1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển giao công nghệ tại việt nam

38 314 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 205 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Công nghệ có hàm lượng tri thức cao Knowledge intensive: phần mềm, công nghệ sinh học… 1.1.3.Xu hướng phát triển công nghệ thế giới hiện nay Hiện nay, trên thế giới theo OECD, những n

Trang 1

nỗ lực cố gắng của đội ngũ cán bộ KH- CN trong cả nước, tiềm lực KH- CN đã được tăng cường, KH- CN đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế-

xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh Tuy nhiên trình độ KH- CN của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực, năng lực sáng tạo công nghệ mới còn hạn chế, chưa đáp ứng được sự nghiệp CNH- HĐH đất nước KH- CN nước ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu ngày càng xa trước xu thế phát triển mạnh mẽ của KH- CN và kinh tế tri thức thế giới Điều này đòi hỏi KH-

CN phải góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển KT- XH của đất nước Để nâng cao trình độ KH- CN trong nước đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao công nghệ hiện đại tiên tiến vào Việt Nam, và ứng dụng nhanh và có hiệu quả các kết quả nghiên cứu của chính chúng ta ở trong nước hay nói cách khác là chúng ta phải nâng cao hiệu quả hoạt động chuyển giao công nghệ

ở Việt Nam Điều này có ý nghĩa quan trọng nhằm hiện đại hoá sản xuất và quản lý kinh tế-xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững

Đề án này đi vào nghiên cứu những lý luận chung nhất về công nghệ vag CGCN trên cơ sở kết hợp phân tích đánh giá thực trạng về công nghệ và CGCN cũng như các điều kiện thực tế của Việt Nam từ đó đi đến xây dựng một hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CGCN ở Việt Nam Ngoài lời nói đầu và kết luận đề án được chia làm 3 phần:

Phần I: Tổng quan về công nghệ và chuyển giao công nghệ

Phần II: Thực trạng CGCN ở Việt Nam.

Phần III: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động CGCN ở Việt Nam

Trang 2

Qua đây, em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ Lương Thu Hà, người đã tận tình hướng dẫn em trong việc hoàn thành Đề án này.

* * *

Trang 3

Phần I/ Tổng quan về công nghệ và chuyển giao công nghệ

1.1.Công nghệ

1.1.1.Khái niệm công nghệ

Có nhiều định nghĩa khác nhau về công nghệ

* CN theo cách hiểu củacác nhà khoa học thì công nghệ là hệ thống các giải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các tri thức khoa học để giải quyết một vấn đề thực tiễn

* Theo các nhà quản lý và các nhà kinh tế học nói một cách tổng quát công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật chấthoặc chế biến thông tin nhằm biến đổi các nguồn lực tự nhiên thành các nguồn lực sử dụng

* Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc UNIDO (United Nations Industrial Development Orgnization) công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghệ bằng cách sử dụng những nghiên cứu và xử lý có hệ thống và có phương pháp

* Theo Uỷ ban Kinh tế và Xã hội châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia – Pacific - ESCAP) công nghệ bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong sản xuất, chế tạo hoặc dịch

vụ công nghiệp, dịch vụ quản lý, công nghệ luôn luôn gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp Định nghĩa này đã được mở rộng khái niệm ứng dụng của công nghệ vào các lĩnh vực quản lý và dịch vụ Định nghĩa này được áp dụng rộng rãi, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của quan niệm về công nghệ

Mỗi định nghĩa đề cập đến công nghệ ở những phương diện khác nhau nhưng có điểm thống nhất chung, công nghệ là tổng hợp các phương pháp, công cụ

và phương tiện dựa trên cơ sở vận dụng các tri thức khoa học vào sản xuất và đời sống để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu vật chất- tinh thần của con người

Như chúng ta đã biết, khoa học và công nghệ khác nhau về bản chất mặc dù

có quan hệ ngày càng mật thiết Khoa học nhằm đạt đến sự tiến bộ của nhận thức

Trang 4

trong khi đó công nghệ áp dụng nhận thức nhằm tìm cách biến đổi thực tại Khoa học thường gắn với các khám phá, công nghệ gắn với các hàng hoá dịch vụ Công nghệ luôn là loại hàng hoá vô hình được mua bán trên thị trường thông qua hoạt động chuyển giao công nghệ.

Công nghệ gồm 4 thành phần cơ bản, tác động đồng bộ qua lại với nhau để tạo ra bất kỳ một sự biến đổi mong muốn nào:

•Công cụ, máy móc thiết bị, vật liệu

•Thông tin, phương pháp, quy trình, bí quyết

•Tổ chức, thể hiện trong thiết kế tổ chức, liên kết, phối hợp, quản lý các bộ phận trong hệ thống

•Con người được đào tạo chuyên môn, có kinh nghiệm và kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp

Bộ phận đầu được coi là “phần cứng”, ba bộ phận sau được gọi là “phần mềm” của công nghệ

1.1.2.Phân loại công nghệ

*Căn cứ vào mức độ tiên tiến của công nghệ chia làm 3 loại công nghệ chính:

• Công nghệ cao

•Công nghệ thường

•Công nghệ thấp

Những tiêu chí đối với một công nghệ cao (CNC) là:

→ Tiêu hao một lượng lớn về chi phí (R&D) công nghệ

→Áp dụng những giải pháp hoặc kiến thức khoa học mới nhất, sử dụng nhiều phát minh sáng chế mới

→ Trình độ tự động hoá cao

→Vận dụng phức hợp nhiều giải pháp công nghệ

Trang 5

→Có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghệ khác.Tuy nhiên, khái niệm CNC chỉ có ý nghĩa tương đối, khái niệm này biến đổi theo thời gian, và được hiểu không giống nhau ở các nước có trình độ công nghệ khác nhau.

*Căn cứ vào mức độ hàm lượng các nguồn lực trong công nghệ : Chia ra làm 3 loại công nghệ chính là:

- Công nghệ có hàm lượng lao động cao (Labour intensive): may mặc, dệt, lắp ráp

- Công nghệ có hàm lượng vốn cao (Capital intensive): đóng tàu cơ khí, khai khoáng

- Công nghệ có hàm lượng tri thức cao (Knowledge intensive): phần mềm, công nghệ sinh học…

1.1.3.Xu hướng phát triển công nghệ thế giới hiện nay

Hiện nay, trên thế giới theo OECD, những ngành mũi nhọn CNC đang được phát triển mạnh mẽ ở những nước công nghiệp như Mỹ, Nhật, EU và đặc biệt các nước công nghiệp mới (NICs) ở châu Á; đó là những ngành công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ gia công chính xác trong chế tạo máy, tự động hoá, năng lượng mới, công nghệ hàng không vũ trụ,… Đây là những ngành thể hiện những xu thế phát triển chủ yếu hiện nay của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thế giới.Nhờ những thành tựu to lớn của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin - truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, v.v ,

xã hội loài người đang trong quá trình chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế dựa vào tri thức, mở ra cơ hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình CNH-HĐH

Cuộc cách mạng KH&CN trên thế giới tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng nhanh, có khả năng tạo ra những thành tựu mang tính đột phá, khó dự báo trước và có ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội loài người Khoa học

và công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hàng đầu Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN Lợi thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng hơn Vai trò của

Trang 6

nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, có năng lực sáng tạo, ngày càng có ý nghĩa quyết định trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế Tổ chức hoạt động khoa học tính sáng tạo sẽ là nền tảng của sự phát triển thịnh vượng và giàu có của mỗi quốc gia và

xã hội

Thời gian đưa kết quả nghiên cứu vào áp dụng và vòng đời công nghệ ngày càng rút ngắn Lợi thế cạnh tranh đang thuộc về các doanh nghiệp biết lợi dụng các công nghệ mới để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của khách hàng Với tiềm lực hùng mạnh về tài chính và KH&CN, các công ty xuyên quốc gia, đa quốc gia đang nắm giữ và chi phối thị trường các công nghệ tiên tiến Để thích ứng với bối cảnh trên, các nước phát triển đang điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh các ngành công nghiệp và dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, công nghệ thân môi trường; đẩy mạnh chuyển giao những công nghệ tiêu tốn nhiều nguyên liệu, năng lượng, gây ô nhiễm cho các nước đang phát triển Nhiều nước đang phát triển dành ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực KH&CN trình độ cao, tăng mức đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ, nhất

là một số hướng công nghệ cao chọn lọc; tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin - truyền thông; nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và thu hẹp khoảng cách phát triển

1.2.Nội dung và hình thức của chuyển giao công nghệ

1.2.1.Khái niệm chuyển giao công nghệ (CGCN)

CGCN là hoạt động nhằm đưa công nghệ tiên tiến, công nghệ hiện đại vào sản xuất thông qua việc áp dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất hoặc có thể là áp dụng một công nghệ đã hoàn thiện từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác

Thực chất của CGCN là sự mua bán công nghệ và là quá trình đào tạo, huấn luyện để sử dụng công nghệ được tiếp nhận

Theo pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ quốc hội ban hành ngày 10/12/1988 những hoạt động được coi là CGCN:

•Chuyển giao quyền sở hữu sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác

•Chuyển giao các bí quyết hoặc tiêu thức kỹ thuật, chuyên môn dưới dạng phương án công nghệ

Trang 7

•Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ tư vấn công nghệ, kể cả đào tạo và thông tin sau khi chuyển giao.

Trong nền kinh tế thị trường, công nghệ luôn được coi là hàng hoá, mà đã là hàng hoá thì tất yếu sẽ có mua và bán, trao đổi và có thị trường tiêu thụ hàng hoá

đó Việc mua và bán đó được gọi chung bằng thuật ngữ CGCN, như vậy 4 yếu tố cấu thành CGCN chính là máy móc (machine), thị trường (market), quản lý (management), tiền (money) gọi tắt là 4 M CGCN được hiểu đơn giản là mang kiến thức kỹ thuật vượt qua một giới hạn trong hay ngoài nước Thực ra CGCN là việc tiếp nhận công nghệ nước ngoài và là quá trình vật lý, trí tuệ, một quá trình đi tìm kiếm với việc huấn luyện toàn diện của một bên về sự hiểu biết học hỏi của một bên khác

Bên bán là:” bên giao công nghệ” là một bên gồm một hay nhiều tổ chức kinh tế, khoa học, công nghệ và tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc cá nhân ở nước ngoài có công nghệ chuyển giao vào nước khác Do xuất phát từ nhu cầu đổi mới và cải tiến công nghệ của các nước chủ công nghệ, các nước thường xuyên chuyển giao công nghệ và thiết bị đã bắt đầu bão hoà trên thị trường chứ không phải chuyển giao công nghệ mới nhất

“Bên nhận công nghệ” là một hay nhiều tổ chức kinh tế, khoa học, công nghệ khác nhau có tư cách pháp nhân hay cá nhân tiếp nhận công nghệ Bên mua công nghệ phải có thông tin, có hiểu biết, có nghiệp vụ kỹ năng cần thiết, mặt khác cũng cần định hướng, hỗ trợ của các cấp quản lý và sự phối hợp của các doanh nghiệp cùng ngành nghề Trong xu thế thời đại ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển như

vũ bão, công nghệ liên tục được cải tiến và đổi mới Do đó, CGCN góp vốn bằng công nghệ thực chất là một cuộc mua bán, xuất nhập hàng hoá đặc biệt, có những yếu tố lượng hoá được, có những yếu tố không thể lượng hoá được, có những ảnh hưởng trực tiếp của tương lai Tuy nhiên, theo thông lệ quốc tế, hai bên “mua” và

“bán” công nghệ bị ràng buộc lẫn nhau bằng hợp đồng CGCN Trong hợp đồng CGCN, việc xác định giá cả và phương thức thanh toán hết sức quan trọng Cần được xem xét và tiếp nhận một cách có hệ thống Việc nhận dạng đánh giá và phân tích công nghệ phải được đặt trong tổng thể: Phân tích thị trường, phân tích tài chính và kinh tế của dự án Chỉ có như vậy mới đánh giá được công nghệ một cách hợp lý, bảo đảm tính cạnh tranh và lợi nhuận cho dự án

Trang 8

1.2.2.Nội dung của CGCN và quá trình CGCN

CGCN bao gồm 5 nội dung sau:

Chuyển giao phần cứng sản xuất: bao hàm toàn bộ kiến thức được dùng trong sản xuất, thông thường gồm các vật liệu, sản phẩm hay máy móc thiết bị

Chuyển giao phần cứng tổ chức: gồm các thiết bị và phương tiện được dùng trong các hoạt động phi sản xuất ở trong và ngoài xí nghiệp

Chuyển giao tài liệu sản xuất: thường gồm 4 loại là: Patent, các bí quyết thiết kế, kế hoạch, các cẩm nang vận hành, các tiêu chuẩn sản xuất

Chuyển giao tài liệu tổ chức: đó là tài liệu dùng cho quản lý, bao gồm các điều luật để vận hành xí nghiệp, quản lý chất lượng, quản lý nhân sự, kiểm soát tài chính

Chuyển giao các kỹ năng sản xuất: chính là chuyển giao các phần mềm sản xuất Phần mềm sản xuất là các kinh nghiệm và kỹ năng được tích luỹ và sử dụng trong quy trình sản xuất đó

Quá trình tổ chức thực hiện CGCN của một doanh nghiệp được tiến hành theo nội dung và trình tự chủ yếu sau:

Bước 1: Chuẩn bị chuyển giao công nghệ

Đây là giai đoạn tiến hành các công việc để chính xác hoá và cụ thể hoá vấn

đề lựa chọn công nghệ dự định sẽ chuyển giao Đàm phán, xây dựng và ký kết hợp đồng CGCN là nội dung quan trọng của chuẩn bị CGCN Mặc dù trong từng loại hợp đồng có các điều khoản được quy định chi tiết cụ thể khác nhau, nhưng nội dung cơ bản của hợp đồng bao gồm các khoản sau:

+ Tên, địa chỉ bên giao bên nhận: tên, chức vụ người đại diện ký hợp đồng.+ Những khái niệm được sử dụng trong hợp đồng mà 2 bên thoả thuận

+ Đối tượng được chuyển giao công nghệ

+ Giá cả, điều kiện và phương thức thanh toán

+ Thời gian, tiến độ và địa điểm cung ứng công nghệ

Trang 9

+ Những cam kết của bên giao và bên nhận công nghệ về chất lượng công nghệ, độ tin cậy, thời gian bảo hành, phạm vi và bí mật công nghệ.

+ Chương trình đào tạo kỹ thuật và quản lý vận hành công nghệ

+ Thời gian có hiệu lực của hợp đồng và các điều kiện liên quan đến việc 2 bên mong muốn sửa đổi thời hạn hoặc kết thúc hợp đồng

+ Các vấn đề liên quan đến các tranh chấp phát sinh trong hợp đồng

Bước 2: Chuẩn y hợp đồng CGCN: hợp đồng CGCN của chủ đầu tư được

cấp có thẩm quyền trong hệ thống quản lý công nghiệp chuẩn y

Bước 3: Thực hiện hợp đồng CGCN.

Bước 4: Phát triển các hoạt động tư vấn, dịch vụ CGCN Đây là chất xúc tác,

hỗ trợ cho các bên mua và bên bán tìm đến nhau một cách thuận lợi nhất để ký kết

hợp đồng.[1] Giáo trình Kinh tế và quản lý công nghiệp,nxb Đại học kinh tế Quốc dân, 5/2007.

Các công nghệ được khuyến khích chuyển giao là công nghệ cao, công nghệ tiên tiến (như đã định nghĩa ở trên) đáp ứng một trong các yêu cầu sau đây:

• Tạo ra sản phẩm mới có tính cạnh tranh cao

• Tạo ra ngành Công nghiệp, Dịch vụ mới

• Tiết kiệm năng lượng, nguyên liệu

• Sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo

• Bảo vệ sức khoẻ con người

• Phòng chống thiên tai dịch bệnh

• Sản xuất sạch, thân thiện với môi trường

• Phát triển ngành nghề truyền thống.[2] Luật Chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 ngày 29/11/2006.

1.2.3 Các hình thức của CGCN

Chuyển giao công nghệ được thực hiện dưới các hình thức sau:

Trang 10

• CGCN có kèm theo hợp đồng licences: Người sở hữu chuyển giao công nghệ bằng cách nhượng lại cho người khác sử dụng quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế được cấp bằng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá).

• CGCN không kèm theo hợp đồng licences

• CGCN có kèm theo đầu tư tư bản: Các nước tư bản phát triển, hoặc các nước đang phát triển sẽ chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển thông qua đầu tư trực tiếp Nó được thực hiện thông qua:

+ Các công ty đa quốc gia đặt chi nhánh tại các nước đang phát triển

+ Lập xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, xây dựng xí nghiệp vốn nước ngoài 100%

+ Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng (nước chuyển giao công nghệ máy móc thiết bị cho nước sản xuất sản phẩm sử dụng)

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức có hiệu quả đối với cả bên bán và bên mua (bên nhận) công nghệ Đối với bên bán công nghệ, đầu tư trực tiếp sẽ thu được khoản lợi nhuận bằng cách tận dụng công nghệ không còn khả năng cạnh tranh ở trong nước, mở ra cơ hội thâm nhập vào các thị trường có hàng rào bảo hộ Đối với nước mua công nghệ, đầu tư trực tiếp sẽ vừa thu hút được vốn đầu tư, vừa

có công nghệ tiên tiến, vừa dựa vào công ty nước ngoài, đặc biệt là các công ty xuyên quốc gia, để mở rộng thị trường nhận được sự bảo trợ của công ty nước ngoài

• CGCN qua các hình thức: hội thảo khoa học, trao đổi thông tin, hoạt động của người Việt Nam định cư ở nước ngoài…

Bên cạnh đó ta còn có các luồng CGCN:

•CGCN từ nước ngoài vào Việt Nam: đây là con đường ngắn nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và là hoạt động đổi mới công nghệ chủ yếu của các DN Việt Nam

•CGCN tại Việt Nam: hoạt động này vẫn đang diễn ra nhưng còn nhiều hạn chế

Trang 11

•CGCN từ VN ra nước ngoài: do trình độ công nghệ của VN còn lạc hậu so với các nước trên thế giới nên hoạt động này gần như là không diễn ra ở nước ta.

Kết hợp du nhập công nghệ nước ngoài và công nghệ nội sinh là con đường ngắn nhất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế CGCN từ nước ngoài vào trong nước và phát triển công nghệ nội sinh có tác động qua lại hữu cơ với nhau Công nghệ nhập ngoại sẽ có vai trò thúc đẩy và dẫn dắt hỗ trợ phát triển công nghệ nội sinh Công nghệ nội sinh có vai trò làm tăng năng lực hấp thụ công nghệ nước ngoài, sử dụng công nghệ đó đạt hiệu quả cao nhất Tuy nhiên cả 2 nguồn công nghệ ngoại nhập và nội sinh chỉ thực sự đem lại hiệu quả nếu như chúng ta có một sự bố trí kết hợp khai thác 2 nguồn công nghệ này một cách thích hợp Nếu không, 2 nguồn công nghệ này sẽ không thể thúc đẩy nhau phát triển thậm chí triệt tiêu lẫn nhau theo chiều hướng tiêu cực

Có 2 kênh (nguồn) chuyển giao công nghệ là:

Chuyển giao dọc là hình thức chuyển giao từ nghiên cứu sang sản xuất Hình thức chuyển giao này có thể mang đến cho người sản xuất một công nghệ hoàn toàn mới nhưng độ rủi ro, mạo hiểm cao

Chuyển giao ngang là hình thức chuyển giao những công nghệ đã được hoàn thiện từ nước này sang nước khác, từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác Hình thức chuyển giao này tuy không mạo hiểm và có độ tin cậy cao, nhưng bên nhận công nghệ thường phải chấp nhận công nghệ dưới tầm

1.3.Vai trò hoạt động chuyển giao công nghệ

1.3.1 Tính tất yếu của hoạt động CGCN

Chuyển giao công nghệ là con đường tất yếu để không ngừng đổi mới, nâng cao trình độ lực lượng sản xuất Trong thời đại ngày nay, KH-CN đang phát triển với một tốc độ như vũ bão, là động lực trực tiếp thúc đẩy lực lượng sản xuất mỗi quốc gia phát triển Chính sự phát triển kỳ diệu của cuộc Cách mạng KH-CN hiện đại đang tác động sâu sắc đến mọi mặt kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Sự phát triển ở mỗi quốc gia dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển cũng như chậm phát triển không thể nằm ngoài xu thế phát triển của KH-CN Mỗi một trình độ KH-

CN nhất định tạo ra một nền sản xuất tương ứng, song cái đích phát triển của mỗi quốc gia đều hướng tới sự giàu có phồn vinh, không ngừng nâng cao trình độ KH-

Trang 12

CN của nước mình Tuy nhiên luôn có sự chênh lệch về trình độ KH-CN giữa các quốc gia bởi quy luật phát triển không đều tạo ra Vì vậy dù là nước tư bản phát triển hay các nước đang và chậm phát triển đều phải học hỏi tiếp thu công nghệ của nước ngoài thông qua con đường CGCN để rút ngắn khoảng cách về trình độ khoa học công nghệ của nước mình so với các nước khác, cũng như phát huy triệt để lợi thế của người đi sau.

CGCN là con đường tất yếu để mỗi quốc gia giải quyết tốt các vấn đề khoa học nằm ngoài khả năng của mình Do nhu cầu thực tế sản xuất đặt ra, cũng như các vấn đề có liên quan đến đời sống hàng ngày của mỗi dân tộc mỗi quốc gia đang gặp phải vô cùng rộng lớn, mà bản thân nền khoa học và công nghệ của các quốc gia riêng rẽ không có thể tự mình giải quyết mọi vấn đề đó, do vậy việc hợp tác trong nghiên cứu khoa học, cũng như CGCN giữa các quốc gia là tất yếu

CGCN là cần thiết để mỗi quốc gia phát huy triệt để lợi thế so sánh tương đối của mình Ngày nay khi mà mỗi quốc gia đã ý thức được rằng, nguồn tài nguyên của mỗi quốc gia là có hạn, cũng như mỗi nước chỉ có những lợi thế so sánh tương đối trong sản xuất một số lĩnh vực cụ thể, do vậy họ luôn luôn tìm tòi con đường KH-CN tiên tiến và hợp lý nhất để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên của quốc gia mình, cũng như tăng tính cạnh tranh về lợi thế so sánh tương đối của mình, trong đó con đường CGCN từ nước ngoài luôn được các quốc gia cân nhắc tới

CGCN là con đường cần thiết để các công ty tăng năng lực cạnh tranh, đồng thời tránh hàng rào bảo hộ kỹ thuật ngày càng tinh vi trên các thị trường Cùng với

xu hướng phát triển mạnh mẽ của thương mại thế giới, thì sự cạnh tranh giữa các tập đoàn, các công ty diễn ra ngày càng khốc liệt, cũng như sự bảo hộ của các thị trường dân tộc và khu vực ngày càng tinh vi hơn Đứng trước xu thế đó, các công

ty, các tập đoàn, các quốc gia phải tính đến khả năng đầu tư nước ngoài và CGCN Đối với các nước đang và chậm phát triển thì việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài và CGCN từ nước ngoài sẽ giúp họ nâng cao năng lực sản xuất và năng lực cạnh tranh của hãng, và việc đầu tư cho nghiên cứu phát triển KH-CN,ứng dụng những thành tựu trong lĩnh vực này vào sản xuất sẽ giúp họ phát huy được năng lực nội sinh của quốc gia mình, giảm được sự phụ thuộc vào các nước tư bản phát triển Với các nước phát triển, các công ty, các tập đoàn họ luôn xác định rằng việc khai thác các thị trường tiềm năng ở nước ngoài bằng cách chuyển các kỹ thuật cơ bản, bí quyết

Trang 13

chế tạo và thiết bị sản xuất ra nước ngoài, và tiến hành sản xuất ngay tại nước nhận CGCN với mức giá thành rẻ do tận dụng được chi phí nhân công và nguyên vật liệu

rẻ song tạo ra hàng hoá có chất lượng cao hơn hẳn các sản phẩm bản địa, giúp họ vừa có thể cạnh tranh với hàng hoá của nước bản địa, vừa tránh được hàng rào bảo

hộ của nước bản địa Việc di chuyển các cơ sở sản xuất cũng như CGCN ra nước ngoài, chính là việc tạo nguồn hàng xuất khẩu sang nước thứ 3, cạnh tranh với hàng hoá của đối thủ khác trên thị trường các nước thứ 3, cũng như ngay trên thị trường tại khu vực mà tập đoàn tiến hành CGCN và sản xuất Sự kết hợp giữa tính ưu việt

về công nghệ cao của các nước phát triển với lợi thế so sánh về giá thành các yếu tố sản xuất do việc sản xuất ở nước ngoài và sự quản lý chặt chẽ hiệu quả của các công

ty tập đoàn đã đem lại cho hàng hoá của các công ty một sức cạnh tranh cao trên thị trường

Qua các cách nhìn nhận khác nhau về CGCN, chúng ta đã thấy được tính tất yếu của CGCN trong thời đại ngày nay Một khi mà sự chênh lệch về trình độ công nghệ và mức sống giữa các quốc gia, các khu vực khác nhau trên thế giới còn tồn tại thì CGCN còn tồn tại

1.3.2.Vai trò của CGCN với nền kinh tế và doanh nghiệp

Năng lực công nghệ của mỗi công ty, mỗi quốc gia không tự nhiên mà có,

mà là quá trình tích luỹ sàng lọc và không ngừng đào thải Thật vậy, đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, thì công nghệ luôn là đối tượng nghiên cứu phân tích để lý giải những thành bại của doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác, luôn là yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh trên thị trường của mỗi doanh nghiệp

Đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển,CGCN sẽ mang lại cho các nước này những lợi ích cơ bản như:

- Thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài kèm theo chuyển giao công nghệ

- Tiết kiệm được chi phí lớn về R & D

- Tiếp cận và sử dụng được ngay những công nghệ tiên tiến hơn những công nghệ đang hiện có

- Khai thác và sử dụng hữu hiệu nguyên vật liệu trong nước

Trang 14

- Tạo công ăn việc làm chongười lao động có trình độ cao.

- Thay thế nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu nhập ngoại tệ

Trong đó CGCN quốc tế là cơ hội quý hiếm không những giúp cho các nước phát triển không ngừng cách tân để tạo cho mình công nghệ tiên tiến nhất, mà nó còn giúp cho các nước đang và chậm phát triển có được công nghệ cần thiết mà tiết kiệm được chi phí và thời gian CGCN quốc tế đã và đang tạo cho các nước đang và chậm phát triển những lợi thế cạnh tranh tương đối bền vững trong một khoảng thời gian nhất định trên thị trường thế giới về một số sản phẩm đặc trưng của mình (theo lợi thế so sánh) trên cơ sở đó có thể đạt được sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao

và từng bước nâng cao mức sống của nhân dân Cho dù trình độ công nghệ của các nước đangvà chậm phát triển chỉ đang ở giai đoạn đầu CNH-HĐH thấp hơn nhiều

so với các nước công nghiệp phát triển nhưng nếu có chính sách nhập khẩu công nghệ “thích hợp”, khai thác triệt để lợi thế “của kẻ đi sau”, tích cực tham gia vào phân công lao động quốc tế cũng như có chính sách ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo giáo dục, nghiên cứu và triển khai, thì chắc chắn dần dần sẽ khắc phục được

“nguy cơ tụt hậu” về công nghệ so với các nước công nghiệp phát triển

Trang 15

Phần II/ Thực trạng chuyển giao công nghệ ở Việt Nam

2.1 Thực trạng nền KH-CN ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Thực trạng công nghệ VN hiện nay

Theo Tổng cục Thống kê năm 2003, chỉ có 8% số doanh nghiệp ở Việt Nam

có công nghệ tiên tiến, 75% có công nghệ trung bình và lạc hậu Còn theo số liệu của Bộ KH-CN qua khảo sát nhiều doanh nghiệp thuộc 7 ngành thì máy móc thiết

bị dây chuyền của VN lạc hậu so với thế giới từ 10-20 năm, mức độ hao mòn hữu hình từ 30%-50%, thậm chí 38% số nhà máy ở dạng thanh lý, 52% đã qua bảo

dưỡng sửa chữa.[3]Việtbáo.vn – 2004.

Còn theo chỉ số cạnh tranh toàn cầu năm 2008-2009, Việt Nam xếp thứ 70/134 quốc gia Mức độ sẵn sàng về công nghệ chỉ được 3,1 điểm trên thang điểm

7 Mức hấp thụ công nghệ của công ty xếp hạng 54, đầu tư trực tiếp nước ngoài và

chuyển giao công nghệ xếp thứ 57.[4] Chinhphu.vn

Thông tin từ Bộ Khoa học và công nghệ cho biết: Phần lớn các doanh nghiệp nước ta đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế

hệ 80-90% công nghệ nước ta sử dụng là công nghệ ngoại nhập Có 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ 1960-1970, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang Tính chung cho các DN, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, mức trung bình 38%, lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 52% Đặc biệt ở khu vực sản xuất nhỏ, thiết bị ở mức lạc hậu và rất lạc hậu chiếm 70% Trong khi đó các DN Việt Nam đầu tư đổi mới công nghệ ở mức rất thấp, tính ra chi phí chỉ khoảng 0,2-0,3% doanh thu Con số này ở Ấn Độ là 5%, Hàn Quốc là 10% Đánh giá của Bộ Khoa học và Công nghệ thì năng lực đổi mới công nghệ là “loại năng lực yếu nhất” của các DN Việt Nam Điều đó có thể nhận thấy ngay được là phần lớn công nghệ của ta tụt hậu ngay từ đầu, từ lúc mua sắm dây chuyền “thiết bị mới” Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu thông tin nên không biết công nghệ nào là tiên tiến Chẳng hạn: Tổng tiêu hao năng lượng để sản xuất 1 tấn NH3 của nhà máy phân đạm Bắc Giang lên tới 61,94 GJ (đơn vị tính về tiêu hao năng lượng), trong khi một nhà máy khác của công ty hoá chất sử dụng than chỉ tốn từ 42,79 đến 43,86 GJ Chi phí điện của nhà máy xi măng Bỉm Sơn lên tới 6,16 USD/tấn, Hoàng Thạch là 3,87USD/tấn, trong khi một DN có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chỉ tốn 3,4USD/tấn, còn ở Thái lan chỉ là 2,49USD/tấn Năng suất lao động của công ty dệt Phước Long chỉ

Trang 16

đạt 10.390m vải/1 lao động/năm, trong khi một doanh nghiệp với dây chuyền sản xuất mới và hiệu quả nhất VN đạt 36.230m/lao động/năm thì vẫn còn thua xa mức bình quân ở Australia là 48.000m vải/lao động/năm Hiện nay trong đầu tư các DN chỉ chú ý đến thiết bị mà quên rằng công nghệ hàm chứa cả 4 yếu tố là: thiết bị, con người, thông tin và thiết chế 4 yếu tố này có đồng bộ thì mới phát huy được tác dụng của công nghệ Còn nếu chỉ chú trọng đến thiết bị thôi thì chưa thể coi là đổi mới công nghệ được Thiết bị chỉ đem cho DN từ 40-50% năng lực sản xuất Vì không thấy được các yếu tố phần mềm của công nghệ (thông tin, con người, thiết chế) cho nên các DN rất coi nhẹ chuyển giao công nghệ Hiện tại có tới 95% chuyển giao là do các công ty mẹ ở nước ngoài chuyển cho các công ty con đầu tư ở Việt Nam Các DN rất ít thuê chuyên gia kỹ thuật nước ngoài Đây chính là một cản trở rất lớn cho sự phát triển Hiện nay đa số các DN Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, năng lực tài chính có hạn Việc tiếp cận các nguồn vốn trung và dài hạn rất khó khăn vì phải thế chấp nhà và đất mà nói chung là họ không có, cho nên họ không dám mơ tưởng đến “đổi mới công nghệ” Ngoài ra thị trường công nghệ VN còn nhiều bất cập, 70% ý kiến các DN cho rằng luật lệ mua bán công nghệ không rõ ràng, nghiêm minh; 57,7% ý kiến khác cho biết: các DN không muốn mua tri thức công nghệ trong nước do chất lượng không đảm bảo, chi phí chuyển giao cao, công

nghệ không ổn định.[5] website bộ tài chính 28/09/2005, DN với vấn đề đổi mới công nghệ.

Qua số liệu trên đã giúp ta phần nào thấy được thực trạng của công nghệ VN hiện nay Về toàn cảnh công nghệ VN có thể khái quát như sau :”Công nghệ Việt Nam ở mức trung bình kém, cố gắng đến 2010 đạt trình độ Trung Bình tiên tiến trong khu vực”

Tại Hội thảo quốc tế “thực trạng, giải pháp và kinh nghiệm quốc tế trong phát triển thị trường công nghệ để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ của VN” ngày 24/04/2009, ông Hồ Sỹ Dũng đại diện Cục phát triển doanh nghiệp cho biết: Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 97% tổng số doanh nghiệp nhưng hầu hết sử dụng công nghệ lạc hậu từ 3-4 thế hệ so với thế giới, đa số công nghệ là vào những năm

80 của thế kỷ trước Do công nghệ lạc hậu dẫn đến năng suất ở VN rất thấp, mức hao phí năng lượng nguyên vật liệu trên 1 đơn vị sản phẩm ở mức cao, từ đó làm hạn chế tính cạnh tranh của hàng hoá VN, từ đó sẽ gây ra phản ứng dây chuyền đó

là nền kinh tế chỉ có thể sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng trung bình, thậm

Trang 17

chí thấp, giá thành cao và sản phẩm sản xuất ra không theo kịp thay đổi về nhu cầu thị trường.

Bên cạnh đó việc CGCN và nhập máy móc thiết bị cũ, lạc hậu vào VN đã gây tác động xấu tới môi trường và sức khoẻ người lao động cũng như người dân Máy móc không hiện đại, không sử dụng công nghệ sạch đã gây nên lượng chất thải rất lớn Một thí dụ điển hình là tại các nhà máy chế biến thuỷ sản ở Hải Phòng, Nha Trang, TP.HCM,… do khí Freon và NH3 từ hệ thống máy cấp đông và, kho đông lạnh, xe phát lạnh bị rò rỉ kết hợp với khí CO, SO2 bốc lên từ các bể dầu để chế biến các sản

phẩm đông lạnh đã gây ô nhiễm không khí ở mức rất cao Chính yếu tố công nghệ lạc hậu đã tác động trực tiếp tới môi trường xung quanh và đặc biệt hơn là nó

đã gây tác động xấu tới sức khoẻ của người lao động Ô nhiễm hơi độc phóng xạ tăng lên hàng năm với mức 2 con số, ở các công ty liên doanh mức độ độc hại còn cao hơn nhiều, số người mắc bệnh nghề nghiệp tăng vọt từ năm này qua năm khác, đây là kết quả đáng phải cảnh báo Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay chúng ta có hơn 200.000 doanh nghiệp với hơn 10 triệu người lao động hoạt động sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng doanh nghiệp, ngành nghề sản xuất mà phần nhiều có công nghệ chắp vá, nhà xưởng chật chội cộng với việc phân bố các cơ sở sản xuất thiếu quy hoạch đã đặt ra nhiều vấn đề phức tạp, đồng thời cũng ẩn chứa nhiều nguy cơ gây tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động Để chạy đua tranh giành thị phần với giá thành rẻ, một

số doanh nghiệp đã sử dụng các nguyên liệu, nhiên liệu bẩn với các công nghệ sản xuất lạc hậu càng làm cho môi trường và điều kiện làm việc của người lao động thêm nghiêm trọng Tính đến năm 2008 ở VN đã có 24.175 người lao động được xác định là mắc các bệnh nghề nghiệp ( chiếm 23,27% trong tổng số người lao động được khám ), gần 30% người lao động mắc các bệnh về đường hô hấp, mắt, cơ,

xương-khớp, tai, tim mạch, phụ khoa,…[6] VOVNEWS.VN ngày 22/07/2009

2.1.2 Tiềm lực KH-CN của VN hiện nay

Nhìn chung KH&CN nước ta còn nhiều mặt yếu kém, còn có khoảng cách khá xa so với thế giới và khu vực, chưa đáp ứng được yêu cầu là nền tảng và động lực phát triển kinh tế-xã hội Năng lực KH-CN còn nhiều yếu kém:

Trang 18

Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, các "tổng công trình sư", đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao Cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề và lãnh thổ còn nhiều bất hợp lý Về đội ngũ nhân lực cho KH-CN không phải là ít song chưa mạnh, lại có những nhược điểm cơ bản Theo đánh giá của Uỷ ban KH-CN và Môi trường Quốc hội, năng lực KH-CN quốc gia còn thấp,quy mô nhỏ hẹp Điều tra tiềm lực của KH-CN của Bộ KH- CN cho thấy tuổi đời của cán bộ khoa học khá cao, hầu hết là giáo sư và phó giáo sư gần 60 tuổi, số dưới 50 tuổi chỉ chiếm 12% Số lượng Tiến sĩ là hơn 10.000 người nhưng trình độ so với chuẩn quốc tế rất thấp, chỉ có khoảng 25% cán bộ khoa học sử dụng thành thạo Tiếng anh, chúng ta đặc biệt thiếu các chuyên gia và các Tổng công trình

sư.[7] Báo công nghệ, ngày 24/10/2009

Đầu tư của xã hội cho KH&CN còn rất thấp, đặc biệt là đầu tư từ khu vực doanh nghiệp Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đại học nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao, đặc biệt đối với những lĩnh vực KH&CN tiên tiến; chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KH&CN cũng như sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu kém cả về cơ

sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của hội nhập khu vực

và quốc tế Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa nghiên cứu KH&CN, giáo dục - đào tạo

và sản xuất - kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, nước ta còn có khoảng cách rất lớn về tiềm lực và kết quả hoạt động KH&CN: tỷ lệ cán bộ nghiên cứu KH&CN trong dân số và mức đầu tư cho nghiên cứu khoa học theo đầu người thấp; các kết quả nghiên cứu - phát triển theo chuẩn mực quốc tế còn rất ít Nhìn chung, năng lực KH&CN nước ta còn yếu kém, chưa giải đáp được kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới, chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế -

xã hội

Cơ chế quản lý khoa học và công nghệ chậm được đổi mới, còn mang nặng tính hành chính:

Trang 19

Quản lý hoạt động KH&CN còn tập trung chủ yếu vào các yếu tố đầu vào, chưa chú trọng đúng mức đến quản lý chất lượng sản phẩm đầu ra và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn Các nhiệm vụ KH&CN chưa thực sự gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Công tác đánh giá nghiệm thu kết quả nghiên cứu chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế.

Cơ chế quản lý các tổ chức KH&CN không phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủ quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng tạo

Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức không phù hợp với hoạt động KH&CN, làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán bộ Thiếu cơ chế đảm bảo để cán bộ KH&CN được tự do chính kiến, phát huy khả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp luật Chưa có những chính sách hữu hiệu tạo động lực đối với cán bộ KH&CN và chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, chế

độ tiền lương còn nhiều bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ KH&CN toàn tâm với sự nghiệp KH&CN

Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động KH&CN chưa tạo thuận lợi cho nhà khoa học, chưa huy động được nhiều nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; cơ chế

tự chủ về tài chính của các tổ chức KH&CN chưa đi liền với tự chủ về quản lý nhân lực nên hiệu quả còn hạn chế Trước hết, đó là do đầu tư cho lĩnh vực này của nhà nước còn thấp (2% tổng chi ngân sách, khoảng 0,5 - 0,6% GDP), tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp còn ít, chưa đến 0,1% GDP Bởi hầu hết doanh nghiệp đều là các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, ban đầu phải lo tồn tại trong thương trường, chưa có điều kiện đầu tư cho KH&CN Các doanh nghiệp lớn chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước thì đầu tư cho lĩnh vực này rất thấp, thậm chí thấp hơn tư nhân Hãy so sánh: đầu tư cho KH&CN trên đầu người Việt Nam năm 2007 là khoảng 5 USD, ở Hàn Quốc là khoảng 1000 USD, còn ở Trung Quốc năm 2004 là khoảng 20 USD Tỷ lệ đầu tư của Trung Quốc cho KH&CN từ ngân sách Nhà nước so với khu vực ngoài Nhà nước khoảng 1 : 3, còn VN thì ngược lại khoảng 5 : 11.Thị trường KH&CN chậm phát triển Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổ chức trung gian, môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ Tóm

1(Chỉ có khoa học và công nghệ mới đưa Việt Nam bứt phá-VnExpress,26/05/2008)

Ngày đăng: 31/03/2016, 16:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Giáo trình kinh tế và quản lý công nghiệp, nxb Đại học Kinh tế quốc dân, 5/2007 Khác
[2] Luật chuyển giao công nghệ số 80/2006/QH11 ngày 29/11/2006 Khác
[3] Viêtbáo.vn- 2004 [4] Chinhphu.vn- 2009 Khác
[5] Website của Bộ Tài Chính, 28/09/2005, Doanh nghiệp với vấn đề đổi mới công nghệ Khác
[6] VOVNEWS.VN ngày 22/07/2009 Khác
[7] Báo công nghệ, ngày 24/10/2009 Khác
[8] VnExpress, ngày 26/05/2008, Chỉ có khoa học mới đưa Việt Nam bứt phá Khác
[9] Quyết định của thủ tướng Chính phủ, số 67/2006/QĐ-TTg Khác
[10] Việtbao.vn, 18/10/2005 Khác
[11] Viêtbao.vn, 18/10/2005 Khác
[12] Báo Tia Sáng, bộ khoa học công nghệ 2006 Khác
[13] Báo Sài Gòn giải phóng, 27/11/2008 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w