Mở đầu Trong khuôn khổ đề tài: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác động do
Trang 1Viện tài nguyên và môi trường biển
=========000=========
Đề tài cấp nhà nước kc-09-19 “Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng
nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp
phòng ngừa, giảm thiểu những tác hại do chúng gây ra”
Chủ nhiệm đề tài: TS Chu Văn Thuộc
Báo cáo chuyên đề
hiện trạng và diễn biến môi trường nước tại các vùng nuôi trồng thủy sản thuộc khu vực cát bà
Trang 2Mở đầu
Trong khuôn khổ đề tài: Điều tra, nghiên cứu tảo độc, tảo gây hại ở một số vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung ven biển, đề xuất giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu những tác động do chúng gây ra” thuộc chương trình Điều tra cơ bản và nghiên cứu ứng dụng công nghệ biển “ (KC-09) , đã tiến hành điều tra đánh giá hiện trạng môi trường nước và diễn biễn các thông số môi trường tại hai địa điểm nuôi trồng thuỷ sản tập trung là khu vực nuôi lồng bè trên biển tại khu vực Bến Bèo thuộc Cát Bà và khu vực nuôi tôm tại Đồ Sơn, Hải Phòng Trong chuyên đề này có hai phần : phần thứ nhất trình bày những đặc trưng thuỷ lý thuỷ hoá, vấn đề ô nhiễm chất hữu cơ và diễn biến các chất dinh dưỡng nitơ, phospho và silicat của nước trong và ngoài lồng nuôi thuỷ sản Phần thứ hai trình bày các vấn đề môi trường nước của đầm nuôi quảng canh cải tiến ( QCCT), đầm thâm canh (TC) và nước ngoài sông Trong phần thứ hai còn đánh giá đặc điểm biến động hàm lượng hydro sunfua (H2S) trong nước bùn của hai đầm QCCT và TC
Trang 3Phần thứ nhất: Đặc điểm môi trường nước khu vực
Bến Bèo Cát Bà 1.1 Tài liệu và phương pháp
Để có tư liệu đánh giá hiện trạng và xu thế biến động các yếu tố môi truờng nước, đã tiến hành thu mẫu vào lúc nước đang lên của các kỳ nước cường trong các tháng từ tháng 5 năm 2004 đến tháng 4 năm 2005, mỗi tháng tiến hành thu mẫu 2 đợt
Trong khu vực vịnh Cát Bà, mẫu nước được thu tại hai tầng mặt và đáy của hai địa điểm: trong các lồng nuôi và phía ngoài lồng nuôi (vị trí thu mẫu được thể hiện trên hình 1)
Mẫu nước được thu và phân tích các thông số môi trường theo “ Quy định (tạm thời) phương pháp quan trắc – phân tích môi trường và quản lý số liệu “ của Cục Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường, 1998
- Các thông số : pH, DO, độ muối được đo bàng máy chuyên dụng tại hiện trường
Độ trong được đo bằng đĩa Sechee
- BOD được xác định bằng phương pháp trực tiếp, ủ mẫu ở 20oC ± 1oC
- COD xác định bằng phương pháp oxy hoá bằng kali permanganat trong môi trường kiềm
- Amoniac được xác định bằng phương pháp trắc quang phenat
- Nitrit xác định bằng phương pháp trắc quang Gries- Iloswway
- Nitrat xác định bằng phương pháp trắc quang sau khi khử đén nitrit bằng cadmi mạ đồng
- Phosphat được xác định bằng phương pháp trắc quang với amoni molipdat
- Silicat xác định bằng phương pháp trắc quang molybdosilicat
1.2 Đặc điểm thuỷ lý thuỷ hoá khu vực nuôi trồng lồng bè Cát Bà
1.2.1 Nhiệt độ nước
Nhiệt độ có vai trò rất quan trọng trong đối vơí các quá trình sinh hoá diễn
ra trong tự nhiên Nhiệt độ là thông số môi trường quan trọng đối với sinh vật thuỷ sinh Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh vật và sự trao đổi chất trong cơ thể Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật trong nước Nhiệt độ không chỉ quyết định đến mật độ của nước, độ tan của các chát khoáng vadf khí mà còn tác động đến sự phân bố của sinh vật
Nhiệt độ trung bình tháng của nước vùng nuôi lồng bè Cát Bà dao động trong khoảng từ 18,5 đến 30,8 oC Các tháng có nhiệt độ nước cao, trên 25 oC là từ tháng 5 đến tháng 11 Các tháng có nhiệt độ nước thấp dưới 25 oC là tìư tháng 12
đến tháng 4 năm sau Mức độ chênh lệch nhiệt độ nước trong lồng nuôi và ngoài
Trang 5lồng, cũng như giữa tầng mặt và tầng đáy không rõ rệt (Bảng 1) Tháng có nhiệt
độ cao vượt quá GHCP (>30oC) là các tháng 8 và 9
Điều đáng lưu ý là trong năm có 2 thời kỳ chuyển tiếp nhiệt độ nước khá rõ rệt là: thời kỳ giảm nhiệt độ đột ngột từ tháng 11, 12 đến tháng 1,2, nhiệt độ trung bình giảm tới 5oC/ tháng Thời kỳ thứ hai là thời kỳ tăng nhiệt độ từ tháng 2,3 đến tháng 4, 5 khoảng 3,6 oC/ tháng (bảng 1 và hình 2) Sự chuyển đổi đột ngột của nhiệt độ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sinh vật thuỷ sinh
Bảng 1 Biến động nhiệt độ nước trong khu vực nuôi trồng thuỷ sản
Lồng Đáy 27,0 29,4 29,7 30,0 30,3 28,2 28,0 23,3 18,2 18,6 19,4 22,0 25,3
Mặt 28,5 29,2 29,6 29,7 30,5 28,3 27,6 24,2 19,2 18,5 19,4 22,2 25,5 Trong
lồng Đáy 27,0 29,2 29,6 29,7 30,5 28,3 27,6 24,2 19,2 18,5 19,4 22,2 25,4
0 5 10 15 20 25 30 35
Độ muối của nước khu vực nuôi lồng bè tại Cát Bà khá cao, trong nước tầng mặt dao động trong khoảng từ 26,5 đến 33,5 %o, tầng đáy độ muối ổn định hơn, dao động từ 29,2 đến 34,2 %o Giữ nước trong lồng và ngoài lồng không có sự chênh lệch lớn về độ muối, tuy nhiên sự phân tầng độ muối của nước phía ngoài thường lớn hơn trong lồng Chệnh lệch độ muối giữa hâi tầng mặt và đáy phía
Trang 6ngoài lồng lớn hơn trong lồng, gradient độ muối theo chiều sâu trung bình ngoài lồng đạt khoảng 0,58%o/m và trong lồng đạt 0,25 %o/m Nguyên nhân độ muối trong lồng kém phân tầng hơn ngoài lồng cs thể do quá trình khuâý trộn nước của cá trong lồng nuôi làm giảm quá trình phân tầng độ muối theo chiều sâu
hời gian chuyển tiếp giữa độ muối cao xuống thấp vào tháng 6-7 với mức chênh lệch độ muối trung bình tháng trong nước tầng mặt tại khu vực ngoài lồng
là 4,6 %o và khu vực trong lồng là 4,6%o Thời kỳ chuyển tiếp của độ muối từ thấp lên cao là tháng 8-9 với mức chênh lệch trung bình tháng tại tầng mặt trong khu vực ngoài lồng nuôi là 3,7%o và trong lồng nuôi là 4,5 %o (bảng 2, hình 3)
Bảng 2 Biến động độ muối của nước trong khu vực nuôi trồng thuỷ sản
Lồng Đáy 32,9 32,8 29,8 30,8 32,8 33,0 32,5 32,2 33,5 33,0 32,0 34,2 32,2
Mặt 32,4 30,4 28,0 26,5 31,0 32,0 32,5 31,8 33,2 32,5 31,5 33,0 31,2 Trong
lồng Đáy 32,9 32,2 29,2 30,5 31,5 32,8 32,5 32,5 33,2 33,5 31,5 33,5 32,2
0 5 10 15 20 25 30 35
Trang 7pH trong nước khu vực Cát Bà biến động trong khoảng hẹp, từ 7,70 đến 8,22 trong nước tầng mặt và từ 7,60 đến 8,24 trong nước tầng đáy pH luôn lớn hơn 7,
do đó môi trường luôn ở trong trạng thái kiềm yếu Trong năm có hai thời kỳ có
sự biến động mạnh của pH, dó là vào tháng 5 và tháng 7.(hình 4) Ngoài ra vẫn có
sự khác biệt giữa pH trong nước ngoài lồng và trong lồng nuôi pH nước trong lồng nuôi thường thấp hơn ngoài lồng, trung bình khoảng 0,4 pH (Bảng 3) Điều này chứng tỏ quá trình hô hấp của cá nuôi trong lồng và quá trinh phân huỷ thức ăn dư thừa đã làm gia tăng lượng khí cacbonic (CO2) vào môi trường, dẫn đến làm giảm
Lồng Đáy 7,71 7,98 7,86 7,94 8,.07 8,11 8,14 8,18 8,13 8,14 7,95 8,24 8,04
Mặt 7,74 7,94 7,72 7,94 7,98 8,06 8,06 8,08 8,08 8,05 7,99 8,19 8,00 Trong
lồng Đáy 7,75 7,94 7,60 7,92 7,96 8,07 8,08 8,11 8,12 8,16 7,92 8,19 8,00
7.4 7.5 7.6 7.7 7.8 7.9 8 8.1 8.2 8.3
hệ mật thiết với sự sống của sinh vật, đặc biệt khi độ trong thấp, hạn chế quá trình quang hợp ciủa thực vật phù du
Độ trong trong nước khu vực Cát Bà có sự khác biệt giữa khu vực nước ngoài lồng và trong lồng nuôi: trong lồng nuôi độ trong thường thấp và ổn định
Trang 8hơn; trong khi ngoài lồng độ trong cao nhưng biến động mạnh hơn Khu vực ngoài lồng nuôi, độ trong dao đông trong khoảng từ 1,0 m đến 2,9 m, trung bình năm khoảng 1,8m Khu vực trong lồng nuôi dao động từ 1,2 đến 2,0 m, trung bình 1,6
m (Bảng 4)
Bảng 4 Biến động độ trong trung bình của nước trong khu vực nuôi trồng
thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng (m)
Tháng
Vị trí
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bình năm
Các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học bao gồm các hydrocacbon, protein, chất béo
Trong quá trình phân huỷ các chất hữu cơ bởi vi sinh vật có thể diễn ra trong
2 điều kiện: kỵ khí và hiếu khí
Trang 9Trong điều kiện kỵ khí, sẽ tạo ra khí độc như metan (CH4) hydro sunfua (H2S) theo sơ đồ:
Chất hữu cơ CH4 + axít hữu cơ
Sự ô nhiễm nước biển bởi các chất hữu cơ làm suy giảm chất lượng nước, tác
động xấu đến sự sống trong thuỷ vực do sự tiêu hao oxy, tạo ra khí độc hại đầu độc sinh vật
Để đánh giá mức độ ô nhiễm nước bởi các hợp chất hữu cơ tiêu thụ oxy, người ta thường sử dụng các thông số: nồng độ oxy hoà tan (DO), nhu cầu oxy sinh hoá (BOD) và nhu cầu oxy hoá học (COD)
1.2.1.Oxy hoà tan (DO)
Oxy hoà tan trong nước là một hợp phần rất linh động của môi trường Sự phân bố và biến động nồng độ oxy trong nước biển có liên quan đến các quá trình hoá học, sinh học và vật lý xảy ra trong thuỷ vực
Trong lớp nước bề mặt do có sự tiếp xúc với không khí xảy ra quá trình trao
đổi khí giữa nước biển với khí quyển Khi nồng độ oxy trong nước thấp dưới mức bão hoà, sẽ diễn ra quá trình hoà tan oxy từ không khí vào nước Ngược lại, khi nồng độ oxy trong nước quá bão hoà sẽ diễn ra quá trình thoát oxy từ nước vào không khí, vì thế trong lớp nước tầng mặt nồng độ oxy thường dao động xung quanh mức bão hoà
Trong lớp nước nằm dưới lớp bề mặt và ở trong vùng quang hợp (nơi có ánh sáng mặt trời chiếu tới) thường diễn ra quá trình quang hợp của thực vật (chủ yếu
là thực vật nổi), gặp điều kiện thuận lợi, thực vật phát triển mạnh mẽ, nồng độ oxy
có thể đạt mức qúa bão hoà
Trong lớp nước biển sâu, nơi ánh sáng mặt trời không chiếu tới, hoặc trong các vùng nước đục, bị ô nhiễm nặng bởi các chất hữu cơ, xảy ra quá trình phân huỷ yếm khí của chúng bởi vi sinh vật, nồng độ oxy trong nước giảm sút, ảnh hưởng mạnh mẽ đến sinh vật thuỷ sinh, nếu qúa mức có thể làm chúng tử vong
Phân tích oxy hoà tan (DO) trong nước biển, cho phép đánh giá mức độ thiếu hụt o xy hoà tan trong vực nước và gián tiếp đánh giá mức độ ô nhiễm nước bởi các chất hữu cơ tiêu thụ oxy thiên nhiên
Trang 10Hàm lượng oxy hoà tan trong nước ngoài lồng nuôi thường cao và kém ổn
định hơn so với trong lồng nuôi Trong nước tầng mặt thường cao hơn trong nước tầng đáy Hàm lượng oxy trong tầng mặt tại khu vực ngoài lồng dao động trong khoảng từ 5,14 mg/l đến 7,81 mg/l, trung bình 6,45 mg/l; trong lồng dao động từ 4,97 đến
8,04 mg/l, trung bình 6,21 mg/l, thấp hơn khu vực ngoài khoảng 0,24 mg/l Trong tầng đáy, tại khu vực ngoài lồng dao động từ 4,92 đến 7,92 mg/l, trung bình 6,19 mg/l, trong khi khu vực trong lồng dao động từ 4,90 đến 7,46 mg/l, trung bình 6,04 mg/l, thấp hơn khu vực ngoài lồng khoảng 0,15 mg/l (bảng 5) Tháng có nồng độ oxy giảm thấp nhất làg các tháng 5 và 7 (hình 6)
Bảng 5 Biến động hàm lượng oxy hoà tan (DO) trung bình của nước trong
khu vực nuôi trồng thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bìnhnăm Mặt 5,96 6,56 5,14 7,38 5,49 5,59 5,94 6,35 6,82 7,06 7,81 7,10 6,45 Ngoài
Lồng Đáy 5,15 6,16 4,92 6,15 5,60 5,52 5,93 6,22 6,62 6,46 7,92 7,13 6,19
Mặt 5,16 5,98 5,07 7,04 4,97 5,44 5,81 6,28 6,56 6,98 8,04 6,68 6,21 Trong
lồng Đáy 4,90 5,73 4,90 6,65 4,90 5,40 5,63 6,19 6,79 6,66 7,46 6,68 6,04
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
T.5 T.6 T.7 T.8 T.9 T.10 T.11 T.12 T.1 T.2 T.3 T.4 TB.
Tháng mg/l
Trong lồng Ngoài lồng
Hình 6. Biến động hàm lượng oxy hoà tan (DO) trong nước tầng đáy khu vực Cát Bà
1.2.2.Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD 5 )
Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD) là nồng độ khối lượng của oxy hoà tan bị tiêu thụ bởi sự oxy hoá sinh học các chất hữu cơ và vô cơ trong nước trong điều kiện xác định
BOD5 là lượng oxy hoà tan bị tiêu thụ để oxy hoá sinh học các chất hữu cơ hoặc vô cơ trong thời gian 5 ngày ở nhiệt độ chuẩn 20o ± 1oC
Trang 11Nhu cầu oxy sinh hoá trung bình tháng tại khu vực Cát Bà phía trong lồng nuôi và ngoài lồng nuôi được trình bày trong bảng 6 BOD trong nước tầng đáy và trong lồng nuôi thường cao hơn trong nước tầng mặt và ngoài lồng nuôi BOD trong lồng nuôi thường cao hơn ngoài lồng nuôi khoảng 1,2 lần Tuy nhiên so với GHCP theo TCVN 5943-1995 đối với nước nuôi trồng thuỷ sản ven bờ (10mg/l) , nhận thấy BOD trong nước khu vực Cát Bà thấp hơn từ 6 đến 7 lần BOD cao xuất hiện vào các tháng 5 , 11 và 1 BOD thấp xuất hiện vào các tháng 2, 6 (hình 7)
Bảng 6 Nhu câu oxy sinh hoá (BOD5) trung bình của nước trong khu vực
nuôi trồng thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bìnhnăm Mặt 1,90 1,00 1,28 1,45 1,40 1,04 1,68 1,15 1,70 0,81 1,97 1,16 1,38 Ngoài
Lồng Đáy 2,30 0,91 1,78 1,23 1,26 1,02 2,40 1,42 1,68 1,03 1,32 1,48 1,49
Mặt 3,50 1,20 1,64 1,58 1,74 1,48 1,78 1,32 1,48 1,00 1,67 1,82 1,60 Trong
lồng Đáy 3,02 1,37 1,73 1,09 1,53 1,43 2,67 2,03 2,38 1,08 1,34 1,50 1,71
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5
1.2.3 Nhu cầu o xy hoá học (COD)
Nhu cầu o xy hoá học (COD) là lượng oxy cần thiết để oxy hoá các chất hữu cơ trong nước bằng một chất oxy hoá mạnh trong điều kiện xác định
Cả hai thông số BOD5 và COD đều để xác định gián tiếp mức độ ô nhiễm nước bởi các hợp chất hữu cơ tiêu thụ oxy thiên nhiên, nhưng chúng khác nhau về mặt ý nghĩa: BOD5 biểu thị lượng chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học, COD biểu thị tất cả các chất hữu cơ bị oxy hoá bằng một tác nhân hoá học Tỷ số COD/BOD5thường lớn hơn 1
Trang 12COD trong nước khu vực Bến Bèo ngoài lồng nuôâotị tầng mặt dao động từ 1,74 đến 3,77 mg/l, trung bình 2,84 mg/l, tầng đáy dao động từ 2,04 đến 4,09 mg/l, trung bình 2,89 mg/l Trong lồng nuôi, tại tầng mặt dao động từ 2,04 đến 3,76 mg/l, trung bình 2,81 mg/l; tầng đáy dao đọng từ 2,55 đến 4,10 mg/l, trung bình 3,22 mg/l Xu thế chung COD tầng đáy cao hơn tầng mặt; COd tăng cao vào các tháng 10 và 1, giảnm thấp vào các tháng 5,6, 12 (bảng 7, hình 8)
So với GHCP theo đề xuất của đề tài KT.03.07 (30mg/l), COD trong nước Bến Bèo khá thấp, trung bình khoảng từ 9 đến 11 lần
Bảng7 Nhu câu oxy hoá học (COD) trung bình của nước trong khu vực nuôi
trồng thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng (mg/l)
Tháng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bìnhnăm Mặt 2,66 1,74 2,78 2,93 2,98 2,92 2,86 2,60 3,77 2,93 3,25 2,64 2,84 Ngoài
Lồng Đáy 2,42 2,04 2,82 2,42 3,07 4,09 2,94 2,94 3,76 3,20 2,75 2,27 2,89
Mặt 2,39 2,04 3,04 2,62 2,79 3,76 2,52 2,47 3,32 3,16 2,70 2,71 2,81 Trong
lồng Đáy 2,55 2,97 2,70 2,70 3,28 3,85 3,46 2,89 4,10 3,44 3,41 3,00 3,22
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4
1.2.4 Đánh giá mức độ ô nhiễm chất hữu cơ tiêu hao oxy
Để đánh giá mức đô ô nhiễm chất hữư cơ tiêu hao oxy, đã sử dụng hệ số tai biến của các thông số DO, BOD đối với tiêu chuẩn nước dùng cho nuôi trồng thuỷ sản theo TCVN 5943-1995 Kết quả tính RQ được trình bày trong bảng 8
Từ số liệu trong bảng cho thấy nước khu vực Cát Bà có hệ số tai biến đối với
Trang 13chất hữu cơ tiêu hao oxy (RQ hc)luôn thấp hơn 0,75 RQhc trung bình tháng trong nước ngoài lồng nuôi dao động trong khoảng từ 0,40 đến 0,55, trung bình năm là 0,48 < 0,75 Trong nước lồng nuôi thường cao hơn, dao động từ 0,40 đến 0,66, trung bình năm 0,50 < 0,75 Như vậy nước khu vực chưa bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ tiêu hao oxy Tuy nhiên mức độ ô nhiễm chất hữu cơ trong lồng nuôi thường cao hơn ngoài lồng và thời gian có hàm lượng chất hữu cơ cao hơn là các tháng 5,7 và 9 (hình 9)
Bảng 8 Hệ số tai biến (RQhc) đối với chất hữu cơ tiêu hao oxy trong nước
khu vực nuôi trồng thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng (mg/l)
RQhc
Vị trí Thông
số 5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bìnhnăm
DO 0,89 0,79 0,99 0,74 0,90 0,90 0,84 0,80 0,74 0,74 0,64 0,70 0,81 BOD 0,21 0,10 0,15 0,13 0,13 0,10 0,20 0,13 0,17 0,09 0,16 0,13 0,14
Ngoài
Lồng
RQtb 0,55 0,44 0,57 0,44 0,52 0,50 0,52 0,46 0,46 0,42 0,40 0,42 0,48
DO 0,99 0,85 1,00 0,73 1,01 0,92 0,87 0,80 0,75 0,73 0,64 0,75 0,84 BOD 0,33 0,13 0,17 0,13 0,16 0,15 0,22 0,17 0,19 0,10 0,15 0,17 0,17
Trang 14dưỡng có vai trò quan trọng, quyết định năng suất vực nước Khi nồng độ các chất dinh dưỡng trong nước quá thấp dẫn đến hạn chế quá trình phát triển của sinh vật, ngược lại khi nồng độ của chúng tăng cao sẽ thúc đẩy sự phát triển quá mức của thực vật phù du, làm xuất hiện hiện tượng nở hoa của thực vật
1.3.1 Amoniac (NH 3 )
Amoniac có trong nước thải công nghiệp, chủ yếu là các ngành sản xuất phân bón hoá học (phân đạm), các nhà máy chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất thuốc nổ, giấy, bột giấy Nước thải sinh hoạt và nước chảy tràn từ đồng ruộng
do sử dụng các loại phân hoá học cũng là nguồn gây ô nhiễm amoniac
Amoni có thể chuyển thành dạng amoniac hoặc ngược lại, tuỳ thuộc vào trị
số pH theo sơ đồ:
NH3 + H2O ⇔ NH4(OH) ⇔ NH4+ + OH
-Nước biển có trị số pH thường trên 7, thuộc loại kiềm yếu, do đó nếu có cùng nồng độ thì dạng amoniac tồn tại trong nước biển thường cao hơn trong nước sông
Amoniac là một dạng dinh dưỡng nitơ cần thiết cho sự phát triển của thực
vật, nhưng độc hại đối với hệ động vật
Nồng độ giới hạn cho phép (GHCP) đối với nước nuôi trồng thuỷ sản ven
bờ theo TCVN 5943-1995 là 500àgN/l; trong khi theo tiêu chuẩn của ASEAN là
70 àgN/l
Hàm lượng amoniac trong nước vùng biển Cát Bà biến động trong khoảng rộng Trong khu vực ngoài biển, hàm lượng amoniac trong nước tầng mặt dao động trong khoảng từ 59,8 đến 119,0 àg/l, trung bình 83,0 àg/l; tầng đáy dao động từ 31,4 đến 144,3 àg/l, trung bình 83,7 àg/l Hàm lượng amoniác trong lồng tại tầng mặt dao động từ 60,2 đến 145,2 àg/l, trung bình 95,7 àg/l; tầng đáy dao động từ 34,6 đến 138,8, trung bình 95,4 àg/l (bảng 9) So với nồng độ GHCP theo TCVN -5943-1995 (500 àg/l), nhận thấy hàm lượng amoniac trong nước khu vực luôn thấp hơn GHCP từ 3 đến 16 lần
Bảng 9 Biến động hàm lượng amoniac trung bình của nước trong khu vực
nuôi trồng thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bìnhnăm Mặt 119,0 77,0 75,8 89,0 82,4 91,0 56,3 86,8 107,6 74,9 59,8 77,6 83,0 Ngoài
Lồng Đáy 144,3 71,0 81,8 91,0 83,6 100,8 64,8 91,8 98,8 90,4 31,4 55,0 83,7
Mặt 114,1117,4 94,4 106,1145,2 92,8 92,8 117,8 87,3 62,8 60,2 67,0 95,7 Trong
lồng Đáy 100,6107,4 90,4 92,4 138,8 95,2 95,6 129,4 92,9 78,2 91,4 34,6 95,4
So sánh hàm lượng amoniac trong lồng nuôi thuỷ sản với ngoài lồng nuôi, nhận thấy nước trong lồng cao hơn trong khu vực bên ngoài trung bình khoảng
Trang 15trên 1,1 lần Tháng có hàm lượng amoniac tăng đột biến tại khu vực trong lồng nuôi là các tháng 9 và tháng 12; khu vực ngoài lồng nuôi là các tháng 5 và tháng 1 (hình 10)
0 20 40 60 80 100 120 140 160
đối với động vật
Nguồn gây ô nhiễm môi trường biển bởi nitrit là nước thải của một số ngành công nghiệp như sản xuất phẩm mầu, xellulo, chế biến lương thực, thực phẩm, nước thải sinh hoạt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, sản xuất nông nghệp
Nồng độ GHCP đối với nước dùng cho nuôi trồng thuỷ sản theo thông tư 01/2000/TT-BTS là <10 àg/l
Hàm lượng nitrit trong nước khu vực Cát Bà trong năm biến động trong khoảng rộng Khu vực ngoài lồng, hàm lượng nitrit tại tầng mặt dao động từ 3,6
đến 20,0 àg/l, trung bình 9,0 àg/l, tầng đáy cao hơn, từ 4,1 đến 23,0 àg/l, trung bình 9,7 àg/l Khu vực trong lồng nuôi cao hơn, tại tầng mặt dao động từ 5,6 đến 21,3 àg/l, trung bình 10,6 àg/l; tầng đáy từ 7,7 đến 24,7 àg/l, trung bình 12,0 àg/l (bảng 10)
Trang 16Bảng 10 Biến động hàm lượng nitrit trung bình của nước trong khu vực nuôi
trồng thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng (àg/l)
Tháng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bình năm Mặt 3,6 4,5 20,0 7,8 7,8 8,9 6,7 10,4 13,4 8,2 7,0 10,1 9,0 Ngoài
Lồng Đáy 5,1 4,1 23,0 10,0 8,1 10,9 7,9 10,6 13,7 7,2 6,4 9,2 9,7
Mặt 5,6 8,1 21,3 9,3 8,8 10,7 7,2 12,7 12,9 9,4 6,6 12,6 10,6 Trong
lồng Đáy 7,7 11,6 24,7 12,2 11,2 10,6 8,0 12,6 14,6 8,0 8,8 11,5 12,0
Hàm lượng nitrit trong nước lồng nuôi thường cao hơn trong nước bên ngoài Tháng có hàm lượng nitrit tăng cao đột ngột là tháng 7 (hình 11) So sánh với nồng độ GHCP đối với nước ngọt dùng cho nuôi trồng thuỷ sản theo thông tư số 01/2000/TT-BTS của Bộ thuỷ sản (10 àg/l), nhận thấy vùng nước đã bị ô nhiễm bởi nitrit Tuy nhiên nếu so sánh với ngưỡng do ASEAN đề xuất (55 àg/l), nước vùng biển chưa bị ô nhiễm bởi nitrit
0 5 10 15 20 25
Nitrat là sản phẩm cuối cùng của quá trình oxy hoá các hợp chất nitơ trong
tự nhiên có sự tham gia của vi sinh vật Nitrat là một chất thiết yếu đối với hệ thực vật, nhưng lại độc hại đối với người và động vật Khi được hấp thụ vào máu, chúng kết hợp với hemoglobin tạo thành metheoglobin, làm giảm khả năng chuyên chở oxy của máu và làm cơ thể bị ngạt do thiếu oxy
Hàm lượng nitrat trong nước khu vực Cát Bà khá cao nếu so sánh với ngưỡng do ASEAN đề xuất ( 60 àg/l) Trong nước ngoài lồng nuôi, tại tầng mặt
Trang 17dao động từ 59,8 àg/l ( tháng 5) đến 164,2 àg/l (tháng 7), trung bình 115,0 àg/l, vượt ngưỡng khoảng 1,9 lần; tầng đáy thấp hơn dao động từ 38,6 àg/l (tháng 5)
đến 106,6 àg/l ( tháng 11), trung bình 85,5 àg/l, vượt ngưỡng khoảng 1,4 lần
Trong lồng nuôi, tại tầng mặt, hàm lượng nitrat thấp hơn ngoài lông, dao
động từ 20,0 àg/l đến 155,0 àg/l (tháng 7), trung bình 106,8 àg/l, vượt ngưỡng khoảng 1,8 lần.; tầng đáy hàm lượng nitrat thấp hơn, dao động từ 11,8 àg/l đến 105,9 àg/l, trung bình 63,3 àg/l, vượt ngưỡng khoảng 1,1 lần (bảng 11)
Bảng 11 Hàm lượng nitrat trung bình của nước trong khu vực nuôi trồng
thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng (àg/l)
Tháng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bình năm Mặt 59,8 100,8164,2132,4134,9120,8109,4104,6127,4116,0109,6100,8 115,0 Ngoài
Lồng Đáy 38,6 70,6 77,1 95,5 85,0 109,2106,6 93,5 100,7 83,5 85,2 80,8 85,5
Mặt 20,0 74,9 155,0119,0 71,4 104,6 98,9 100,5133,5137,2 95,7 92,9 106,8 Trong
lồng Đáy 11,8 37,8 72,5 105,9 60,0 78,0 65,0 65,2 87,4 67,2 65,5 51,6 63,3 Thời kỳ tăng cao hàm lượng nitrat là tháng 7 và tháng 1 (hình 12)
0 20 40 60 80 100 120 140
là một hợp chất chính yếu đối với thực vật thuỷ sinh
Trang 18Tương tự các muối dinh dưỡng khác, nguồn bổ xung phosphat trong nước biển ven bờ là nước thải được thải đổ trực tiếp hoặc thông qua các cửa sông bao gồm nước thải công nghiệp, sinh hoạt và nông nghiệp
Ngưỡng do ASEAN đè xuất đối với nước biển ven bờ là 15 àg/l
Hàm lượng phosphat trong nước vùng biển Cát Bà phía ngoài lồng nuôi, nước tầng mặt, dao động từ 11,4 àg/l đến 37 àg/l, trung bình 21,4 àg/l, vượt ngưỡng khoảng 1,4 lần, trong tầng đáy, dao động từ 10,4 đến 48,8 àg/l, trung bình 31,3 àg/l, vượt ngưỡng khoảng 2,1 lần Trong lồng nuôi, tại tầng mặt hàm lượng phosphat dao động từ 15,4 đến 49,1 àg/l, trung bình 25,6 àg/l, vượt ngưỡng khoảng 1,7 lần; tầng đáy, dao động từ 13,4 đến 57,0 àg/l, trung bình 29,2 àg/l, vượt ngưỡng 1,9 lần Nhìn chung hàm lượng phosphat trong nước khu vực Bến Bèo khá cao, thường xuyên vượt ngưỡng ASEAN (bảng 12)
Bảng 12 Hàm lượng phosphat trung bình của nước trong khu vực nuôi trồng
thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng (àg/l)
Tháng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bình năm Mặt 16,4 11,4 9,4 37,0 34,6 11,0 31,3 14,3 28,7 18,5 21,4 22,2 21,4 Ngoài
Lồng Đáy 46,8 12,6 10,4 48,8 41,5 30,6 37,4 15,1 24,0 34,8 41,2 32,2 31,3
Mặt 18,4 16,1 15,4 35,0 41,6 18,6 49,1 15,6 22,2 18,4 21,0 32,3 25,6 Trong
lồng Đáy 31,5 13,4 16,7 57,0 52,7 22,4 44,0 14,0 23,6 21,9 32,2 17,7 29,2
Hàm lượng phosphat trong năm có sự biến động lớn: giảm mạnh trong tháng 6,7; tăng cao trong tháng 8, 9 và 11.(hình 13)
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
Trang 191.3.5 Silicat (SiO 3 2- )
Trong nước biển silic tồn tại ở các dạng hoà tan (các silicat, axit silic), dạng tiểu phân lơ lửng (keo, khoáng vật) và trong các hợp chất hữu cơ Trong lớp nước quang hợp (có ánh sáng mặt trời chiếu tới), silicat được thực vật có cấu tạo vỏ silic (chủ yếu là khuê tảo) hấp thụ Nguồn cung cấp silicat cho nước biển là quá trình phân huỷ xác thực vật có vỏ silic (khuê tảo), hoà tan silicat từ lớp trầm tích đáy Trong vùng nước biển ven bờ, nguồn silicat bổ sung lớn là dòng chảy lục địa (sông ngòi, kênh rạch) Nồng độ GHCP theo đề xuất của đề tài KT 03.07 là 3.000 àg/l
Hàm lượng silicat trong nước khu vực Cát Bà thuộc loại thấp nếu so sánh với GHCP đã nêu Trong nuớc ngoài lồng nuôi, tại tầng mặt, hàm lượng silicat dao
động từ 54 đến 1498 àg/l, trung bình 327 àg/l, thấp hơn GHCP khoảng 9 lần; trong tầng đáy dao động từ 26 đến 1134 àg/l, trung bình 352 àg/l, thấp hơn GHCP khoảng 8,5 lần Trong lồng nuôi, hàm lượng silicat coa hơn, tại tầng mặt, dao động
từ 195 đến 1303 àg/l, trung bình 418 àg/l, thấp hơn GHCP khoảng 7 lần; tầng đáy xấp xỉ tầng mặt, trung bình 417 àg/l (bảng 13)
Bảng 13 Hàm lượng Silicat trung bình của nước trong khu vực nuôi trồng
thuỷ sản tại Cát Bà Hải Phòng (àg/l)
Tháng
Vị trí Tầng
5 6 7 8 9 10 11 12 1 2 3 4
Tr.bình năm Mặt 111 54 1498 77 175 321 260 470 326 227 302 158 327 Ngoài
Lồng Đáy 26 80 1134 77 154 537 435 482 238 272 425 369 352
Mặt 539 194 1303 194 390 460 296 482 337 248 268 360 418 Trong
lồng Đáy 204 148 1277 378 532 498 329 528 128 214 222 442 417
-500 0 500 1000 1500 2000 2500
Trang 20Biến động hàm lượng silicat trong năm giữa nước trong và ngoài lồng nuôi tương tự nhau, có sự tăng cao vào tháng 7, sau đó giảm mạnh trong tháng 8 ( hình 14)
1.4 Nhận xét
Khu vực Bến Bèo Cát Bà, nước có độ muối và pH cao: Độ muối luôn trên 24%o, pH luôn trên 7,6, do đó nước thuộc loại nước biển mặn Nhiệt độ nước tăng cao và vượt GHCP (<30oC) trong các tháng 8 và 9 Nước trong lồng nuôi có nhiệt
độ, độ muối cao hơn ngoài lồng, nhưng mức độ phân tầng độ muốí, pH theo độ sâu thấp hơn ngoài lồng Trong khu vực có hai thời kỳ có sự biến động mạnh các yếu tố môi trường gồm: thời kỳ giảm độ muối, pH , độ trong và tăng nhiệt độ nước
là từ tháng 5,6 đến tháng 7,8 Thời kỳ tăng độ muối, pH, độ trong và giảm nhiệt độ
là từ tháng 10, 11
Nước khu vực Cát Bà hiện chưa có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ tiêu hao o xy, tuy nhiên nước trong lồng nuôi thuỷ sản thường có hàm lượng chất hữu cơ cao hơn phía ngoài lồng nuôi
Hàm lượng amoni trong nước lồng nuôi cao hơn ngoài lồng, nhưng chưa vượt quá GHCP Trong năm hàm lượng amoniac có một số biến động đột xuất: giảm từ tháng 6 đến tháng 7,8 sau đó tăng mạnh trong tháng 9 rồi giảm mạnh trong tháng 10,11 Biến trình năm của amoniac trong và ngoài lồng tương tự nhau nhưng mức độ đột biến sảy ra trong lồng nuôi lớn hơn ngoài lồng
Hàm lượng nitrit chưa vượt quá ngưỡng ASEAN nhưng tăng đột biến vào tháng 7, sau đó giảm mạnh vào tháng 8
Hàm lượng nitrat trong vùng biển tưong đối cao, vượt ngưỡng ASEAN nhiều lần và tăng đột biến trong tháng 7, 8
Hàm lượng phosphat khá cao so với ngưỡng ASEAN và bị biến động mạnh trong các tháng từ tháng 5 đến tháng 12: tăng cao vào các tháng 8,9, 11
Hàm lượng silicat thuộc loại thấp và tăng cao trong tháng 7
Nhìn chung hàm lượng các chất dinh dưỡng nitơ (NH3, NO2-), phosphat, và silicat trong nước lồng nuôi thường cao hơn nuớc ngoài lồng Trong năm vào thời gian khoảng tháng 5, 6 đến tháng 9,10 có sự biến động mạnh về hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước Môi trường nước có biểu hiện phú dưỡng bởi nitrat, phosphat
Trang 21PHầN thứ hai
Môi trường nước khu vực nuôi trồng thuỷ sản
tại Đồ Sơn 2.1.Tài liệu và phương pháp
Mẫu nước được thu tại tầng mặt của 3 địa điểm là: trong đầm nuôi quảng canh cải tiến, đầm nuôi thâm canh và tại khu vực cửa sông Mẫu nước được thu vào lúc nước đang lên của các kỳ nước cường trong các tháng từ tháng 5 năm
2004 đến tháng 4 năm 2005, mỗi tháng tiến hành thu mẫu 2 đợt (xem hình 1)
Mẫu nước được thu và phân tích các thông số môi trường theo “ Quy định (tạm thời) phương pháp quan trắc – phân tích môi trường và quản lý số liệu “ của Cục Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và Môi trường, 1998 và các tài liệu quốc tế (APHA, 2002; A manual of chemical and biogical methods for seawater analysis, 1989) (phương pháp phân tích các thông số tương tự như phần 1)
2.2 Đặc điểm thuỷ lý, thuỷ hoá
2.2.1 Nhiệt độ nước
Nhiệt độ nước khu vực Đồ Sơn tăng cao và vượt GHCP theo TCVN
5943-1995 ( >30oC) tại các tháng 5 đến tháng 9 Trong các tháng từ tháng 4 đến tháng
10, nhiệt độ nước trong đầm thường cao hơn nước ngoài sông, ngược lại các tháng
từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ nước trong đầm lại thấp hơn nước ngoài sông (bảng 14)
Bảng 14 Nhiệt độ trung bình của nước trong khu vực nuôi trồng thuỷ sản tại
Trang 220 5 10 15 20 25 30 35 40
Độ muối của nước khu vực ngoài sông tăng cao trong các tháng từ tháng 10
đến tháng 4 năm sau, cao nhất vào tháng 2- 29%o và giảm thấp từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó tháng 8 có độ muối thấp nhất - 8,5%o Trong đầm quảng canh cải tiến, độ muối cao trên 20%o từ tháng 11 đến tháng 5, trong đó tháng có độ muối cao nhất là tháng 3- 26%o Tháng có độ muối thấp <20 %o là tháng 6 đến tháng 10, tháng có độ muối thấp nhất là tháng 8 Trong đầm thâm canh, độ muối luôn thấp thường dưới 20%o (bảng 15)
Bảng 15 Độ muối của nước trong khu vực nuôi trồng thuỷ sản tại Đồ Sơn
So sánh 3 địa điểm trong khu vực Đồ Sơn nhận thấy nước trong đầm QCCT
có độ muối cao hơn ngoài sông vào các tháng 5 và 7 Các tháng còn lại luôn thấp hơn ngoài sông Độ muối trong nước đầm thâm canh luôn thấp hơn nước ngoài sông và thấp hơn nước đầm QCCT vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 8 (hình 11) Nguyên nhân đầm thâm canh có độ muối thấp hơn ngoài sông và đầm QCCT là do
đầm này nằm sâu trong sông hơn, chịu tác động của nước sông có độ muối thấp
Trang 23Tháng chuyển tiếp của độ muối từ cao xuống thấp là tháng 7 và từ độ muối thấp lên cao là tháng 9 (hình 16)
0 5 10 15 20 25 30 35
Khu vực nước đầm quảng canh cải tiến, pH cao hơn và biến động lớn hơn , dao động trong khoảng từ 8,06 đến 9,00 Tháng 6, nước của đầm có trị số pH cao nhất - 9,00; tháng có trị số pH thấp nhất là tháng 3,4, pH - 8,02
Khu vực nước đàm thâm canh pH tăng liên tục từ tháng 5 (7,19) đến tháng
Trang 240 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Độ trong trong nước ngoài sông thấp, dao động từ 0,1 m đến 0,8 m, tháng có
độ trong thấp nhất là tháng 7 (0,1m), tháng có độ trong cao nhất là tháng 9 (0,8m)
Nước trong đầm quảng canh cải tiến có độ trong ổn định hơn, dao động từ 0,3m đến 0,6 m; trong khi độ trong của nước đầm thâm canh cao và biến động mạnh hơn, dao động từ 0,3m ( tháng 8,9) đến 1,0 m ( tháng 5) (bảng 17)
Nếu tính đến tháng 10, độ trong trung bình khu vực ngoài sông khoảng 0,37m, trong đầm quảng canh cải tiến khoảng 0,4m và trong đầm thâm canh đạt 0,57m như vậy độ trong trong các đầm nuôi thường cao hơn phía ngoài sông, nguyên nhân do nước trong các đầm nuôi được lưu trũ lâu ngày, quá trình lắng trong kéo dài, dẫn đến làm tăng độ trong của nước
Bảng 17 Độ trong của nước trong khu vực nuôi trồng thuỷ sản
TC 1,0 0,5 0,8 0,3 0,3 0,5
Trên hình 18 cho thấy độ trong của nước tại khu vực ngoài sông thưòng thấp hơn khu vực đầm nuôi và đầm thâm canh có độ trong cao hơn đầm QCCT
Trang 250 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2
2.2 Chất hữu cơ tiêu hao oxy
2.2.1.Oxy hoà tan (DO)
Hàm lượng oxy hoà tan trong nước khu vực Đồ Sơn trong các vực nước khác nhau có đặc điểm: phía ngoài sông, DO thường thấp và ít biến động Hàm lượng trung bình tháng dao động từ 5,98 đến 7,61 mg/l Tháng có hàm lượng oxy hoà tan cao là tháng 8, DO - 7,61 mg/l Tháng có hàm lượng DO thấp là tháng 6 – 5,98 mg/l
Vực nước trong đầm quảng canh cải tiến, hàm lượng oxy hoà tan biến động mạnh hơn, dao động từ 6,04 mg/l (tháng 7) đến 9,37mg/l (tháng 10) Trong đầm thâm canh, hàm lượng oxy tăng từ tháng 5 đến tháng 7, sau đó tăng mạnh vào tháng 9, 10 ( bảng 18, hình 19)
Bảng 18 Nồng độ của nước trong khu vực nuôi trồng thuỷ sản
Trang 26Hình 19. Biến động hàm lượng oxy hoà tan (DO) trong
khu vực Đồ Sơn
2.2.2 Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD 5 )
Nhu cầu oxy sinh hoá (BOD5) trong nước ngoài sông thấp, dao động trong khoảng từ 0,90 mg/l đến 3,02 mg/l, trung bình năm 1,66 mg/l BOD5 cao nhất vào tháng 4 và thấp nhất vào tháng 6
Trong đầm nuôi quảng canh cải tiến, BOD5 cao hơn ngoài sông, dao động trong khoảng từ 1,67 mg/l (tháng 12) đến 5,69 mg/l (tháng 5), trung bình năm khoảng 3,07 mg/l
Trong đầm thâm canh BOD5 cao nhất, dao động trong khoảng từ 3,24 mg/l
đến 8,68 mg/l, trung bình trong 6 tháng là 4,69 mg/l (bảng 19)
Bảng 19 Nhu cầu oxy sinh hoá trung bình tháng trong nước khu vực
nuôi trồng thuỷ sản Đồ Sơn Hải Phòng (mg/l)
Trang 272.2.3 Nhu cầu oxy hoá học (COD)
Nhu cầu oxy hoá học trong nước ngoài sông thấp, dao động từ 3,44 mg/l (tháng 9) đến 4,90 mg/l (tháng 8), trung bình 4,07 mg/l Trong đầm nuôi QCCT, COD dao động từ 4,04 mg/l (tháng 4) đến 9,46 mg/l ( tháng 5), trung bình 6,35 mg/l, cao hơn nươvcs ngoài sông khoảng 1,6 lần Trong đàm thâm canh cao nhất, dao động từ 6,77mg/l (tháng 10) đến 16,78 mg/l ( tháng 9), trung bình 11,09 mg/l, cao hơn trong đầm QCCT khoảng 1,7 lần (bảng 20)
Bảng 20 Nhu cầu oxy hoá học trung bình tháng trong nước khu vực
nuôi trồng thuỷ sản Đồ Sơn Hải Phòng
TC 7,97 8,68 11,0912,4116,78 6,77 11,09
Xu thế biến động COD trong khu vực tương tự như BOD5: trong nước ngoài sông, COD tăng cao vào các tháng 8 và 11, thấp vào các tháng 12 ,2 và 4 Nước trong đầm QCCT, COD tăng cao vào các tháng 5, 10, giảm thấp vào các tháng 12
đến 4; Trong đầm TC, COD cao nhất vào tháng 9, giảm thấp vào tháng 10 (hình 21)
Trang 28Hình 21. Biến động nhu cầu oxy hoá học (COD) trong
khu vực Đồ Sơn
2.3.4 Đánh giá mức độ ô nhiễm chất hữu cơ tiêu hao oxy
Đẻ đánh giá mức độ ô nhiễm chất hữu cơ đã tính hệ số tai biến RQ của hàm lượng oxy hoà tan, BOD và COD trong nước ngoài sông và trong các dầm nuôi QCCT, thâm cnah Kết quả trình bày trong bảng 15
RQhc trong nước ngoài sông khá thấp, dao động từ 0,32 (tháng 2) đến 0,62 (tháng 6), trung bình 0,37 Nước trong đầm QCCT có RQhc cao hơn ngoài sông, dao động từ 0,32 (tháng 2) đến 0,50 (tháng 5), trung bình 0,40 Nước trong đầm thâm canh cao nhất, RQhc dao động từ 0,37 (tháng 10) đến 0,66 (tháng 9), trung bình 0,52
Mặc dù có sự khác nhau về hệ số tai biến RQhc của các vực nuớc trong khu vực nhưng luôn thấp hơn 0,75 nên nước chưa bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ tiêu hao oxy (bảng 21)
Bảng 21 Hệ số tai biến của chất hữu cơ (RQhc) trung bình trong nước khu
vực nuôi trồng thuỷ sản Đồ Sơn Hải Phòng
sông
0,44 0,87 0,49 0,42 0,45 0,46 0,44 0,44 0,45 0,42 0,42 0,53 0,49
QCCT 0,60 0,54 0,54 0,48 0,54 0,48 0,52 0,43 0,43 0,40 0,50 0,50 0,50