Hiện nay có rất nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giá đã được sử dụng trongquá trình dạy học như kiểm tra, đánh giá bằng hình thức thi viết, thi thực hành, thi vấnđáp, kiểm tra thông qua
Trang 1Nghiên cứu phương pháp đánh giá kết quả dạy và học bằng trắc nghiệm khách quan Xây dựng thí điểm một hệ thống khảo thí trực tuyến trên mạng.
I TỔNG QUAN VÀ SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HỌC TẬP NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY VÀ HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN.
Hiện nay có rất nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giá đã được sử dụng trongquá trình dạy học như kiểm tra, đánh giá bằng hình thức thi viết, thi thực hành, thi vấnđáp, kiểm tra thông qua các hình thức đề tài, đề án, dự án, đánh giá thông qua phươngpháp tích luỹ, hồ sơ lưu trữ… Trong đề tài này, chúng tôi(gồm 2 sinh viên : Ngô ChíCông,Trần Trung Hiếu thuộc khoa CNPM ĐHCNTT ĐHQG TPHCM),đánh giá các ưu,nhược điểm của các phương pháp kiểm tra, đánh giá đang được sử dụng hiện naytrong quá trình dạy học, qua đó nghiên cứu qui trình đánh giá kết quả dạy và học bằngphương pháp trắc nghiệm khách quan và xây dựng phần mềm trắc nghiệm khách quankhảo thí trực tuyến trên mạng
Trang 21 TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC.
i Giới thiệu chung
Hiện nay trong quá trình đào tạo, có rất nhiều phương pháp kiểm tra, đánh giáđược áp dụng khi kết thúc quá trình học (kết thúc chuyên đề, môn học, khoá học, kếtthúc học kỳ, năm học…) phụ thuộc vào mục đích học tập, giá trị pháp lý và các vấn đề
có liên quan khác Các phương pháp kiểm tra, đánh giá khả năng tiếp thu, kiến thứcđược cung cấp trong quá trình đào tạo hy vọng giảm tối thiểu những bất lợi có thể xẩy
ra trong quá trình kiểm tra, xác định chính xác trình độ của người học viên (học sinh,sinh viên…)
Có rất nhiều phương pháp thực hiện như: tự luận, thực hiện nhiệm vụ, phươngpháp tích luỹ hồ sơ, làm đồ án riêng biệt, làm đồ án theo nhóm, làm luận án, thi, thithực hành và phương pháp tự đánh giá, so sánh với những học viên khác
- Phương pháp tự luận: hình thức là trả lời các câu hỏi cho trước dưới dạng
bài văn xuôi nhằm kiểm tra khả năng thảo luận, đánh giá, phân tích, tổnquát và phê bình Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là học viên dễdàng sao chép của nhau, và phụ thuộc nhiều vào cách diễn tả, cách viết vàngữ pháp
- Phương pháp thực hiện nhiệm vụ: phương pháp này cho phép học viên
chú trọng tự nghiên cứu từng phần khác nhau của chương trình học Kết quảphụ thuộc vào bản chất của nhiệm vụ như cách báo cáo (báo cáo miệng hayviết), các tài liệu sử dụng: báo, tạp chí, chương trình, video…nỗ lực bản thânkhi nghiên cứu, phương thức giải quyết… Tuy nhiên khi thực hiện phuơngpháp này cần chú trọng đến các thông tin, tài liệu sử dụng, thời gian thựchiện…nhằm so sánh với những gì học viên đã được học trong quá trình đàotạo Ưu điềm của phương pháp này là có thể phát huy khả năng làm việcnhóm của học viên và giảm trách nhiệm của người hướng dẫn Tuy nhiênphương pháp này cần lưu ý các vấn đề như xác định hình thức thực hiệncông việc giữa các thành viên trong nhóm, vai trò, trách nhiệm của từngthành viên, sự phân công công việc, thưởng, phạt…
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 3- Phương pháp tích luỹ hồ sơ: phương pháp này gần giống với phương
pháp thực hiện nhiệm vụ Hình thức kiểm tra này là một sự đánh giá theophương pháp tích lũy nhằm thể hiện một việc làm của học viên và lưu lại hồ
sơ những việc làm đó Trong khi hình thức kiểm tra bằng đề tài chỉ tập trungvào một chủ đề đơn lẻ, còn phương pháp kiểm tra này có thể chứa đựng bất
kỳ hình thức đánh giá nào Ngoài ra còn có những tài liệu phụ như: phiếuchấm công, hồ sơ lưu trữ văn phòng và những thông tin được viết bởi chínhhọc viên Những hồ sơ lưu trữ này có thể bao gồm những bản thảo, nhữngchứng chỉ, điểm, những đề xuất, sơ yếu lý lịch và nhật ký Một hồ sơ lưu trữđược sử dụng nhằm giới thiệu công việc tốt nhất của học viên, chỉ ra côngviệc của học viên tiến bộ như thế nào qua thời gian và chứa khá đầy đủ tất
cả việc làm của học viên Tuy nhiên phương pháp đánh giá này cũng cónhững khó khăn trong việc chấm điểm (như có nhiều loại giấy tờ đính kèmkhác nhau…), đánh giá: khó có thể áp dụng một cách tổng quát phươngthức đánh giá và quy trình làm việc từ một bộ phận này đến một bộ phận kếtiếp và từ hồ sơ này đến hồ sơ tiếp theo
- Phương pháp làm đồ án riêng biệt: học viên chọn đề tài làm đồ án độc
lập từ danh sách các đồ án đã được hội đồng khoa học thông qua Gầngiống như phương pháp thực hiện nhiệm vụ khi làm đồ án, tuy nhiên sưkhác biệt chủ yếu là trách nhiệm của học viên khi chọn các thông tin cầnthiết vầ đầy đủ cho báo cáo của mình (học viên không cần phải chọn đầy đủcác thông tin, kiến thức được cung cấp trong quá trình học cho đồ án củamình) Kết quả của đồ án có ý nghĩa rất lớn đối với học viên khi vận dụngcác kiến thức và làm các đồ án riêng biệt
- Phương pháp làm đồ án theo nhóm: một nhóm các học viên cộng tác với
nhau thực hiện đồ án Ưu điểm của phương pháp này tăng cường khả nănglàm việc nhóm và giảm tối thiểu khả năng can thiệp của người hướng dẫnvào đồ án Có nhiều hình thức xác định công việc của từng thành viên trong
đồ án như vai trò của từng thành viên, sự phân công công việc, thưởng, phạtcông bằng…Cách thể hiện theo phương pháp này thường được sử dụng làmỗi thành viên thực hiện từng phần của đồ án, người hướng dẫn giám sátcông việc, mỗi học viên cố gắng thực hiện tốt nhất phần công việc của mình,
để có thể trở thành thành viên quan trọng nhất trong đồ án
- Phương pháp làm luận án: là hình thức mở rộng của phương pháp tự
luận, đòi hỏi phải được bố trí, sắp xếp theo các yêu cầu cụ thể Nội dung củaluận án phản ánh sự tìm tòi và kết quả của quá trình nghiên cứu Phươngpháp làm luận văn cần giải quyết một số vấn đề giống như thực hiện một đồ
án riêng biệt
Trang 4- Phương pháp thi: Có nhiều hình thức tổ chức thi Phần lớn thời gian thi
diễn ra tương đối ngắn và các điều kiện trong khi thi bảo đảm học viên cóthể thực hiện một mình (một vài hình thức thi cho phép học viên có thểmang câu hỏi thi về nhà để chuẩn bị) Một trong những nhược điểm của cácphương pháp này là thời gian thi ngắn do đó các câu trả lời của học viênkhông đủ để đánh giá đầy đủ các kiến thức của người học và một phần nào
đó nó cổ vũ cho hình thức trả lời bằng học thuộc lòng, học vẹt Có thể tránhcác trường hợp học thuộc lòng, học vẹt này nếu như học viên trả lời câu hỏikhi không được biết trước trên nền kiến thức đã được học Có những hìnhthức thi phổ biến như sau:
Được chuẩn bị trước: học viên biết trước câu hỏi và chuẩn bị câu trả lờitrước khi thi Hình thức này giảm thiểu cách học tủ, học lệch, giảm sự lolắng và tăng cường khả năng học của học viên Thông thường hình thức
tổ chức dạng thi này là thi viết
Được mở tài liệu: cho phép học viên được quyền sử dụng một số tài liệuhọc hoặc tham khảo trong quá trình thi Hình thức này nhằm giảm thiểukhả năng học thuộc lòng, giảm sự lo lắng của học viên và các câu hỏi thinằm trong những kiến thức mà học viên đã học Hình thức tổ chức dạngthi này thường là dạng thi viết
Không biết trước và không được dùng tài liệu: nhằm làm cho học viên cóthể ôn lại những kiến thức đã được học trong chương trình và bất cứ phầnnào của những kiến thức đã học cũng có thể xuất hiện trong câu hỏi thi.Phương pháp này có nhược điểm là người học có thể học tủ, học lệch, họcmay rủi Có nhiều cách thức thi như: thi viết, thi vấn đáp, thi trắc nghiệm
Thi viết là hình thức mà học viên lựa chọn hay soạn thảo một câu trả lờiđối với một gợi ý Trong hầu hết những trường hợp, sự gợi ý bao gồmnhững loại tài liệu in ấn Tuy nhiên nó cũng có thể là một đối tượng,một sự kiện hay là một kinh nghiệm Có những yêu cầu đối với học viêntrong việc trả lời câu hỏi là yêu cầu viết vào một thời điểm nhất định vàhoàn thành nó trong một khoản thời gian nhất định Các điều kiện bắtbuộc khi làm bài kiểm tra của học viên được chuẩn hoá đồng thời làmtăng khả năng so sánh kết quả giữa những học viên và những nhómhọc viên Có 3 loại đánh giá viết: một là việc lựa chọn những câu trảlời, 2 loại còn lại bao gồm viêc xây dựng câu trả lời Loại đầu tiên làdạng những bài kiểm tra trắc nghiệm (sẽ đề cập ở phần sau), được sửdụng chủ yếu cho việc thu thập thông tin về kiến thức thực tế hoặc khảnăng tính toán cụ thể trong toán học Các cách này có thể được sửdụng để đánh giá nhiều loại suy nghĩ và kĩ năng giải quyết vấn đề Tuynhiên cũng cần phải có những kĩ năng đáng kể để phát triển những bàikiểm tra nhằm mục đích đo lường được sự phân tích, đánh giá vànhững kĩ năng liên quan khác ở mức độ cao hơn
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 5 Thi vấn đáp là hình thức thi mà học viên trả lời bằng lời nói Có thể kếthợp phương pháp này với bất cứ phương pháp nào khác đã được đềcập ở trên Trong một khoảng thời gian ngắn cần kiểm tra học viên vềkiến thức đã học và chiều sâu nhận thức của học viên.
Thi trắc nghiệm là hình thức thi mà ở đó học viên có thể lựa chọn câutrả lời chính xác từ hàng loạt khả năng lựa chọn của các câu hỏi Đây làhình thức kiểm tra khá hiệu quả, trong một khoản thời gian ngắn, học
các câu trả lời chính xác nhất Phương pháp này thuận tiện cho họcviên có thể dễ dàng xem xét lại toàn bộ chương trình học Nhược điểmcủa phương pháp này là soạn một câu hỏi tốt thì rất khó (phần này sẽ
đề cập cụ thể sau)
- Phương pháp thi thực hành: hình thức này yêu cầu học viên chứng tỏ
khả năng để thực hiện những kỹ năng nhất định Loại đánh giá này bao quátmột phạm vi khá rộng như bao gồm việc thiết kế sản phẩm hay làm thửnghiệm, thu thập thông tin, lập bảng biểu và phân tích dữ liệu, đánh giá kếtquả và chuẩn bị báo cáo hay giới thiệu Kiểm tra bằng phương pháp thi thựchành đặc biệt thu hút những nhà đào tạo nghề bởi vì chúng có thể được sửdụng để bắt chước, tập làm quen với những đòi hỏi và mục tiêu của nghềnghiệp thực tế như học viên tốt nghiệp thi biễu diễn nghệ thuật qua tácphẩm, học viên nghề y tá tập đo huyết áp…Những kĩ năng được thể hiệntrong thi thực hành có thể biến đổi rất nhiều Những nhà đào tạo nghề đãdựa vào những chiến lược đánh giá, dựa vào bài thực hành của học viên đểđánh giá mức độ thành thạo về kĩ năng nghề nghiệp cụ thể của học viên.Học viên cũng có thể sử dụng một số công cụ cho bài thi thực hành củamình như ghi lại các hành động cụ thể bằng các thiết bị như audio, video…Tuy nhiên, việc kiểm tra đánh giá trở nên ngày càng phức tạp, vì thế việc trảlời câu hỏi của học viên cũng trở nên phức tạp hơn, việc chấm điểm cũngkhó khăn hơn Gần đây, những nhà nghiên cứu đã phát triển những bài kiểmtra thực hành cho phép có thể quản lý và chấm điểm bằng máy tính, cụ thểnhư máy tính đang được sử dụng để tạo dựng nên những vấn đề giống nhưtrong thế giới thực (mô hình hoá, mô phỏng thế giới thực…) hoặc hỗ trợ đề
có thể xem xét và chấm điểm những câu trả lời được xây dựng…
- Phương pháp tự đánh giá, so sánh với những học viên khác: phương
pháp này cho phép các học viên tự xác định những lợi ích của mình khi theohọc Không có cách đánh giá nào ở đây giống nhau và thậm chí nó có thểkết hợp nhiều cách đánh giá khác nhau mà học viên biết và chọn lựa chomình Điều quan trọng ở đây là học viên cố gắng ứng dụng những kiến thức
đã học cho tự bản thân họ: tự làm một bài tập do họ nghĩ ra, ứng dụngnhững kiến thức đã học cho công việc của họ, tự đánh giá và xém xét về khảnăng của họ, kết hợp với các học viên khác báo cáo công việc cho mọi ngườibiết…
Trang 6ii Các phương pháp đánh giá, kiểm tra đang được sử dụng hiện nay cho quá trình dạy và học tại thành phố.
Hiện nay tại thành phố có rất nhiều cơ quan, tổ chức, các trường đại học, caođẳng, trung học phổ thông, trung học cơ sở, các viện nghiên cứu, các trung tâm đàotạo tham gia giảng dạy dưới nhiều hình thức đào tạo khác nhau từ các hệ đào tạo chínhquy (phổ thông, cao đẳng, đại học, sau đại học…) đến các hình thức đào tạo phi chínhquy, ngắn hạn, đào tạo chuyên đề, đào tạo theo đơn đặt hàng, theo yêu cầu Tất cảcác hình thức đào tạo đó đều được đánh giá, kiểm tra khi kết thúc chương trình đàotạo (đào tạo ngắn hạn, chuyên đề…), hoặc kiểm tra, đánh giá nhiều lần (đào tạo chínhquy, đào tạo dài hạn…)
Các phương pháp kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy và học là nhữngphương pháp đánh giá đã được nêu ở trên Tuy nhiên tại thành phố, phương pháp kiểmtra, đánh giá được áp dụng nhiều nhất là phương pháp thi Có rất nhiều hình thức thi
đã được áp dụng cho các cơ sở đào tạo tại thành phố như thi viết, thi thực hành, thivấn đáp, thi trắc nghiệm…
Trong thời gian qua, tại thành phố Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất lượng dạy(người thầy) và chất lượng học (học viên) ở các cơ sở đào tạo chính quy, phi chính quy,đào tạo dài hạn Bộ Giáo Dục và Đào tạo đã phối hợp với nhiều tổ chức, cơ quan chínhphủ, phi chính phủ tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo đánh giá các quá trình đào tạo,phương pháp giảng dạy và kiểm tra, đánh giá nhằm từng bước nâng cao chất lượnggiảng dạy và đào tạo đạt trình độ khu vực và quốc tế Trong các cuộc hội thảo, hội nghịđược tổ chức, rất nhiều nhà quản lý, nhà chuyên môn đề cập đến các hình thức tổ chứckiểm tra, đánh giá nhằm qua đó có thể đánh giá chính xác chất lượng đào tạo, phươngpháp truyền đạt kiến thức của người dạy, khả năng tiếp thu kiến thức của người học
Phương pháp kiềm tra, đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan là phương pháp
hiện nay đang rất được các cơ quan, tổ chức, quản lý về đào tạo quan tâm vì nó có thểđáp ứng được phần lớn các yêu cầu đặt ra khi đánh giá chất lượng và khả năng tiếpthu kiến thức của người học
2 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM.
i Tổng quan.
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 7Trắc nghiệm là một phương pháp kiểm tra, đánh giá quá trình tiếp thu kiến thứccủa người học Nó có thể đo lường khả năng của người học ở bất kỳ cấp học nào, bất
cứ môn học nào trong lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội Hình thức thitrắc nghiệm này đã có từ lâu và đã trở nên phổ biến trên thế giới, nhưng tại nước ta thìchưa được áp dụng rộng rãi và còn ít được sự quan tâm của mọi người Trong thời giangần đây, nhiều cơ quan, tổ chức đào tạo được sự khuyến khích của các cơ quan quản lýnhà nước (Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, Sở Giáo Dục và Đào Tạo…) đã đưa hình thức thitrắc nghiệm vào quá trình đánh giá, kiểm tra người học nhằm từng bước thay thế chocác hình thức thi khác đã được sử dụng từ trước tới nay (thi viết, thi vấn đáp, tựluận…)
Theo đánh giá của các chuyên gia đào tạo, khi tổ chức thi trắc nghiệm khách quan(các dạng thi trắc nghiệm sẽ được đề cập đến sau) sẽ có các những thuận lợi sau:
cần giấy, mực)
- Không cần phải huy động nhiều cho việc gác thi
- Tình trạng học viên lật tài liệu sẽ không còn
- Trong lúc thi các câu hỏi được lấy ngẫu nhiên, do đó hạn chế được tình trạng
nhiên từ ngân hàng đề thi).
- Việc chấm bài không phải mất nhiều thời gian vì chương trình thực hiện tựđộng và có kết quả lập tức ngay sau khi thi xong Đảm bảo được tính côngbằng và chính xác khi chấm điểm
Trang 8Phương pháp thi viết hay thi trắc nghiệm (hoặc là các phương pháp kiểm tra,đánh giá khác) đều có những điểm tương đồng là:
1 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng thi viết, thi trắc nghiệm hay bất kỳ hìnhthức thi nào khác đều có thể đo lường hầu hết mọi thành quả học tập quan trọng
mà một bài khảo sát bằng lối viết có thể khảo sát được
2 Các hình thức kiểm tra đều có thể được sử dụng để khuyến khích học viên học tậpnhằm đạt đến các mục tiêu: hiểu biết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ýtưởng, ứng dụng kiến thức trong việc giải quyết các vấn đề
3 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá này đều đòi hỏi sự vận dụng ít nhiều phánđoán chủ quan
4 Giá trị của mỗi hình thức kiểm tra tuỳ thuộc vào tính khách quan và độ tin cậy củachúng
Những ưu và nhược điểm khi sử dụng phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng hìnhthức trắc nghiệm
1 Một trong những nhược điểm thường được gán cho phương pháp này là học viên
có thể đoán mò các câu trả lời trên một bài thi trắc nghiệm khách quan Xét vềmặt lý thuyết, một học viên có thể đoán mò các câu trả lời trên một bài trắc
nghiệm khách quan Nếu đó là một bài trắc nghiệm ngắn và gồm toàn
những câu có hai lựa chọn : Đúng – Sai, thì học viên ấy có cơ may đạt được
học viên ấy không được chuẩn bị tốt cho kỳ thi, và nếu bài trắc nghiệm quá khó,học viên ấy có thể, bằng lối đoán mò, tình cờ đạt được điểm số cao hơn là nếuhọc viên cẩn thận suy nghĩ về từng câu hỏi để cố gắng đưa ra câu trả lời đúng.Tuy nhiên, trong thực tế, ít học viên có kỳ vọng đạt được điểm cao trên một bài
trắc nghiệm dài, gồm nhiều câu hỏi và một câu có nhiều lựa chọn Do đó,
tuy rằng học viên có thể đoán mò với một bài trắc nghiệm, lối đoán mò ấy rấthiếm khi đem đến lợi lộc gì cho họ Thật ra, không phải lúc nào học viên cũng ápdụng lối đoán mò Học viên chỉ đoán mò trong một bài thi khi họ không có chútkiến thức nào liên quan đến câu hỏi, khi đã gần hết thời gian qui định cho bài thi,hoặc khi họ không còn hứng thú để cố gắng lựa chọn câu trả lời có suy nghĩ.Thông thường hơn, học viên không đoán mò mà chỉ không chắc chắn hoàn toàn
về câu trả lời lựa chọn, sau khi đã suy nghĩ Nếu học viên có chút hiểu biết nào đóliên quan đến câu hỏi và nếu học viên ấy vận dụng tối đa sự hiểu biết của mình
để tìm ra câu trả lời thì lối giải đáp câu hỏi của học viên cũng đóng góp một cáchhiệu quả vào việc đo lường thành quả học tập của học viên đó
Một trong các phương pháp tìm hiểu xem các học viên có đoán mò haykhông là xem xét độ tin cậy của bài trắc nghiệm ấy Nếu tất cả học viên đều đoán
mò thì hệ số tin cậy của bài trắc nghiệm là 0 Do đó nếu bài trắc nghiệm có hệ sốtin cậy cao, có thể tin tưởng rằng sự đoán mò chỉ đóng góp một phần rất nhỏ vàocác điểm số của học viên Dẫu sao, việc ngăn ngừa sự đoán mò, cũng như các kỹ
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 9thuật sửa chữa sự đoán mò vẫn là mối quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứutrắc nghiệm hiện đại
2 Một đặc điểm nữa khi sử dụng phương pháp kiểm tra, đánh giá bằng thi trắc
Quan niệm như vậy là hoàn toàn không đúng, vì khả năng nhớ các thông tin, tuy
là cần thiết nhưng đó là lĩnh vực kiến thức thấp nhất Một bài kiểm tra, dù là sửdụng hình thức thi viết hay trắc nghiệm (hoặc bất kỳ hình thức kiềm tra nàokhác), không chỉ nhằm mục đích khảo sát khả năng ”nhớ” lại những gì đã nghe,
đã đọc, mà còn phải hướng đến các khả năng cao hơn thế
Để tìm hiểu về vấn đề này, các nhà nghiên cứu trắc nghiệm đã thực hiệnnhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm trong các thập niên 1960 và 1970, bằngcách so sánh trắc nghiệm với với các hình thức thi khác nhau như so sánh trắcnghiệm với hình thức thi viết và các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng trắcnghiệm cũng có khả năng tiên đoán thành quả học tập tổng quát của học viênkhông thua kém gì các hình thức thi khác Nhiều công trình nghiên cứu khác cũng
đã đi đến kết luận rằng có sự tương quan gần như hoàn toàn giữa các điểm sốcủa học viên về các hình thức khảo sát ấy
3 Nhiều người nghĩ rằng hình thức thi viết mới khảo sát được các quá trình tư duycao, còn trắc nghiệm chỉ khảo sát được khả năng nắm vững thông tin mang tínhchất sự kiện mà thôi Điều này chỉ đúng với những bài trắc nghiệm soạn thảo cẩuthả hay do người soạn thảo chưa nắm vững các mục tiêu giảng dạy và đánh giá.Các quá trình tư duy cao có thể được mô tả bằng nhiều cách, chẳng hạn như: suyluận, khái quát hoá, suy luận trừu tượng, suy diễn, quy nạp, phán đoán, tưởngtượng…
Đối với trắc nghiệm thì các khả năng nói trên là những mục tiêu khảo sát màngười soạn trắc nghiệm phải quan tâm đến đầu tiên trước và trong khi soạn thảocác câu trắc nghiệm, và kỹ thuật phân tích yếu tố hiện đại có thể giúp cho các nhàlàm trắc nghiệm phân tích được những khả năng nào mà bài trắc nghiệm họ soạnthảo đã có thể khảo sát được
4 Người ta vẫn thường cho rằng hình thức thi viết khuyến khích sự sáng tạo và thitrắc nghiệm không khuyến khích khả năng sáng tạo Với phương pháp thi viết họcviên có quyền tự do diễn tả ý tưởng của mình bằng văn viết, trong khi trắcnghiệm chỉ cho phép họ lựa chọn trong số các giải đáp cho sẵn Trên nguyên tắc,bài văn viết cho phép học viên tổ chức các ý tưởng của mình và trình bày các ýtưởng ấy bằng chính ngôn ngữ của mình, thay vì diễn tả lại như vẹt những gì đã
có sẵn từ các nguồn thông tin khác Do đó hình thức thi viết có thể khêu gợi tinh
thức thi viết Tuy nhiên trong thực tế, nhất là trong các kỳ thi được tổ chức ởnước ta, các bài thi bằng hình thức thi viết thường chỉ nhằm khảo sát khả năng
”nhớ” hay thuộc lòng những gì học viên đã học hay đã đọc qua các bài giảng hay
Trang 10sách vở Khả năng sáng tạo, khả năng đưa ra những tư tưởng độc đáo ít khi đượckhuyến khích, trái lại có khi gây bất lợi cho học viên.
Hình thức thi trắc nghiệm hoàn toàn khách quan gồm những câu hỏi với câutrả lời cho sẵn mà học viên chỉ việc lựa chọn, và điểm số của học viên ấy là tổng
số các câu trả lời đúng Như vậy, một bài trắc nghiệm hoàn toàn khách quan khó
có thể khảo sát khả năng sáng tạo Gần đây, các nhà nghiên cứu trắc nghiệmthường xen vào bài trắc nghiệm những câu hỏi thuộc loại điền khuyết(completion) hay câu trả lời ngắn (short answer test) Các câu trả lời này đượcđánh giá theo mức độ đạt được các tiêu chuẩn sáng tạo đã định sẵn Như vậy,trắc nghiệm loại này không còn hoàn toàn khách quan nữa, vì có các yếu tố chủquan xen vào Hình thức trắc nghiệm này được xem như là một sự phối hợp cảtrắc nghiệm khách quan lẫn hình thức thi viết Tuy nhiên các cố gắng khảo sát khảnăng sáng tạo theo hình thức trắc nghiệm này vẫn còng đang ở trong giai đoạnnghiên cứu và thử nghiệm cho nên vẫn chưa được áp dụng rộng rãi
ii Hình thức các câu hỏi trắc nghiệm.
Có 2 loại trắc nghiệm là trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm chủ quan
1 Trắc nghiệm khách quan.
Mục đích của trắc nghiệm khách quan.
Một bài trắc nghiệm khách quan có thể phục vụ cho nhiều mục đích Nhưngbài trắc nghiệm ích lợi và có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để nhằm phục
vụ cho một mục đích chuyên biệt nào đó Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối
kỳ, nhằm cho điểm và xếp hạng học viên thì các câu hỏi phải được soạn thảo làmsao để cho các điểm số được phân tán rộng, như vậy mới phát hiện ra được họcviên giỏi và học viên kém Ngược lại nếu bài trắc nghiệm chỉ là một bài kiểm trathông thường, nhằm kiểm tra những điều hiểu biết tối thiểu về một thành phầnnào đó của giáo trình thì người soạn sẽ soạn những câu hỏi sao cho hầu hết họcviên đạt điểm tối đa Ngoài ra, trắc nghiệm khách quan còn dùng để chẩn đoán,tìm ra những chỗ mạnh, chỗ yếu của học viên để giúp đỡ quy hoạch việc giảngdạy cần thiết sao cho có hiệu quả hơn Với loại trắc nghiệm này, các câu trắcnghiệm phải được soạn thảo làm sao để tạo cơ hội cho học viên phạm tất cả mọisai lầm có thể về môn học, nếu chưa học kỹ Bên cạnh đó trắc nghiệm khách quancòn dùng với mục đích tập luyện, giúp cho học viên hiểu thêm bài học và cũng cóthể làm quen với lối thi trắc nghiệm
Trắc nghiệm khách quan được sử dụng khi:
khảo sát ấy được dùng lại vào lúc khác
quan của người chấm bài
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 11 Khi các yếu tố công bằng, vô tư, chính xác là những yếu tố quan trọngnhất của việc thi cử.
chọn và soạn lại một bài trắc nghiệm mới, và muốn chấm nhanh để sớm công
bố kết quả
tắc để phối hợp chúng lại với nhau nhằm giải quyết những vấn đề phức tạp
Một số điểm khác biệt giữa thi viết và trắc nghiệm khách quan.
Trang 121 Một câu hỏi thuộc loại thi viết đòi hỏi học viên phải tự mình soạn câu trả lời và
diễn tả nó bằng ngôn ngữ của chính mình Tuy nhiên một câu hỏi trắc nghiệmbuộc học viên phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trong một số câu đã cho sẵn
2 Một đề thi viết sẽ bao gồm số câu hỏi tương đối ít và có tính cách tổng quát,
đòi hỏi học viên phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ dài dòng, trong khi mộtbài trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòi hỏinhững câu trả lời ngắn gọn
3 Trong khi thi viết học viên phải bỏ ra phần lớn thời gian để suy nghĩ và viết.
Mặt khác, trong khi làm một bài trắc nghiệm, học viên dùng nhiều thì giờ để
đọc và suy nghĩ.
4 Chất lượng của một bài trắc nghiệm được xác định một phần lớn do kỹ năng
của người soạn thảo bài trắc nghiệm ấy; ngược lại, chất lượng của một đề
5 Một bài thi viết tương đối dễ soạn, nhưng khó chấm và khó cho điểm chính xác,
trong khi một bài thi trắc nghiệm khó soạn, nhưng việc chấm và cho điểmtương đối dễ dàng và chính xác hơn
6 Với loại hình thức thi viết, học viên có nhiều tự do bộc lộ cá tính của mình trong
câu trả lời, và người chấm bài cũng có tự do cho điểm và các câu trả lời theo xuhướng riêng của mình Mặt khác, với một bài trắc nghiệm, người soạn thảo cónhiều tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình qua việc đặt các câu hỏi,nhưng chỉ cho học viên quyền tự do chứng tỏ mức hiểu biết của mình qua tỷ lệcâu trả lời đúng
7 Trong các câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm vụ học tập của người học, và cơ sở trên
đó giảm khảo thẩm định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ ấy, được phát biểumột cách rõ ràng hơn là trong các loại hình thức thi khác
8 Một bài trắc nghiệm cho phép khuyến khích sự phỏng đoán.
9 Sự phân bố điểm số ở một bài thi dạng viết có thể được kiểm soát một phần
lớn do người chấm (điểm tối đa và tối thiểu) Ngược lại, với bài trắc nghiệm thìphân bố điểm số học viên hầu như hoàn toàn được quyết định do bài trắcnghiệm
Loại này được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và học viên trả lời bằng cáchlựa chọn Đúng (Đ) hai Sai (S) Loại câu hỏi này rất thông dụng vì nó có vẻ như dễ
sử dụng, nhưng cũng là loại bị chỉ trích nhiều nhất vì:
này học viên có may rủi 50% chọn đúng câu trả lời hoàn toàn bằng lối đoánmò
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 13 Các câu trắc nghiệm loại này thường bị chê là tầm thường, sáongữ Điều này có thể xảy ra, nếu người soạn thảo trích ra những câu có sẵntrong sách giáo khoa, rồi chép nguyên văn các câu ấy làm câu trắc nghiệm.
khuyến khích và tưởng thưởng những học viên học thuộc lòng như vẹt mà chưahiểu thấu đáo, hay chỉ nhận ra một số chữ quen thuộc trong sách cũng đủ biếtcâu nào đúng hay sai
hoặc sai, dưới con mắt của người soạn trắc nghiệm, nhưng khi đem ra sử dụngthì lại gặp những thắc mắc nhiều khi rất chính đáng của học viên về tính cáchđúng hay sai của các câu phát biểu ấy
bị tách khỏi bản văn và không có căn bản để so sánh và thẩm định tính cáchđúng hay sai tương đối của chúng
Tuy nhiên các câu hỏi dạng này cũng có những ưu điểm sau:
được ấn định, như vậy có thể làm tăng lên tính tin cậy của bài trắc nghiệm ấy,nếu như các câu trắc nghiệm Đúng – Sai được soạn thảo kỹ càng, không tốinghĩa, và tránh được sự đoán mò
soạn không cần phải tìm ra thêm nhiều câu phát biểu khác nữa để học viên sosánh và lựa chọn Thật ra, viết được một câu trắc nghiệm tốt loại này khôngphải là việc làm đơn giản Người soạn phải lựa chọn những phát biểu, haymệnh đề, quan trọng để làm căn bản cho các câu trắc nghiệm, phải sử dụng lốihành văn độc đáo để câu phát biểu trở nên khó khăn hơn đối với những họcviên chỉ học vẹt mà chưa hiếu thấu đáo, đồng thời cũng phải lựa chọn những từngữ chính xác sao cho tránh được lối phát biểu nhập nhằng, nước đôi Nếuthực hiện được các điều này, người soạn trắc nghiệm sẽ nhận thấy rằng cáccâu trắc nghiệm loại Đúng – Sai có cấu trúc đơn giản hơn các loại câu khác chonên lối viết cũng tương đối đơn giản hơn, do đó ít phạm những lỗi lầm về mặt
kỹ thuật hơn so với các loại câu trắc nghiệm khác
Do những ưu và khuyết điểm trên, các câu trắc nghiệm dạng Đúng – sai chỉ nên
sử dụng loại trắc nghiệm khi:
Chỉ nên sử dụng loại này một cách dè dặt, nhất là với các người soạn câu hỏitrắc nghiệm chưa có nhiều kinh nghiệm về trắc nghiệm Trong nhiều trườnghợp, có thể chuyển đổi những loại câu Đúng – Sai ra thành những loại câu cónhiều lựa chọn mà vẫn không làm giảm đi tính chất chính xác của việc đolường
Lựa chọn những câu phát biểu nào mà một người có khả năng trung bìnhkhông thể nhận ra ngay là đúng hay sai nếu không có đôi chút suy nghĩ
Trang 14 Những câu phát biểu cần phải dựa trên những ý niệm căn bản mà tính cáchđúng hay sai phải chắc chắn, không tuỳ thuộc vào quan niệm riêng của từngngười, từng tác giả hay dựa trên một giả định đặc biệt hay bất thường nào đó.
Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câuphức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết Không nên chép nguyên văn những câutrích từ các sách giáo khoa, vì làm như vậy chỉ khuyến khích học thuộc lòngmột cách máy móc
Tránh dùng những tư như ”tất cả”, ”không bao giờ”, ”không một ai”, ”khôngthể nào”… Những câu có các từ ấy thường là những câu sai Cũng vậy, những
từ như ”thường thường”, ”đôi khi”, ”một số người”, ”có khi”… bộc lộ một sự dèdặt nào đó, nên thường hay được dùng với các câu đúng Học viên có nhiềukinh nghiệm có thể khám phá ra điều này một cách dễ dàng
Áp dụng công thức để điều chỉnh sự đoán mò do học viên có 50% hy vọng để trảlời
Công thức chấm điểm là:
N là số lựa chọn, trường hợp loại đúng sai: N là 2
Nên công thức tính điểm là:
Số điểm = số câu đúng - số câu sai
Hình thức.
Loại này gồm có một câu văn trưng dẫn, học viên phải quyết đoán ”đúng” – ”sai”hay ”có” – ”không” hay ”cùng nghĩa” – ”trái nghĩa” Đây cũng là loại trắc nghiệm
có 2 lựa chọn: có một lựa chọn đúng và một lựa chọn sai
Kỹ thuật soạn thảo.
Nên soạn số câu đúng và sai bằng nhau Những khuynh hướng cho câu đúnghay câu sai nhiều hơn sẽ khiến cho học viên khám phá ra điều đó
Tránh dùng câu giống hệt trong sách Biến đổi một câu trong sách làm cho họcviên đoán biết công việc trên mà học thuộc lòng các câu trong sách giáo khoa
Mỗi một câu nên hỏi một điểm mà thôi Điều này khiến cho độ khó của các câuhỏi đồng đều nhau, nên sự chấm điểm dễ hơn
Nên tránh hai lần phủ định trong một câu
Tránh những câu mơ hồ
Tránh những câu gồm quá nhiều mệnh đề
Tránh dùng những chữ quyết định được câu trả lời (như đã nêu ở trên)
Nếu một câu được dùng để đo sự đúng hay sai của một lý do thì mệnh đềchính phải đúng và lý do có thể là đúng hay sai
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 15Trắc nghiệm loại nhiều lựa chọn được sử dụng nhiều nhất trong loại trắc nghiệmkhách quan Loại này cĩ thể dùng để đo lường thành tích một cách hữu hiệu Loại này
cĩ thể thẩm định được khả năng của học viên như: phân biệt, tuyển chọn, ứng dụng…những điều đã học Nĩ cũng cĩ thể đo lường sự hiểu biết, diễn đạt, suy luận tiềm tàngcủa học viên
Đây là loại kiểm tra cĩ giá trị nhất trong các loại kiểm tra của trắc nghiệm kháchquan do:
Người ra đề thi biết học viên cĩ ký ức về các điều đã học trước đây Học viênnhận ra được một điều đã học giữa một mớ sự kiện hỗn tạp Khả năng nhận ra
Lối cho điểm loại trắc nghiệm này được khách quan và cơng bình
Là loại trắc nghiệm cĩ thể được sử dụng ở nhiều mơn học
Vì vậy, việc chấm điểm loại này nên áp dụng cơng thức điều chỉnh sự đốn mị:
số câu saisố điểm số câu đúng
N 1
N là số lựa chọnTuy nhiên, nếu áp dụng cơng thức điều chỉnh sự đốn mị làm cho việc chấmđiểm và tính điểm trở nên phức tạp vì cĩ thể cĩ điểm âm Hơn nữa, học viên đốn mị
để hy vọng cĩ được điểm trung bình thật là mong manh
Hình thức.
Loại trắc nghiệm lựa chọn gồm cĩ 2 phần:
Phần gốc: nêu ra một vấn đề, một câu hỏi hoặc chỉ là một câu nửa chừng.
Phần lựa chọn: cĩ thể gồm các giải pháp cho vấn đề nêu ra ở phần thứ nhất
hoặc liệt kê các câu trả lời cho câu hỏi hoặc ghi những chữ cĩ thể nối thêm vàocâu hỏi nửa chừng Trong các câu này chỉ cĩ một câu đúng hay đúng nhất, cịntất cả các câu khác chỉ là mồi nhử Khi đặt câu trắc nghiệm loại này điều quantrọng là phải khéo léo ở câu mồi nhử, nghĩa là các câu này cũng phải cĩ vẻ hấpdẫn như câu trả lời đúng
Loại nhiều lựa chọn cĩ các hình thức sau:
Hình thức thơng thường
Đĩ là hình thức mà phần gốc nêu ra một vấn đề, một câu hỏi hoặc một câu nửachừng
Trang 16 Hình thức này nhằm kết hợp các câu trả lời được cho là đúng.
Phần gốc gồm một câu văn với nhiều giải pháp được đánh số La mã Các giảipháp này biến đổi có phần đúng và có phần sai
Phân lựa chọn gồm những sự kết hợp một hay nhiều giải pháp ở trên mà họcviên phải cân nhắc lựa chọn
Hình thức biến đổi của loại sánh đối
Phần gốc là những câu văn chính cho những câu trắc nghiệm
Phần lựa chọn gồm những lựa chọn được dùng để trả lời chung cho nhiều câutrắc nghiệm
Kỹ thuật soạn thảo.
chọn càng ngắn gọn càng tốt
học viên sẽ nhờ câu này mà trả lời câu khác
nghiệm, người soạn thảo có thể dùng thể phủ định để đo lường sự phán đoánnhanh nhẹn
các câu mồi nhữ phải không quá xa vấn đề muốn hỏi
đúng
câu đúng là một câu trau chuốt, đầy đủ, còn các câu mồi nhử lại lơ là, cẩu thả
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 178.Khi những câu lựa chọn đều có phần đúng, ở phần gốc nên đặt thêm chữ ”hơnhết ”, ”nhất ”, ”đầu tiên ”,….
trắc nghiệm ưa có khuynh hướng để câu đúng ở vị trí b, c hay d, ít khi để ở ahay e (giả sử có 5 phương án trả lời là a, b, c, d, e) Tuy nhiên, có người soạntrắc nghiệm có khuynh hướng để câu đúng ở một chỗ nhất định mà không thayđổi Theo lý thuyết thống kê, câu đúng nên đặt đồng đều ở mọi vị trí để tránh
sự đoán mò Thí dụ: nếu bài trắc nghiệm có 120 câu và mỗi câu có 5 đáp án thìmỗi chữ a, b, c, d, e có cơ hội ở vị trí đúng 24 lần
vào để cho đầy đủ số lựa chọn Câu này được sử dụng khi các câu khác cũngphải khéo léo, nếu không, học viên chỉ cần biết chắc hai câu đúng là họ khôngngần ngại chọn câu “ tất cả đều đúng ” Để hỏi về ký ức, có thể dùng hình thứcnày Dù sao, đây không phải là hình thức tốt nhất
phải thận trọng Câu ”tất cả đều sai” rất thích hợp với các môn cần tính toán, vìtrước khi trả lời, học viên phải làm lại bài toán để kiểm chứng Trong cáctrường hợp này, câu lựa chọn có thể hoặc là đúng hoặc là sai
Loại đối chiếu cặp đôi (matching) thực ra cũng là một dạng đặc biệt của hình thứctrắc nghiệm với nhiều lựa chọn nói trên đây Người làm bài phải chọn, trong cùng mộttập hợp các lựa chọn, câu nào, hay từ nào phù hợp nhất với mỗi câu trắc nghiệm đãcho
Hai lỗi thông thường trong việc soạn các câu trắc nghiệm loại này cần phải đượcchú ý:
Đặt số lựa chọn ở cột bên phải bằng số câu trắc nghiệm ở cột bên trái Nếu sốcâu ở hai cột bằng nhau thì trong trường hợp học viên biết được hầu hết cáccâu hỏi ngoại trừ một hai câu còn lại, học viên có thể đoán đúng được các câucòn lại ấy Muốn tránh sai lầm này, người soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm nêndành ở cột bên phải số lựa chọn nhiều hơn số câu hỏi ở cột bên trái
Cột câu hỏi cũng như cột lựa chọn quá dài, như thế học viên mất nhiều thì giờđọc và tìm câu tương ứng để cặp đôi Cứ mỗi câu hỏi họ lại phải đọc lại hết tất
cả các câu lựa chọn đã cho, trong đó có nhiều lựa chọn rõ ràng là không thíchhợp và thừa thãi
Kết luận: Loại trắc nghiệm khách quan có giá trị và tính tin cậy cao, nên đây là loại
thông dụng trong các phương pháp đánh giá, kiểm tra và thẩm định thành tích học tậpcủa học viên
2 Trắc nghiệm chủ quan.
Trang 18Trắc nghiệm chủ quan 3 loại trắc nghiệm thường dùng là: trắc nghiệm luận đề,trắc nghiệm câu trả lời tự do và trắc nghiệm điền khuyết Đây là loại trắc nghiệm màhọc viên được tự do trình bày tư tưởng của mình và người chấm bài phán đoán giá trịtheo với sự hiểu biết của mình Người chấm bài cũng có thể đặt ra tiêu chuẩn, ấn định
số điểm mỗi phần, nhưng phần lớn sự gia giảm số điểm là do họ toàn quyền ấn định.Việc hoạch định một bài trắc nghiệm chủ quan thật quan trọng đến chiều hướngcủa đề tài cho học viên, nghĩa là, nó cũng liên quan đến cách trả lời của học viên Trắcnghiệm chủ quan chỉ được coi là phương thức hợp lý và hiệu quả cho mục tiêu địnhsẵn, đồng thời liên quan tới nội dung học viên có thể biết hay đã học
Định mục tiêu: Đặt lại vấn đề mục tiêu của trắc nghiệm trước khi soạn đề tài trắc
nghiệm luận đề rất quan trọng Các mục tiêu của loại trắc nghiệm luận đề như sau:Khả năng ghi nhớ số dữ kiện đã học; Khả năng suy luận; Khả năng sáng tạo, trìnhbày, tổ chức tư tưởng; Khả năng so sánh, diễn đạt các tài liệu; Các mục tiêu còn tuỳthuộc theo trình độ học viên, người soạn đề thi trắc nghiệm cần biết mỗi chươngtrình đào tạo có những mục tiêu nào là chính yếu và mục tiêu nào kém quan trọnghơn
Định nội dung: Thường thường các vấn đề đòi hỏi học viên trả lời quá rộng rãi,
điều này gây khó khăn cho học viên khi làm bài và đồng thời gây khó khăn chongười chấm bài Vì vậy, trước khi soạn đề thi, người soạn đề thi trắc nghiệm nên xácđịnh nội dung mình sẽ đặt ra cho học viên Để có thể hợp lý và chắc chắn, ngườisoạn cần phải ấn định nội dung mà đề thi phải bao quát
Đối với trắc nghiệm chủ quan, nội dung liên quan đến sự quyết định loại trắcnghiệm sử dụng Nếu như người soạn đề thi trắc nghiệm chỉ muốn hỏi khả năng ghinhớ dữ kiện, thì nên dùng loại trắc nghiệm câu trả lời ngắn (short answer types) hayloại điền khuyết (completion types) - câu hỏi có chỗ trống để học viên trả lời hay điềnvào - để thay thế loại câu hỏi luận đề (essay types) đòi hỏi học viên phải nhớ cả phần
bố cục (dàn bài)
Là loại trắc nghiệm có hình thức chủ quan nhất Với loại này học viên trả lời bằngcách hành văn, tổ chức tư tưởng, suy luận… để chứng minh khả năng mình Đó chính
là khả năng của học viên Nếu khéo hoạch định, loại trắc nghiệm luận đề sẽ là cách đolường thể hiện được sự thông minh của học viên Trắc nghiệm luận đề rất thích hợpcho việc xác định xem học viên có biết xắp đặt sự hiểu biết, trình bày lý lẽ và hiểu biếtcủa học viên
Những ưu và nhược điểm của phương pháp trắc nghiệm luận đề
Ưu điểm:
Học viên phải sắp đặt tư tưởng và lo liệu mọi câu trả lời
Khuyến khích sáng tạo, có tính cách độc đáo Học viên phải sắp đặt tư tưởng
và diễn tả tư tưởng theo cách riêng của mình Học viên được dịp biểu lộ cánhân
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 19 Tạo điều kiện học tập đứng đắn, nghĩa là học tập những tương quan, suy luận,trình bày, phán đoán, chứ không phải chỉ có ký ức.
Sát với sinh hoạt thực tiễn, tức là phản ảnh theo hoàn cảnh, ý nghĩa cho cuộcsống
Soạn thảo dễ dàng
Giảm bớt sự gian lận vì mỗi người có thể trả lời theo cách riêng của mình.Nhược điểm:
Thiếu khách quan, vì có nhiều cách trả lời nên người chấm khó đồng đều trong
sự phê phán nên ảnh hưởng sự cho điểm
Ít chắc chắn và giá trị Học viên phải trả lời đầy đủ (bề sâu) của đề tài nênnhững tiêu chuẩn để thẩm định khó thiết lập đầy đủ
Khuyến khích sự mập mờ Nhiều học viên chỉ biết mập mờ, nhưng cũng cốgắng trả lời nên giáo viên chấm bài phải sáng suốt nhận ra Ngoài ra, nhữngyếu tố như chữ viết, văn phạm, … là những yếu tố mập mờ, vì bài trắc nghiệmkhông có ý thẩm định phương diện này
Đòi hỏi quá đáng thì giờ học viên Vấn đề sắp đặt nội dung và diễn đạt tưtưởng quả là phí thời giờ Một khi để ý đến diễn tả và tố chức tư tưởng thìkhông đủ thời giờ bao quát đề tài
Tùy theo mục tiêu loại trắc nghiệm luận đề có 2 hình thức:
- Loại câu hỏi không hạn chế hay loại luận đề chính thức: loại này nhấn mạnhđến khía cạnh và phạm vi sự hiểu biết và tự do diễn tả, suy luận, phê bình củachính học viên Loại này có nhược điểm là khó đo lường được sự chắc chắn
- Loại câu hỏi hạn chế hay câu hỏi ngắn: loại này đặc biệt để ý đến tin tức, tàiliệu được tổ chức một cách đàng hoàng Cũng có thể nhắm vào chiều sâu sựhiểu biết và sự hợp lý Học viên không trả lời dài dòng mà phải trả lời thẳng vàocâu hỏi người chấm đề thi trắc nghiệm dễ dàng đánh giá phần trả lời của họcviên
Kỹ thuật soạn thảo đề thi trắc nghiệm luận đề
Khi thảo đề tài trắc nghiệm luận đề, người soạn đề thi trắc nghiệm chủ quan dạngnày nên để ý đến các điểm sau đây:
soạn một dàn bài đầy đủ chỉ rõ những điểm chính và mục tiêu của mỗi điểmchính đó Dàn bài phải kết hợp được với chương trình học
tiêu Dàn bài bao giờ cũng quan trọng hơn nội dung giảng dạy, vì nội dung chỉ
là phương tiện để đạt đến mục tiêu
Trang 203.Xác định sự phân minh của suy luận và diễn tả trắc nghiệm luận đề là phươngtiện hiệu nghiệm xác định mức độ phân minh của suy luận và diễn tả, sự sắpđặt đề tài và tư tưởng, nhưng không xác định rõ được sự hiểu thấu đề tài haynăng lực học viên trong những đơn vị học tập rộng rãi.
cách nào”, ”với những hậu quả nào”, … Đừng chép nguyên văn một đề tàitrong sách giáo khao Nên đổi lại câu văn nếu muốn dùng câu văn trong sách.Nên đặt câu hỏi cách nào để học viên trả lời theo ý của người soạn đề thi
đề không hạn chế là một giờ, thời gian tối đa cho câu hỏi ngắn là 15 hay 20phút Phải cẩn thận để cho học viên có đủ thời gian làm các câu hỏi Đừng cho
dư thời gian
như vậy, họ có điểm bằng học viên có thể trả lời tất cả các câu hỏi
thi thố tài năng Bài trắc nghiệm luận đề nên gồm cả những câu hỏi dễ cho họcviên kém và câu hỏi khó cho học viên xuất sắc
Phương thức để chấm điểm bài trắc nghiệm luận đề
thang điểm, liệt kê những điểm đặc biệt mà học viên phải biết và ghi điểm chomỗi mục Có thể ghi thêm số ý chính, và số điểm của mỗi ý
bài làm và rọc phách
xếp làm 5 nhóm (xuất sắc, trên trung bình, trung bình, dưới trung bình, kém).Rồi bắt đầu chấm từng bài trong một nhóm Người chấm bài thi cũng có thểlinh động cho một bài lên nhóm trên hay nhóm dưới
phương pháp, cùng cách định điểm hay cách xếp vào một nhóm Người chấmbài thi cũng không nên để thời gian chấm những nhóm bài cách nhau quá xa.Nếu hai, ba ngày sau mới trở lại chấm tập bài đang chấm dở dang thì nên xemmột số nhiều bài đã chấm rồi để cho có liên tục
câu hỏi khác
viên, người chấm bài thi nên chọn những bài hay câu hỏi có điểm số cao nhấtnhư là những kiểu mẫu để đọc cho học viên khác biết
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 217.Vấn đề chủ quan trong việc chấm điểm bài trắc nghiệm luận đề khó tránh nổi.Người chấm bài thi nên cải tiến sự phán đoán và nhận xét của chính mình trướcnhất.
gọn (nếu bài trắc nghiệm không có mục tiêu chữ viết hay hành văn)
chấm bài
Loại này dễ soạn thảo và học viên chỉ cần trả lời thêm vào bên cạnh Nó cũng dễchấm Những điều kiện bắt buộc của thời gian và địa điểm thi thường cho phép ngườichấm bài dùng bài trắc nghiệm có những câu trắc nghiệm loại này
Những nhược điểm khi sử dụng loại trắc nghiệm câu trả lời ngắn
Sự tập trung trong bài trắc nghiệm một số sự kiện không liên hệ với nhau
Trắc nghiệm một số sự kiện rời rạc khiến người chấm bài không đo lường đượcnhiều mục tiêu quan trọng
Không phải mọi câu trắc nghiệm đều thích hợp với học viên và những câu nàyphải được xét đoán trước thích hợp hay không thích hợp
Hình thức
bằng một tiếng hay một câu ngắn Đó là hình thức câu hỏi trực tiếp
Kỹ thuật soạn thảo
Lựa chọn và xác định câu hỏi thế nào để cho học viên trả lời bằng một tiếnghay một câu ngắn
Lựa chọn và đặt câu loại trả lời ngắn làm sao để cho chỉ có một hay một số rất
ít câu trả lời
Là một dạng của loại trắc nghiệm câu trả lời ngắn Loại này đòi hỏi học viên phảinhớ những sự kiện đã học để điền vào chỗ trống thích hợp Học viên trả lời bằngcách viết chữ, ngày tháng hay vẽ thêm
Loại trắc nghiệm này có thể khảo sát về nhiều vấn đề trong nhiều môn học khácnhau Cũng vì thế, loại này có khả năng phân biệt hơn kém của học viên Các yếu
tố đoán mò do sự may rủi rất ít trong loại câu hỏi này Thông thường loại này chỉ
đo lường ký ức sự kiện và phải thật khéo léo mới có thể đo lường khả năng ápdụng kiến thức của học viên
Hình thức
Trang 22 Loại này có thể là những câu riêng biệt nhau hoặc một đoạn văn có nhiều câuliên tiếp nhau.
Trong một đoạn văn có nhiều câu hỏi liên tiếp và có chừa nhiều chỗ trống đểhọc viên điền vào Học viên muốn trả lời những chỗ trống sau phải dựa vàonhững chỗ trống trước
Kỹ thuật soạn thảo
Nên đặt những câu hay đoạn văn một cách rõ ràng, mạch lạc Tránh những câu
mơ hồ, vì như vậy học viên không hiểu và sẽ trả lời khác nhau rất xa
Trong một câu nên bỏ trống chữ ở gần cuối câu để học viên dễ hiểu câu hỏihơn
Trong câu hỏi nên bỏ trống những yếu tố chính hơn là những chi tiết vụn vặt,nghĩa là những chữ đó phải có ý nghĩa nhất trong câu Tuy nhiên, không nên
bỏ trống động từ, liên từ, tĩnh từ, trạng thái hay cả một mệnh đề
Không nên chép y nguyên một câu trong sách làm loại câu điền khuyết, vì nhưvậy học viên đã học câu đó sẽ điền vào một cách nhanh chóng và chắc chắn
Trong một câu không nên chừa trống quá 3 chữ Học viên chỉ trả lời được câunày khi học thuộc lòng cả câu Nên dùng một câu ngắn và để trống một chữchính yếu mà thôi
Mỗi chỗ trống, chỉ có một chữ thích hợp để điền vào Nếu có những chữ đồngnghĩa thì phải ghi những chữ này vào thang điểm của người chấm
Vì mỗi chỗ trống cho 1 điểm nên bề dài của các chỗ trống phải bằng nhau
Các hình vẽ phải rõ ràng và hỏi trên các phần của hình vẽ ấy
Kết luận: Qua cách chuẩn bị và cách soạn thảo các loại trắc nghiệm chủ quan,
giá trị đặc biệt của loại trắc nghiệm này vẫn còn giá trị Dù là tính chất chủ quan vẫnchiếm phần ưu thế, các loại trắc nghiệm trên tỏ ra rất quan trọng vì đo lường được ký
ức sự kiện, và đặc biệt loại trắc nghiệm luận đề đo lường được suy luận, phán đoán,sáng tạo… Ngày nay, dù là trắc nghiệm khách quan được tiêu chuẩn hoá và được phổbiến, nhưng qua một thời gian sử dụng, nhiều nhà soạn thảo trắc nghiệm cũng vẫn còn
ưa chuộng loại trắc nghiệm chủ quan Đây là bằng chứng cho thấy tính khả dụng củatrắc nghiệm chủ quan Sự cải tiến và soạn thảo công phu, các loại trắc nghiệm chủquan cũng là dụng cụ đo lường hữu ích trong giáo dục
Sự khác biệt và tương đồng giữa trắc nghiệm khách quan và chủ quan
Điểm khác biệt.
thảo câu trả lời và diễn tả nó bằng ngôn ngữ của chính mình Mặt khác, mộtcâu hỏi trắc nghiệm buộc học viên phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất trongmột số câu cho sẵn
Nhóm sinh viên thực hiện:
Trang 232. Một bài trắc nghiệm chủ quan gồm số câu hỏi tương đối ít có tính cách tổngquát, đòi hỏi học viên phải triển khai câu trả lời bằng lời lẽ dài dòng, trong khimột bài trắc nghiệm thường gồm nhiều câu hỏi có tính cách chuyên biệt chỉ đòihỏi những câu trả lời ngắn gọn.
gian để suy nghĩ và viết Mặt khác, trong khi làm một bài trắc nghiệm, học viênphải dùng nhiều thời giờ để đọc và suy nghĩ
của người soạn thảo bài trắc nghiệm ấy; ngược lại, chất lượng của một bài trắcnghiệm chủ quan phụ thuộc chủ yếu vào kỹ năng của người chấm bài
chấm và khó cho điểm chính xác, trong khi một bài trắc nghiệm thì khó soạnnhưng cho điểm tương đối dễ dàng và chính xác hơn
trong câu trả lời, và người chấm bài cũng có tự do cho điểm các câu trả lời theo
xu hướng riêng của mình Mặt khác, với một bài trắc nghiệm, người soạn thảo
có nhiều tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mình qua việc đặt các câu hỏi,nhưng chỉ cho học viên quyền tự do chứng tỏ mức độ hiểu biết của mình qua tỷ
lệ câu trả lời đúng
đó giám khảo thẩm định mức độ hoàn thành các nhiệm vụ ấy, được phát biểumột cách rõ ràng hơn là trong các bài trắc nghiệm luận đề
lại, một bài trắc nghiệm luận đề cho phép, và đôi khi khuyến khích sự ”lừaphỉnh” (chẳng hạn như bằng những ngôn từ hoa mỹ hay bằng cách đưa ranhững bằng chứng khó có thể xác định được)
một phần lớn do người chấm (ấn định điểm tối đa và tối thiểu) Ngược lại, vớibài trắc nghiệm khách quan thì phân bố điểm số học viên hầu như hoàn toànđược quyết định do bài trắc nghiệm
Điểm tương đồng.
hết mọi thành qủa học tập quan trọng mà một bài khảo sát bằng lối viết có thểkhảo sát được
được sử dụng để khuyến khích học viên học tập nhằm đạt đến mục tiêu: hiểubiết các nguyên lý, tổ chức và phối hợp các ý tưởng, ứng dụng kiến thức trongviệc giải quyết các vấn đề