,tìm ra lời giải hợp lí nhất
Trang 16- Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): họcsinh nghĩ ra cách giải mới hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới.
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực
Có nhiều yếu tố thúc đẩy quá trình dạy và học tích cực, trong đó có một
số yếu tố cơ bản sau:
- Sự gần gũi của kiến thức với thực tế: Để tạo mâu thuẫn nhận thức, tạođộng cơ, hứng thú tìm cái mới, cần xây dựng tình huống có vấn đề Kích thíchhứng thú học tập của học sinh thông qua các tình huống có vấn đề gắn vớinhững nội dung có tính thực tiễn, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các
em, gắn với thực tế hoặc những vấn đề có tính mới mẻ nhưng không quá xa lạvới các em
- Sự phù hợp với mức độ phát triển nhận thức: Cần có sự lựa chọn kĩcác vấn đề vừa sức và cần xác định mức độ mà học sinh có thể tham gia trongviệc giải quyết từng vấn đề cụ thể Giáo viên cũng cần tính đến sự khác biệt
về trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh Các yêu cầu đưa ra phải rõràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa
- Không khí và các mối quan hệ trong nhóm: Kích thích hứng thú họctập cho các em bằng những phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một môitrường học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em phải làm việc, động viên vàgiúp đỡ lớp học sao cho các học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, đưa họcsinh vào thế học tập chủ động
- Mức độ và sự đa dạng của hoạt động: cần thay đổi xen kẽ nhiều hìnhthức tổ chức dạy học như làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, tập thể, lớp.Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (các học sinh trong nhóm hỗ trợ nhau và hỗ trợ từphía giáo viên)
- Phạm vi tự do sáng tạo: Nên để học sinh được lựa chọn hoạt động,được tham gia đánh giá hoạt động dạy học, được quyết định quá trình thực
Trang 17hiện nhiệm vụ Giáo viên cần động viên khuyến khích học sinh tự mình giảiquyết vấn đề.
- Ngoài ra, việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại một cách phùhợp và thay đổi cách kiểm tra đánh giá cũ cũng là động lực quan trọng tácđộng trực tiếp đến hoạt động tích cực của học sinh
1.1.4 Các đặc trưng cơ bản của các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của người học
Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh tronghọc tập là một phương pháp dạy học mang tính chất đổi mới, vì vậy nó cónhững đặc trưng riêng cụ thể
1.1.4.1 Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, học sinh được cuốn hút vào cáchoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo Học sinh được trực tiếpquan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suynghĩ của mình Nhờ đó, học sinh không những nắm được kiến thức mới, kĩnăng mới mà còn nắm được phương pháp xây dựng những kiến thức, kĩ năng,
tự lực khám phá những điều mình chưa rõ
1.1.4.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Trong phương pháp học thì phương pháp cốt lõi là phương pháp tự học,
là cầu nối giữa phương pháp học tập và phương pháp nghiên cứu khoa học.Việc dạy phương pháp học phải được quan tâm đúng mức để rèn luyện khảnăng học tập liên tục, suốt đời cho học sinh Trong quá trình dạy học phải rènluyện cho học sinh kĩ năng vận dụng những điều đã học vào thực tiễn, biết tựphát hiện, đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, không chỉ tự học ở nhà sau bài lênlớp mà còn tự học ngay cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên, tạo
sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động
Trang 181.1.4.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Lớp học là một môi trường giao tiếp sư phạm Thông qua sự hợp táctìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhânđược bộc lộ, điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ, tán thành hay phản đối, qua
đó người học nâng mình lên một trình độ mới
Trong trường phổ thông hiện nay, học tập hợp tác thường được sử dụng
là hợp tác trong nhóm nhỏ có khoảng từ 4 đến 6 học sinh Mỗi cá nhân đềuphải nỗ lực để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể đã được giao, toàn nhóm phảiphối hợp để đạt một mục tiêu chung Trong quá trình học tập theo nhóm, họcsinh có nhiều bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết của mình cũng như biết cách bảo vệ ýkiến của mình Đó là cách tốt nhất để hình thành cho học sinh tính tích cực,độc lập trong suy nghĩ cũng như trong hành động
1.1.4.4 Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của trò và sự tự đánh giá
Mục đích của đánh giá học sinh trong dạy học nhằm nhận định thựctrạng và điều chỉnh việc dạy của thầy và việc học của trò
Trước đây giáo viên giữ vai trò độc quyền đánh giá, học sinh là đốitượng được đánh giá Trong phương pháp dạy học tích cực giáo viên còn phảihướng dẫn cho học sinh năng lực tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Tựđánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần mà nhàtrường cần phải rèn luyện cho học sinh
1.1.4.5 Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế
Phương pháp dạy học tích cực còn tăng cường khả năng, kĩ năng vậndụng kiến thức vào thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, kĩthuật, đội ngũ giáo viên, khả năng của học sinh Sử dụng các phương tiện dạyhọc hiện đại, thiết bị dạy học hiện đại khi cần thiết
1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Ngoài việc bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực trong học tập, chúng tacũng rất cần bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo để có thể giải quyết tốtnhững tình huống trong học tập cũng như trong cuộc sống
Trang 191.2.1 Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinhthần, tìm ra những kiến thức mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thànhcông những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Sản phẩm của sự sáng tạo khôngthể suy từ cái đã biết bằng cách suy luận logic hay bắt chước làm theo
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủthể Trong bất cứ lĩnh vực nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thìcàng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án đểlựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy không thể rènluyện năng lực sáng tạo tách rời một kiến thức nào đó
1.2.2 Chu trình sáng tạo khoa học
V.G.Radumopxki khái quát những lời phát biểu của nhiều nhà khoahọc nổi tiếng nói về sự sáng tạo như: Anhxtanh, Plăng, Kapitxa… đã nêu lênchu trình sáng tạo khoa học gồm bốn giai đoạn theo sơ đồ:
Từ việc khái quát những sự kiện xuất phát, nhà khoa học xây dựng một
mô hình giả định, từ mô hình đó rút ra hệ quả bằng suy luận logic hay toánhọc chặt chẽ, cuối cùng đưa ra phương án thí nghiệm để kiểm tra hệ quả đótrong thực tiễn Nếu kết quả thí nghiệm phù hợp với hệ quả lý thuyết thì môhình giả thuyết đó được xác nhận là đúng đắn và trở thành chân lí Nếu kếtquả không phù hợp với hệ quả lý thuyết thì phải xem lại mô hình giả thuyết,
Mô hình giả
thuyết
Các hệ quả logic
Thí nghiệm kiểm tra
Sự kiện xuất
phát
Trang 20chỉnh lí hoặc sửa đổi Mô hình trừu tượng được xác nhận trở thành nguồn trithức mới, tiếp tục dùng để suy ra những hệ quả mới, giải thích những sự kiệnmới phát hiện Chu trình sáng tạo không khép kín mà mở rộng dần ra Nhậnthức của con người ngày một hoàn chỉnh, chính xác, phản ánh đúng thực tếkhách quan hơn.
Trong chu trình này có hai giai đoạn không thể dùng tư duy logic biệngiải mà phải nhờ vào trực giác khoa học Đó là giai đoạn chuyển từ việc kháiquát hóa những hiện tượng cụ thể tới một mô hình giả định trừu tượng và giaiđoạn từ những tiên đoán hệ quả lý thuyết đến việc kiểm tra chúng bằng thựcnghiệm Hai giai đoạn này đòi hỏi có sự sáng tạo cao
1.2.3 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí
Trong dạy học nói chung có một số biện pháp sau:
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết
- Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán
- Cho học sinh làm các bài tập sáng tạo: bài tập thiết kế và bài tậpnghiên cứu
Trong chương trình dạy Vật lí ở trung học người ta đặc biệt chú trọngrèn luyện cho học sinh khả năng dự đoán và đề xuất phương án thí nghiệmkiểm tra dự đoán, nhằm hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của họcsinh Một trong những phương pháp dạy học phát huy cao độ tính tích cực vànăng lực sáng tạo của học sinh trong học tập là phương pháp dạy học dự án
1.3 Dạy học dự án
1.3.1 Lịch sử dạy học dự án
Dạy học dự án ( Project based - learning) hay còn gọi là dạy học theo
dự án, dạy học tiếp cận dự án, là một phương pháp đã được sử dụng một thời
Trang 21gian khá lâu trên thế giới, tuy nhiên trong gần một thập kỉ trở lại đây, việctriển khai dạy học dự án đã phát triển chính thức thành một phương pháp dạyhọc ở nước ta Theo các nhà giáo dục học thì học tập dự án sẽ khiến học sinhhứng thú hơn vì họ được tham gia vào giải quyết những vấn đề mang tínhthách thức cao, đôi khi lại rất khó khăn nhưng rất sát với thực tế đời sống.
Từ đầu thế kỉ 19, cách học theo dự án đã được xây dựng trên cơ sở cáccông trình nghiên cứu của các nhà tâm lí và các nhà giáo dục Jerome-Bruner,Jean Piaget, Jonh Dewey, William H Kilpatric … Một trong những thửnghiệm đầu tiên đã được Deway tiến hành tại đại học Chicago của nước Mĩ.Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ mà trong đó họ tham gia học đọc,viết, tính toán, học cách lắng nghe người khác, cách đảm nhận trách nhiệm…
Từ đó Deway rút ra ba khẳng định chắc chắn: Tất cả học sinh, để học tập,phải tích cực và làm ra một cái gì đó Tất cả học sinh phải học cách suy nghĩ
và giải quyết các vấn đề và tất cả các học sinh phải học cách hợp tác vớingười khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội Quá trình học tập theo dự áncho phép lớp học trở thành môi trường làm việc mà học sinh là trung tâm của việchọc dự án Tầm quan trọng của dự án học tập là kinh nghiệm và kiến thức thuđược trong quá trình thực hiện dự án chứ không chỉ là kết quả cuối cùng
Năm 1918, William H Kilpatric (1871-1965) viết một bài báo gâytiếng vang lớn, có tiêu đề là “ Phương pháp dự án” Sau đó ông đã phổ biếnrộng rãi phương pháp này trong các giờ dạy của mình, qua các cuộc hội thảo
và qua sách báo Ông cho rằng: Một dự án là một hoạt động có mục đích cụthể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một môitrường xã hội
Người tiên phong trong dạy học dự án ở Châu Âu là Celestin Freinet(1896-1966) Theo ông lớp học là một nơi phải áp dụng các cách làm việc đểnghiên cứu các thông tin, trao đổi ý kiến hoặc trả lời thư nhận được từ các lớp
Trang 22học sinh khác, hoặc chuẩn bị các điều tra ngoài lớp học, phân tích các dữkiện, hoặc trình bày các bài báo… Trong môi trường như thế, sự hợp tác ởbên trong nhóm rất phong phú, góp phần tạo nên những cá nhân có đầu ócphát triển chứ không phải các cá nhân có đầu óc được rót đầy kiến thức
Học tập theo dự án đã tạo nên một sự chuyển biến xã hội- giáo dục ởBắc Mĩ và Châu Âu Nền tảng của chuyển biến này đã đem lại cho học sinh
sự hứng thú tiếp nhận kiến thức, thay đổi phương pháp làm việc, tham giamột cách tích cực, có ý thức vào việc thiết lập tri thức trong quá trình học
Trong dạy học dự án, công cụ dạy học là một vấn đề khá quan trọng,đặc biệt là việc sử dụng công nghệ thông tin Khi tổ chức dạy học dự án, máytính nối mạng giúp các học viên khai thác các thông tin từ nhiều nguồn, giúpgia tăng sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm để đạt được một cách tối
ưu mục đích học tập
Tại Việt Nam, đầu thế kỉ 21, các phương pháp dạy học mở, đặc biệt làphương pháp dạy học dự án đã được đưa vào nhằm đáp ứng tình hình pháttriển thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Vậy phương phápdạy học dự án là gì? Phương pháp dạy học dự án có đặc điểm gì?
1.3.2 Khái niệm dạy học dự án
1.3.2.1 Khái niệm dự án
Thuật ngữ dự án trong tiếng anh là project, có gốc tiếng La tinh làprojicere có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế Theo từ điển bách khoa mởWikipedia thì “dự án là tập hợp các công việc nối tiếp nhau, được thực hiệntrong một khoảng thời gian xác định, với những nguồn lực nhất định nhằmđạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của đốitượng hướng đến” [15]
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáodục đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn
Trang 23được sử dụng như một phương pháp dạy học mở tạo điều kiện cho học sinhphát triển toàn diện.
1.3.2.2 Khái niệm dạy học dự án
Dạy học dự án ( Project based- Learning) là một phương pháp dạy học tích cực trong đó giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lực lập
kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.[15]
Dự án học tập có thể nảy sinh từ ý tưởng của người dạy hoặc ngườihọc, từ một câu hỏi hoặc từ một vấn đề quan tâm trong một tiết học hoặc mộtcuộc tranh luận hàng ngày Dự án học tập có thể liên quan tới một hoặc nhiềumôn học khác nhau, có thể được thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm, cóthể diễn ra trong thời gian dài ngắn khác nhau, diễn ra trong phạm vi lớp họchoặc vượt ra ngoài khuôn khổ trường học Dạy học dự án nhắm đến nhữngmục tiêu giáo dục cụ thể, quan trọng như các chuẩn kiến thức, kĩ năng củamôn học, bài học, phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo, tư duy bậc cao, haycác kĩ năng cần cho cuộc sống và công việc như khả năng suy nghĩ độc lập,khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm… chứ không phải chỉ là trò giải tríhoặc bổ sung cho chương trình “thực”
Vì những đặc điểm trên nên DHDA có một số yêu cầu cụ thể:
- DHDA không thích hợp với việc truyền đạt những kiến thức lý thuyếtmang tính hệ thống Giáo viên nên chọn những kiến thức, nội dung môn học
có ý nghĩa thực tiễn cao để thực hiện dự án
- DHDA yêu cầu giáo viên phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụvững vàng, tổ chức thành thạo các hoạt động của dạy học theo nhóm, còn họcsinh phải tích cực, chủ động, biết cách làm việc độc lập và làm việc hợp tác
- DHDA thường yêu cầu có phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
- DHDA cần sự tích hợp công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng Internet
Trang 24Cần lựa chọn thời gian phù hợp với điều kiện học tập của học sinh đểthực hiện dự án.
Vì những yêu cầu khá chặt chẽ của DHDA nên nó cũng mang lại nhiều
ý nghĩa to lớn đối với giáo viên cũng như học sinh
1.3.3 Tác dụng, ý nghĩa của dạy học dự án
Dạy học dự án mang lại rất nhiều lợi ích cho cả giáo viên lẫn học sinh.Ngày càng nhiều các nghiên cứu lí luận ủng hộ việc áp dụng việc dạy học dự
án trong trường học để khuyến khích học sinh, giảm thiểu hiện tượng bỏ học,thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập
Đối với học sinh
- Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập
- Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những môhình dạy học khác do khi được tham gia vào dự án học sinh sẽ trách nhiệmhơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học
- Có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp như tư duy bậc cao, giảiquyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp
- Có được cơ hội rộng mở hơn trong lớp học, tạo ra chiến lược thu hútnhững học sinh thuộc các vùng văn hóa khác nhau
Với nhiều học sinh, tính hấp dẫn của DHDA xuất phát từ tính thực tiễncủa kinh nghiệm Học sinh đóng vai và thực hiện hành vi của những ngườiđang hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể Ví dụ như thiết kế và tạo ra môhình của một máy phát điện, động cơ điện, thực hiện một đoạn video tài liệu
về vấn đề môi trường, thiết kế tờ rơi hướng dẫn du lịch, quảng bá về các ditích lịch sử quan trọng ở địa phương, hay thiết kế bài trình bày đa phương tiện
về những mặt lợi và hại trong việc xây dựng phố mua sắm, học sinh đã đượctham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vilớp học
Trang 25Đối với giáo viên
Những ích lợi do dạy học dự án mang lại là việc nâng cao tính chuyênnghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ vớihọc sinh Bên cạnh đó, nhiều giáo viên cảm thấy hài lòng với việc tìm ra đượcmột mô hình triển khai, cho phép hỗ trợ các đối tượng học sinh đa dạng bằngviệc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong lớp học Giáo viên cũng nhận thấyrằng người được hưởng lợi nhiều nhất từ dạy học theo dự án là những họcsinh không học tốt được theo cách dạy học truyền thống
1.3.4 Phân loại các dự án học tập
DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sauđây là một số cách phân loại dạy học dự án:
* Phân loại theo chuyên môn
Tùy thuộc dự án trong từng môn cụ thể hay dự án có sự liên hệ của
nhiều môn học khác nhau mà phân ra thành các loại dự án cụ thể như:
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một mônhọc Ví dụ: dự án thiết kế mô hình máy phát điện khi học về hiện tượng cảmứng điện từ của chương “Cảm ứng điện từ” của môn Vật lí lớp 11 cơ bản, dự
án tìm hiểu các loại về biện pháp nâng cao nâng suất lúa – môn công nghệ lớp
10, dự án thiết kế mô hình nhà máy hóa chất Sunphat – môn Hóa học
- Dự án liên môn: Nội dung dự án liên quan đến nhiều môn khác nhau
Ví dụ: dự án “Tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm môi trường sống trong thành phố
và biện pháp khắc phục” (lí- sinh-địa- giáo dục công dân), dự án “tìm hiểumột số hiện tượng thời tiết ở nước ta” – môn vật lí-địa lí
- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vàocác môn học, ví dụ như dự án “chuẩn bị cho các lễ hội trong trường”
* Phân loại theo sự tham gia của người học
Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hìnhthức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàntrường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
Trang 26* Phân loại theo sự tham gia của GV
Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướngdẫn của nhiều GV Ví dụ dự án cho toàn trường là dự án “tìm hiểu về an toàngiao thông ở Việt Nam” với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên
* Phân loại theo quỹ thời gian
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”),nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần(hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổthông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn
* Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự ántheo các dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng Ví dụ dự ántìm hiểu các hiện tượng thời tiết, dự án tìm hiểu về các nhà máy điện sử dụngnăng lượng sạch,
- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiệntượng, quá trình Ví dụ dự án “nghiên cứu thiết kế mô hình máy phát điệncông suất nhỏ”; dự án “nghiên cứu thiết kế máy biến áp dùng trong giađình”,
- Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm làviệc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành độngthực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn,sáng tác Ví dụ: dự án nghiên cứu chế tạo Rơle nhiệt – Vật lí 10
Trang 27- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnhvực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
DHDA phân ra nhiều loại khác nhau, mỗi loại dự án cần những khoảngthời gian nhất định, vì vậy khi thực hiện DHDA ta phải phân chia theo từnggiai đoạn cụ thể
1.3.5 Các giai đoạn của dạy học dự án
Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của dạy học dự án, tuy nhiênkhi xét đến mối quan hệ giữa các giai đoạn hoạt động của giáo viên và họcsinh, người ta có thể chia DHDA theo ba giai đoạn là : chuẩn bị dự án, thựchiện dự án, và khai thác dự án
Các giai
Hoạt động của học sinh
Chuẩn bị
dự án
- Thiết kế dự án
- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
- Thiết kế các tài liệu hỗ trợ
- Chuẩn bị điều kiện thực hiện dự án
- Lập kế hoạch tổ chức thực hiện
- Lựa chọn dự án
- Lập kế hoạch dựán
1.3.5.1 Chuẩn bị dự án
Trước khi tiến hành dự án thì giáo viên và học sinh đều phải chuẩn bịnhững điều kiện nhất định, đặc biệt là người giáo viên phải chuẩn bị rất kĩlưỡng những điều kiện cho dạy học dự án có thể tiến hành
Hoạt động của GV
Trang 28* Thiết kế dự án: xác định các chuẩn kiến thức, kĩ năng, mục tiêu bài học.
Giáo viên có ý đồ tổ chức bài học thành dự án và suy nghĩ về ý tưởng của dự án
Trong bước này giáo viên cần phải:
- Nhìn thấy những vấn đề thực tiễn xung quanh liên quan tới nội dungbài học
- Nhìn thấy những vấn đề lớn mà thế giới đang phải đối mặt như: Ônhiễm môi trường, thiên tai, lụt lội, khủng hoảng năng lượng…
- Biết từ bỏ nội dung mà chương trình buộc phải dạy theo phương pháptruyền thống
Lựa chọn nội dung thích hợp và chỉnh sửa chúng cho phù hợp với mụctiêu của dự án đề ra
* Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
Bộ câu hỏi định hướng giúp các dự án tập trung vào các kiến thức quantrọng Bộ câu hỏi này gồm ba loại:
Câu hỏi khái quát
Là những câu hỏi mở khơi dậy sự thích thú, quan tâm và chỉ ra được sựphong phú và phức tạp của một chủ đề Câu hỏi khái quát thường mang tínhliên môn, và không có câu trả lời duy nhất đúng Câu hỏi khái quát thườngmang những đặc điểm sau:
- Là yếu tố trọng tâm của chủ đề
- Lặp lại một cách tự nhiên thông qua người học
- Câu hỏi khái quát dẫn đến những câu hỏi quan trọng khác làm mởrộng vấn đề, mở rộng tính phức tạp và phong phú của chủ đề
Ví dụ:
Từ trường có vai trò gì trong cuộc sống của chúng ta?
Làm thế nào để cuộc sống được tốt hơn?
Câu hỏi bài học
Trang 29Là câu hỏi gắn với một nội dung bài học cụ thể, chúng được thiết kế đểchỉ ra và khai thác những câu hỏi khái quát của dự án.
Câu hỏi bài học có các đặc điểm sau:
- Đưa ra các chỉ dẫn liên quan tới chủ đề và môn học cụ thể đối với câuhỏi khái quát
- Được dùng để mở ra và gợi ý cho những hướng nghiên cứu, bàn luận,
do đó cũng như câu hỏi khái quát, nó không có câu trả lời đúng duy nhất
- Khuyến khích khám phá, duy trì hứng thú, cho phép học sinh trả lờitheo cách tiếp cận sáng tạo, độc đáo
Ví dụ:
- Sử dụng từ trường có thể chế tạo được những dụng cụ, thiết bị có ích
gì phục vụ cho cuộc sống?
Câu hỏi nội dung
- Câu hỏi nội dung là những câu hỏi hỗ trợ trực tiếp về nội dung vàmục tiêu bài học, đó là những câu hỏi yêu cầu học sinh trả lời dựa trên thực tếbài học, có liên quan trực tiếp đến hệ thống các kiến thức học sinh thu đượcsau khi thực hiện xong dự án
- Câu hỏi nội dung giúp học sinh xác định “ai”, “cái gì”, “ở đâu” và
“khi nào” cũng như hỗ trợ cho câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học bằng cáchnhấn mạnh vào việc hiểu các nội dung chi tiết trong bài
- Các câu hỏi nội dung hầu hết chú trọng vào nội dung hơn là giải thích
sự kiện đó và có câu trả lời rõ ràng
Ví dụ:
Từ trường tồn tại ở đâu? Biểu hiện của nó là gì?
Lực từ tác dụng lên khung dây mang dòng điện trong từ trường như thế nào? Nêu nguyên tắc cấu tạo và hoạt động của động cơ điện một chiều? Làm thế nào để động cơ điện đạt hiệu quả cao?
Trang 30* Thiết kế tài liệu hỗ trợ giáo viên và học sinh: Giáo viên chuẩn bị các
bài tập mẫu, nội dung bài học, các nguồn tài liệu tham khảo như địa chỉ cáctrang web liên quan, tên tạp chí, các tài liệu tham khảo , các mẫu phiếu phâncông công việc trong nhóm, các mẫu phiếu đánh giá từng sản phẩm, các tiêuchí đánh giá sản phẩm và đánh giá quá trình thực hiện dự án
* Chuẩn bị các điều kiện tổ chức thực hiện dự án: Giáo viên xác định
đối tượng thực hiện dự án, những kiến thức của bài học cần trang bị cho họcsinh Giáo viên cần thông báo rộng rãi kế hoạch học tập để học sinh biết.Chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất cho dự án như: địa điểm, các thiết bị thínghiệm., phòng máy, máy chiếu, kinh phí
* Lập kế hoạch tổ chức thực hiện dự án: Giáo viên hoạch định thời
gian, địa điểm tiến hành dự án Giáo viên chuẩn bị các hoạt động của giáoviên và học sinh cần thực hiện một cách chi tiết, cụ thể để đảm bảo cho quátrình dạy học được thành công
Hoạt động của học sinh
Với sự hướng dẫn của giáo viên và những kiến thức thực tế, học sinhthảo luận để trả lời bộ câu hỏi định hướng Từ việc trả lời đó sẽ làm nảy sinhnhững bất cập cần phải giải quyết Các nhóm học sinh sẽ tự đề xuất ra cácchủ đề, các hướng nghiên cứu và lựa chọn dự án Tiếp theo học sinh phải lập
kế hoạch dự án: xác định tên dự án, dự đoán các nguồn tài liệu cần có để thựchiện dự án, hình dung ra sản phẩm, vạch ra được các giải pháp, dự kiến thờigian, vật liệu, kinh phí và phân công công việc của các thành viên trongnhóm Các chủ đề xuất phát từ thực tế có thể đơn giản, nhưng đều mang tínhthực tiễn cao
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cho việc DHDA, giáo viên vàhọc sinh sẽ cùng tiến hành thực hiện dự án:
Trang 311.3.5.2 Thực hiện dự án
Hoạt động của giáo viên
Giáo viên đóng vai trò là người kiểm tra đôn đốc, giúp đỡ, động viên
các nhóm hoàn thành sản phẩm
Hoạt động của học sinh
- Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra Trong giaiđoạn này HS thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực
hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau, như: tìm kiếm, thu thập dữ liệu, ghi lại các thông tin quan trọng: từ báo chí, internet,
sách, quan sát thực tế, phỏng vấn các chuyên gia, điều tra thực tế, tham quan
thực tế,… rồi tiến hành kiểm tra các ý tưởng bằng thực nghiệm (nếu có); thảo luận thường xuyên giữa các thành viên trong nhóm để phân tích (so sánh, đối chiếu, lập bảng biểu…), giải thích các kết quả; tổng hợp thông tin ( liệt kê ý chính, tóm tắt thông tin bằng một hoặc hai câu…), xây dựng kết quả học tập.
- Trong suốt tiến trình thực hiện dự án, học sinh phải thường xuyênxem xét lại các công việc của mình, họp thường kì với GV nhằm đảm bảo tiến
độ và hướng đi của dự án
- Cuối cùng, học sinh hoàn thành và trình bày sản phẩm Trong nhiều
dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành như: môhình động cơ điện một chiều, mô hình máy nâng thủy lực, mô hình máy bơmthủy lực, mô hình máy phát điện xoay chiều, mô hình ẩm kế, mô hình mạngđiện trên xe buýt, mô hình kính thiên văn Sản phẩm của dự án cũng có thể
là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc
tổ chức một buổi tuyên truyền nhằm tạo ra các tác động xã hội, phòng triểnlãm trưng bày tranh ảnh về một chủ đề nhất định
Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm học sinhtrong một lớp, có thể được giới thiệu trước toàn trường, hay ngoài xã hội
Trang 321.3.5.3 Khai thác dự án
Sau khi tiến hành dự án, chúng ta cần phải khai thác dự án Khai thác
dự án cần phải trả lời các câu hỏi như:
- Dự án vừa thực hiện có phát huy tính tích cực, tự chủ trong học tậpcủa học sinh không? Có thể thực hiện dự án bằng cách khác được không? Dự
án tiếp theo có thể là gì?
Hoạt động xem xét lại dự án được xác định đối với hai câu hỏi đầu vàhoạt động tiếp tục dự án trả lời cho câu hỏi thứ ba
Xem xét lại dự án
Giáo viên: Hướng dẫn học sinh trong việc trả lời các câu hỏi xem xét lại
dự án, bổ sung những thiếu sót và đưa ra những nhận xét cuối cùng một cáchtoàn diện về quá trình học tập dự án và kết quả học tập dự án của học sinh
Học sinh: Tổng kết lại dự án, xem xét xem dự án có thiếu sót gì không?
Sản phẩm của dự án có dùng được trong thực tế không? Đánh giá xem mục đíchhọc tập đã đạt được chưa Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc phát triển dự
án hoặc thực hiện các dự án tiếp theo Trong quá trình này học sinh tự đánh giá
bản thân, đánh giá các bạn trong nhóm và đánh giá tất cả các nhóm.
Tiếp tục dự án
Giáo viên sẽ là người gợi ý, hoặc học sinh sẽ đề nghị hướng tiếp theo
để phát triển dự án, cho thấy dự án mà các em thực hiện hoàn toàn có cơ hội
mở rộng, kích thích mong muốn được tiếp tục thực hiện các dự án tiếp theo
1.3.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong DHDA
Trong quá trình tiến hành DHDA, giáo viên và học sinh có những vaitrò nhất định và cụ thể như sau:
Vai trò của giáo viên
Trong lớp học truyền thống giáo viên nắm giữ mọi kiến thức rồi truyềntải đến học sinh Trong dạy học dự án vai trò của giáo viên trong lớp học rấtkhác biệt so với vai trò quen thuộc trong lớp học truyền thống:
Trang 33- Giáo viên không dạy nội dung cần học theo cách truyền thống.
- Từ nội dung của bài học giáo viên thấy được sự liên quan của nó đếncác vấn đề của thực tiễn cuộc sống
- Hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung bài học
- Thiết kế các bài tập trong dự án cho học sinh
Như vậy, trong suốt quá trình này, giáo viên không còn là người truyềnthông tin mà là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển các hoạt độngcủa học sinh, tạo cơ hội học tập, tiếp cận với thông tin, làm mẫu và hướng dẫn
học sinh, tạo môi trường học tập hợp tác… Vai trò của giáo viên là người hướng dẫn (guide), một thành viên cộng tác và tham vấn (advise) chứ không phải là cầm tay chỉ việc cho học sinh của mình
Vai trò của học sinh
- Học sinh học bằng việc tham gia một dự án có liên quan chặt chẽ vớinội dung bài học
- Học sinh tự lực triển khai dự án, quyết định cách tiếp cận vấn đề, tựhoạch định và tổ chức các hoạt động nhóm để giải quyết vấn đề
- Học sinh thu thập và xử lí thông tin từ dự án và những nhiệm vụ trong
dự án mà mình đảm nhận
- Học sinh trình bày và bảo vệ sản phẩm có tích hợp công nghệ thôngtin của mình
- Học sinh tham gia vào việc tự đánh giá và đánh giá các học sinh khác
Như vậy, trong dạy học dự án học sinh với vai trò là trung tâm của quá trình dạy học
1.4 Thực tiễn dạy học chương “Từ trường” ở một số trường THPT
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy học các kiến thức chương
“Từ trường” ở một số trường phổ thông, tìm hiểu các thuận lợi, khó khăn khidạy các kiến thức này và với phương pháp dạy học cụ thể của trường, chúngtôi kiểm tra kết quả dạy học kiến thức đó thông qua các bài kiểm tra
Trang 341.4.1 Phương pháp điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra vào tháng 4 năm 2011 tại trường THPTHoàng Quốc Việt, Võ Nhai, Thái Nguyên và THPT Hiệp Hòa 3, Hiệp Hòa,Bắc Giang Đó là khoảng thời gian gần cuối năm học 2010-2011, học sinh lớp
11 đã xong chương “Từ trường”- Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Điều tra giáo viên
Chúng tôi điều tra giáo viên dạy học môn Vật lí ở trường THPT HoàngQuốc Việt và THPT Hiệp Hòa 3 thông qua phiếu điều tra, nghiên cứu giáo án,
dự giờ của đồng nghiệp Số phiếu điều tra là 12 phiếu, nội dung phiếu điều traxin trình bày ở phần phụ lục số 1 của luận văn
Điều tra học sinh
Chúng tôi trao đổi trực tiếp với một số học sinh và thông qua bài kiểmtra chất lượng Cụ thể chúng tôi phát ra 115 phiếu và thu vào 115 phiếu điềutra của một số học sinh học lớp 11 của trường THPT Hoàng Quốc Việt vàTHPT Hiệp Hòa 3 Nội dung phiếu điều tra chúng tôi xin trình bày ở phầnphụ lục số 2 của luận văn
1.4.2 Kết quả điều tra
* Tình hình dạy học của giáo viên
- Theo hướng dẫn phân phối chương trình của Sở giáo dục thì chương
Từ trường chỉ học trong 6 tiết trong đó có 2 tiết bài tập, nhưng việc hướng dẫnhọc sinh vận dụng nội dung này vào thực tiễn ít được các giáo viên chú trọng
- Có 4/12 giáo viên dạy học theo phương pháp thuyết trình, thông báonội dung thuần túy: ví dụ như giáo viên thông báo về hiện tượng khi đặtkhung dây mang dòng điện trong từ trường thì lực từ tác dụng lên khung dâylàm nó bị lệch ra khỏi vị trí cân bằng ban đầu mà không làm thí nghiệm chohọc sinh quan sát
Trang 35- Phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo củahọc sinh thể hiện ở chỗ giáo viên chưa giao và ít giao nhiệm vụ nhận thức chohọc sinh, ví dụ như: không cho học sinh giải thích các ứng dụng trong thựctiễn của phần kiến thức này…
- Có 4/12 giáo viên không tiến hành thí nghiệm như trong sách giáo khoa
- Có 10/12 giáo viên không hướng dẫn học sinh chế tạo dụng cụ thínghiệm hoặc làm thí nghiệm ở nhà, vì phần lớn giáo viên cho rằng phần kiếnthức này trừu tượng, chủ yếu dạy học sinh giải bài tập là chính
- Có 9/12 giáo viên chưa nghe nhiều đến phương pháp dạy học dự án,
và 12/12 giáo viên chưa bao giờ đưa dạy học dự án vào tổ chức dạy học kiếnthức của chương trình
* Tình hình học tập của học sinh
- Đa số học sinh chưa nắm được hết các kiến thức cơ bản như: đặcđiểm từ trường của nam châm, từ trường của dòng điện Các khái niệm họcsinh chỉ học thuộc do giáo viên thông báo nên mau quên và không chắc chắn
- Kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải thích các hiện tượng thực tế vàcác ứng dụng kĩ thuật còn kém
- 115/115 học sinh chưa bao giờ được tham gia vào học tập theo dự án,hay thiết kế, chế tạo các thiết bị Vật lí
- 82/115 học sinh trả lời không thích học Vật lí vì kiến thức Vật lí vừakhó vừa nhiều, vừa phải học lý thuyết, vừa phải làm bài tập, các hiện tượngthực tế thì phức tạp, không tưởng tượng được vì ít có thí nghiệm quan sát.Nếu có các thí nghiệm thì các thí nghiệm thường nhỏ, ở cuối lớp không thểnhìn rõ…
Từ cơ sở lí luận và những kết quả điều tra thực tiễn, chúng tôi nhậnthấy để phát huy tính tích cực, phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trongdạy học nội dung kiến thức của chương thì việc tổ chức dạy học dự án là mộttrong những giải pháp hay và hiệu quả, đặc biệt là việc vận dụng kiến thức đểgiải quyết các vấn đề của thực tiễn
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trong chương này chúng tôi đã trình bày những luận điểm cơ bản vềphương pháp dạy học phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinhtrong học tập
Chúng tôi cũng tập trung làm rõ về lịch sử của dạy học dự án, phân loại
dự án học tập, những yêu cầu của dạy học dự án cũng như các giai đoạn tiếnhành một dự án học tập
Trong dạy học dự án, để thành công thì người giáo viên không có vai tròđiều khiển tư duy của học sinh, mà là người hướng dẫn, huấn luyện, tư vấn và làbạn học cho phép người học tự xây dựng kiến thức của họ Giáo viên cần tạo cơhội để học sinh phát huy hết khả năng học tập của mình, tạo môi trường học tậptập trung người học vào giải quyết vấn đề và nhiệm vụ cụ thể, đồng thời khuyếnkhích sự hợp tác, thúc đẩy tinh thần đồng đội giữa các học sinh
Còn đối với học sinh, họ được đưa ra nhiều quyết định, được cộng táclàm việc, được trình bày trước tập thể Vì vậy học sinh sẽ tích cực, thực hiệntốt dự án và ghi nhớ được kiến thức mới Trong quá trình thực hiện dự án họ
sử dụng công nghệ thông tin khi tìm kiếm tài liệu thực hiện dự án , khi trìnhbày sản phẩm của dự án, như vậy công nghệ thông tin được tích hợp vào quátrình học tập
Dạy học dự án là một phương pháp dạy học đáp ứng được yêu cầu củaviệc phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập Mặtkhác nội dung kiến thức chương “Từ trường”- Vật lí lớp 11 cơ bản mang tínhthực tiễn cao, áp dụng nhiều vào đời sống
Kết quả điều tra thực tiễn dạy và học cho phép chúng tôi phân tích thựctrạng dạy và học, những khó khăn của người học khi học nội dung kiến thứccủa chương “Từ trường”-Vật lí lớp 11 ban cơ bản, từ đó cho thấy có thể vậndụng dạy học dự án vào dạy nội dung kiến thức này
Trang 37CHƯƠNG II TỔ CHỨC DẠY HỌC DỰ ÁN MỘT SỐ NỘI DUNG
KIẾN THỨC CHƯƠNG “TỪ TRƯỜNG”
2.1 Nội dung kiến thức về từ trường học sinh đã học ở trung học cơ sở
Ở chương trình Vật lí trung học cơ sở, học sinh đã được học những
kiến thức đơn giản về từ trường Về phần từ trường, học sinh đã được tìmhiểu sơ lược về từ trường của nam châm và từ trường của dòng điện Học sinhbiết được rằng từ trường tồn tại trong không gian xung quanh nam châm vàxung quanh dòng điện Khi hai nam châm đặt gần nhau, các từ cực cùng tên
sẽ đẩy nhau, các từ cực khác tên sẽ hút nhau Khi đặt một đoạn dây dẫn thẳngmang dòng điện trong từ trường của nam châm thì từ trường sẽ tác dụng lựcđiện từ lên đoạn dây đó Học sinh cũng được học về qui tắc bàn tay trái để xác
định chiều của lực điện từ tác dụng lên dây dẫn: “Đặt bàn tay trái sao cho các đường sức từ hướng vào lòng bàn tay, chiều từ cổ tay đến ngón tay giữa hướng theo chiều dòng điện thì ngón cái choãi ra 90 o chỉ chiều của lực điện từ”[10]
Những kiến thức đơn giản này sẽ góp phần giúp học sinh tiếp thu cáckiến thức sâu hơn về từ trường ở chương trình Vật lí lớp 11
2.2 Nội dung kiến thức chương “Từ trường” SGK Vật lí lớp 11 cơ bản
Trước khi lập kế hoạch tổ chức học tập theo dự án chương “Từ trường”, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu nội dung kiến thức cơ bản về từ trường ởchương trình Vật lí lớp 11 cơ bản, gồm những nội dung sau:
* Kiến thức về từ trường:
- Từ tính của nam châm
- Từ tính của dây dẫn có dòng điện
- Các định nghĩa về từ trường, đường sức từ
- Các ví dụ về từ trường của dòng điện thẳng rất dài và từ trường củadòng điện tròn
- Các tính chất của đường sức từ
Trang 38* Kiến thức về lực từ, cảm ứng từ:
- Đặc điểm của vectơ cảm ứng từ
- Đặc điểm của lực từ do từ trường đều tác dụng lên một đoạn dây dẫn
có dòng điện:
+ Điểm đặt: trung điểm của đoạn dây
+ Phương: vuông góc với l và B
+ Chiều : tuân theo qui tắc bàn tay trái
- Đặc điểm của lực Lorenxơ
- Quĩ đạo của hạt điện tích chuyển động trong từ trường đều
Những khó khăn khi học sinh học nội dung kiến thức chương “Từ trường” - SGK Vật lí lớp 11 ban cơ bản:
- Kiến thức của chương mang tính trừu tượng cao, như các khái niệm
về từ trường, đường sức từ, đều là các khái niệm mà học sinh phải tưởngtượng ra
Mặt khác, để xác định được chiều của lực từ đòi hỏi học sinh phải tưduy trừu tượng
2.3 Mục tiêu dạy học
* Mục tiêu về kiến thức
- Nêu được từ trường tồn tại ở đâu và có tính chất gì
- Nêu được các đặc điểm của đường sức từ của thanh nam châm thẳng,của nam châm chữ U, của dòng điện thẳng dài, của ống dây có dòng điệnchạy qua
Trang 39- Phát biểu được định nghĩa và nêu được phương, chiều của cảm ứng từtại một điểm của từ trường Nêu được đơn vị đo cảm ứng từ.
- Viết được công thức tính cảm ứng từ tại một điểm trong từ trường gâybởi dòng điện thẳng dài vô hạn và tại một điểm trong lòng ống dây có dòngđiện chạy qua
- Viết được công thức tính lực từ tác dụng lên đoạn dây dẫn có dòngđiện chạy qua đặt trong từ trường đều
- Nêu được lực Lo-ren-xơ là gì và viết được công thức tính lực này
* Mục tiêu về kĩ năng
- Biết làm việc hợp tác, làm việc theo nhóm
- Biết tìm kiếm, khai thác thông tin từ các nguồn khác nhau, đặc biệt làqua mạng Internet
- Thiết kế và chế tạo được một số thiết bị vận dụng kiến thức về từtrường trong thực tế như động cơ điện, đồ chơi sử dụng nam châm
- Biết tiến hành kiểm tra hoạt động của các thiết bị chế tạo được
- Rèn luyện kĩ năng giao tiếp và trình bày vấn đề
- Biết sử dụng các thiết bị tin học, một số phần mềm để trình chiếu các
ý tưởng cũng như sản phẩm dự án
- Biết tự đánh giá năng lực và hứng thú của bản thân và đánh giá bạn bè
* Mục tiêu về tư duy và thái độ
- Có hứng thú học môn vật lý nói chung và phần từ trường nói riêng
- Yêu thích tìm tòi, khám phá các thành tựu khoa học
- Có thái độ khách quan, trung thực, có tác phong nghiêm túc, ham họchỏi Có tinh thần nhiệt tình, hợp tác làm việc
- Có ý thức vận dụng kiến thức về từ trường vào đời sống
2.4 Tổ chức dạy học kiến thức chương “Từ trường”
Theo phân phối chương trình, chương Từ trường học trong thời gian là
6 tiết trong đó có 2 tiết bài tập Do kiến thức của chương khá nhiều, mà thời
Trang 40lượng lại ít, nên chúng tôi thiết kế dạy học dự án vào tiết tự chọn, sau khi dạyxong lý thuyết của cả chương ở trên lớp.
2.4.1 Lí do tổ chức dạy học dự án
Trên cơ sở phân tích nội dung kiến thức chương “Từ trường” - SGKVật lí lớp 11 cơ bản, chúng tôi thấy nội dung kiến thức của chương có nhiềuứng dụng thực tế: Nam châm, lực từ Do đó có thể tổ chức dạy học dự án ởmột số nội dung kiến thức nhằm gắn những kiến thức học sinh học được vàothực tiễn cuộc sống, từ đó giúp học sinh hiểu sâu sắc kiến thức đã học và vậndụng thành thạo kiến thức đó Chúng tôi cho rằng dạy học dự án phát huyđược tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập
2.4.2 Triển khai bài học thành dự án
Việc thiết kế dự án đòi hỏi có sự định hướng của giáo viên để giúp học
sinh hình dung ra kiểu dự án cho phép, các đề tài đề cập đến, thúc đẩy sự họctập và tạo mối quan hệ sâu sắc giữa học sinh với kiến thức Dựa trên bộ câuhỏi định hướng, học sinh có thể tự đưa ra các dự án hoặc thực hiện các dự ángợi ý của giáo viên Với nội dung kiến thức của chương này, giáo viên có thểđưa ra một số dự án gợi ý sau:
Dự án 1,2:
Ý tưởng của dự án nhằm tổ chức dạy học kiến thức “ Từ trường” Cóthể đưa ra bộ câu hỏi định hướng sau:
* Câu hỏi khái quát:
Từ trường có vai trò gì trong cuộc sống của chúng ta?
- Với câu hỏi khái quát này chúng tôi sẽ dẫn học sinh hướng vào chủ đề